KHYENTSE
RINPOCHE, NHÀ XÂY DỰNG
Mỗi
một thành tựu trong những lãnh vực khác nhau của Khyentse
Rinpoche dường như thừa sức chứa đầy cả một cuộc đời.
Khoảng hai mươi năm thực hành trong ẩn thất, sự sâu xa và
quảng bác đáng ngạc nhiên trong việc giảng dạy - chiếm
mất vài giờ mỗi ngày trong hơn nửa thế kỷ; hai mươi pho
sách lớn những tác phẩm được biên soạn; nhiều chương
trình trọng yếu nhằm bảo tồn và truyền bá tư tưởng,
truyền thống và văn hóa Phật Giáo do Ngài chăm sóc – trong
tất cả những công việc này, Khyentse Rinpoche đã không mỏi
mệt hình thành sự hồi hướng trọn đời cho Phật Giáo.
Khả
năng hiểu biết của ngài về sự đồ sộ của văn học Phật
Giáo Tây Tạng hầu như vô song, và Ngài đã thừa hưởng sự
quyết tâm của Jamyang Khyentse Wangpo trong việc bảo tồn và
hoàn thành những bản văn có giá trị của mọi truyền thống,
đặc biệt là những truyền thống đang có nguy cơ biến mất.
Trong khi vào thời đại của Jamyang Khyentse Wangpo các giáo lý
bị nguy hiểm chủ yếu là do sự tranh chấp bộ phái và sự
thờ ơ từ bên trong, trong đời của Khyentse Rinpoche đã nhìn
thấy di sản duy nhất của Tây Tạng bị đe doạ từ bên ngoài
– bởi những biến động to lớn của sự xâm lược của
Trung Quốc và cuộc Cách mạng Văn hóa. Vô vàn kinh sách trong
vô số thư viện của các tu viện đã bị thiêu huỷ có hệ
thống, và một ít Lạt Ma và học giả đã trốn đi mang theo
những quyển sách quý báu của họ trên cuộc hành trình vội
vã, nguy hiểm, thường đến nơi với độc nhất bộ quần
áo mặc trên người. Tuy thế, trong hầu hết trường hợp,
những bản văn vẫn tiếp tục tồn tại, mặc dù chúng chỉ
còn một hay rất ít bản sao chép. Thậm chí trong hiện tại,
những bản văn bị thất lạc vẫn đang xuất hiện. Vào cuối
thập niên 1960, việc dần dần tập hợp sức đẩy trên hai
thập niên là nguồn tài chánh và nhân lực đã trở nên sẵn
sàng, công trình khổng lồ là việc xuất bản lại hầu như
toàn bộ văn hóa Tây Tạng đã bắt đầu. Bản thân Khyentse
Rinpoche, bằng những nỗ lực trong nhiều năm để biên tập
và xuất bản những bản văn quan trọng, đã bảo tồn gần
ba trăm pho sách cho hậu thế.
Thường
bổ túc và soi sáng cho những tác phẩm của những bậc Thầy
vĩ đại trong quá khứ, những tác phẩm của riêng Khyentse
Rinpoche hình thành một bộ sách bách khoa gồm những bản văn
thực hành, luận giảng, lời nguyện, thi ca, và lời chỉ dạy.
Dù ngài ở đâu, quyển sách ngài đang viết, biên tập, hay
sửa chữa luôn luôn ở gần tầm tay. Thực vậy, ngài
thường viết trong khi tiếp đón mọi người hay hướng vào
những công việc khác, mỗi công việc riêng biệt đều chứa
đựng một cách hiển nhiên sự chú tâm không bị chia chẻ
của ngài.
Nhưng
Khyentse Rinpoche không chỉ là một học giả vĩ đại. Không
còn nghi ngờ gì nữa, điều ngài coi là quan trọng nhất và
làm cho ngài hài lòng nhất chính là những giáo lý mà bản
thân ngài không chỉ bảo tồn và xuất bản mà còn thực hành,
chứng ngộ và truyền dạy đã được những người khác áp
dụng vào thực hành. Do đó ta không ngạc nhiên là ngài đã
hiến dâng những nỗ lực to lớn để thiết lập và duy trì
những đền chùa, học viện, và tu viện ở đó việc nghiên
cứu và thực hành của truyền thống Phật Giáo không thể
bị đứt đoạn. Một trong những công trình vĩ đại cuối
cùng của ngài là việc thành lập một Tu viện Shechen mới
tại Nepal. Ngài không quan tâm tới việc tạo lập một ngai
tòa hùng vĩ cho riêng ngài, và đối với ngài thực sự không
có sự đối xử phân biệt dù ngài sống trong một túp lều
chật hẹp hay trong một cung điện rộng lớn – thực ra, trong
đời ngài, ngài đã hiểu rõ cả hai. Đúng hơn, với ý hướng
nhắm vào tương lai, ngài đã thấu suốt chương trình trọng
yếu này.
Năm
1980, vợ của Khyentse Rinpoche và Trulshik Rinpoche, đệ tử chính
của ngài, đã đề nghị ngài xây một tu viện nhỏ ở Nepal
làm trụ xứ chính của cháu ngoại và truyền nhân tâm linh
của Ngài là Shechen Rabjam Rinpoche. Sau khi suy nghĩ về ý tưởng
đó một thời gian, Khyentse Rinpoche trả lời với một nụ
cười rạng rỡ rằng ngài sẽ không xây một tu viện nhỏ
mà một tu viện càng lớn càng tốt. Ngài đã chọn xây Tu
viện Shechen thứ hai này gần Đại Tháp Jarung Kashor ở Bodhnath,
đáp ứng một tiên tri nói rằng một tu viện Nyingma xây dựng
trên địa điểm này sẽ là một nguồn mạch lợi lạc to
lớn cho việc giảng dạy Phật Pháp, và đặc biệt là sẽ
giúp cho sự hòa bình và thịnh vượng trong khắp khu vực.
Vùng
đất nhanh chóng được tìm thấy và việc xây dựng đã bắt
đầu. Phải cần tới mười hai năm để hoàn thành tu viện
là một sự kết hợp phong phú sự sáng tạo nghệ thuật,
việc vận dụng sự hiểu biết truyền thống, và sự nỗ
lực đầy hỉ lạc. Ngay khi toà nhà chính bắt đầu mọc lên,
có đến năm mươi điêu khắc gia, họa sĩ, thợ vàng, thợ
bạc, thợ may, chuyên viên làm mặt nạ, và những nhà xây
dựng – tất cả là những đệ tử của Khyentse Rinpoche –từ
khắp nơi trên xứ Bhutan, Tây Tạng và Ấn Độ đã lũ lượt
kéo tới địa điểm xây dựng để tham dự công trình.
Khyentse
Rinpoche nhấn mạnh rằng mọi phương diện của công việc
phải được thực hiện với sự thận trọng to lớn nhất
và được chú tâm tới từng chi tiết. Một trăm năm mươi
pho tượng đã được thực hiện tại tu viện, sắp xếp theo
bề cao từ hai cho tới hai mươi phút (một phút= 0,3m). Các
pho tượng là những công trình kiến trúc được đúc rỗng,
làm bằng đất sét trộn với giấy làm bằng tay để làm
tăng thêm độ bền. Bên trong tượng có đặt “cây sinh lực,”
là thân của một loại cây, được trù tính thành một mặt
cắt vuông và được định hướng bên trong pho tượng giống
như nó đã phát triển ở nơi hoang vu, xác định rõ ngọn
và gốc, sườn hướng về phía đông đối với mặt trước
pho tượng. Cây sinh lực được đổ cát và đánh cho bóng
nhẵn, sơn bằng thần sa, và ở những nơi đặc biệt có ghi
khắc những thần chú bằng loại vàng nguyên chất. Xá lợi
của những vị thánh trong quá khứ – tóc, những mảnh xương,
y phục – được gắn vào cây, sau đó nó được bọc trong
lụa vàng mịn trước khi được đặt ở chỗ thích hợp.
Tất cả không gian quanh nó được lèn chặt bởi những giải
giấy vẽ cuốn chặt màu vàng nghệ trên đó các thần chú
và những lời cầu nguyện được in bằng những chữ nhỏ
xíu. Những viên đá cuội, hoa khô, và các cây thuốc được
trồng ở những thánh địa, những mẩu vàng, bạc, san hô,
lam ngọc, và nhiều báu vật khác cũng được đặt trong đó.
Cuối cùng, khi pho tượng đã đầy ắp, đáy tượng được
bít kín và một buổi lễ hiến cúng được cử hành.
Những
linh vật khác được làm bằng đồng đỏ mạ vàng, chẳng
hạn như Pháp Luân mà bên cạnh có một con nai và hươu cái
(để kỷ niệm lần thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, hay “chuyển Pháp Luân,” trong vườn nai tại
Ba La Nại). Việc mạ vàng được thực hiện thật khéo léo
bằng những phương pháp truyền thống. Trước tiên, vàng được
dát mỏng thành những phiến nhỏ mịn. Sau đó, trải qua vài
ngày khó nhọc, nó được đặt trong một một cối giã cùng
với thuỷ ngân để tạo thành một hỗn hợp. Chất hỗn hợp
này được quét lên đồng đỏ và bề ngoài được đốt
nóng cao độ bằng đèn hàn. Chất thuỷ ngân bốc hơi và vàng
được kết tủa. Đối với những pho tượng đất sét, khi
ấy bề mặt có mạ được đánh bóng bằng đá mã não. Khói
thuỷ ngân rất độc, và những người thợ vàng Tây Tạng
tin rằng uống bia kê sau tiến trình mạ sẽ giúp họ dễ dàng
tẩy trừ chất độc hơn!
Những
bức tường ba ngôi chùa chính của Tu viện Shechen được che
phủ bằng những tranh bích họa tuyệt đẹp miêu tả lịch
sự của Phật Giáo ở Tây Tạng và vẽ chân dung tất cả
những vị Thầy quan trọng trong bốn trường phái chính của
Phật Giáo Tây Tạng. Dưới sự hướng dẫn thường xuyên
của Khyentse Rinpoche, công trình được hai họa sĩ bậc thầy
thực hiện với sự trợ giúp của mười hai phụ tá.
Nói
chung, Khyentse Rinpoche đã thực hiện một trăm buổi lễ để
hiến cúng những hình tượng và tranh vẽ. Những buổi lễ
như thế bao gồm việc đánh thức trí tuệ và lòng bi mẫn,
và năng lực của diện mạo đặc biệt của Đức Phật được
miêu tả để tan hòa bất khả phân vào sự biểu hiện hữu
hình của nó, giống như một tâm thức mang lại sinh khí cho
một thân thể ù lì.
Dù
ở đâu thì Khyentse Rinpoche cũng thức dậy rất sớm trước
rạng đông để cầu nguyện và thiền định trong vài giờ
trước khi lao mình vào một dòng hoạt động không dứt cho
tới gần đêm. Ngài hoàn thành một khối lượng công việc
khổng lồ mỗi ngày với vẻ hoàn toàn thanh thản và rõ ràng
là không dụng công.
Một
ngày điển hình bắt đầu từ bốn giờ rưỡi sáng. Khi Khyentse
Rinpoche thức dậy, một thị giả, người thường ngủ trên
một tấm thảm trong phòng ngài, sẽ dọn giường và dâng cho
ngài một tách nước nóng và một vài viên thuốc hiến cúng.
Sau đó Rinpoche mở quyển Kinh cầu nguyện của ngài, nó chứa
hơn năm trăm trang giấy rời, được đặt rải rác với những
đoạn được viết bằng chữ viết tay của những vị Thầy
vĩ đại trong quá khứ, những bức tranh thu nhỏ, những tấm
hình của những vị Thầy vĩ đại khác, và những hoa khô
mọc ở những thánh địa hành hương. Cho tới chín giờ, Khyentse
Rinpoche thường thực hành những loại thiền định, quán tưởng
và cầu nguyện khác nhau. Trong những khoảng thời gian dài
ngài sẽ tụng thần chú cùng với mỗi thực hành, đếm số
lần trì tụng bằng hột của một trong vài loại chuỗi khác
nhau gồm hột bồ đề, pha lê, san hô, và v.v.., phù hợp với
tính chất và mục đích của việc trì tụng đặc biệt đó.
Tất cả những lời cầu nguyện và thần chú này đều được
ngài tụng thầm, không thành tiếng. Khoảng bảy giờ rưỡi,
thị giả của ngài mang tới cho ngài một tô lúa mạch nướng
và trà bơ mặn.
Lúc
chín giờ, Rinpoche sẽ chấm dứt buổi sáng tĩnh mịch của
mình và đi vào một gian phòng lớn để tiếp mọi người,
một ít người trong số đó đã tụ họp ở bên ngoài. Tùy
theo nhu cầu của họ, ngài sẽ ban cho họ sự hướng dẫn
tâm linh, lời khuyên thực tiễn, những giáo lý, hay những
sự ban phước; chú nguyện những pho tượng hay tranh ảnh được
thỉnh về cho bàn thờ gia đình của họ; tiếp kiến và trao
đổi tin tức với những người khách từ xa đến, những
người khách đến từ Tây Tạng, những khách hành hương Bhutan,
hay những thư từ của các Lạt Ma gởi tới.
Khi
một buổi lễ chính được cử hành, Rinpoche sẽ đi tới ngôi
chùa chính vào sáng sớm để nhập vào hai trăm tu sĩ tụ hội
ở đó. Trong quãng thời gian còn lại của một ngày, ngài
sẽ ngồi chéo chân trên Pháp tòa. Trong những lúc giải lao,
không rời khỏi chỗ ngồi, ngài sẽ kết thúc những lời
cầu nguyện buổi sáng của mình, tiếp khách, và tiếp tục
biên soạn bản văn mà ngài đang làm.
Nhưng
hoạt động chính yếu của Khyentse Rinpoche là việc giảng
dạy thật rõ ràng. Ngài thuyết giảng mỗi khi rảnh rỗi trong
ngày, không mỏi mệt đáp lại mọi sự thỉnh cầu giáo huấn
và hướng dẫn tâm linh. Ngài thường liên tục giảng dạy
tất cả các ngày trong tháng cho những tập hội từ vài chục
cho tới vài ngàn người. Thậm chí sau một ngày đầy ắp
việc giảng dạy, ngài vẫn chấp nhận một vài thỉnh cầu
cá nhân và dạy từng người hay một nhóm nhỏ trong phòng
ngài cho tới tận khuya. Trong những nghi lễ trọn ngày, trong
khi những người khác nghỉ ngơi sau bữa trưa, ngài nhanh chóng
dùng bữa và sử dụng mỗi giây phút còn lại trước khi buổi
lễ tiếp tục để giảng cho người nào đó vài trang của
một bản văn thiền định hay luận giảng triết học. Ngài
không bao giờ gạt bỏ bất kỳ thỉnh cầu nào. Nếu điều
đó không thể phù hợp với thời khoá biểu của ngài, ngài
sẽ cho mời người đó tới bất kỳ khi nào có thời gian
tạm nghỉ trong chương trình, hay cho người ấy một cuộc
hẹn vào ngày hôm sau. Do bởi có nhiều thỉnh cầu như thế
và Rinpoche sẵn sàng làm thoả mãn tất cả những người ấy
nên thường xảy ra việc cả nửa tá người xuất hiện cùng
lúc vào ngày hôm sau!
Bất
kỳ ai từng nghe Khyentse Rinpoche giảng dạy đều bị cách diễn
tả khác thường của ngài chinh phục. Hiếm khi liếc nhìn
bản viết tay, ngài nói năng thật dễ dàng với một tốc
độ đều đặn, không thay đổi, trong một dòng miên man không
dứt. Ngài không nhấn mạnh, không ngắt giọng hay ấp
úng, như thể đang đọc từ một quyển sách vô hình trong
ký ức của ngài. Dù thế nào chăng nữa, chủ đề sẽ luôn
luôn được xuyên suốt không thay đổi từ đầu tới cuối,
đúng trong thời gian đã định, được giảng dạy hoàn toàn
phù hợp với trình độ hiểu biết của thính giả. Qua cách
diễn giảng của ngài, ngay cả một ít lời đơn giản cũng
có thể mở ra một cánh cửa cho toàn bộ sự nối tiếp của
những quán chiếu mới mẻ vào đời sống tâm linh. Sự hiểu
biết bao la, sự nồng ấm của những sự ban phước và bề
dày của sự chứng ngộ sâu xa mang lại cho những giáo lý
của ngài một phẩm tính hoàn toàn khác biệt với những giáo
lý của bất kỳ vị Thầy nào khác.
Mặc
dù ngài hết sức dịu dàng và nhẫn nại, sự hiện diện,
tâm hồn bao la và bề ngoài đầy năng lực của ngài đã khiến
mọi người nể sợ và tôn kính. Với những đệ tử và những
thị giả thân thiết ngài có thể rất nghiêm khắc, bởi ngài
hiểu rằng một đệ tử xuất sắc “phát triển mạnh mẽ
dưới một kỷ luật cứng rắn.” Ngài không bao giờ nặng
lời với những người khách hay những người không cam kết
với Ngài, nhưng với những đệ tử của riêng ngài, ngài
không khoan nhượng trong việc bảo đảm rằng họ không bao
giờ trốn thoát cùng với hành động, lời nói và tư tưởng
đáng khinh bỉ. Đối với những người sống gần ngài, thì
dù thế nào chăng nữa, cũng thật hiển nhiên là ngài có thể
xuyên thấu thật rõ ràng bất kỳ sự giả vờ hay thái độ
đạo đức giả nào. Mặc dù Phật Giáo chỉ ra rằng không
có bằng chứng nào tốt hơn tâm thức của riêng ta, sự hiện
diện đáng yêu nhưng dữ dội của Ngài có một ảnh hưởng
mãnh liệt trên những đệ tử của Ngài và bảo đảm rằng
tâm thức của họ không đi lang thang.
Nhiều
người đàn ông và đàn bà vĩ đại, ngoại trừ thiên tài
đặc biệt của họ trong lãnh vực khoa học hay nghệ thuật,
họ không nhất thiết là những con người tốt. Khyentse là
người mà sự vĩ đại thì hoàn toàn phù hợp với những
giáo lý mà Ngài diễn giảng. Dù sự sâu rộng của tâm Ngài
dường như không thể đo lường được, nhưng từ một quan
điểm thông thường, Ngài là một con người lỗi lạc phi
thường. Những người sống gần Ngài, thậm chí trong mười
hay mười lăm năm, nói rằng họ chưa hề được chứng kiến
một lời nói hay hành động nào của Ngài làm tổn hại người
khác. Mối quan tâm duy nhất của Ngài là hiện tại và sự
lợi lạc tối hậu cho người khác. Đây là một kiểu mẫu
sống động của những gì nằm ở cuối con đường tâm linh
– sự cảm hứng vĩ đại nhất có thể có cho bất kỳ ai
nghĩ tới việc bắt đầu cuộc hành trình đi tới giác ngộ.
Phật
Giáo mô tả ba thái độ căn bản, tương ứng với ba con đường,
hay yana (thừa), là những gì có thể được thực hành đồng
thời như một toàn thể hợp nhất.
Sự
từ bỏ là nền tảng của Thừa Căn bản và vì thế là cội
gốc của những giai đoạn tiếp theo của con đường, bao hàm
ước muốn mạnh mẽ không chỉ giải thoát bản thân khỏi
những buồn phiền tức thời mà cả những đau khổ dường
như vô tận của sinh tử, vòng luân hồi khắc nghiệt của
sự sống có điều kiện. Cùng với ước muốn này là một
sự nhàm chán và vỡ mộng chân thành đối với cuộc tìm
kiếm không ngừng dứt những bổng lộc, thanh danh, lợi lạc
và địa vị.
Lòng
bi mẫn, động lực của Đại Thừa, được phát khởi khi
ta nhận ra rằng “bản ngã” riêng tư và những sắc tướng
của thế giới hiện tượng thực ra không có bất kỳ sự
hiện hữu nội tại, độc lập nào. Lòng bi mẫn khởi sinh
khi ta nhận ra rằng tất cả những đau khổ xuất phát từ
sự vô minh nền tảng của riêng ta và những người khác,
vô minh ấy ngộ nhận rằng sự phô diễn vô tận của những
sắc tướng huyễn hóa như được tạo thành bởi những thực
thể hiện hữu thường hằng và riêng biệt. Một bậc giác
ngộ – người đã thấu suốt sự không có bất kỳ hiện
hữu nội tại, độc lập nào này chính là bản tánh tối
hậu của mọi sự việc – hành động một cách tự nhiên
xuất phát từ lòng bi mẫn vô biên mà ngài cảm thấy đối
với những người, bị mê mờ bởi sự vô minh, đang lang thang
và đau khổ trong sinh tử. Được hứng khởi bởi một lòng
bi mẫn tương tự, người theo Đại Thừa không nhắm vào việc
giải thoát riêng mình họ mà nguyện đạt được Phật Quả
để có đủ khả năng giải thoát tất cả chúng sinh khỏi
nỗi khổ nội tại trong sinh tử.
Tri
giác thanh tịnh, quan điểm phi thường của Kim Cương thừa,
là nhận ra Phật tánh trong tất cả chúng sinh và thấy được
sự thuần tịnh và viên mãn nguyên sơ trong mọi hiện tượng.
Mỗi một chúng sinh đều có cốt tuỷ của Phật Quả, giống
như chất dầu thấm đẫm mỗi hạt mè. Vô minh chỉ là sự
không tỉnh giác về Phật tánh này, giống như một người
nghèo khổ không biết rằng có một hũ vàng được chôn ngay
dưới căn nhà tồi tàn của anh ta. Như thế hành trình đi
tới Giác ngộ là một sự tái khám phá bản tánh bị bỏ
quên này, giống như ta lại nhìn thấy mặt trời luôn luôn
chói sáng khi những đám mây che khuất nó bị thổi bạt đi.
Khyentse Rinpoche
Nguồn
mạch của mọi hiện tượng của sinh tử và Niết bàn
Là
bản tánh của tâm – trống không, chói sáng,
Trùm
khắp và bao la như bầu trời.
Khi
ở trong trạng thái bao la như bầu trời đó,
Hãy
buông lỏng trong sự mở trống; an trụ ngay trong sự mở trống
đó,
Hãy
hợp nhất với trạng thái như bầu trời đó:
Một
cách tự nhiên, nó sẽ càng lúc càng buông lỏng –
Kỳ
diệu thay!
Nếu
bạn thành tựu
Phương
pháp này của sự hợp nhất tâm với cái thấy,
Sự
chứng ngộ của bạn sẽ tự nhiên trở nên bao la rộng lớn,
Lòng
bi mẫn của bạn không thể không soi sáng trên mọi chúng sinh
không chứng ngộ.
Khyentse Rinpoche
Những
phẩm tính của Phật Quả tràn ngập mọi chúng sinh giống
như chất dầu thấm đẫm một hạt mè. Những phẩm tính này
luôn luôn hiện diện ở đó, đầy đủ và bất biến, như
sự biểu lộ chói ngời tự nhiên của bản tánh tuyệt đối.
Trong ý nghĩa đó, có thể nói rằng mọi phẩm tính của Niết
bàn hiện diện trọn vẹn khắp trong luân hồi sinh tử, cũng
như cảnh giới đau khổ và mê lầm. Đâu là mối liên hệ
giữa các hiện tượng của mê lầm và những hiện tượng
của sự Giác ngộ? Hãy ngắm nhìn những đám mây trên bầu
trời. Khi mây hình thành, chúng hình thành như thế là nhờ
có bầu trời. Tuy nhiên bầu trời không bao giờ thay đổi;
những đám mây hiển lộ trong bầu trời và khi mây bị gió
thổi tan, bầu trời lại xuất hiện giống như nó luôn luôn
hiện hữu. Cũng thế, bản tánh giác ngộ của Niết bàn chưa
từng từ bỏ hiện tượng nào, ngay cả những hiện tượng
của sinh tử. Chúng hiển lộ trong bản tánh giác ngộ đó
nhưng không chỉnh sửa nó ở phương diện nào đó.
Như
thế những hiện tượng giác ngộ cũng bị các hiện tượng
của sự mê lầm tràn ngập? Không, chúng không bị tràn ngập,
bởi lẽ bản tánh tuyệt đối không bao giờ biến đổi. Nó
không thể bị tác động bởi bất kỳ sự mê lầm nào. Vì
thế chúng ta có thể nói rằng các hiện tượng của sự mê
lầm không là gì khác ngoài bản tánh tuyệt đối, tuy nhiên
bản tánh tuyệt đối không bao gồm những hiện tượng của
sự mê lầm. Phật tánh hiện diện trong sự mê lầm, nhưng
sự mê lầm không hiện diện trong Phật tánh.
Như
Guhyagarbha Tantra nói: “Bản tánh tuyệt đối bị ngăn che bởi
sự hình thành của những tư tưởng.” Chúng sinh đã quên
mất sự tuyệt đối, bản tánh tuyệt đối của riêng họ.
Bản tánh tuyệt đối giống như mặt trời, và các hiện tượng
giống như những tia sáng phóng ra từ mặt trời đó. Nhận
ra rằng tất cả những tia sáng này, những hiện tượng, xuất
phát từ mặt trời, tự nó là bản tánh tuyệt đối, là hoàn
toàn giác ngộ ngay giây phút đó. Nhưng chúng sinh không giác
ngộ không nhận ra được những tia sáng xuất phát từ đâu,
họ quay lưng lại với mặt trời, và thay vì nhìn vào căn
nguyên của những tia sáng thì họ lại nhìn vào nơi chúng
rơi xuống. Họ bắt đầu tạo ra ý niệm về một đối tượng
ở bên ngoài và một chủ thể ở bên trong. Sau đó, khi năm
giác quan nối kết ‘đối tượng’ với ‘chủ thể,’ sự
tham muốn và thù ghét xuất hiện; những chủng tử của sinh
tử đã được gieo trồng, và từ chúng phát triển ba cõi
của luân hồi sinh tử. Nhưng không ở nơi đâu các hiện tượng
mê lầm bị phân cách với bản tánh của Phật Quả, nó luôn
luôn tràn ngập mỗi một và mọi chúng sinh, và tất cả các
hiện tượng.
Gũng
như toàn thể thế giới - cùng với núi non, các đại lục,
và mọi sự khác của nó - hiện hữu trong không gian vô tận,
mọi hiện tượng cũng xuất hiện trong Phật tánh. Không gian,
nơi trong đó toàn thể vũ trụ xuất hiện, không cần tự
biểu lộ theo một cách nào đó đối với bất kỳ điều
gì xảy ra trong đó. Cũng thế, chư Phật trong bản tánh giác
ngộ của các Ngài không cần hiển lộ trong bất kỳ phương
diện nào. Tuy nhiên, nhờ những sự nối kết được tạo
nên bởi những ước nguyện mãnh liệt mà chư Phật đã hình
thành ngay trước khi giác ngộ và nhờ những lời khẩn nguyện
của chúng sinh cầu xin các Ngài ban cho những ân phước, chư
Phật đã xuất hiện một cách tự nhiên trong những cách thế
khác nhau để cứu giúp chúng sinh tùy theo nhu cầu của họ.
Như
thế, những hiện tượng của sự Giác ngộ và những hiện
tượng của sự mê lầm đều được bao gồm trong bản tánh
tuyệt đối – nhưng bản tánh tuyệt đối đó không bao giờ
bị ô nhiễm hay che chướng bởi sự lầm lạc của những
hiện tượng tương đối.
Khyentse Rinpoche
Các
hiện tượng là sự chói ngời của sự tuyệt đối bẩm sinh;
Bản
tánh của tâm là trí tuệ của sự tuyệt đối bẩm sinh.
Vị
Thầy tối hậu – các hiện tượng và tâm hợp nhất trong
một vị –
An
trụ tự nhiên trong bản thân ta. A, ồ! Vui sướng biết bao!
Khyentse Rinpoche
Mọi
sự xuất hiện là sự mở trống bao la,
Hỉ
lạc và hoàn toàn tự do.
Với
tâm tự do, hạnh phúc
Ta
hát bài ca vui sướng này.
Khi
người ta nhìn vào bổn tâm mình –
Gốc
rễ của mọi hiện tượng –
Không
có gì ngoài tánh Không sống động,
Không
vật cụ thể nào được nắm giữ như thật có.
Nó
hiện diện như sự mở trống trong suốt, tuyệt đối,
Không
ngoài, không trong –
Một
sự hoàn toàn trùm khắp
Không
ranh giới và không phương hướng.
Phạm
vi rộng-mở của cái thấy,
Điều
kiện chân thực của tâm,
Thì
giống như bầu trời, như không gian:
Không
trung tâm, không biên bờ, không mục đích.
Nhờ
lìa bỏ mọi sự ta kinh nghiệm
Nghỉ
ngơi thư thản, đúng như nó là,
Ta
đã đi tới cánh đồng rộng lớn
Là
Pháp giới tuyệt đối.
Tan
hoà vào phạm vi của tánh Không
Nó
không có những quy định và biên giới,
Mọi
sự ta nhìn, mọi điều ta nghe.
Bổn
tâm ta, và bầu trời hoàn toàn hợp nhất.
Chưa
từng có ý niệm khởi sinh
Từ
những điều riêng rẽ và khác biệt này.
Trong
phạm vi tuyệt đối của Giác tánh
Mọi
sự được hòa trộn thành vị duy nhất đó –
Nhưng
một cách tương đối, mỗi một và mọi hiện tượng đều
riêng biệt, rõ ràng.
Kỳ
diệu thay!
Shabkar
Không
trung tâm, không biên bờ,
Phạm
vi chói lọi của Giác tánh bao trùm tất cả –
Sự
bao la sống động, sáng ngời này:
Là
sự hiện diện tự nhiên, nguyên thuỷ.
Không
trong, không ngoài,
Giác
tánh tự xuất hiện, rộng lớn như bầu trời,
Vượt
mọi quy mô, phương hướng, giới hạn –
Sự
mở trống tuyệt đối, trọn vẹn này:
Là
không gian, bất khả phân với Giác tánh.
Trong
phạm vi của không gian bất sinh, rộng-mở đó,
Các
hiện tượng xuất hiện – giống như những cầu vồng, hoàn
toàn trong suốt.
Những
cõi giới thuần tịnh và bất tịnh, chư Phật và chúng sinh
Đều
hiển hiện, chói ngời và khác biệt.
Xa
rộng như bầu trời trùm khắp, Giác tánh cũng như thế.
Bao
la như Giác tánh trải rộng, Pháp giới tuyệt đối cũng như
thế.
Bầu
trời, Giác tánh, Pháp giới tuyệt đối,
Hòa
trộn bất khả phân:
Bao
la, rộng lớn vô hạn –
Nền
tảng của sinh tử,
Nền
tảng của Niết bàn.
An
trụ ngày và đêm trong trạng thái này –
Thể
nhập trạng thái này một cách dễ dàng – đây là điều
hỉ lạc.
Emaho!
Shabkar
Sư
tử tuyết không chết cóng trong núi tuyết;
Kên
kên không rơi xuống từ trời cao;
Cá
không chết đuối trong nước;
Hành
giả không chết vì đói khát.
Vì
thế hãy ném đi những quan tâm của đời này!
Hãy
vứt bỏ những dự tính tương lai!
Shabkar
Nếu
tôi không cho đi
Hạnh
phúc của tôi để đổi lấy nỗi khổ của người khác,
Tôi
sẽ chẳng bao giờ đạt được Giác ngộ,
Và
thậm chí trong sinh tử, niềm vui sẽ trốn thoát khỏi tôi.
Shantideva
Chốn
núi non hoang vu này:
Phía
trên – một trận mưa bụi dịu dàng, chậm rãi rơi xuống.
Đàn
đại bàng bay lượn ở phương bắc, phương nam –
Cầu
vồng xuất hiện chói lọi.
Phía
dưới ta – những chiếc cổ cong của đàn ngỗng
Lóe
sáng, và giòng sông trôi khúc khuỷu.
Phía
sau chúng, hươu nai nhảy múa trên sườn dốc
Một
ngọn núi, đỉnh xuyên thủng không gian.
Trên
sườn núi, những bãi cỏ sáng rực cùng những bông hoa dại;
Lũ
ong đông đúc quay vòng phía trên.
Phía
trước, các tảng đá tô điểm những bãi cỏ trên núi;
Một
chú cu cu rót đầy tâm ta nỗi buồn.
Hôm
nay ta leo ra sau
Nơi
nhập thất tuyệt hảo này,
Ta
ngẩng đầu, nhìn lên,
Và
thấy bầu trời không mây.
Ta
nghĩ tới Pháp giới tuyệt đối, không chút giới hạn,
Khi
ấy ta đã chứng nghiệm sự tự do
Không
trung tâm, không giới hạn –
Mọi
cái thấy biên kiến
Hoàn
toàn được buông bỏ.
Ta
cúi đầu nhìn trước mặt,
Và
thấy mặt trời của thế gian.
Ta
nghĩ tới sự thiền định –
Chói
lọi và không bị ngăn che.
Khi
ấy ta đã chứng nghiệm một sự quang minh bất nhị, trống
không.
Mọi
thiền định mà tâm tập trung
Hoàn
toàn được buông bỏ.
Ta
quay đầu, nhìn về phương nam,
Và
thấy một kiểu cầu vồng.
Ta
nghĩ tới mọi hiện tượng –
Hiển
lộ rõ ràng và trống không, cùng một lúc.
Khi
ấy ta đã chứng nghiệm một sự quang minh bất nhị, tự nhiên.
Mọi
quan điểm hư vô và vĩnh cửu
Hoàn
toàn được buông bỏ.
Shabkar