TRỞ
VỀ TÂY TẠNG
Rốt
cuộc thì Khyentse Rinpoche cũng trở về Shechen vào năm 1985.
Tại nơi ngài sẽ đến, trên độ cao mười hai ngàn phút (khoảng
3.600 m) so với mặt biển, trong ánh sáng chói lọi của miền
Đông Tây Tạng, ba trăm kỵ sĩ với khuôn mặt đen sạm, đội
mũ trắng và cầm những lá cờ nhiều màu bay phần phật trong
gió. Họ không phải là những chiến sĩ mà là các tu sĩ tới
chào mừng ngài trở về quê hương sau ba mươi năm lưu lạc
ở hải ngoại. Khi xe hơi của Rinpoche tới nơi, họ cưỡi
ngựa chầm chậm quanh chiếc xe làm thành một vòng tròn rộng,
bỏ mũ ra khi đi qua mặt ngài, và sau đó phi ngựa tới tu viện
để sẵn sàng đón tiếp ngài ở đó. Không chỉ có những
tu sĩ tới đó; tất cả những người du cư trong vùng bỏ
mặc những chiếc lều bằng lông bò yak đen của họ và vội
vã từ những sườn đồi đi xuống đứng bên đường. Trong
khi đốt những cành cây bách xù và cây thông để tạo nên
làn khói hương trắng thơm phức, mỗi nhóm nhỏ hy vọng chặn
được xe hơi của Khyentse Rinpoche và nhận sự ban phước của
Ngài. Ở đây, nơi nhiệt độ thường là âm bốn mươi độ,
những người du cư mặc áo da cừu dày để chống lại sự
khắc nghiệt của mùa đông. Những phụ nữ đeo những món
trang sức bằng san hô, lam ngọc, và hổ phách trên tóc, và
trong những túi gấp của áo choàng, họ mang những đứa con
có đôi má đỏ ửng đỏ vì gió đông. Giây lưng của họ
có đeo những viên đá đánh lửa cùng với bùi nhùi làm bằng
những cánh hoa nhung tuyết mọc trong những bãi cỏ trên núi.
Tu
viện chỉ còn là đống đổ nát. Khi Rinpoche tiến lại gần,
âm nhạc phát ra từ những chiếc kèn ô boa nghe inh tai, những
chiếc xập xõa lanh lảnh, và tiếng gầm sâu thẳm của những
chiếc kèn trum-pét dài mười lăm phút (khoảng 4,5m) bất ngờ
bật lên từ mái đại học tu viện – toà nhà duy nhất còn
đứng vững giữa những đống đổ nát – làm thung lũng tràn
ngập âm vang tráng lệ. Một đoàn diễu hành gồm các tu sĩ
và nhạc sĩ đưa Khyentse Rinpoche tới ngôi chùa. Ngay khi ngài
an tọa, một đám đông các nhà sư và cư sĩ sắp thành hàng
đi qua, nhìn ngài với một vẻ tha thiết tuôn trào từ tận
xương tủy của họ. Khi họ nhận sự ban phước và ngước
lên nhìn ngài, một số người, đặc biệt là những người
già, đã không thể ngăn dòng nước mắt. Một vài người
thì thầm vài lời, hay nói cho ngài biết tên của họ. Khyentse
Rinpoche mỉm cười với họ mỗi khi ngài thỉnh thoảng nhận
ra một khuôn mặt trong quá khứ. Sau vài giờ, khi cuối cùng
thì dòng người tưởng như vô tận cũng đã thưa dần, ngài
ngồi trò chuyện với những bậc trưởng lão của tu viện
quanh một bình trà bơ sôi sục. Họ có quá nhiều điều để
nói với ngài – về sự thử thách không tả xiết mà họ
phải chịu trong tay những người chiếm đóng, về những người
đã chết và những người còn sống sót – nhưng vào ngày
hôm đó ưu tiên hàng đầu là niềm vui được tái ngộ. Đối
với họ, điều ấy giống như thể một buổi bình minh rực
rỡ thình lình xuất hiện sau một đêm dài tăm tối.
Ngay
ngày hôm sau, một lễ hội kéo dài hai ngày được bắt đầu
với những vũ điệu thiêng liêng được tiến hành để tỏ
lòng tôn kính sự trở về của Khyentse Rinpoche. Hơn một trăm
vũ công và nhạc sĩ, tất cả tu sĩ của tu viện đã tham dự.
Vũ hội thường là một nét đặc trưng truyền thống trong
năm của tu viện, nhưng trong nhiều năm dưới sự chiếm đóng
của Trung Quốc một sự kiện như thế là điều không thể
tưởng tượng nổi. Chỉ trước đó một năm, lần đầu tiên
các vị sư già mới dám làm sống lại truyền thống, và những
bộ y phục sáng ngời cùng những mặt nạ tuyệt đẹp của
các vũ công - tất cả những thứ ấy đã bị tiêu hủy -
đã được sắm sửa lại.
Vào
cuối vũ hội, Khyentse Rinpoche đã ban phước và giảng dạy
cho các tu sĩ và cư sĩ từ khắp miền Đông Tây Tạng tới
gặp ngài. Giữa những thính giả chăm chú nổi bật lên những
khuôn mặt có cá tính kỳ lạ và tuyệt đẹp, cứng rắn như
đá, ánh mắt của họ trong trẻo như bầu trời. Những tu
sĩ già quay không chán những bánh xe cầu nguyện khổng lồ.
Khắp trong thung lũng, ngựa và bò yak của những người khách
tạo thành những vết lốm đốm nâu, đen và trắng trên các
sườn núi.
Khyentse
Rinpoche yêu cầu được trải qua một đêm ở mãi tận trên
cao so với tu viện, nơi trước đây có ẩn thất của Shechen
Gyaltsap, vị Thầy chính của ngài. Ngài không thể tự đi mà
không cần giúp đỡ và phải được khiêng lên đồi. Khó
có thể tìm được dấu vết nào của ẩn thất, nhưng ngài
đã dựng trại trên cái nền nhỏ dưới những vì sao và những
người khác nằm ngủ đó dây trong rừng và trong những hang
động gần đó. Trên sườn dốc đứng, một vài người sợ
rằng họ có thể lăn xuống đồi trong khi ngủ. Sau này một
ẩn thất nhỏ đã được xây dựng lại tại địa điểm
này.
Những
tu viện khác thỉnh mời Khyentse Rinpoche tới thăm, và ngài
đồng ý đi bất cứ nơi nào ngài có thể. Những nơi không
có đường đi, ngài được khiêng trên một chiếc kiệu hay
trong một ghế kiệu. Trong vài ngày, nhóm người đã vượt
qua những ngọn đèo cao hơn mười lăm ngàn phút, băng qua những
vách núi, và vượt những con sông. Mọi người đều muốn
được vinh dự khiêng vị Lạt Ma, và với một nhóm mới và
nhiệt tâm thay phiên nhau mỗi mười lăm phút, những đoạn
đường dài đã được vượt qua nhanh chóng. Ở tu viện nào
cũng vậy, một sự đón tiếp công phu và trang trọng tương
tự cũng đang chờ đợi. Cùng với toàn thể dân chúng địa
phương, các tu sĩ với chiếc nón trắng là một dấu hiệu
của sự ân cần chào đón đã tạo thành một đoàn diễu
hành theo hàng một, dẫn đầu là những nhạc sĩ trong bộ
y phục lễ hội sặc sỡ của họ. Khi đám rước đi tới
chân Tu viện Dzongsar, thình lình mọi người nhìn lên trời.
Một quầng ánh sáng chói ngời đã hình thành xung quanh mặt
trời, một dấu hiệu mà những người Tây Tạng cho là rất
tốt lành. Ngày hôm trước đã có một cầu vồng đôi xuất
hiện trên mái của Tu viện Palpung đón chào Khyentse Rinpoche
khi ngài tới đó.
Bất
kỳ tới nơi đâu, Rinpoche đều giảng dạy, an ủi và gây
hứng khởi cho tất cả những ai tới thăm ngài. Giáo lý của
đạo Phật không đặt nền trên một vài triết học ngoại
lai, khó hiểu. Nó đối phó với những cơ cấu căn bản nhất
của hạnh phúc và đau khổ, và cho thấy hạnh phúc chân thực
và vĩnh cửu chỉ có thể đến từ sự an bình nội tâm ra
sao. Sự an bình như thế chỉ có thể đạt được bằng việc
nuôi dưỡng lòng vị tha, từ ái, bi mẫn và bằng cách tiệt
trừ sự chấp ngã, sân hận và tham muốn.
Trong
lần thăm viếng đầu tiên này và hai lần sau đó tại miền
Đông và Trung Tây Tạng, ở mọi nơi Khyentse Rinpoche cũng được
chào đón bằng một nhiệt tình đáng kinh ngạc. Đối với
người Tây Tạng, những cuộc viếng thăm này có một ý nghĩa
to lớn, và họ khó có thể tin được ở đôi mắt mình. Nhiều
người đã kêu lên: “Hẳn là chúng tôi đang mơ!” Trong hơn
ba mươi năm họ đã giữ vững sự kiên định bất chấp bao
nhiêu đau khổ. Niềm tin và sự quyết tâm của họ không chịu
nhượng bộ một chút nào.
Khi
đang ở miền Trung Tây Tạng vào năm 1985, Khyentse Rinpoche đã
gởi một kiến nghị cho chính quyền Trung Quốc xin tái thiết
Tu viện Samye và nhấn mạnh tới tầm quan trọng của di sản
văn hóa thế giới. Samye là tu viện đầu tiên của Phật Giáo
Tây Tạng, được Guru Padmasambhava và tu viện trưởng Shantarakshita
sáng lập vào thế kỷ thứ tám dưới sự bảo trợ của Vua
Trisong Detsen. Điều kỳ lạ là chính quyền Trung Quốc đã
đồng ý. Được truyền hứng khởi từ Khyentse Rinpoche, đức
vua Bhutan đã góp một khoản cúng dường to lớn cho công việc
này. Nhờ đó mà năm 1990, ngôi chùa chính của Samye đã được
trùng tu tới những mái vàng chói lọi của nó. Khyentse Rinpoche
được mời để hiến cúng lại tu viện và lại du hành tới
Tây Tạng. Tại Samye ngài đã cử hành một buổi lễ hiến
cúng ba ngày, đồng thời ban Pháp và những nhập môn cho sáu
mươi tu sĩ của tu viện và tất cả những người tụ hội
trong cơ hội duy nhất này, kể cả một nhóm đệ tử người
Tây phương. Vẫn còn nhiều công trình phải trùng tu – tám
ngôi chùa phụ ở tám hướng quanh dinh thự chính, bốn chiếc
tháp khổng lồ, và một trăm lẻ tám tháp nhỏ hơn mà xưa
kia đã làm tăng vẻ hoàn hảo cho bức tường bao quanh. Tại
Lhasa, Rinpoche đã cúng dường hai trăm ngọn đèn bơ trong ngôi
chùa có tượng Đức Phật Cao Qúy nổi tiếng - Jowo Rinpoche
- trước khi viếng thăm một số thánh địa và trung tâm tu
viện ở miền Trung Tây Tạng. Đây chính là chuyến du hành
Tây Tạng cuối cùng của ngài.
Mặc
dù vào lúc này Khyentse Rinpoche đã bước qua tuổi tám mươi,
khả năng chịu đựng đặc biệt của ngài đường như ít
bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, vào đầu năm 1991 lần đầu tiên
ngài bắt đầu có những dấu hiệu suy kém sức khoẻ trong
khi đang giảng dạy tại Bodh Gaya. Tuy nhiên, khi hoàn tất chương
trình ở đó, ngài du hành tới Dharamsala và trải qua một tháng
thật nhẹ nhàng để ban những quán đảnh và truyền dạy
cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, những sự trao truyền ấy đã được
thỉnh cầu trong nhiều năm.
Khi
trở về Nepal vào mùa xuân thì rõ ràng là sức khoẻ của
ngài đã suy yếu dần. Ngài sụt cân và càng lúc càng cần
nghỉ ngơi nhiều hơn. Ngài dùng nhiều thời giờ để cầu
nguyện và thiền định trong sự yên lặng, chỉ dành vài giờ
mỗi ngày để tiếp những người rất cần gặp ngài. Ngài
bị bắt buộc phải hủy bỏ chuyến du hành Tây Tạng lần
thứ tư mà ngài đã dự định viếng thăm Tu viện Shechen một
lần nữa. Thay vào đó, ngài đã chọn trải qua ba tháng rưỡi
trong ẩn thất đối diện Hang Cọp, Paro Taktsang, ở Bhutan,
là một trong những địa điểm linh thiêng nhất được Đức
Padmasambhava ban phước.
Sau
cuộc nhập thất, sức khỏe của Rinpoche có vẻ khả quan hơn.
Ngài đã viếng thăm một vài đệ tử của ngài đang nhập
thất và nói với họ về vị Thầy vô thượng, siêu vượt
sinh tử hay mọi sự hiển lộ vật lý nào. Nhưng không lâu
sau đó ngài lại có những dấu hiệu đau yếu, và hầu như
ngài hòan tòan không thể ăn hay uống trong suốt mười hai
ngày. Vào lúc chập tối ngày 27 tháng 9 năm 1991, ngài yêu cầu
các thị giả giúp ngài ngồi trong tư thế thẳng lưng và đi
vào một giấc ngủ an bình. Lúc sáng sớm, ngài ngừng thở
và tâm ngài tan hòa trong Pháp giới tuyệt đối.
Như
thế cuộc đời phi thường của Khyentse Rinpoche đã chấm dứt,
một cuộc đời mà từ thủa thiếu thới đã hoàn toàn được
sử dụng để nghiên cứu, thực hành và giảng dạy. Bất
kỳ ngài ở đâu, đêm hay ngày, vẫn với một lòng tốt, sự
hài hước, trí tuệ và phẩm cách như nhau, mọi nỗ lực của
ngài luôn luôn hướng về việc bảo tồn và biểu lộ mọi
hình thức của Phật Pháp.
Theo
thỉnh cầu của những đệ tử ở Tây Tạng và mọi nơi trên
thế giới, di hài của ngài được giữ gìn trong một năm
bằng những phương pháp ướp theo truyền thống. Di hài cũng
được mang từ Bhutan tới Tu viện Shechen ở Nepal trong vài
tháng để nhiều người có thể tới kính viếng. Mỗi ngày
thứ Sáu (ngày ngài mất) trong bảy tuần đầu tiên, một trăm
ngàn ngọn đèn bơ được cúng dường trên tháp Bodhnath gần
Tu viện Shechen. Toàn thể cộng đồng Tây Tạng đã kết hợp
với các tu sĩ để giúp chuẩn bị và thắp sáng những ngọn
đèn.
Cuối
cùng, di hài của ngài được hỏa thiêu gần Paro tại Bhutan
vào tháng Mười Một năm 1992, trong một buổi lễ ba ngày có
sự tham dự của hơn một trăm Lạt Ma quan trọng, Hoàng gia
và các Bộ trưởng của Bhutan, năm trăm đệ tử Tây phương,
và một đám đông khổng lồ gồm khoảng năm mươi ngàn người
sùng mộ – một cuộc tập hợp chưa từng có trong lịch sử
xứ Bhutan.
Nếu
bạn chinh phục bản tánh nguyên thuỷ nhờ phân biệt tâm với
Giác tánh,
Cái
thấy về sự tuyệt đối sẽ dần dần trở nên rõ ràng.
Cho
dù ngay giờ đây trong thâm sâu Giác tánh còn chưa rõ ràng,
Hãy
chỉ đừng để tâm lang thang bên ngoài;
Điều
này sẽ xảy ra, bởi Giác tánh nằm tận đáy sâu tâm thức.
Như
có nói, chúng như nước và băng:
Nước
và băng không giống hệt nhau,
Bởi
băng thì rắn và có thể cầm nắm.
Nhưng
băng tan thì không khác gì nước,
Vì
thế, thực ra, nước và băng không phải là hai, mà là một.
Cũng
thế, khi mê lầm, tâm không là Giác tánh,
Nhưng
khi chứng ngộ, bản tánh tâm không khác gì Giác tánh.
Mặc
dù tâm và Giác tánh không khác biệt về ý nghĩa,
Nhưng
không thể phân biệt chúng bằng suy luận rạch ròi.
Ngày
nào đó, khi sự xác tín của bạn nơi Giác tánh phát triển,
Tâm
sẽ xuất hiện ngây ngô như một đứa trẻ
Và
Giác tánh minh triết như một hiền giả già tôn kính.
Giác
tánh sẽ không chạy theo tâm, nhưng làm lu mờ nó;
Trong
một trạng thái thư thản, trong trẻo, hãy nghỉ ngơi thoải
mái.
Khyentse Rinpoche
Tâm
không có hình tướng, không màu sắc, và không thực chất;
đây là phương diện trống không của nó. Tuy nhiên tâm có
thể hiểu biết các sự việc và nhận thức vô số hiện
tượng. Đây là khía cạnh quang minh của nó. Sự bất khả
phân của hai phương diện này, tánh Không và sự quang minh,
là bản tánh nguyên sơ, không ngừng dứt của tâm.
Hiện
nay, sự quang minh tự nhiên của tâm bạn bị những mê lầm
ngăn che. Nhưng khi sự che chướng được tiệt trừ bạn sẽ
bắt đầu khám phá ra sự chói lọi của Giác tánh, cho tới
khi bạn đạt tới chỗ, giống như một đường kẻ được
vạch trên mặt nước biến mất ngay khi được vẽ ra, những
tư tưởng của bạn được giải thoát ngay khi chúng xuất
hiện. Kinh nghiệm tâm theo phương cách này là gặp gỡ nguồn
mạch đích thực của Phật Quả. Khi bản tánh tâm được
nhận ra, điều đó được gọi là Niết Bàn; khi nó bị mê
lầm ngăn che, điều đó được gọi là sinh tử. Tuy nhiên
cả sinh tử lẫn Niết Bàn chưa từng xa lìa sự tương tục
của tuyệt đối. Khi Giác tánh đạt được phạm vi viên mãn
của nó, những phòng tuyến của mê lầm sẽ bị chọc thủng
và thành trì của sự tuyệt đối, siêu vượt thiền định,
có thể được chiếm giữ một lần cho mãi mãi.
Khyentse Rinpoche
Sự
chứng ngộ xuất hiện trong ba giai đoạn: sự hiểu biết,
những kinh nghiệm, và sự chứng ngộ thực sự. Giai đoạn
đầu tiên là sự hiểu biết có tính chất lý thuyết và đến
từ việc nghiên cứu những giáo lý. Dĩ nhiên là điều đó
cần thiết, nhưng nó không thật vững chắc. Nó giống như
một miếng vá được khâu vào tấm vải, cuối cùng sẽ bung
ra. Sự hiểu biết có tính chất lý thuyết không đủ mạnh
mẽ để vượt qua những điều tốt hay xấu xảy ra trong đời
bạn. Khi những khó khăn xuất hiện, không có sự hiểu biết
lý thuyết nào giúp cho bạn chiến thắng được chúng.
Đối
với những kinh nghiệm trong thiền định, thì giống như sương
mù, chúng bắt buộc phải biến mất. Nếu bạn tập trung vào
sự thực hành ở một nơi hẻo lánh thì chắc chắn là bạn
sẽ có những kinh nghiệm khác nhau. Nhưng những kinh nghiệm
như thế không đáng tin, và có câu nói rằng: “Những thiền
giả theo đuổi những kinh nghiệm sẽ bị lạc lối giống
như một đứa trẻ chạy theo một cầu vồng tuyệt đẹp,.”
Khi bạn thực hành mãnh liệt, bạn có thể có những tia chớp
thấu thị và những dấu hiệu khác nhau của sự thành tựu,
nhưng tất cả những gì mà những điều đó làm là để nuôi
dưỡng những sự mong cầu và kiêu ngạo – chúng chỉ là
những trò bịp bợm hiểm độc và là nguồn gốc của các
chướng ngại.
Ta
được dạy rằng đối phó với những hoàn cảnh tốt thì
còn khó khăn hơn việc xử sự với những hoàn cảnh xấu,
bởi chúng làm ta thêm xao lãng. Nếu bạn có mọi thứ bạn
muốn – của cải, một căn nhà tiện nghi, quần áo – bạn
nên nhìn hết thảy chúng như sự huyễn hóa, giống như những
tài sản có được trong giấc mơ, hơn là cảm thấy tham luyến
thái quá vào chúng. Nếu có ai nổi giận với bạn hay đe dọa
bạn, thì nhờ đó bạn khá dễ dàng khi thiền định về sự
nhẫn nhục; hay nếu bạn bị bệnh thì nó giúp bạn dễ dàng
đương đầu với bệnh tật. Bởi những điều như thế là
nguyên nhân của đau khổ, và đau khổ khiến chúng ta nhớ
tới Pháp một cách tự nhiên, trong chừng mực là dễ hòa
nhập những hoàn cảnh khó khăn này vào con đường của bạn.
Nhưng khi những sự việc đang tiến triển tốt đẹp và bạn
cảm thấy hạnh phúc, tâm bạn chấp nhận tình huống đó
không chút khó khăn. Giống như chất dầu lan khắp da bạn,
sự tham luyến dễ dàng lưu lại và trộn lẫn vào tâm bạn;
nó trở thành một bộ phận của những tư tưởng của bạn.
Một khi có sự hiện diện của sự tham luyến với những
hoàn cảnh thuận lợi như thế, bạn sẽ gần như trở nên
mê đắm với những thành tựu, thanh danh và của cải của
bạn. Đó là cái gì rất khó thoát ra khỏi.
Nhưng
những người có sự chứng ngộ thực sự thì như một ngọn
núi hùng vĩ không thể bị lay chuyển bởi bất kỳ ngọn gió
nào, hay giống như một bầu trời xanh bất biến. Những thuận
cảnh hay nghịch cảnh, cho dù nhiều tới đâu chăng nữa, cũng
không thể gây ra sự tham luyến hay ganh ghét nào, không kích
động chút mong cầu hay hoài nghi nào. Trong Kinh điển có nói
rằng một người như thế được người bên cạnh quạt mát
bằng chiếc quạt đàn hương cũng chẳng hài lòng gì hơn khi
sợ hãi vì một người ở bên kia sẵn sàng đánh anh ta bằng
một chiếc rìu. Đối với người như thế, mọi tri giác mê
lầm đã bị cạn kiệt. Kết quả là mọi hoàn cảnh, dù thuận
hay nghịch, sẽ làm người ấy tiến bộ hơn nữa trên con
đường.
Khyentse Rinpoche
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Là
những hang động vừa ý để ở và thực hành.
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Bè
bạn ủi an ta là thú muông hoang dã.
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Thực
phẩm của ta là rễ cây và những trái mọng hoang.
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Là
chợ búa nơi sinh tử được đổi lấy Niết Bàn.
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Là
những điều kiện thuận lợi cho sự chứng ngộ.
Trong
những chốn hoang vu không người sinh sống,
Là
vẻ đẹp tự nhiên khiến ta ngắm nhìn thích ý.
Chẳng
có cách nào để diễn tả
Bao
nhiêu điều tốt lành khi sống trong những nơi hẻo lánh và
quạnh hiu
Khác
xa lối cư trú của con người.
Vì
thế, kẻ kế thừa của các Đấng Chiến Thắng,
Hãy
đi tới một nơi hẻo lánh và thực hành!
Shabkar
Trong
lâu đài đá núi
Dưới
bóng cây rừng mát mẻ,
Trong
những túp lều con bằng cỏ xanh,
Dưới
những chiếc lều vải trắng,
Ta,
một yogi thảnh thơi,
Sống
theo ý thích.
Đây
là một bài ca vui tươi
Xuất
phát từ một tâm an bình.
Guru
linh thánh đích thực,
Lòng
tốt của ngài đối với con
Vượt
xa thiện tâm của chư Phật!
Khi
phó thác bản thân cho ngài,
Con
hiểu rằng mọi sắc tướng
Là
trò phô diễn thần diệu của tâm;
Các
hiện tượng sinh tử và Niết Bàn
Hiển
nhiên nhưng không thực có.
Con
đã chứng ngộ rằng bản tánh của tâm này,
Cội
gốc của sinh tử và Niết Bàn,
Là
một sự trống không chói lọi không cách nào diễn tả
Bởi
chẳng có gì để bám chấp.
Ta
đã sống trong một nơi cô tịch
Trong
sự tương tục của trang thái tự nhiên –
Giống
như thả một nắm bông len,
Ta
để tâm thức thư thản,
Và
nó lại tiếp tục trạng thái tự nhiên của nó.
Khi
bóng tối vô minh
Tự
nhiên bị quét sạch,
Xuất
hiện bầu trời bao la
Của
Pháp giới tuyệt đối.
Không
một nghi ngờ, không chút do dự nào
Xuất
hiện trong tâm ta
Rằng
đây có phải là bản tánh tuyệt đối hay không
Cho
dù tất cả chư Phật có xuất hiện trước mặt ta,
Ta
sẽ chẳng nghi ngờ gì về việc các ngài sẽ làm sáng tỏ
điều đó.
Shabkar
Vị
Thầy như một con tàu vĩ đại đưa chúng ta vượt qua đại
dương hiểm nghèo của luân hồi sinh tử, là một hoa tiêu
không lầm lẫn dẫn dắt chúng ta tới miền đất khô ráo
của tự do, một trận mưa cam lồ làm tiêu tan địa ngục
của những cảm xúc và hành động tiêu cực, một mặt trời
và mặt trăng chói lọi xua tan bóng tối vô minh, mặt đất
vững chắc chịu đựng một cách kiên nhẫn sức nặng của
cả điều tốt lẫn điều xấu, một cây như ý ban tặng hạnh
phúc hiện tại và tối hậu, một kho tàng những giáo huấn
bao la và sâu xa, một viên ngọc như ý cung cấp bất kỳ điều
gì chúng sinh cần tới trên con đường của họ, một người
cha và người mẹ yêu thương tất cả chúng sinh ngang bằng
nhau, một con sông vĩ đại của lòng bi mẫn rộng lớn và
linh hoạt, một ngọn núi vĩ đại của sự hỉ lạc vượt
lên những bận tâm thế tục và không bị lay chuyển bởi
những trận gió cảm xúc, và một đám mây lớn đổ xuống
khắp mọi nơi những lợi lạc của nó không chút phân biệt,
không bị ảnh hưởng bởi yêu hay ghét. Việc thực hiện bất
kỳ sự nối kết nào với ngài, dù là nhìn thấy ngài, nghe
giọng ngài nói, nhớ tưởng tới ngài, hay được bàn tay ngài
xúc chạm, sẽ đưa dẫn chúng ta tới sự giải thoát. Có niềm
tin trọn vẹn nơi ngài là cách thức chắc chắn nhất để
tiến tới Giác ngộ. Sự nồng ấm của trí tuệ và lòng bi
mẫn của ngài sẽ làm tan chảy quặng mỏ của đời sống
chúng ta để lấy ra được chất vàng của Phật tánh tiềm
ẩn trong đó.
Khyentse Rinpoche
Ở
bình diện tương đối vị Thầy xuất hiện trong thân tướng
con người, ban những giáo lý, và chỉ cho ta con đường. Nhờ
những giáo huấn và sự ban phước của ngài, sẽ tới lúc
sự chứng ngộ của ngài và của chúng ta trở thành một.
Vào lúc đó chúng ta sẽ chứng ngộ rằng vị Thầy nội tại
tuyệt đối luôn luôn hiện diện như bản tánh của tâm ta.
Jamgon Kongtrul
Trừ
phi mặt trời của lòng sùng mộ chiếu soi
Trên
đỉnh núi tuyết của bốn kaya (thân) của vị Thầy,
Dòng
ân phước của ngài sẽ không bao giờ chảy.
Vì
thế hãy thiết tha khơi dậy lòng sùng mộ trong tâm bạn!
Drikung Kyobpa
Nghĩ
tưởng tới vị Thầy của ta chỉ trong chốc lát,
Thì
tốt hơn việc thiền định về một trăm ngàn Bổn Tôn
Trong
mười triệu kalpa (kiếp).
Tantra Hiện thân Quý báu
Giống
như màn sương bạc xuất hiện
Trong
bầu trời bao la, trống không,
Vì
sao thân tướng của guru
Sẽ
không xuất hiện trong sự bao la của không gian trùm khắp?
Giống
như trận mưa dịu dàng nhẹ nhàng đổ xuống,
Trong
cầu vồng tuyệt đẹp,
Vì
sao guru sẽ không trút xuống những giáo lý sâu xa?
Trong
một vòm ánh sáng năm màu?
Giống
như nước mưa còn đọng lại
Trên
mặt đất bằng của một bãi cỏ rộng,
Những
giáo lý này sẽ không tồn tại trong tâm
Trưởng
tử trung thành và sùng mộ của ngươi?
Giống
như những bông hoa rực rỡ chói lọi
Xuất
hiện bên kia miền đồng hoang tươi tốt, mềm mại,
Những
kinh nghiệm và chứng ngộ tâm linh
Sẽ
không xuất hiện trong dòng tâm thức của trưởng tử của
ngươi?
Shabkar
Ta
đã chỉ cho các con những phương pháp
Dẫõn
tới sự giải thoát.
Nhưng
các con nên hiểu rằng
Sự
giải thoát ấy tuỳ thuộc vào bản thân các con.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Khi
phân chia kinh nghiệm thành chủ thể và đối tượng, trước
tiên tâm thức đồng nhất với chủ thể, “ta,” sau đó
với ý niệm “của ta,” và bắt đầu bám chấp vào “thân
ta,” “tâm ta,” và “tên ta.” Khi sự bám luyến của ta
đối với ba ý niệm này càng lúc càng mạnh mẽ, chúng ta
chỉ lo âu hơn nữa về hạnh phúc của riêng ta. Việc ta nỗ
lực để được an nhàn, việc ta không nhân nhượng với những
tình huống trái ý của cuộc sống, việc ta bận tâm với
sự được và mất, sướng và khổ, vinh và nhục, khen và
chê, tất cả đều là do ý niệm về cái “ta.”
Chúng
ta thường bị ám ảnh về bản thân tới nỗi ta khó có thể
làm được ngay cả việc nghĩ tới hạnh phúc của người
khác - trong thực tế, chúng ta không quan tâm tới người khác
nhiều hơn một con cọp chăm chú ăn cỏ. Điều này hoàn toàn
đối nghịch với quan điểm của Bồ Tát. Thực ra bản ngã
chỉ là một sự tạo tác của tư tưởng, và khi bạn nhận
ra rằng cả đối tượng được bám chấp lẫn tâm bám chấp
đều trống không, khi ấy bạn dễ thấy được rằng những
người khác không khác biệt với bản thân bạn. Thường thì
chúng ta dồn mọi năng lực vào việc chăm sóc chính mình,
chư vị Bồ Tát thì đặt nó vào việc chăm sóc chúng sinh.
Nếu một Bồ Tát thấy rằng việc ngài lao mình vào lửa địa
ngục sẽ có thể cứu giúp ngay cả một chúng sinh duy nhất,
ngài sẽ làm điều đó không chút do dự, giống như một con
thiên nga bơi vào một hồ nước lạnh lẽo.
Khyentse Rinpoche
vào
thế kỷ thứ tám, Đức Vua Tây Tạng Trisong Detsen đã quyết
định xây dựng một ngôi chùa tại địa điểm đã được
chọn lựa. Khi tìm kiếm một thầy tế lễ hiến cúng mặt
đất, ngài hỏi ý kiến Nyang Tingdzin Zangpo, vị Thầy được
nhà vua tôn kính nhất. Bằng sự quán chiếu, Tingdzin Zangpo
biết rằng tại Zahor miền Đông Ấn Độ có một vị tu viện
trưởng tên là Shantarakshita đang ở đó. Ngài truyền đạt
thông tin này cho nhà vua, và vị tu viện trưởng được mời
sang Tây Tạng. Sau đó Shantarakshita nỗ lực hiến cúng địa
điểm ngôi chùa. Nhưng một tinh linh sống trong nước biết
rằng bụi cây mà ông ta đang sống trong đó sắp bị đốn
hạ, ông kêu gọi tất cả các tinh linh tới trợ giúp. Họ
cùng hợp lại thành một đội quân, cứ khi đêm xuống là
họ phá hủy tất cả những gì con người xây dựng trong ngày
và đem tất cả đất đá trở lại chỗ cũ.
Nhà
Vua đi gặp tu viện trưởng và xin được giải thích. “Có
phải đó là bởi những che chướng của trẫm quá sâu dày?
Hay tại ngài không ban phước cho địa điểm? Chắc hẳn những
chương trình của trẫm chưa thực hiện được?”
“Tôi
đã quán triệt lòng từ và bi,” tu viện trưởng trả lời,
“nhưng chư thiên và quỷ ma không thể bị khuất phục bởi
những phương pháp an bình như thế. Chỉ có những phương
pháp phẫn nộ là có hiệu quả. Hiện nay, tại Bodhgaya ở
Ấn Độ có một vị Thầy tên là Padmasambhava xứ Uddiyana.
Ngài xuất hiện trong thế giới này bằng một cách thế kỳ
diệu. Ngài tinh thông năm khoa học (ngũ minh) và làm chủ được
năng lực của sự tuyệt đối. Ngài đã đạt được những
thành tựu thông thường và siêu việt. Ngài làm cho tất cả
những vị trời và quỷ ma phải run sợ, và chinh phục những
tinh linh thuộc các đại. Nếu Đức Vua thỉnh mời ngài tới
đây, sẽ không có tinh linh nào kháng cự được ngài và tất
cả những điều Đức Vua ước muốn sẽ được thực hiện.”
Vì
thế nhà vua cử Ba Trisher, Dorje Dudjom, Chim Shakyaprabha và Shubu
Palgyi Senge tới Ấn Độ, mỗi vị mang theo một khối lượng
bụi vàng và một nút vĩnh cửu bằng vàng. Các ngài giải
thích cho Đạo Sư rằng xứ Tây Tạng cần có ngài để ban
phước cho địa điểm của một ngôi chùa. Đạo Sư hứa sẽ
tới. Ngài bắt đầu lên đường, dừng lại dọc đường
để buộc mười hai tenma, mười hai vị nữ bảo hộ, hai mươi
mốt genyen, và tất cả những vị trời và tinh linh của Tây
Tạng phải tuyên thệ. Cuối cùng ngài tới Trakmar để an định
địa điểm, và Ngôi Chùa Xuất Hiện Tự Nhiên Samye được
xây dựng. Nó có một dinh thự chính ba tầng, bao quanh là những
toà nhà tượng trưng cho bốn đại lục và những tiểu đại
lục. Hai điện Yaksha (Dạ Xoa) trên và dưới, tượng trưng
cho mặt trời và mặt trăng. Toàn bộ quần thể được bao
bọc trong một búc tường có một trăm lẻ tám stupa (tháp).
Tu viện trưởng Shantarakshita, acharya (Đạo Sư) Padmasambhava
và pandita (học giả) Vimalamitra ném những bông hoa để hiến
cúng nó ba lần, và người ta thấy có nhiều dấu hiệu cùng
những sự kỳ diệu phi thường.
Paltrul Rinpoche
Trong
mọi lúc, chúng ta nên liên tục thực hiện những lời cầu
nguyện rộng lớn cho sự lợi lạc của tất cả chúng sinh.
Khi rơi vào giấc ngủ chúng ta nên nghĩ tưởng: “Cầu mong
tất cả chúng sinh thành tựu trạng thái tuyệt đối”; khi
thức dậy: “Cầu mong tất cả chúng sinh tỉnh thức trong
trạng thái giác ngộ”; khi đứng dậy: “ Cầu mong tất cả
chúng sinh đạt được thân Phật”; khi mặc quần áo: “Cầu
mong tất cả chúng sinh có sự khiêm tốn và một cảm
thức xấu hổ”; khi đốt lửa: “Cầu mong tất cả chúng
sinh đốt cháy củi của những cảm xúc rối loạn”; khi ăn:
“Cầu mong tất cả chúng sinh dùng thực phẩm của sự thiền
định”; khi mở cửa: “Cầu mong tất cả chúng sinh mở cánh
cửa của kinh thành giải thoát”; khi đóng cửa: “Cầu mong
tất cả chúng sinh đóng cánh cửa đi tới những cõi thấp”;
khi đi ra ngoài: “Cầu mong tôi bắt đầu lên đường để
giải thoát tất cả chúng sinh”; khi đi lên đồi: “Cầu
mong tôi đưa tất cả chúng sinh lên những cõi cao”; khi xuống
đồi: “Cầu mong tôi đi giải thoát tất cả chúng sinh khỏi
những cõi thấp”; khi cảm nhận hạnh phúc: “Cầu mong tất
cả chúng sinh thành tựu hạnh phúc của Phật Quả”; khi trải
nghiệm đau khổ: “Cầu mong nỗi khổ của tất cả chúng
sinh được an dịu.”
Khyentse Rinpoche
Vào
lúc đầu, bạn nên được dẫn dắt bởi một nỗi sợ hãi
sinh và tử giống như một con nai đực trốn thoát khỏi một
cái bẫy. Vào lúc giữa, bạn nên không có gì để hối tiếc
cho dù bạn phải chết, giống như một nông dân đã làm việc
chu đáo trong cánh đồng. Vào lúc cuối, bạn nên cảm thấy
thanh thản và sung sướng, giống như một người hoàn
toàn làm xong một công việckhủng khiếp.
Vào
lúc đầu, bạn nên hiểu rằng không có thời gian để phí
phạm, giống như một người bị một vết thương nguy hiểm
do một mũi tên. Vào lúc giữa, bạn nên thiền định về cái
chết mà không nghĩ tưởng điều gì khác, giống như người
mẹ có đứa con trai duy nhất đã chết. Vào lúc cuối, bạn
nên hiểu rằng không còn điều gì để làm, giống như một
người chăn cừu mà bầy thú của anh ta bị kẻ thù lấy đi
mất.
Gampopa
Có
câu nói rằng: “Biểu hiện của trí tuệ là sự tự chủ,
và biểu hiện của kinh nghiệm tâm linh chín mùi là không có
những cảm xúc mâu thuẫn.” Điều này có nghĩa là nếu bạn
trở nên minh triết và uyên bác, thì cùng mức độ đó, bạn
cũng trở nên thanh thản, an bình và dịu dàng – không lo lắng
và đầy ắp sự tự phụ và kiêu ngạo. Năm này sang năm khác,
dù việc thực hành của bạn tiến bộ tới đâu chăng nữa,
bạn sẽ chẳng quan tâm tới sự tiện nghi an nhàn hay điều
bực dọc, và sẽ chẳng có chút kiêu mạn nào. Bạn sẽ luôn
luôn thuận thảo, không bị phiền não bởi những sự kiện
bên ngoài, với một tâm nhún nhường, vượt lên mọi hy vọng
và hoài nghi, và dửng dưng với tám mối bận tâm thế tục
– được và mất, sướng và khổ, khen và chê, vinh và nhục.
Có một câu tục ngữ nói rằng: “Trong thực hành tâm linh,
sự khó khăn xuất hiện vào lúc đầu, trong những công việc
thế gian, sự khó khăn xuất hiện vào lúc cuối.” Điều
này có nghĩa là khi từ bỏ những hoạt động bình thường
và hoàn toàn hiến mình cho việc thực hành, bạn có thể gặp
một vài trở ngại bên ngoài và bên trong; nhưng bạn càng
kiên nhẫn thì bạn càng trở nên hạnh phúc. Ngược lại,
những hoạt động thế gian mang lại một vài sự mãn nguyện
phù du và nông cạn vào lúc đầu; nhưng rốt cuộc chúng dẫn
tới sự thất vọng cay đắng.
Hãy
vứt bỏ mọi tư tưởng khác, chỉ quan tâm tới sự chuyển
hóa nội tâm mà việc thực hành của bạn tạo nên. Đừng
lo âu về của cải, thanh danh, và năng lực, mà hãy nuôi dưỡng
sự khiêm tốn – không chỉ trong vài tháng mà trong toàn bộ
cuộc đời của bạn.
Hãy
thường xuyên kiểm soát xem bạn có đang thành công trong việc
sử dụng giáo lý để điều phục những cảm xúc mâu thuẫn
của bạn hay không. Nếu bất kỳ thực hành nào dẫn tới
kết quả trái ngược – làm tăng trưởng những cảm xúc
tiêu cực và tánh vị kỷ của bạn - thì thực hành ấy không
thích hợp với bạn và bạn nên từ bỏ nó thì hơn. Một
khi đã bắt đầu thực hành, bạn đừng chạy theo lời khuyên
của bất kỳ ai. Hãy như một con thú hoang thoát khỏi một
cái bẫy, nó phóng chạy càng xa càng tốt. Bạn phải hoàn
toàn thoát khỏi sinh tử, đừng nửa nạc nửa mỡ.
Khi
bạn thấy mình ở giữa một tập hội rộng lớn, đứng bao
giờ đánh mất sự chánh niệm. Hãy giữ gìn trạng thái của
sự đơn giản không bị tạo tác và nhớ tới những giáo
huấn của vị Thầy.
Hãy
như một người mẹ bị chia cách với đứa con mới sinh của
bà. Một người mẹ cực kỳ ân cần và tận tụy với đứa
con, và nếu có ai tách lìa nó với bà ngay cả trong một thời
gian rất ngắn, bà không thể thôi không nghĩ về nó. Cũng
thế, bạn đừng bao giờ buông lỏng sự chánh niệm và tỉnh
giác của bạn.
Cho
dù ngày hôm nay cái chết tấn công bạn như một tia chớp,
hãy sẵn sàng chết mà không có bất kỳ sự đau buồn hay
hối tiếc nào, không còn sót lại bất kỳ sự bám chấp nào
đối với những gì bỏ lại sau lưng. Khi an trụ trong sự
nhận ra cái thấy (kiến), hãy từ bỏ cuộc đời này giống
như một con chim đại bàng bay vút lên bầu trời xanh. Khi một
con chim đại bàng bay vào khoảng không gian bao la, nó chẳâng
bao giờ nghĩ: “Đôi cánh của ta không đủ sức nâng đỡ
ta; ta không thể bay xa.” Cũng thế, khi chết, hãy nhớ tới
vị Thầy của bạn và những giáo huấn của ngài và bám chặt
vào đó với sự xác quyết tuyệt đối.
Khyentse Rinpoche
Vị
Thầy tối hậu, sự tuyệt đối, không bao giờ xa lìa chúng
con,
Nhưng
chúng sinh non nớt không nhận ra điều đó, hướng mắt ra
ngoài và tìm kiếm ngài ở nơi xa.
Vị
cha duy nhất, với lòng từ bi bao la ngài đã chỉ cho con sự
giàu có của riêng con;
Con,
một kẻ cùng khổ, thường xuyên cảm thấy sự hiện diện
của ngài tận đáy lòng con.
Vị
Thầy-trí tuệ thấm đẫm toàn thể thế giới và chúng sinh,
sinh tử và Niết Bàn,
Ngài
chỉ dạy các hiện tượng có thể xuất hiện như những giáo
lý ra sao,
Làm
cho con tin rằng mọi sự là vị Thầy tuyệt đối;
Con
khao khát sự chứng ngộ vô thượng, và cảm thấy sự hiện
diện của ngài tận đáy lòng con.
Khyentse Rinpoche