DI
SẢN TÂM LINH,
SỰ
CHUYỂN HÓA VÀ TÍNH LIÊN TỤC
Sự
truyền dạy và tính liên tục là những điểm trọng yếu
của truyền thống Phật Giáo. Những giáo lý sống động không
được tàn lụi; sự chứng ngộ chân thực phải được trao
truyền từ vị Thầy sang đệ tử. Những Đạo Sư Tây Tạng
vĩ đại không phải là những điều huyền nhiệm biệt lập.
Được bắt rễ trong mảnh đất phì nhiêu của sự xác tín
và kiên trì của chính các ngài, trí tuệ của các ngài đã
dần dần thuần thục trong vầng dương những sự ban phước
và trí tuệ của vị Thầy của các ngài. Có nhiều cách để
làm vui lòng vị Thầy của ta và đền đáp thiện tâm của
ngài, nhưng cách thức được coi là tối hảo là đưa những
giáo lý của ngài vào thực hành cho tới khi sự chứng ngộ
chân thực ló rạng trong tâm thức của riêng ta.
Về
mặt này thì cuộc đời của Khyentse Rinpoche là một kiểu
mẫu toàn hảo. Ngoài hai vị Thầy chính của ngài, ngài đã
học tập với hơn năm mươi vị Thầy kiệt xuất từ mọi
trường phái của Phật Giáo Tây Tạng. Sau khi hoàn toàn hợp
nhất những giáo lý vào cuộc sống của riêng ngài, khi ấy
ngài đã có thể trao truyền chúng cho hàng ngàn đệ tử. Trong
số những đệ tử đó, một số đã trở thành những vị
trì giữ đích thực những giáo lý, những người thừa kế
tâm linh, và hiện nay đang tiếp nối dòng truyền của ngài.
Sinh
năm 1924, Trulshik Rinpoche không chỉ là một người nắm giữ
dòng truyền thừa, ngài cũng là người nhận lãnh chính yếu
“kho tàng tâm” của Khyentse Rinpoche, như được đặc biệt
tiên tri trong những bản văn của các kho tàng tâm này. Ngài
cũng là vị truyền giới chính yếu các giới nguyện tu viện
trong các dòng Nyingma và đã tôn phong cho vài ngàn tu sĩ.
Khoảng
ba mươi năm trước, trong khi đang hành hương ở Nepal, một
đêm Khyentse Rinpoche mơ thấy ngài đang leo lên một ngọn núi
sừng sững. Trên đỉnh là một tu viện nhỏ. Ngài đi vào
và nhìn thấy ở bên trong những vị Thầy ngày trước của
ngài đang ngồi cạnh nhau – ba vị Lạt Ma chính của Tu viện
Shechen là Shechen Gyaltsap Rinpoche, Shechen Rabjam, và Shechen Kongtrul.
Khyentse Rinpoche lễ lạy các ngài và cất tiếng hát tụng
bài kệ đau buồn, hỏi các vị Thầy là các ngài đã chịu
đau khổ trong tay những người Trung Quốc ra sao (cả ba vị
đã bỏ mạng trong ngục tù vào cuối thập niên 1950 và đầu
thập niên 1960). Cũng trong một bài kệ, các ngài trả lời
bằng một giọng, nói rằng: “Đối với chúng ta sinh và tử
như những giấc mộng hay sự huyễn hóa. Trạng thái tuyệt
đối không màng tới sự thịnh suy.” Khyentse Rinpoche biểu
lộ ước muốn được sớm gặp các ngài trong các Cõi Phật,
bởi ngài đã nhìn thấy ít ỏi những gì còn lại trong một
thế giới nơi các giáo lý biến mất nhanh chóng và hầu hết
các vị Thầy chỉ là những kẻ lừa đảo mạo danh. Vào lúc
đó, Shechen Kongtrul chăm chăm nhìn Khyentse Rinpoche với ánh mắt
sắc nhọn và nói: “Con phải tận tụy làm việc để giúp
ích chúng sinh và duy trì giáo lý cho tới hơi thở cuối cùng
của con. Ba người chúng ta, hợp nhất làm một, sẽ đến
với con như một Hoá Thân duy nhất, một người trợ giúp
để hoàn thành những mục đích của con.” Không lâu sau đó,
vào năm 1966, trưởng nữ của Khyentse Rinpoche là Chime Wangmo
hạ sinh một bé trai, là người được Karmapa thứ mười sáu
xác nhận là Hoá Thân của Shechen Rabjam.
Shechen
Rabjam Rinpoche không chỉ là cháu ngoại của Khyentse Rinpoche
mà cũng là vị kế thừa tâm linh thực sự của ngài. Rabjam
Rinpoche được ông ngoại nuôi dạy từ lúc năm tuổi và nhận
lãnh mọi giáo lý ông ban cho trong hơn hai mươi lăm năm. Rabjam
Rinpoche nói về mối liên hệ phi thường với vị Thầy-ông
ngoại của mình:
“Nhận
thức đầu tiên của tôi về Khyentse Rinpoche là nhận thức
về một người ông kỳ diệu tràn đầy thương yêu. Thực
ra ngài giống như cha và mẹ thực sự của tôi trong một con
người. Sau đó, khi tôi lớn lên, nhận thức này dần dần
biến thành lòng tôn kính, xác tín sâu xa, và cuối cùng thành
niềm tin tưởng bất biến. Vì thế, Khyentse Rinpoche đã trở
thành Đạo Sư tâm linh của tôi. Khi tôi bắt đầu nghiên cứu
Kinh điển, tôi tìm thấy ở ngài mọi phẩm tính mà Kinh điển
đã mô tả về một Đạo Sư đích thực và chứng ngộ. Sau
khi ngài viên tịch, sức mạnh của sự hiện diện của ngài
chẳng những không biến mất mà còn trở nên mỗi lúc một
trùm khắp. Bây giờ tôi nhận ra là mình may mắn biết bao
khi được gặp một người như ngài. Mục đích duy nhất của
tôi là có thể duy trì các giáo lý của ngài và hoàn thành
những điều ngài ước nguyện.”
Cho
tới nay, mục đích mà Rabjam Rinpoche đang thực hiện này đã
có những thành công đáng kể. Từ năm hai mươi lăm tuổi
ngài đã phải gánh vác trách nhiệm nặng nề trông coi những
tu viện rộng lớn của truyền thống Shechen ở Nepal, Tây Tạng,
và Bhutan, cũng như trách nhiệm giám sát việc xây dựng tu
viện khác tại Bodhgaya ở Ấn Độ, nơi Đức Phật đã đạt
được Giác ngộ.
Dzongsar
Khyentse Rinpoche, sinh năm 1961, là Hoá Thân chính của Khyentse
Chokyi Lodro, một vị Thầy thân yêu khác của Khyentse Rinpoche.
Khi Hoá Thân trẻ tuổi được xác nhận và được mời tới
Sikkim để làm lễ đăng quang, Khyentse Rinpoche đi xuống biên
giới Sikkim-Ấn Độ để đón chào ngài. Trong vài giờ ngồi
xe trở ngược lên Gangtok, thủ đô của Sikkim, suốt cả quãng
đường Khyentse Rinpoche đã ôm cậu bé trong lòng và trào nước
mắt. Sau này những người có tham dự chuyến du hành đó đã
hỏi ngài là vẻ buồn bã bộc lộ của ngài có phải do từ
những linh tính về tương lai của vị Hoá Thân trẻ hay không.
Nhưng ngài đã giải thích rằng những giọt nước mắt đó
là nước mắt của sự hoan hỉ và sùng mộ, bởi trong vài
giờ đồng hồ đó không phải ngài nhìn thấy cậu bé mà
chính là Khyentse Chokyi Lodro ngày trước như thể trong thực
tại. Sau này, Khyentse Rinpoche thường lễ lạy bất kỳ lúc
nào ngài gặp vị Hoá Thân trẻ tuổi sau một thời gian dài
vắng mặt – ngay cả trên một con đường đầy bụi bặm.
Về sau, Dzongsar Khyentse Rinpoche trở thành đệ tử thân thiết
của Khyentse Rinpoche và đã nhận lãnh vô số giáo lý và sự
nhập môn từ ngài. Dzongsar Khyentse Rinpoche hiện đang đứng
đầu vài tu viện và Đại học tu viện ở Ấn Độ và Bhutan.
Sẽ
chẳng lợi ích gì khi kể tên tất cả những đệ tử của
Khyentse Rinpoche, là những người mà như cách diễn tả của
Tây Tạng đã nói, nhiều như những vì sao trong bầu trời
mùa thu. Tuy nhiên, trong số những người đáng chú ý nhất
– ngoài Đức Đạt Lai Lạt Ma, mà chúng ta đã nói tới trước
đây – là hai vị Choling Rinpoche, Namkhai Nyingpo Rinpoche, Jigme
Khyentse Rinpoche, Dzigar Kongtrul Rinpoche, Senge Trakpa Rinpoche (một
hành giả kiệt xuất đã trải qua nhiều năm trong ẩn thất),
Orgyen Topgyal Rinpoche, và Taklung Tsetrul Pema Wangyal Rinpoche, vị
này được nhiều người coi là nguyên mẫu của đệ tử lý
tưởng và bản thân vị này cũng là một Đạo Sư có phẩm
tính. Chogyam Trungpa Rinpoche, Sogyal Rinpoche, và vài đệ tử khác
của Khyentse Rinpoche cũng đã trở thành những vị Thầy có
ảnh hưởng ở Tây phương.
Như
thế, dòng truyền thừa của Khyentse Rinpoche vẫn còn lưu truyền
mạnh mẽ, trí tuệ và lòng bi mẫn của ngài vẫn nồng ấm
đủ để làm tan chảy quặng mỏ của sự sống của ta và
lấy ra được chất vàng Phật tánh tiềm ẩn trong đó.
Khyentse
Rinpoche đã sống và hít thở những giáo lý của đạo Phật
một cách kiên quyết. Vượt lên bất kỳ bối cảnh văn hóa
đặc thù nào, ngài có khả năng thúc đẩy mọi người tra
vấn một cách sâu xa những sự chọn lựa của riêng họ trong
cuộc sống – và sau đó những tài nguyên bao la của sự chứng
nghiệm thực tiễn và trí tuệ để dẫn dắt họ tới chỗ
tìm ra con đường của riêng họ. Ngày nay những vấn đề
cùng với những giáo lý chúng ta phải đương đầu thì vẫn
còn tươi mới và thích đáng như trước đây. Khyentse Rinpoche
luôn luôn nhấn mạnh rằng Phật đạo được coi là cái gì
được sống tới cùng tột, một làn gió trong lành không ngừng
thổi, một phương cách để kinh nghiệm những sự việc như
chúng thực sự là.
Vào
lúc đầu tôi coi Đạo Sư là vị Thầy,
Vào
lúc giữa tôi coi Kinh điển là vị Thầy,
Vào
lúc cuối tôi coi tâm của riêng tôi là vị Thầy.
Từ
vị Thầy chỉ ra con đường giải thoát
Tôi
nhận lãnh những giáo lý linh thánh cho sự giải thoát
của riêng tôi:
Thực
hành của tôi là tránh làm tà hạnh và vun trồng đức hạnh.
Từ
vị Thầy Bồ Tát
Tôi
nhận lãnh những giáo lý Đại Thừa linh thánh về cách phát
triển tâm giác ngộ (Bồ Đề tâm):
Thực
hành của tôi là yêu thương người khác hơn bản thân.
Từ
vị Thầy Kim Cương Thừa,
Tôi
nhận lãnh những giáo lý Mật Chú Thừa, những quán đảnh,
và giáo huấn:
Thực
hành của tôi là nuôi dưỡng niềm tin, lòng tôn kính, và tri
giác thanh tịnh.
Shabkar
Toàn
bộ sự đột phá của giáo lý Đức Phật là để làm chủ
tâm thức. Nếu bạn làm chủ tâm thức, bạn sẽ điều khiển
được thân thể và ngôn ngữ, và nỗi khổ của riêng bạn
và những người khác chỉ có thể đi tới chỗ kết thúc.
Nhưng nếu bạn để mặc cho tâm thức tràn ngập những cảm
xúc tiêu cực, thì cho dù hành động của thân thể và ngôn
ngữ của bạn có vẻ hoàn hảo tới đâu chăng nữa, bạn
vẫn còn ở rất xa con đường.
Việc
làm chủ tâm thức được thành tựu nhờ sự tỉnh giác liên
tục về mọi tư tưởng và hành động của bạn. Hãy thường
xuyên truy xét tâm bạn, và ngay khi những tư tưởng tiêu cực
xuất hiện, hãy khắc phục chúng bằng những cách đối trị
thích hợp. Khi những tư tưởng tích cực xuất hiện, hãy
củng cố chúng bằng cách hồi hướng công đức chúng mang
lại, ước nguyện rằng tất cả chúng sinh được kiến lập
trong sự Giác ngộ vô thượng. Khi nuôi dưỡng sự chánh niệm
liên tục này trong những thực hành an định và quán chiếu,
cuối cùng bạn sẽ có thể duy trì được việc nhận ra trí
tuệ ngay cả giữa những hoạt động bình thường và những
sự xao lãng. Như thế sự chánh niệm là nền tảng rốt ráo,
phương thuốc chữa trị mọi phiền não sinh tử.
Sự
thực hành Pháp đưa bạn tới một nơi ở đó bạn có thể
duy trì cũng vẫn sự tỉnh giác không ngơi nghỉ đó dù ở
trong hay ngoài những thời khóa. Đây là điểm cốt tuỷ của
mọi giáo huấn tâm linh; không có nó, dù bạn trì tụng bao
nhiêu thần chú và lời nguyện, dù bạn thực hiện bao nhiêu
ngàn lần lễ lạy và đi nhiễu chăng nữa, chừng nào mà tâm
bạn vẫn còn xao lãng thì không điều gì trong những thực
hành đó có thể giúp bạn thoát khỏi những cảm xúc che chướng
của bạn. Đừng lãng quên điều trọng yếu nhất này.
Khyentse
Rinpoche
VÒNG
TRÒN VIÊN MÃN
Bao
giờ không gian còn tồn tại,
Và
bao giờ chúng sinh còn hiện hữu,
Cầu
mong tôi cũng tồn tại
Để
tiệt trừ nỗi khổ của thế gian.
Shantideva
Vào
ngày 28 tháng Mười Hai năm 1995, một số đông khác thường
những Lạt Ma, tu sĩ và Phật tử từ những miền trên thế
giới đã tụ hội ở Maratika thuộc miền Đông xứ Nepal, một
thánh địa của Guru Padmasambhava. Trulshik Rinpoche, một bậc
hiền minh bảy mươi hai tuổi đứng đầu một đoàn diễu
hành đầy màu sắc gồm những tu sĩ và người sùng mộ, mỗi
người cầm một cây nhang chày đỏ, đang đứng đợi và hướng
mắt lên trời. Tiếng gầm lớn dần của một chiếc trực
thăng Nga Sô lớn phá vỡ sự yên lặng tinh khôi của những
rặng núi. Trong số hai mươi hai hành khách là Hoá Thân trẻ
tuổi mới được công nhận của Khyentse Rinpoche.
Khi
em bé hai tuổi rưỡi xuất hiện trong vòng tay của mẹ, Trulshik
Rinpoche đã dâng cho cậu một chiếc khăn lễ dài màu trắng.
Như thể hoàn toàn thông thạo lối chào mừng truyền thống
này, cậu bé chăm chú đặt nó quanh cổ Trulshik Rinpoche.
Đây
không phải là một cuộc hội họp thông thường. Trulshik Rinpoche
là vị Lạt Ma, từ tu viện cô tịch xa xôi gần Núi Everest,
đã công nhận cậu bé là Hoá Thân của vị Thầy yêu quý
của ngài, Dilgo Khyentse Rinpoche.
Sau
khi Khyentse Rinpoche viên tịch vào năm 1991, những đệ tử thân
thiết của ngài đã tự nhiên hướng về Trulshik Rinpioche,
đệ tử lâu năm và thành tựu nhất của ngài, để tìm kiếm
Hoá Thân của Khyentse Rinpoche.
Từ
lúc đó, Trulshik Rinpoche đã có những giấc mơ và thị kiến
biểu thị một cách rõ ràng nhân dạng của vị Hoá Thân.
Đặc biệt là có một thị kiến bao gồm một bài kệ bốn
dòng tiết lộ năm sinh của em bé, tên cha mẹ, và nơi có thể
tìm thấy em bé. Tuy nhiên, ngài đã giữ bí mật những chi
tiết này cho tới tháng Tư năm 1995, khi ngài gởi một lá thư
cho cháu ngọai của Khyentse Rinpoche là Shechen Rabjam Rinpoche.
Khi được giải mã, bài kệ đã tiết lộ rằng người cha
tên là Choling Rinpoche Mingyur Dewai Dorje (chính là con trai của
Tulku Urgyen Rinpoche, một trong những bằng hữu tâm linh thân
thiết nhất của Khyentse Rinpoche), và mẹ là Dechen Paldron. Con
trai của họ, sinh vào sinh nhật của Guru Padmasambhava, ngày
mồng mười tháng năm Năm Dậu (30 tháng Sáu, 1993), như bài
kệ đã nói, là Hoá Thân không thể nhầm lẫn của Paljor”
(một trong những danh hiệu của Khyentse Rinpoche). Đức Đạt
Lai Lạt Ma đã xác nhận đứa trẻ này là Hoá Thân của Khyentse
Rinpoche.
Vào
ngày 29 tháng Mười Hai, một buổi lễ đơn giản và cảm động
được tổ chức trong hang động Maratika. Đối với những
người tụ hội ở đó, một số đã đi bộ nhiều ngày từ
Kathmandu hay Bhutan, mặt trời đã ló rạng từ trong trái tim
họ vào thế giới nói chung. Như thế lời cầu nguyện mà
Đức Đạt Lai Lạt Ma viết chỉ một ngày sau khi Khyentse Rinpoche
lìa bỏ thế giới này đã được đáp ứng:
Chúng
sinh càng cần được cứu giúp,
Thì
chân tánh của ngài càng thêm thương yêu họ.
Vì
thế, để làm thuần thục và giải thoát mọi chúng sinh trong
thời đại tối ám này,
Xin
nhanh chóng hiển lộ dung nhan như vầng trăng của Hoá Thân
ngài!
Vòng
tròn viên mãn đã được vẽ ra.
[1]
Từ lama có nghĩa là một vị Thầy tâm linh. Những Lạt Ma
quan trọng, thường là những vị Hóa Thân, được ban cho danh
hiệu Rinpoche, có nghĩa là “bậc tôn quý.” Nhiều Lạt Ma,
mặc dù không phải tất cả, là những tu sĩ (có nghĩa là
đã thọ giới nguyện độc thân và tuân theo những giới luật
khác). Ngược lại, có nhiều tu sĩ không nhất thiết được
coi là Lạt Ma, mặc dù cách sử dụng của từ ngữ thường
được mở rộng trong ngôn ngữ thường ngày là một hình
thức xưng hô lễ độ đối với bất kỳ tu sĩ thâm niên
nào.
[2]
Mỗi vị Phật được kết hợp với một mẫu tự hay chữ
Phạn đặc biệt là một hình thức cô đọng của thần chú
được nối kết với vị Phật này. Khi quán tưởng một vị
Phật, ta bắt đầu bằng cách quán tưởng một chữ như thế,
sau đó nó tan thành ánh sáng và tự chuyển hóa thành
vị Phật – do đó có thuật ngữ “chủng tự.”
[3]
Trong truyền thống Tây Tạng, nếu ta sắp nghiên cứu hay thực
hành một bản văn thì trước tiên ta nên lắng nghe một Lạt
Ma đọc to bản văn này. Bản thân vị Lạt Ma đã được nghe
nó từ vị Thầy của ngài. Thông thường thì những nghi lễ
khai tâm được gọi là “các lễ quán đảnh” cũng phải
được ban cho, cũng như sự giảng dạy khẩu truyền bản văn.