16
TRÍ TUỆ NGƯỜI
XƯA VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN HIỆN ÐẠI
Francis Story
Lịch sử con người
chinh phục môi trường chung quanh từ thuở sơ khai, là chuyện
thích nghi với sự thay đổi qua tài trí ngày càng tăng về
kỹ thuật sống. Ở hoàn cảnh tốt nhất, nó đã là cuộc
chinh phục cục bộ; những dị biệt về cách thức sống không
nhất thiết đi đôi với sự thay đổi về cách suy tư hay
quan điểm mong đợi. Con người, bên dưới bên ngoài, vẫn
còn là một con thú thuở ban sơ; bản năng của con người
phát triển trong một mô hình văn minh phức tạp hơn, và phản
ứng của con người trước các tình thế đã khác xa với
những đáp ứng của cha ông, tuy nhiên chính bản năng thì
không khác. Về căn bản chúng vẫn không thay đổi căn cứ
vào thời gian của những tư liệu cổ nhất còn lại đến
ngày nay.
Những biến cố và tình thế phát
sinh do sức mạnh tinh thần, còn bản năng gây ra chúng vẫn
không thay đổi, tình hình và các vấn đề về cơ bản cũng
giống như vậy, dù chúng xuất hiện trang phục khác. Do sự
giải thích sai lầm về thuyết tiến hóa, tính lạc quan dễ
dãi hậu kỳ Darwin tin rằng nhân loại đang vững bước tiến
lên đã bị loại bỏ. Kiến thức, tuy có tiến bộ, không
thể giải thoát tinh thần con người, dù có thể giải thoát
một số ràng buộc tinh thần, mà thực ra chỉ là sự thay
thế chúng bằng những ràng buộc khác. Lòng ích kỷ, tham ái
và tham sống là những yếu tố vẫn chiếm ưu thế, do đó
kiến thức, không có sự bù đắp của trí tuệ, hẳn là còn
bị lệ thuộc.
Nhìn thoáng qua những bản kinh Nguyên
Thủy sớm nhất cũng đủ cho thấy những khó khăn ngày nay
giống hệt như ở Ấn Ðộ 2500 năm trước.
Sự thôi thúc sống và sự ham sống
nơi tất cả chúng sanh nẩy nở từ tham ái, và Ðức Phật,
lúc Ngài đạt Giác Ngộ, tuyên bố: "Ta đã lang thang vô ích
bao nhiêu lần sanh, tìm cách xây dựng căn nhà; ta đã đau khổ
trong nhiều lần sanh tái diễn. Nay, hỡi người xây dựng căn
nhà, nay đã tìm ra được rồi, ngươi sẽ không còn phải
xây dựng nhà nữa". Căn nhà là hình thức cụ thể, người
xây là tham ái, bản năng kiên trì bám vào đời sống, cho
thấy tại sao những khó khăn đương đầu bởi nhân loại
ngày nay căn bản vẫn giống như vậy, đã không được như
ý từ bình minh lịch sử; chúng chỉ hoán chuyển thành một
loại chìa khóa khác, có ngụ ý khái quát thay vì một ít cá
nhân giới hạn hay bộ lạc.
Trong đời sống ngày nay, tôn giáo,
một thời là yếu tố chính trong lịch sử thế giới, đóng
một phần tương đối không quan trọng. Thái độ của con
người hiện đại, tâm hòa hợp với cái khác và rõ ràng
là những công chuyện cần ngay và thực tiễn hơn, được
quyết định bởi tôn giáo chỉ trong phạm vi huấn luyện ban
đầu gây ấn tượng trên một sự hiểu biết mềm dẻo, còn
lại với con người là chỉ để nhuộm màu phong cảnh tinh
thần. Giữa những khu rộng lớn của con người trên thế
giới, tôn giáo chính đã không còn ảnh hưởng, những hành
động được cân nhắc và phán xét không bằng tiêu chuẩn
tôn giáo hay đạo đức, mà là thắng hay bại từ quan điểm
hoàn toàn trần thế. Chúng đã không còn là "phải" hay "trái",
và trở thành đơn giản là thực tiễn hay không thực tiễn.
Ðặc tính cơ hội đã được thiết lập thay thế cái huyền
bí trước đây như nguyên tắc điều hành trong cách đối
xử của con người, do kết quả của sự suy thoái niềm tin
vào kiếp sau với sự việc sau cùng với đặc trưng của một
nền công lý trừng phạt. Theo ý nghĩa đó, điều này có thể
được chấp nhận như một bước tiến hướng về duy lý
luận; nhưng vì nhân tố thúc đẩy đằng sau hành-động-cơ-hội
vẫn nằm trong bản năng của con người man rợ, phần đóng
góp bởi lý trí chỉ là phụ thuộc. Lý trí được dùng phục
vụ những động cơ chủ yếu là không hợp lý.
Trong một bài thuyết giảng nổi
tiếng trong Kinh Brahmajala của Bộ Trường A Hàm, Ðức Phật
nêu lên 62 hệ thống tôn giáo-triết lý thời bấy giờ, từ
chủ nghĩa lý tưởng siêu nghiệm đến duy vật cao, Ngài bác
bỏ tất cả. Khả năng tài tình về siêu hình của người
Ấn Ðộ chưa được Âu Châu biết vào thời các nhà triết
học kinh việnTrung Cổ, nhiều thuyết cổ Bà La Môn đã biến
mất, chỉ để lại tên những học thuyết đối kháng và
những học thuyết được nói nhiều đến đã được chúng
ta khám phá, một số học thuyết này giả trang như những
phát triển mới nhất về tư tưởng con người. Trong một
bài thuyết giảng khác, trong Kinh Apannaka của Trung Bộ Kinh,
Ðức Phật đề cập đến một trong những học thuyết với
những lời như sau: "Có một số nhà tu khổ hạnh và Bà La
Môn nhất định cho rằng, không có gì được cho, hy sinh hay
dâng hiến, không có quả chín của hành động thiện ác, không
có thế giới này mà cũng không có thế giới khác, không có
cha, cũng không có mẹ, hay chúng sanh xuất hiện, trong thế
giới không có nhà tu khổ hạnh mà cũng không có Bà La Môn
đã quá vãng và theo chính đạo, người trong số chính họ
hiểu được th? giới với kiến thức cao hơn và tuyên bố
điều đó...
Trong trường hợp này, hoàn toàn
bình thường là những nhà tu khổ hạnh và Bà La Môn nhất
định cho rằng không có quả chín của hành động thiện ác,
không có thế giới khác, người dân sẽ bỏ ba điều thiện,
cư xử thiện trong hành động, lời nói và tư tưởng, và
sẽ giữ và thực hành ba điều ác, cư xử tội lỗi trong
hành động, trong lời nói và trong tư tưởng. Tại sao lại
như vậy? Vì họ không nhìn thấy sự nguy hiểm, điên rồ
và sa đọa của điều ác, và cũng chẳng nhìn thấy phước
lành của sự từ bỏ trần tục và sự thanh tịnh của điều
thiện. Dù quả thực có thế giới khác, quan điểm của họ
là không có, đó là một quan niệm sai lầm. Mặc dù có thế
giới khác, họ quyết định không có, do đó họ giải quyết
sai. Mặc dù đương nhiên có thế giới khác, họ khẳng định
không có, đó là lời tuyên bố sai. Mặc dù đương nhiên có
thế giới khác, họ nói không có, và hành động ngược lại
với các bậc A la hán hiểu biết về thế giới khác. Mặc
dù đương nhiên có thế giới khác, họ dạy người khác không
có, đó là lời dạy học thuyết sai. Với sự giáo dục của
học thuyết sai, họ tâng bốc họ và miệt thị người khác.
Như vậy đức hạnh trước đây của họ bị tiêu diệt và
vô luân phát xuất, đưa đến kết quả quan niệm sai, giải
quyết sai, lời nói sai, giáo dục học thuyết sai chống lại
với học thuyết cao thượng, tự tâng bốc mình và miệt thị
người khác. Cóù nhiều điều bất thiện cũng phát xuất
do quan niệm sai lầm.
"Trong trường hợp này, người chủ
hộ, thông minh suy nghĩ như sau: Nếu không có thế giới khác,
xác thân bị tiêu hủy sẽ được an toàn (bởi sự hủy diệt),
nhưng nếu có thế giới khác, cá nhân ấy với sự tiêu hủy
của xác thân sau khi chết sẽ tái sanh vào một cảnh giới
bất hạnh đau khổ. Nếu bạn thích, hãy giả sử không có
thế giới khác hay giả sử những lời nói của những nhà
tu khổ hạnh và Bà La Môn là đúng. Nhưng cá nhân ấy bị
quở trách bởi người trí ngay trong lúc sống này vì nắm
quan niệm sai và là một chúng sanh theo chủ nghĩa hư vô. Nhưng
nếu thực sự có thế giới khác, cá nhân ấy ở trong đẳng
cấp bất hạnh trong cả hai trường hợp, vì bị quở trách
ngay trong lúc sống bởi người trí vì nắm giữ quan niệm
sai, và với xác thân bị tiêu hủy sau khi chết sẽ tái sanh
vào cảnh giới bất hạnh. Như vậy theo và ôm ấp học thuyết
đặc biệt này hết sức sai lầm; người đó cố chấp một
chiều, và từ bỏ địa vị tốt lành".
"Trong trường hợp điều đó có
thể xẩy ra là những nhà tu khổ hạnh và Bà La Môn xác nhận
và cho là có quả chín từ hành động thiện ác, có một thế
giới khác, họ sẽ bỏ ba điều ác, bỏ cư xử tội lỗi
trong hành động, lời nói và tư tưởng, và sẽ nghe theo và
thực hành ba điều thiện, cư xử thiện trong hành động,
lời nói và tư tưởng. Tại sao vậy? Vì họ nhìn thấy cái
nguy hiểm, điên rồ và sa đọa của điều ác, và nhìn thấy
những phước lành của sự từ bỏ trần tục và sự thanh
tịnh của điều thiện. Như vậy, điều tội lỗi trước
đây của họ bị tiêu diệt và đức hạnh được tạo ra,
và đưa đến chánh kiến, giải quyết đúng, chánh ngữ, giáo
dục trong học thuyết đúng này không ngược lại với học
thuyết cao quý, tránh được tự cao tự đại và miệt thị
người khác. Có rất nhiều điều thiện cũng phát sinh từ
chánh kiến của họ". Thuyết giảng về học thuyết của Nghiệp,
định luật khoa học về hành động và phản ứng cho một
sinh viên Bà La Môn tên Subbha, Ðức Phật đề cập đến một
vấn đề hết sức nổi bật trong tư tưởng này, đó là sự
bình đẳng của con người:
Sự biểu lộ bất bình đẳng giữa
chúng sanh lúc nào cũng là nét đặc biệt trong đời sống
con người, và do đó Phật Giáo giải thích cái dường như
bất bình đẳng mà con người phải chịu đựng từ lúc sanh
ra. Học thuyết về Nghiệp đưa ra đời sống và vũ trụ dưới
ánh sáng của một định luật hợp lý và vô tư, hơn thế
nữa một định luật đúng theo nguyên tắc khoa học về nguyên
nhân và hậu quả.
Khi được hỏi về phúc lợi của
quốc gia và cộng đồng, Ðức Phật đặc biệt nhắc đến
những người Vajjians, một bộ lạc bị đe dọa bởi những
bộ lạc lân bang. Ngài nói: "Này A Nan, chừng nào người Vajjians
thường tụ tập lại đông đủ để đoàn kết, chừng đó
họ phồn thịnh, và không suy tàn. Chừng nào người Vajjians
tập họp trong hòa hợp, và giải tán trong hòa hợp, chừng
nào họ phục vụ trong hòa hợp, chừng nào họ ban hành đúng
cách bất cứ đạo luật cải cách nào, hay hủy bỏ một đạo
luật đã được thiết lập, với luật cũ của người Vajjians
ban hành mà họ vẫn trân trọng, họ quý mến và kính trọng
những người già, coi những người già đáng giá và vâng
lời họ, chừng nào những người phụ nữ và những trinh
nữ sống hòa hợp không bị ép buộc hay bắt cóc, bao lâu
người Vajjians vẫn tôn trọng, tôn sùng, quý mến và thờ
phụng đền thờ, bên trong cũng như bên ngoài, chừng nào họ
không cho phép tập tục dâng hiến, đã được đưa ra và thực
hiện vô ích; chừng nào họ giữ tập tục quan sát trông nom
các vị A la hán được duy trì tốt đẹp, thì họ tự do vào
hay đã vào cảnh giới sung sướng; này A Nan chừng nào họ
giữ được những nguyên tắc ấy thì người Vajjians sống
trong thịnh vượng và không sống trong suy tàn".
Cách mạng thay những lời Phật
dạy trong ý nghĩa thay thế luật lệ đạo đức, và thiết
lập nguyên tắc hạnh kiểm thay vì nghi thức chính thức của
người Bà La Môn đương thời- điểm đặc trưng nổi bật
rõ ràng và trước sau như một qua những bài thuyết giảng
của Ngài- hiển nhiên trong những vấn đề thế tục, Ngài
tán thành việc gìn giữ tất cả những tập tục mang lợi
ích vào lúc đó, và chỉ lên án những tập tục nào ngăn
chặn sự tiến bộ xã hội, chẳng hạn như chế độ đẳng
cấp, tinh thần tối tăm, như tầm quan trọng của thầy tu
trong lễ hiến tế và khổ hạnh cực đoan mà trong Phật Giáo
coi như "dị đoan". Về vấn đề đẳng cấp, như chúng ta đã
thấy, Ðức Phật thừa nhận nét đặc biệt là không thể
tách rời khỏi được từ sự hành hoạt của Nghiệp, điều
mà Ðức Phật bác bỏ giáo lý của Bà La Môn cho đẳng cấp
là từ nguồn thần thánh, và bác bỏ quan niệm vật linh cho
bốn đẳng cấp chính trong xã hội Ấn Ðộ bắt nguồn từ
những bộ phận khác nhau trên cơ thể con người Bà La Môn.
Ðiều này được trình bày ngắn gọn trong những câu kệ
trong Kinh Dhammapada (Pháp Cú) nói rằng Bà La Môn là Bà La Môn
không phải do sanh ra đã là Bà La Môn mà bởi sự thanh tịnh
của tư tưởng, lời nói và hành động. "Chẳng phải vì núm
tóc, chẳng bằng sanh, mà một người trở nên Bà La Môn, nhưng
ai hiểu biết chân thật, và chánh Pháp, kẻ đó là một người
thanh tịnh, kẻ đó mới là Bà La Môn". (Kinh Pháp Cú, Câu 393).
Ðiều đáng ghi nhận là đề cập về câu hỏi từ một góc
độ thuần túy xã hội, Ðức Phật đặt để Giai Cấp Khattiya
(cao thượng) là đẳng cấp cao nhất. Sự phân biệt chỉ có
ở bình diện trần thế, nhưng với những ai từ bỏ trần
tục, không có sự phân biệt, giá trị của người thánh thiện
chỉ đo lường được bởi đức hạnh của người ấy.
Nguyên tắc này được áp dụng
rộng rãi hơn về những vấn đề chủng tộc và quốc gia
ngày nay. Trong Phật Giáo không có vấn đề tôn sùng chủng
tộc thượng đẳng hay thù địch. Mỗi người đều có giá
trị cá nhân riêng của mình, không kể đến chủng tộc hay
kiến thức văn hóa. Vấn đề nhân quyền ràng buộc chặt
chẽ với trách nhiệm cá nhân. Trong mối bận tâm hiện nay
với quyền của cộng đồng và cá nhân, có một khuynh hướng
không chú ý tới thực tế là khái niệm về quyền cũng hàm
ý đến khái niệm về bổn phận và nhiệm vụ. Cũng cùng
trong thời gian Ðức Phật thuyết giảng tại Ấn, Ðức Khổng
Tử ở Trung Hoa tuyên bố chân lý này trong học thuyết duy
lý về nhân loại của Ngài. Trong khi Ðức Khổng Tử vạch
ra quan niệm về nhà cầm quyền lý tưởng, nhân từ, công
bằng và lo lắng cho phúc lợi người dân của Ngài, thì Ðức
Phật thay đổi hướng tư tưởng của các đệ tử ra khỏi
lý tưởng cổ xưa với nhiệm vụ áp đặt trong tôn giáo chỉ
là thực hành nghi lễ thành lý tưởng cao cả trong bổn phận
người cư sĩ, cùng trách nhiệm đối với người khác.
Trong Kinh Sigalovada, Ngài thuyết giảng
cho một người Bà La Môn trẻ tuổi theo lời dạy bảo của
người cha lễ lạy sáu hưóng, đông, tây nam bắc, bên trên
và bên dưới với quần áo và tóc đẫm nước và đan tay
vào nhau đưa lên cao. " Này người trẻ tuổi kia trong tôn giáo
của người Aria, không phải lễ sáu hướng là như vậy".
Rồi Ðức Phật bắt đầu giảng cho người trẻ tuổi, Ngài
giải thích lễ sáu hướng phải được hiểu trong ý nghĩa
đạo đức. Thứ nhất là sự mô tả chung theo thứ tự những
thứ cần phái tránh vì dẫn đến tan nát và ô danh, mà dẫn
đến đức hạnh phải trau dồi đem hạnh phúc và thịnh vượng.
Bài thuyết giảng tiếp tục". "Này người trẻ tuổi, đệ
tử Ariyan vinh danh và bảo vệ sáu hướng như thế nào? Sau
đây là sáu hướng phải nhìn vào: Cha mẹ về Phương Ðông,
Thầy học về Phương Nam, Vợ và con về Phương Tây, bè bạn
và người đồng hành về Phương Bắc, đầy tớ và người
làm công về phía Dưới, đạo sư và các bậc thánh về phía
Trên". Theo sau là lời giải thích chi tiết bổn phận của
một người đối với mỗi hạng người này vì họ đứng
trong tương quan với chính mình, tổng quát của bài giảng
về đạo đức xã hội không gì so sánh được về sự phóng
khoáng và cao thượng về quan niệm, cũng như về sự khả
thi phổ thôngõ. Hai thí dụ sau đây chứng tỏ ý tưởng về
sự nhân nhượng ra sao trong bổn phận được nhấn mạnh.
"Một thành viên thị tộc nên giúp
đỡ bạn bè và cộng sự theo năm phương cách như một cách
kính ngưỡng Hướng Bắc, do đó là nên rộng lượng, lịch
sự và nhân từ, đối xử với họ như chính đối với mình,
và chân thật trong lời nói. Trong năm đường này Hướng Bắc
có sự giúp đỡ như thế, bạn bè và cộng sự viên sẽ yêu
mến người ấy; họ bao che người ấy khi người ấy không
đề phòng, bảo vệ tài sản của người ấy; họ trở thành
nơi nương tựa khi nguy hiểm, họ không bỏ rơi lúc khó khăn,
và họ quan tâm đến gia đình người ấy. Phương Bắc là
như thế bởi người ấy được che chở và an toàn".
Một chủ nhân Ariyan nên giúp đỡ
tôi tớ và người làm công theo năm phương cách như một cách
kính ngưỡng Phương Hạ, đó là nên sai khiến họ làm việc
vừa với sức họ, cung cấp họ thực phẩm và tiền lương,
giúp đỡ họ khi đau yếu, chia sẻ với họ về những vụ
khó xử bất thường và ban cho họ giải trí thích hợp. Trong
những phương cách này, được giúp đỡ bởi chủ nhân, người
đầy tớ và người làm công thương yêu ông chủ bằng năm
phương cách: Họ dạy sớm trước chủ, họ đi nằm nghỉ
sau chủ, họ mãn nguyện với những gì chủ cho, họ làm việc
giỏi, và họ lan truyền lời ca ngợi và danh thơm cho ông chủ.
Phương Hạ là như thế, che chở chủ nhân và làm cho chủ
nhân được an toàn".
Cách đối xử của Ðức Phật với
chủ đề này là đường lối điển hình mà Ðức Phật thường
dùng niềm tin tôn giáo đã ù hiện hữu và đưa vào một tinh
thần hay ý nghĩa đạo đức cao hơn. Ngài truyền đạt chân
lý cao cả của Ngài qua sự chiết trung của truyền thống
đương thời. Phải nhớ rằng Ðức Phật không dạy Pháp mới.
Ngài thuyết giảng "Chân Lý Cổ Xưa" của những Ðức Phật
trước Ngài. Mặc dù Giáo Lý của Ngài đã chết trong ký ức
của con người hay chỉ còn tồn tại dưới hình thức bên
ngoài còn ý nghĩa bên trong đã mất, nhưng Pháp hoàn vũ không
thay đổi vẫn hãy còn, và còn mãi nguyên tắc căn bản về
nguyên nhân và hậu quả chi phối hiện tượng cuộc sống.
Những gì của Ðức Phật có thể nói là Ngài xuất hiện
để chu toàn Pháp, để tuyên bố rõ ràng pháp trong tinh thần
ý nghĩa cao nhất.
Chúng ta hiện đứng trước bước
ngoặt của lịch sử, sự lựa chọn ở nơi chúng ta nên hay
không chọn con đường dẫn đến tiến bộ hay chọn con đường
dẫn đến tiêu diệt. Ít nhất nhân loại đã có đủ kinh
nghiệm cho thấy kiến thức khoa học và quyền làm chủ vũ
trụ vật chất không phải là cùng một điều trong văn minh
tiến bộ. Mắt chúng ta phải quay về hướng mới nếu chúng
ta định tìm dường ra khỏi thế bế tắc. Nhưng, chúng ta
giới hạn bởi đường vòng của không gian - thời gian vật
lý, cho nên chúng ta bị bao vây bởi phạm vi của các khái
niệm liên quan. Cái mới nhất là cái cũ vô cùng tận; Pháp
bất diệt, Chân Lý đời đời vượt qua cái thế giới nhỏ
bé vật chất. Chúng ta phải quay về, trong khiêm nhường và
hy vọng, vì bệnh cổ phải tìm thuốc cổ để trị. Nhưng
trong lãnh vực chân lý, không có cái gì cũ và cũng không có
cái gì mới. Mặt trời lặn buổi chiều ở Phương Tây sẽ
mọc buổi sáng ở Phương Ðông.