22
GIỚI HẠNH
(SILA)
Hòa Thượng
Phra Sasana Sobbana - Thái Lan
Giới hay hạnh
kiểm đạo đức à nguyên tắc cư xử của con người tạo
cuộc sống có trật tự và hòa bình trong cộng đồng. Luật
lệ của hạnh kiểm luân lý tìm thấy ở mọi tôn giáo. Những
luât lệ này có thể giống nhau về tiêu chuẩn hạnh kiểm
ở mức độ nhiều hoặc ít tùy theo chúng bắt nguồn từ
vị thầy hay hệ thống tôn giáo nào. Thường thường những
luật lệ này bao gồm những bản liệt kê những hành động
phải tiết chế, ngụ ý những hành động nào không nằm trong
sự cấm đoán là được phép. Một thí dụ là năm giới của
người Phật Tử, đó là không giết chúng sinh, không được
lấy bất cứ thứ gì nếu thứ ấy không được cho bởi chủ
nhân, không tà dâm, không nói dối hay nói lời tội lỗi, không
dùng những chất say, nguyên nhân đầu tiên gây ra sơ xuất
. Năm giới này là nguyên tắc căn bản của Phật Giáo hầu
hết mọi người đều biết đến. Theo thông lệ những giới
này được giảng cho họ trong hầu hết các cuộc lễ để
họ tự tuyên bố chính thức ý định giữ các giới này.
Người dân trong các quốc gia Phật Giáo nhìn thấy hay nghe
các thầy tu nói ra những giới này từ khi họ còn nhỏ và
chưa hiểu những giới này. Bởi vậy cho nên, đó là điều
lợi ích khi xét qui mô mà đa số nhận thức được sự quan
trọng của giới và điều mà họ nghĩ về giới, nhất là
hầu hết các giới ấn định tiêu chuẩn đạo đức khác
biệt lớn với cái lề thói thường ngày của con người.
Một số người ủng hộ giới trong khi một số người khác
không ủng hộ, một số người tu tập giữ những giới như
sau:
Giới Thứ Nhất: Sự cấm
lấy đi mạng sống không những chỉ cho loài người mà cho
tất cả các sinh vật thuộc mọi loại, cả lớn lẫn bé,
từ con sâu con kiến. Mỗi ngày, một số lớn súc vật bị
giết để làm thực phẩm, người ăn thịt nhiều, trong khi
những người ăn chay lại ít. Trong lãnh vực khoa học, nhiều
con vật được dùng trong nhiều công cuộc khảo cứu và thử
nghiệm. Trong lãnh vực hành pháp, vũ khí được sử dụng
để diệt tội phạm. Những cơ quan bảo vệ luật pháp trừng
phạt kẻ phạm pháp. Những kẻ hiếu chiến sử dụng vũ khí
để giết hại lẫn nhau. Những hành động kể ra trên đây
là những thí dụ không bị coi là bất hợp pháp hay đi ngược
lại lề lối hàng ngày trên thế giới. Thực ra, người ta
còn có thể cho là sai khi cấm làm những hành động đó, như
trường hợp cảnh sát hay quân nhân không làm tròn nhiệm vụ
cảnh sát hay quân sự. Ngày nay, nhiều động vật bị cấy
những vi trùng, và nhờ những vi trùng, những mầm bệnh, và
nhiều loại vi trùng đã được khám phá. Hầu hết mọi thứ
đều chứa vi trùng - ngay cả đến nước uống. Tuy có một
phần lớn những bất tịnh được ngăn lại bởi máy lọc,
vi trùng vẫn qua được. Cho nên vô số vi trùng vào trong cuống
họng ta với mỗi ngụm nước. Cũng giống như vậy với thuốc
men, bất cứ lúc nào thuốc men được dùng đến, vô số vi
trùng bị giết. Những vi trùng có được coi như chúng sinh
(trong ý nghĩa của giới thứ nhất ) hay không phải là chúng
sinh? Nếu như vậy, không ai có thể hoàn toàn tuân theo giới
này được. Ngoài ra một số người có quan niệm là người
không giết mạng sống con vật cũng nên không ăn thịt, vì
nó khuyến khích người giết và người ăn, tội cũng không
kém gì người giết.
Giới Thứ Hai: Lấy bất cứ
thứ gì mà không được cho bởi chủ nhân hay trộm cắp cũng
sai ngay cả về mặt pháp lý. Tuy nhiên, chẳng hạn có ngoại
lệ về tài sản của kẻ địch trong trường hợp chiến tranh.
Giới Thứ Ba: Gian dâm là sai.
Người phạm tội gian dâm không còn được kính nể và không
được ai tin cậy. Tà dâm dính líu tới những người mà mối
liên hệ vợ chồng phải tránh theo tập tục, hay với những
người cấm bởi pháp luật, hay bởi Pháp, là sai. Cho nên ép
buộc bằng phương tiện vũ lực hay tài chánh một người
đã có gia đình hay người chưa có gia đình ưng thuận là
tà dâm. Mục đích của giới thứ ba là gìn giữ sự kính
trọng gia đình và mỗi người liên hệ để bảo vệ tính
cách thiêng liêng bất khả xâm phạm. Ngoài ra, kính trọng
người, nơi ăn chốn ở, và tài sản phải là một tập quán
hành xử, như đã ghi trong sách: "Ðạo Ðức của người lương
thiện", chẳng hạn như sau: "Không được vào nhà khi không
được mời. Không được nhìn trộm vào phòng người ta từ
bên ngoài". Rất thích đáng cho chúng ta áp dụng cung cách lấy
từ những giới hay luật lệ luân lý, tất cả những luật
lệ ấy nhằm vào khuyến khích hành xử lương thiện và ngăn
chặn tính cách lỏng lẻo vô kỷ luật.
Giới Thứ Tư: Nói dối thường
được coi là sai. Tuy nhiên, người ta rất ít khi nói thực
với nhau và lời nói của họ khó mà có thể tin được. Ðôi
khi họ không thể nói được sự thật, chẳng hạn, họ phải
nói dối để thoát khỏi bị hại, và bác sĩ nói dối để
giúp đỡ tinh thần bệnh nhân. Nói dối vào những trường
hợp như vậy có thể là trái ngược với Giới, nhưng không
hẳn là trái ngược về mục đích. Giới này mục đích là
đem lợi ích hỗ tương bằng cách gắn vào sự thật và tránh
sự xúc phạm bằng lời nói. Giống như vậy, lời phát biểu
làm hại hạnh phúc người khác, chẳng hạn lời nói hiểm
độc, sỉ nhục, hay phỉ báng nhằm nhạo báng người khác
và khoe khoang mình là người đáng tin, có thể là sự thực
nhưng những lời như vậy bị coi là sai vì chúng trái với
Giới. Ðược biết chính Ðức Phật nói điều tin cậy là
điều hữu ích và đem lợi lạc. Ngài đặt ra Giới chống
lại nói dối, làm nản lời nói hiểm độc, không đứng đắn
và vô ích.
Giới Thứ Năm: Mặc dầu luật
cấm dùng các chất say, sự tiêu thụ chất say không giảm
và những nhà máy cất rượu vẫn hoạt động mạnh mẽ. Những
tiệm rượu vẫn được mở cả đêm ngày. Tại các cuộc
tiếp tân, hội chợ vân vân.. người ta vẫn uống rượu để
kích thích cuộc vui nếu không họ sẽ chán nản và ít người
đến. Rượu trở thành lợi nhuận tức mang lại một số
doanh thu to lớn mỗi năm.
Thực hành được coi như đúng với
người này lại sai với người khác; có thể cả hai ngược
lại với giới, như trình bày ở cái ví dụ trước đây.
Tất cả những điều này cho thấy ta càng ngày càng không
hiểu giới, không công nhận sự quan trọng của giới và không
cảm nhận ý nghĩa của giới cho một cuộc sống trên thế
gian này. Cho nên đó là lý do tại sao quan điểm sai và đúng
sau đây đều có những người biện hộ:
1. Những nguyên tắc của giới nên
được sửa đổi cho phù hợp với những người có nghề
nghiệp trong cuộc sống bình thường. Chẳng hạn, một số
người cảm thấy Giới Thứ Nhất phải thay đổi cho phép
giết theo luật định, nghĩa là chỉ khi giết mà không được
luật cho phép thì mới bị cấm mà thôi. Hơn nữa, Giới Thứ
Tư, theo họ nghĩ, nên được linh động và nói dối được
cho phép khi nói dối để bảo vệ mình và người khác. Cũng
vậy với Giới Thứ Năm uống chất say được cho phép vào
những dịp nào đó và không được thái quá.
2. Nguyên tắc của Giới phải để
nguyên vẹn nhưng không ai cần thiết phải để ý đến giới.
Nếu những ai hành động tôn trọng luật pháp họ được
coi như những người vừa ý. Xét cho cùng luật là một loại
giới. Luật được đặt ra để bảo đảm hòa bình và hạnh
phúc cộng đồng, tuy rằng nó không hoàn toàn căn cứ trên
nguyên tắc tâm lý và luân lý hữu lý những điều là nền
móng của Giới, một điểm mà ta bàn đến sau này.
3. Nguyên tắc của giới phải nên
để nguyên bất khả xâm phạm, nhưng được lưu ý và giữ
từng lúc một tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Ða số người
Phật Tử thuộc loại người hành động theo đuờng lối này.
Họ không thay đổi nguyên tắc của giới luật vì họ tin
tưởng hoàn toàn vào giới và giữ giới tùy từng dịp. Chẳng
hạn, một số Phật Tử không uống rượu trong một thời
gian nào đó, nhưng rồi họ lại bắt đầu uống trở lại.
Nếu họ là dân chài lưới, buôn cá, họ không giữ Giới
Thứ Nhất, vì nếu giữ giới này, họ không thể đánh cá
hay bán cá, nhưng họ có thể không giết hại con vật khác.
Nếu họ là những sinh viên y khoa, họ không thể giữ hoàn
toàn Giới Thứ Nhất, nếu họ giữ giới này, họ không thể
sử dụng động vật trong công cuộc khảo cứu và thử nghiệm,
nhưng họ vẫn giữ giới này bất cứ lúc nào có thể thi
hành được, có nghĩa là khi giữ giới không trở ngại đến
nghề nghiệp và việc thi hành bổn phận của họ.
4. Nguyên tắc của Giới nên được
giữ không thay đổi và phải triệt để thi hành. Rất ít
người giữ quan điểm này. Nguyên tắc này có một số hoài
nghi về vi trùng, và những ai không triệt để tuân theo Giới
có thể có sự nghi ngờ hoặc do tò mò hoặc cho rằng Giới
không thể thi hành được. Ðể quyết đ?nh vi trùng phải hay
không phải là một chúng sinh (trong ý nghĩa của Giới ), ta
nên xét đến cuộc đời Ðức Phật. Bất cứ lúc nào Ðức
Phật lâm bệnh, Ngài cho phép Bác Sĩ Jivaka Komarabhacca áp dụng
chữa trị bên ngoài hay cho Ngài uống thuốc. Những thầy tu
cũng được phép dùng hay áp dụng cách chữa trị để chữa
bệnh. Cho nên, chúng ta có thể kết luận Giới Thứ Nhất
không áp dụng về vi trùng. Nếu áp dụng, chúng ta không thể
ăn hay uống gì được, ngay cả thở nữa. Giới phải là những
luật lệ về hạnh kiểm mà bất cứ ai cũng có thể theo được
trong một cách thức bình thuờng thực tiễn và không cần
đến dụng cụ như kính hiển vi. Việc sử dụng những dụng
cụ này dành riêng cho những người làm nghề y khoa hay khoa
học.
Về việc tiêu thụ thịt như thực
phẩm, chính các Phật Tử cũng chia thành hai phái. Một phái
cho rằng ăn thịt thì cũng không kém tội lỗi như hành động
của người giết. Họ cho rằng nếu thịt không được dùng
làm thực phẩm, thì không có nguyên nhân phải giết chóc súc
vật, cho nên tiêu thụ thịt chịu trách nhiệm trực tiếp
về việc giết, vì vậy ăn thịt là sai. Giới Luật hay kỷ
luật cho phép các thầy tu ăn thịt trong ba trường hợp, đó
là: nếu họ không thấy và không nghe thấy tiếng kêu của
con vật bị giết, và không có lý do nào để nghi ngờ là
giết để cho họ ăn cũng như chống lại sự giết hại để
đem bán. (Cũng có luật lệ cấm thầy tu ăn thịt sống hay
mười loại thịt bị cấm trong do có thịt hổ và thịt voi).
Theo phái này, nhà sư thuộc trường phái Phật Giáo Nguyên
Thủy, không được lựa chọn và tự do ăn thịt. Họ có thể
dùng rau và thịt cung cấp không phạm vào ba trường hợp ghi
trên được tuân hành và thịt không phải là một loại bị
cấm. Các thầy nhận bất cứ thứ gì dâng cho quý thầy, dù
là rau hay thịt đúng loại. Ðiều này không trái với Giới,
vì lẽ tấm lòng nhân hậu của những người Phật Tử như
vậy, nhất là các thầy tu tràn ngập với lòng lương hảo
và từ bi vô bờ bến đối với loài vật. Không bao giờ họ
là nguyên nhân để súc vật bị giết. Hơn thế nữa, để
đối lập với quan điểm rằng ăn thịt là sai, họ đưa ra
lập luận như sau: Nếu tiêu thụ thịt sai về mặt đạo đức
thì việc dùng da, xương, sừng cũng phải cấm. Việc sử dụng
này phải coi như sai. Cả hai phái vẫn còn mâu thuẫn về vấn
đề này, và một số thành viên của họ vẫn còn có các
lập luận. Nhưng có một số người không lý luận, để toàn
bộ vấn đề tùy thuộc lương tâm của cá nhân. Ta không nên
bắt người khác phải chấp nhận quan niệm riêng của mình.
Làm như vậy gây ô nhiểm tinh thần, cho nên phải tránh.
Câu hỏi được nêu lên là vì mục
đích mà Ðức Phật hy vọng phục vụ nhân loại bằng cách
đặt ra Giới ấn định sự tiết chế không thỏa hiệp mà
chỉ có một số ít người có thể tuân hành, phải chấp
nhận là không ai cho là có thể biết được thâm ý của Ngài.
Ý định đúng của Ngài là làm như vậy; tuy nhiên ta có thể
thu thập lý do từ nhiều nguyên tắc nêu trong Pháp. Ðức Phật
dạy chúng ta so sánh ta và người khác bằng cách nói: "Tất
cả chúng sinh đều sợ hãi trừng phạt và cái chết. Mạng
sống quý giá với tất cả chúng sanh (cũng như với chúng
ta). Hãy đặt chúng ta vào chỗ của chúng, chúng ta hiểu rằng
chúng ta, cá nhân, không nên giết mà cũng không nên khiến
người khác giết". Trên nguyên tắc của Pháp, Ðức Phật
muốn chúng ta hiểu, thâm nhập cảm nghĩ của người khác
là tất cả chúng sinh quý đời sống cũng như chúng ta quý
và đều sợ hãi cũng không kém gì nhau về cái chết. Ðó
là lý do tại sao, như một vấn đề công lý đơn giản, Ðức
Phật đã đặt ra Giới Thứ Nhất. Giới Thứ Hai được hình
thành là để khuyến åkhích tôn trọng lẫn nhau về quyền
sở hữu của mỗi người. Giới Thứ Ba khuyến khích sự tương
kính gia đình của nhau. Giới Thứ Tư bảo vệ quyền lợi
hỗ tương bằng sự thật. Giới Thứ Năm giúp chúng ta tránh
bất cẩn và sao lãng. Nếu chúng ta muốn giữ gìn cẩn thận
của cải, gia đình, tín ngưỡng, chúng ta không nên xâm phạm
quyền của người khác.
Tất cả những Giới và luật lệ
hạnh kiểm đều căn cứ duy nhất vào nguyên tắc của một
nền công lý toàn hảo. Chúng cho thấy sự kính trọng đời
sống, nhân quyền, tài sản, vân vân... của Phật Giáo với
mọi người. Ðó là sự thật thế gian hay quy ước. Nếu Ðức
Phật thiết lập Giới linh động và có thể áp dụng theo
lời mong ước của đ?i chúng, thì giới ấy không phù hợp
với bản chất của một nền công lý toàn hảo. Chính Ðức
cũng cho thấy chính Ngài thiếu từ bi với những con vật mà
việc giết chúng được cho phép. Ðiều này không phù hợp
với đặc tính của Ðức Phật tràn đầy từ tâm với tất
cả chúng sinh. Một lý do khác đã nói ở phần đầu là Giới
khuyến khích "một lợi ích đặc biệt". Ðó có nghĩa là hậu
quả tối thượng của sự tôn trọng giới là giải thoát
khỏi tất các ô trược. Giới là bước đầu tiến tới mục
đích ấy. Giữ được tất cả giới, dù rằng chỉ có năm
giới, có thể tiến tới một mức độ cao hơn mà ở đó
lợi ích "rất đặc biệt" đạt được. Ðiều có lẽ quan
trọng đặc biệt về giới là khám phá ra tại sao người
ta chú ý hay không chú ý đến việc giữ giới. Một số lý
do ấy như sau:
1. Do sự khắt khe của Giới:
Thí dụ cấm lấy đi mạng sống
của một chúng sinh. Giả sử những luật lệ hạnh kiểm đặt
ra trong đường lối thích nghi hơn, khoan dung một số vi phạm
chúng ta đã bàn, thì như vậy giới được nhiều người hay
ít người tuân theo? Rõ ràng, không ai dám bảo đảm sẽ xẩy
ra ra sao vì lẽ ta có cảm tưởng chung là luật lệ tinh thần,
đặc biệt những luật liên quan đến những điều theo ý
nghĩa thế gian hoặc ý nghĩa pháp lý bị coi là sai, lại luôn
luôn bị vi phạm dù là giới thứ nhất hay bất cứ giới
nào khác. Ðiều này chứng tỏ sự giữ giới không phải là
do sự khắt khe. Thông thường, khuynh hướng tự nhiên của
ta là theo tất cả những hành động đem tiện nghi và thuận
lợi cho chính mình. Mọi quốc gia đều có luật lệ của quốc
gia ấy và mọi tôn giáo đều có giới luật của tôn giáo
ấy. Cả đến một số luật rất linh động và dễ thích
nghi, vẫn có thể chỉ có một số ít dân chúng vi phạm luật
lệ ấy. Cho nên lý do vi phạm nằm trong chính cá nhân ấy;
Ða số có khuynh hướng tự nhiên không lưu ý hay thay đổi
luật cho phù hợp để thuận lợi cho họ và có đủ khả
năng để làm như vậy.
2. Do chính những cá nhân.
Rồi tại sao cá nhân vi phạm luật,
dù việc này thường được coi là sai theo luật pháp? Nguyên
nhân của sự cư xử như vậy bao gồm chính trong cá nhân con
người và chắc chắn là do tham, sân và si, sinh ra từ trong
tâm như những ô trược và đến lượt lại vắng bóng sự
xấu hổ và kinh sợ tội lỗi. Cho nên khi thay đổi cần thiết,
thay đổi không phải là ở nơi nguyên tắc của giới mà là
sự thay đổi của tâm có nghĩa là giảm thiểu ô trược hơn
là làm tăng chúng lên trong đường lối biết xấu hổ và
sợ tội lỗi - biết xấu hổ và kinh sợ gây tội lỗi phát
hiện trong tâm. Bằng cách hành xử như vậy, khả năng giữ
giới của chúng ta sẽ trở nên to lớn hơn. Giữ giới tốt
hơn không có nghĩa là tiết chế mọi thứ bắt phải làm theo.
Tiết chế từ điều đuợc coi như sai theo quan niệm trần
tục hay theo pháp lý chính nó là hạnh kiểm có thể chấp
nhận được.
3. Do Sự Cần Thiết:
Như những trường hợp sau đây:
Vi phạm Giới Thứ Nhất để bảo
vệ tài sản của mình, đời sống, quốc gia, tôn giáo, vua
chúa, như xẩy ra tại chiến địa hay khi ta phải giải quyết
với tội phạm hay kẻ địch. Vi phạm Giới Thứ Hai để giữ
mạng sống của mình vì đói hay thực sự nghèo khổ. Dường
như không có lý do nào để vi phạm Giới Thứ ba vì giữ giới
này chắc chắn không giết ai cả. Vi phạm Giới Thứ Tư vì
hạnh phúc của chính mình. Nhiều trường hợp nói ở trên
có thể kể là trường hợp cần thiết, thí dụ, nếu một
người làm nghề đánh cá hay một sinh viên y khoa.
Khi ta tự hỏi, chẳng hạn, liệu
có cần thực sự để giết hay trộm cướp, ta hiểu rằng
trường hợp này rất hiếm. Kết quả là cả đến ý định
không vi phạm giới, đến chừng mực ngoại trừ khi không
thể làm gì khác được, và phải tôn trọng sự cần thiết
cho phép khiến chúng ta hiểu năm giới có thể giữ được,
đến một mức độ rộng lớn không khó khăn và mất mát
mối lợi trần thế nào cả.
4. Do Sự Thiếu Hỗ Trợ Và Bổ
Sung Pháp.
Thiếu sự bổ sung Pháp vào mỗi
giới cũng có thể là nguyên nhân của sự vi phạm. Tâm từ
hay lòng từ ái phải được trau dồi như một khía cạnh bổ
sung của Pháp cho Giới Thứ Nhất. Samma-avija hay Chánh
Mạng phải được thực hành như khía cạnh bổ sung của Pháp
cho Giới Thứ Hai. Santutthita hay sự mãn nguyện với một
người hôn phối là một khía cạnh của Pháp phải được
phát triển để bổ sung cho Giới Thứ Ba. Tính tin cậy là
một khía cạnh của Pháp phải được tuân hành để bổ sung
cho Giới Thứ Tư. Lưu ý và Thận trọng phải được gắn
bó như một khía cạnh để bổ sung Giới Thứ Năm. Giải thích
một số bổ sung của Pháp như sau: Chẳng hạn, tâm từ bổ
sung Giới Thứ Nhất, tâm từ hiện hữu nơi mọi chúng sinh,
xua đuổi tất cả ý muốn làm hại. Không nói gì đến tâm
từ hay lòng từ ái bộc lộ bởi cha mẹ cho con cái, tâm từ
đối với gia súc như chó và mèo cũng đủ mang đến sự chăm
sóc to lớn cho chúng. Không có tâm từ nhưng thay vào bằng
sân hận và ganh ghét, những gia súc này dễ dàng bị tiêu
diệt. Chánh Mạng bổ sung Giới Thứ Hai có thể giải thích
như sau . Nếu một người lười biếng trong việc làm hay áp
dụng một cách sống sai lầm cho cuộc sống của mình, người
đó khó có thể giữ được Giới thứ hai. Vì chúng ta hàng
ngày phải ăn, mỗi người chúng ta phải có thực phẩm cho
mình, cho nên phải có một phương tiện để sống, một phương
tiện chính đáng cho việc này.
5. Do Sự Vắng Mặt Của Người
Lãnh Ðạo giữ Giới.
Ðây là một câu chuyện minh họa,
có một phương ngôn trong Kinh Jataka có thể tóm tắt lại như
sau: "Khi một đoàn trâu bò di chuyển, nếu con đầu đàn đi
lạc, cả đoàn trâu bò bị lạc. Cũng như vậy với con người.
Nếu người lãnh đạo được chỉ định thực hành không
đúng Pháp hay không chính đáng, quần chúng cũng thực hành
như vậy. Cả quốc gia đau khổ nếu người lãnh đạo không
tôn trọng Pháp. Khi cả đoàn trâu bò di chuyển, nếu con đầu
đàn đi đúng đường, cả đoàn trâu bò cũng đi đúng đường.
Nếu người lãnh đạo được chỉ định tôn trọng Pháp,
quần chúng cũng làm như vậy. Cả quốc gia sẽ vừa lòng nếu
người lãnh đạo giữ Pháp. Câu nói của Phật Giáo rất rõ
ràng. Cách hành xử của người lãnh đạo là một hậu quả
to lớn cho quần chúng vì họ không tránh khỏi theo gương của
người ấy.
Những lý do trên về việc liệu
có muốn hay không muốn giữ giới, mỗi lý do có thể có ý
nghĩa với giới. Tóm lại, dù Giới được giữ hay không được
giữ bởi những cá nhân trong xã hội, tùy thuộc vào việc
giữ giới có mang lại sự thỏa mãn phù hợp với tầng bậc
xã hội của họ hay không.
Trong phương diện ấy, một số
nói lên ý kiến rằng Giới có thể coi như nguyên tắc căn
bản áp dụng trong một đường lối thích hợp sẽ phù hợp
với tình trạng của riêng mỗi người. Ðiều được coi như
thích hợp tức phù hợp đúng với mục đích của giới chỉ
khi nó được áp dụng không có thành kiến của người khác
và không phải ưu tiên cho mình, vì mục đích của giới là
để tránh làm hại người khác. Ngoài ra, chúng là những bước
đầu tiến đến tập trung (định) và tuệ giác. Vì giữ giới
không phải là cứ giữ giới đơn thuần mà phải phù hợp
với mục đích, nó sẽ khác biệt theo một cách nào đó tùy
theo tình trạng hay nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Chẳng hạn,
người bình thường giữ giới mong ước hòa bình và đem mãn
ý cho tất cả gia đình và quốc gia, có hình thức này, với
các nhà sư mong ước đạt bình diện cao của Pháp lại là
một dạng thức khác. Tuy nhiên cả hai dạng thức dẫn đến
mục tiêu mà vì nó việc giữ giới được thiết lập. Hơn
nữa, Giới hay luật lệ hạnh kiểm luân lý cũng là yếu tố
chính của sự phát triển quốc gia, sức mạnh mang nền phồn
thịnh kinh tế và sự mãn ý thông thường. Không có giới,
năng suất của cá nhân sẽ có khuynh hướng bị loại bỏ
và tự tiêu diệt. Nơi mà năng suất của một cá nhân cao
nhưng có hại cho người khác, không giúp gì thêm cho cộng
đồng. Ðúng hơn là hiệu suất của cộng đồng giảm thiểu
và quả là rất khó khăn trong việc phát triển tiến bộ và
thịnh vượng chung. Cả đến từ quan niệm này, có thể nhìn
thấy nhiều người giữ giới theo đường lối thích hợp
với tình trạng riêng của họ, với hiểu rằng Giới có thể
mang phồn thịnh cho cộng đồng.
Thông thường, người dân trong các
xứ Phật Giáo biết làm sao giữ giới hay luật lệ tinh thần.
Họ cũng biết năm giới không phải là cản trở thịnh vượng
của một cá nhân hay xứ sở. Nguyên nhân lo lắng không nằm
trong thực tế là nhiều người triệt để giữ giới, mà
là trong thực tế quá nhiều người vi phạm giới. Việc này
đi xa đến nỗi những hành động ấy phải nên tránh vì chúng
thường bị coi như có hại theo pháp luật lại vẫn rất phổ
thông. Ðiều quan trọng cần phải làm lại cho đúng là ở
nơi cá nhân hay hoàn cảnh như đã được đề cập tới. Nếu
mỗi người hành xử trong đường lối giảm thiểu những
ô trược và sản sinh đủ "biết xấu hổ - kinh sợ tội lỗi"
trong tâm, và nếu đồng thời có những hoàn cảnh tạo mãn
ý và thoải mái, như tự do thực thi chánh mạng của một
người trong bầu không khí hòa bình và an ninh, và khả năng
nuôi sống đầy đủ cho mình và gia đình, thì không có nguyên
nhân vi phạm giới và người ta sẽ chú ý giữ giới và Pháp
bổ sung, như trau dồi tâm từ (lòng từ ái) đối với người
khác và chuyên cần theo đuổi chánh mạng (lối sống chánh
đáng). Nếu những nhà lãnh đạo và giới chức hành chánh
ở mọi cấp bực đều cũng chú ý đến giới, nếu họ chuẩn
bị để tôn trọng giới và không thi hành nhiệm vụ của
họ trong một đường lối có hại, mà trong đường lối mang
lợi ích cho hạnh phúc người dân, nếu mọi khu vực của
cộng đồng đều cùng duy trì hành xử tốt như vậy, tiêu
chuẩn của luân lý chắc chắn sẽ cải thiện, vì căn bản
tâm của mỗi cá nhân đều mong ước được tốt đẹp, cho
nên người dân thực sự nhìn thấy lợi ích của Giới. Nếu
sinh nhai của một người trở nên khó khăn hay nguy hiểm, những
giải pháp trong những trường hợp bất ngờ này phải là
ưu tiên số một. Trong Phật Giáo, Ðức Phật dạy lợi ích
hiện tại cần phải được lưu ý đầu tiên, chẳng hạn
bằng cách chuyên cần và làm việc để kiếm sống. Rồi sau
đó, Ngài khuyên dồng thời nghĩ đến lợi ích tương lai,
chẳng hạn, bằng cách có niềm tin và tôn trọng Giới.
Khi có một sự phản đối kịch
liệt về tình trạng suy đồi bắt nguồn từ sự không tôn
kính giá trị tinh thần, thanh niên cũng như người lớn tuổi
kêu gào phải gìn giữ các giá trị ấy như đang xẩy ra trong
hiện tại. Nhưng lý do trình bày trong những chương này phải
được ghi nhớ bởi tất cả chúng ta, nắm tay nhau để cùng
cải thiện tình hình bằng cách giải quyết nguyên nhân thực
sự. Những đạo sư tôn giáo chỉ có thể chỉ đường. Nhiêm
vụ này không thể làm bởi một nhóm người. Tất cả mọi
khu vực của cộng đồng phải cùng nhau hợp tác phù hợp
với nhiệm vụ của mình. Tất cả mọi người trong chúng
ta phải thi hành nhiệm vụ của chúng ta với lòng thành thật.
Mỗi người phải xét cách hành xử của mình và cố gắng
loại bỏ hạnh kiểm bất thiện bằng cách giữ Giới. Lúc
ấy tôn trong luật lệ hạnh kiểm luân lý không khó, việc
này có thể làm được nhờ một thầy tu truyền Giới hay
tự mình giữ Giới không cần phải qua các nhà sư. Ðiều
quan trọng là sự quyết tâm tôn trọng Giới, đó là tiết
chế một số hành động. Tuy sự tiết chế này có thể không
đầy đủ trong ý nghĩa giữ giới toàn vẹn, và có thể áp
dụng đối với những hành động coi là sai và bất thiện
trong ý nghĩa trần thế và pháp luật, tuy nhiên còn tốt hơn
là không tiết chế gì cả.
Giới luật hoàn hảo được truyền
thụ đầy đủ trong mọi phương diện là sự thọ trì không
có nghĩa phải hoàn toàn đúng ngay từ lúc bắt đầu. Không
ai có thể thực hiện được như thế. Sự thực hành giữ
giới phải từ từ, từng bước một, từ giai đoạn thấp
nhất đến giai đoạn cao. Cho nên tại sao những lời sau đây
được sử dụng: "Tôi cam kết thi hành luật lệ rèn luyện
để giữ mình khỏi phạm vào hạnh kiểm thế này thế nọ".
Thực chất là đồng ý rèn luyện về Giới hay luật lệ luân
lý. Nó cũng có nghĩa là sự giữ Giới vẫn chưa được toàn
hảo. Nó cũng giống như sự nghiên cứu bất cứ một ngành
học nào. Nếu ta còn học một đề tài, có nghĩa là ta chưa
biết đề tài đó tới chỗ toàn bích. Bất cứ ai biết được
trọn vẹn thì không cần phải huấn luyện nữa. Một người
đang học không phải chịu trách nhiệm về cái ngu muội của
điều mà người ấy chưa học.
