24
ÐỊA VỊ CỦA
PHỤ NỮ TRONG PHẬT GIÁO
Hòa Thượng
Tiến Sĩ K. Sri Dhammananda
Thái độ xã hội
đối với phụ nữ đã được đánh dấu bởi sự kỳ thị
hậu thuẫn bởi thành kiến và ảnh hưởng tôn giáo. Cho nên,
kỳ thị phụ nữ chắc chắn là nét chung của tất cả các
xã hội. Thành kiến và trở ngại phải đương đầu của
người phụ nữ đều tương tự giống nhau tại Phi Châu, Á
Châu, Mỹ Châu hay AÂu Châu. Ðó là một sự làm cho bất lực
đặc biệt mà người phụ nữ phải nếm trải căn bản của
nó là thành kiến tôn giáo. Khái niệm về sự bất lực cơ
bản của phụ nữ bắt nguồn từ tôn giáo. Ở đây, người
phụ nữ được mô tả là người đàn bà quyến rũ, và mọi
người luôn được cảnh cáo phải đề phòng họ trong hầu
hết các tôn giáo trên thế giới.
Một số thành kiến xã hội căn
cứ vào tín ngưỡng bình dân. Theo một số huyền thoại tôn
giáo, người đàn ông được giới thiệu là con của Thượng
Ðế. Ðiều lạ lùng là người đàn bà không bao giờ được
ban cho địa vị tương tự là con gái của Thượng Ðế.
Trong những nhóm tin tưởng có linh
hồn, có những người giữ khái niệm là linh hồn chỉ hiện
hữu nơi người đàn ông mà không ở nơi phụ nữ. Những
ai cho rằng phụ nữ có linh hồn lại không có lòng tin rằng
linh hồn của phụ nữ không bao giờ có thể tìm thấy một
chỗ trên thiên đàng sau khi chết. Ðó là một số niềm tin
lạ lùng cho thấy rõ ràng bản chất của sự kỳ thị phụ
nữ lan tràn trên thế giới này.
Phụ nữ được gán cho những đức
tính xấu nhất của nhân loại. Họ bị coi như là nguồn gốc
của tội lỗi trên thế giới, thậm chí đến nỗi bị quở
trách vì những bất hạnh mà người đàn ông phải đương
đầu trên thế giới này và cả thế giới bên kia!
Nghi Thức và Nghi Lễ
Trong một số giáo phái, phụ nữ
bị cấm không được thi hành một số nghi thức và nghi lễ
trên cơ sở vì họ là đàn bà! Có một thời kỳ họ bị
cấm không cho đọc kinh! Hình phạt với những người không
tuân theo là bị cắt lưỡi. Ngoài ra, họ còn bị làm cho nản
trí để không vào các nơi thờ cúng. Ngay cả khi họ được
phép tham gia tu tập, sự tham gia chỉ được hạn chế tại
nhà riêng, liên quan đến các lễ nghi trong gia đình. Ngay hiện
tại, tuy nhiều chướng ngại đã được dẹp, những trở
lực và bế tắc trong việc nâng cao ánh sáng trí tuệ và tinh
thần phụ nữ vẫn hiện hữu trong nhiều mức độ .
Ranh Giới Giữa Nam và Nữ
Theo lịch sử, thái độ xã hội
đối với phụ nữ có thể truy nguyên từ thời tiền Phật
Giáo vào thời văn hóa Vệ Ðà lúc sơ khai chẳng hạn như
Rigveda. Có bằng chứng cho thấy danh dự và kính trọng mà
người phụ nữ trước đây được hưởng trong nhà. Từ góc
độ đạo giáo, phụ nữ có thể tiếp cận kiến thức cao
nhất của cái tuyệt đối hay Brahma (Thánh Thiện). Tuy nhiên,
thái độ phóng khoáng này thay đổi với thới gian. Ðó là
do ảnh hưởng và địa vị thống trị của các thầy tu và
việc tập tục nghi lễ như thủ đoạn của các thầy tu này
và việc đem hy sinh súc vật. Kinh thánh được giải thích
theo cách mới, và nữ giới được coi như thấp hơn nam giới
cả về tinh thần lẫn vật chất.
Lằn ranh giới giữa người đàn
ông và người đàn bà biểu hiện trong phạm vi xã hội và
gia đình, nơi phụ nữ tương đối thấp hơn. Chẳng hạn,
phụ nữ bị hạ giá coi như một sở hữu như một đồ vật.
Ðịa vị của phụ nữ là ở nhà, và bị điều động theo
sở thích và ý muốn nhất thời của người chồng. Phụ nữ
không những phải làm các việc lặt vặt trong gia đình mà
cũng còn phải lo toan đại gia đình. Thí dụ, một số Bà
La Môn lấy vợ và sống với vợ, nhưng lại cho rằng các
đồ ăn nấu bởi người vợ bất tịnh không đáng ăn! Từ
những trường hợp như vậy, một huyền thoại được xây
dựng. Phụ nữ bị bêu xấu là tội lỗi, người ta nghĩ rằng
đường lối duy nhất để họ khỏi làm điều ác là làm
cho họ luôn luôn bận bịu với nhiệm vụ làm mẹ và những
bổn phận trong gia đình.
Có một niềm tin là phải có một
đứa con để nối dõi tông đường thi hành các "lễ nghi cho
tổ tiên". Niềm tin truyền thống này cho là chỉ có con trai
mới gánh vác được những nghi thức mà họ nghĩ rằng cần
thiết hầu đem an lạc và an ninh cho cha ông sau khi chết. Cũng
có niềm tin cho rằng người đã chết có thể trở về thành
ma quỷ để hãm hại gia đình. Cho nên khả năng để sinh con
trai hết sức là quan trọng với một phụ nữ thành gia thất.
Mặt khác nếu người đàn bà không có con, hay không sanh được
con trai, người đó sẽ bị thay thế bằng một người vợ
thứ hai hay thứ ba - thậm chí phải ra khỏi nhà vì niềm tin
ấy! Xét từ góc độ tầm quan trọng liên hệ đến việc
sinh con trai với một phụ nữ có gia đình, chúng ta hiểu đời
sống của một người có gia đình thật bất trắc tùy thuộc
vào việc người ấy có sinh được con trai không! Tuy nhiên
điều này không có nghĩa là đời sống phụ nữ không chồng
ít bất trắc gì hơn những người chị có gia đình của họ.
Hôn nhân được coi như một phước báu thiêng liêng. Nhưng
một người con gái không lấy chồng bị khinh miệt bởi xã
hội và là mục tiêu cho họ công kích.
Về tinh thần, trong lãnh vực tu
tập tôn giáo, địa vị mà phụ nữ đã có lần được hưởng
cũng bị khước từ. Theo họ, họ tin là phụ nữ không có
khả năng lên thiên đường dù có công đức. Hơn nữa, phụ
nữ không thể tự mình thờ cúng. Họ cũng tin rằng phụ nữ
chỉ có thể lên thiên đường khi phục tùng tuyệt đối người
chồng - thậm chí nếu người chồng là một người ác. Ðồ
ăn do người chồng ăn dư còn lại thường là đồ ăn của
người vợ. Những thí dụ trên đây cho thấy mức độ bất
bình đẳng giữa nam và nữ giới.
Ðịa Vị Của Người Phụ Nữ
Ðược Tuyên Bố Bởi Ðức Phật
Trái ngược với những tập quán
mù quáng cản trở sự phát triển tinh thần như vậy, Phật
Giáo có thể được cho là ít kỳ thị nhất trong thái độ
đối với phụ nữ. Không có chút nghi ngờ gì cả Ðức Phật
là vị đạo sư đầu tiên cho phụ nữ cơ hội bình đẳng,
giải phóng trong lãnh vực phát triển tinh thần. Tuy rằng đôi
khi Ngài cũng có nói đến khuynh hướng tự nhiên và và những
nhược điểm của phụ nữ nói chung. Nhưng Ngài cũng ngợi
khen tài năng và khả năng của nữ giới. Ngài thực sự dọn
đường cho phụ nữ tiến đến một đời sống tôn giáo hoàn
toàn. Ðiều này ngụ ý, phụ nữ có thể phát triển và thanh
tịnh tâm mình như nam giới và đạt hạnh phúc Niết Bàn như
nam giới. Ðiều này được chứng minh nhiều bởi những lời
chứng của các Nữ Tu Sĩ (Ni Giới) trong thời Ðức Phật.
Lời dạy của Ðức Phật đã có
tác động lớn quét sạch những niềm tin dị đoan và những
nghi thức và nghi lễ vô nghĩa - gồm cả sự hiến tế súc
vật khỏi tâm của nhiều người. Khi Ðức Phật khám phá
ra bản chất thực sự của đời sống và cái chết, giải
thích về hiện tượng tự nhiên vận hành vũ trụ cho những
người này, họ bắt đầu hiểu. Kết quả là chấm dứt và
sửa chữa những bất công và thành kiến đang lan tràn trong
xã hội. Như vậy khiến người phụ nữ sống cuộc đời
theo đường lối riêng của mình.
Mặc dầu Ðức Phật đã nâng cao
địa vị của Phụ nữ trong xã hội, Ngài cũng vẫn vạch
ra những dị biệt về xã hội và tâm lý hiện hữu giữa
nam và nữ giới. Ðiều này chứng tỏ đường lối của Ðức
Phật rất thực tế do sự quan sát của Ngài. Lời khuyên của
Ngài, đưa ra đôi lúc trong ánh sáng của sự quan sát của
Ngài rất thực tiễn. Nhiều trường hợp này đã được miêu
tả rõ ràng trong các Kinh Anguttara Nikaya và Samyutta Nikaya. Ðược
ghi nhận rằng bổn phận người đàn ông là tìm kiếm kiến
thức không bao giờ chấm dứt. Người đàn ông phải cải
tiến và ổn định kỹ năng và tài thủ công nghệ và chuyên
cần vào công việc của mình. Người ấy cũng phải có khả
năng tìm ra những phương tiện để duy trì và giữ vững gia
đình. Mặt khác, bổn phận của phụ nữ là coi sóc nhà cửa
và chồng.
Kinh Anguttara Nikaya chứa đựng
lời khuyên rất có giá trị cho những người con gái trước
khi đi lấy chồng. Nhìn thấy trước những khó khăn phát xuất
với bên chồng, Ðức Phật đã đưa ra những lời khuyên về
mọi mặt đối với cha mẹ chồng, phục vụ cha mẹ chồng
trong tình thương yêu như chính cha mẹ mình. Người vợ cũng
phải trân trọng và kính nể thân quyến và bè bạn bên chồng
như vậy bầu không khí thuận thảo và hạnh phúc sẽ được
tạo nên trong gia đình khi mới về nhà chồng. Họ cũng được
khuyên dạy phải tìm hiểu bản tính người chồng, xác định
hoạt động, tính nết, tâm tính của chồng, và trở nên luôn
luôn hữu ích và cộng tác khi mới về nhà chồng. Họ nên
lễ phép, tử tế và ý tứ trong sự giao tế với người làm.
Người vợ phải dành dụm tiền kiếm được của người
chồng và phải biết sự chi tiêu trong gia đình cần được
tính toán và duy trì. Ðó là lời khuyên có giá trị vô tận
của Ðức Phật.
Ðức Phật cảm nhận an lạc và
hòa hài trong gia đình ở một mức rộng lớn là do người
đàn bà. Ngài cho Phụ nữ lời khuyên về vai trò trong đời
sống lứa đôi rất chính xác và thực tiễn. Ngài liệt kê
một số các đức tính tốt hàng ngày mà người phụ nữ
nên làm hay không nên làm. Vào nhiều dịp, Ðức Phật khuyên
người vợ:
* Không nên nuôi tư tưởng
tội lỗi đối với chồng;
* Không nên độc ác, thô bạo hay
lấn át chồng;
* Không nên phung phí mà nên tằn
tiện sống trong phạm vi lợi tức kiếm được;
* Nên canh chừng và gìn giữ tài
sản và của cải do người chồng vất vả kiếm được;
* Luôn luôn đức hạnh và trong
sạch trong tâm và hành động;
* Phải trung thành và không nuôi
tư tưởng hay hành động ngoại tình nào;
* Phải nên cẩn trọng về lời
nói và lễ phép trong hành động;
* Phải nên tử tế, cần cù và
siêng năng;
* Phải nên quan tâm và từ bi với
chồng và thái độ đối xử với chồng phải như người
mẹ thương yêu và bảo vệ đứa con trai của mình;
* Phải nên nhũn nhặn và lễ độ;
* Phải nên trầm tĩnh, bình tĩnh
và hiểu biết - phục vụ không những như một người vợ
mà cũng như người bạn và người cố vấn cho chồng khi cần
thiết.
Trong thời Ðức Phật tại thế, các
đạo sư các tôn giáo khác cũng nói về bổn phận và nghĩa
vụ của người vợ đối với người chồng. Họ nhấn mạnh
đến bổn phận đặc biệt của người phụ nữ là phải
sinh con cho người chồng và phục vụ chồng trung thành, tạo
hạnh phúc gia đình. Ðiều này cũng tương tự quan điểm của
Ðạo Khổng. Tuy nhiên, bổn phận của người vợ đối với
chồng đặt ra bởi tiêu chuẩn kỷ luật của Ðức Khổng
Tử lại không nhấn mạnh đến bổn phận và nghĩa vụ của
chồng đối với vợ.
Lời dạy của Ðức Phật không
thiên vị về phía người chồng. Trong Kinh Sigalovada, Ðức
Phật nói rõ ràng cả bổn phận của người chồng đối với
vợ và ngược lại. Về phần người chồng, người chồng
phải trung thành, lịch sự và không khinh miệt. Bổn phận
người chồng là trao quyền cho người vợ; và thỉnh thoảng
cung cấp đồ trang sức cho vợ. Cho nên, chúng ta chứng kiến
thái độ vô tư biểu lộ bởi Ðức Phật đối với cả nam
lẫn nữ giới.
Ðức Phật cũng chỉ rõ những điều
cản trở và bất lợi mà người đàn bà phải chịu. Chẳng
hạn như gian nan và khổ cực lúc phải xa nhà vào ngày cưới
để về nhà chồng và nỗi thương đau phải tự mình gánh
chịu để thích nghi với môi trường mới đầy khó khăn và
trở ngại. Thêm vào đó là cái đau đớn và đau tâm sinh lý
mà người đàn bà phải chịu đựng trong lúc kinh kỳ, mang
thai và sanh nở. Tất cả những điều này tuy là những hiện
tượng tự nhiên chỉ miêu tả những dị biệt bất lợi và
hoàn cảnh xẩy ra giữa người đàn ông và người đàn bà.
Lời dạy của Ðức Phật về bản
chất thực sự của cuộc sống và cái chết - về nghiệp
và về những nẻo luân hồi- đã thay đổi thái độ đối
với phụ nữ trong thời kỳ đó. Ðiều này cũng đặc biệt
như vậy đối với sự quan trọng lớn lao gắn với việc
sanh con trai. Phật Giáo không bao giờ đồng quan điểm với
quan điểm Bà La Môn là con trai cần thiết cho người cha để
lên thiên đường. Ðức Phật dạy theo Nghiệp Luật, ta phải
chịu trách nhiệm về hành động và hậu quả của chính ta.
Hạnh phúc của cha hay ông không tùy thuộc vào hành động
của người con hay người cháu. Mỗi cá nhân phải chịu trách
nhiệm về hành động của chính cá nhân ấy. Cho nên không
có nguyên nhân nào cho người đàn bà lập gia đình phải lo
âu chỉ vì không sinh được con trai để thi hành những nghi
lễ cho tổ tiên. Ðiều này cũng có nghĩa con gái cũng tốt
như con trai.
Có thể rằng trong thời kỳ đầu
Phật Giáo, con gái không lấy chồng, không bị ngược đãi.
Người con gái đó có thể ở nhà săn sóc đầy đủ cha mẹ,
các anh em chị em còn nhỏ hơn mình. Người con gái đó có
quyền sở hữu tài sản to lớn.
Ðức Phật không gán sự quan trọng
vào việc sinh con trai. Trong một dịp Hoàng Ðế Kosola đang
cùng với Ðức Phật, thì được tin báo một đứa con gái
của Hoàng Ðế được sinh ra. Mong mỏi một con trai, Hoàng
Ðế không vui. Nhận biết như vậy, Ðức Phật đã ca ngợi
phụ nữ, nêu cao những đức hạnh của người phụ nữ như
sau:
"Một số phụ nữ thực ra còn tốt
hơn nam nhân. Hãy nuôi dưỡng bé gái, hỡi vị chúa công .
Có những phụ nữ khôn ngoan, đức hạnh, được hết sức
kính nể là bà mẹ vợ, là những người trong trắng. Từ
những người cao thượng như thế sanh đứa con trai dũng cảm,
một chúa tể cả vương quốc, sẽ cai trị cả nước của
vua."
Ðức Phật mở cửa cho phụ nữ
tham gia vào lãnh vực tôn giáo cho họ được nhập vào Ðoàn
thể Tỳ Kheo Ni, Ðoàn Thể Ni Giới. Việc này mở rộng những
con đường thênh thangcủa văn hóa, xã hội và những cơ hội
về đời sống công cộng cho phụ nữ. Nó cũng dẫn đến
công nhận hoàn toàn tầm quan trọng của phụ nữ trong xã
hội, và làm như vậy nâng cao địa vị của người phụ nữ.
Mặc dù có một vài bình luận châm
biếm có đề cập trong Tam Tạng Kinh Ðiển về những mưu
chước và cách đối xử của phụ nữ, nhưng Ðức Phật cũng
có ghi trong Kinh Samyutta Nikaya nhiều nét đặc biệt chuộc lỗi
của họ. Ðược biết rằng trong một số hoàn cảnh, phụ
nữ được coi như khôn ngoan và sáng suốt hơn nam giới, và
phụ nữ cũng được coi như có khả năng chứng đắc hay đạt
thánh quả sau khi tiến bước vào Bát Chánh Ðao cao quý. Mặc
dù một số không vừa ýù, qua sự quan sát kỹ lưỡng, chúng
ta thấy những gì Ðức Phật nói về phụ nữ vẫn có giá
trị ngày nay. Vây nên, trong việc bộc lộ bản chất của
phụ nữ - như khi Ðức Phật nói đến trường hợp Hoàng
Ðế Kosala sinh con gái thay vì con trai - Ðức Phật không chỉ
nhằm vảo nhược điểm mà còn vào tiềm lực của phụ nữ.
Ðức Phật cho thấy rõ ràng phụ
nữ có khả năng hiểu biết giáo lý của Ngài và có thể
tu tập giáo lý này để đạt tinh thần ở mức độ nào đó.
Ðiều này cho thấy rõ ràng do lời khuyên của Ðức Phật
cho nhiều phụ nữ vào nhiều dịp và hoàn cảnh khác nhau.
Ðức Phật dạy bài học vô thường cho Khema, người đẹp
kiêu kỳ tự đắc. Khema là vợ của Vua Bình Sa Vương. Lúc
đầu bà này không chịu đến gặp Ðức Phật vì bà này nghe
thấy Ðức Phật thường nhắc đến sắc đẹp bên ngoài bằng
lời lẽ coi thường. Một hôm, bà ta ghé thăm tu viện chỉ
để vãng cảnh. Dần dà, Bà bị lôi cuốn tới giảng đường
nơi Ðức Phật đang thuyết pháp. Ðức Phật dùng thần thông
biết được tư tưởng của Bà và tạo ảo ảnh một người
mệnh phụ ngồi trước bà. Khema đang ngắm nghía sắc đẹp
của mệnh phụ này thì Ðức Phật biến người đàn bà này
đang đẹp đẽ thành người trung niên rồi thành người già,
và cuối cùng té xuống đất răng gẫy, tóc bạc, và da nhăn.
Sự thay đổi này khiến Hoàng Hậu Khema nhận thức được
cái phù phiếm của sắc đẹp bên ngoài và cảm nhận thấy
cái phù du của cuộc đời. Bà suy nghĩ: "Một thân hình như
vậy mà trở thành tàn tạ như vậy sao? Thì thân hình của
ta cũng sẽ như vậy ư?" Nhận thức được hậu quả như vậy,
Hoàng Hậu Khema đắc thánh quả A La Hán, và với sự đồng
ý của Bình Sa Vương, Bà đã gia nhập Ni Ðoàn Tỳ Kheo Ni.
Với các phụ nữ quá xúc động
và đau buồn về sự mất người thân yêu, Ðức Phật nói
về sự không tránh khỏi cái chết như diễn tả trong Tứ
Diệu Ðế Cao Quý. Ngài cũng trích dẫn nhiều ngụ ngôn nhấn
mạnh về điểm này. Cho nên, với Visakha, một mệnh phụ đa
sầu đa cảm có một đứa cháu chết, Ðức Phật đã nói
như sau:
"Từ thương yêu sinh sầu
khổ,
Từ thương yêu sinh sợ hãi,
Với người không còn luyến ái,
Thì không còn sầu khổ, ít sợ
hãi"
Sự thiết lập Ðoàn Tỳ Kheo Ni --
Ni Ðoàn -- vào năm hoằng pháp thứ năm của Ðức Phật, dọn
đường hoàn toàn tự do tôn giáo cho phụ nữ. Sự thành công
với nhiều chư ni xuất sắc rất lẫy lừng trong việc nghiên
cứu và tu tập Giáo Pháp. Ðứng về mặt thế giới, Phật
Giáo vươn cao. Bài thánh ca về Chị Em (Therigatha) gồm có 77
bài thơ tác giả là các Ni là niềm tự hào của nền văn
hóa Phật Giáo.
Các ni không bị giới hạn bởi
Ðức Phật trong việc dạy và thuyết giảng Giáo Pháp. Tỳ
Kheo Ni Ðoàn sản sinh một số các nhà dẫn giải Giáo Pháp
và thuyết pháp lẫy lừng như Sukha, Patacara, Khema, Dhammadinna,
và Maha Pajapati (người mẹ nuôi dưỡng Thái Tử Tất Ðạt
Ða). Theo Phật Giáo, con trai không phải là cần thiết để
người cha để được lên thiên đường, con gái cũng tốt
như con trai, nếu được tự do sống một cuộc đời độc
lập. Cho phụ nữ được tích cực chia sẻ hoạt động vào
đời sống tôn giáo, Ðức Phật đã giúp đỡ nâng cao địa
vị phụ nữ trong đời sống thế tục.
Tuy nhiên cho phép phụ nữ vào đời
sống tôn giáo quả là quá tiến bộ trong thời ấy. Vì lẽ
bản chất của sự cải tiến quá tiến bộ đối với sự
suy nghĩ của thời đại ấy, người dân đã không thể tự
thích nghi nên gây ra thoái trào. Cho nên Tỳ Kheo Ni Ðoàn chỉ
duy trì được một thời gian ngắn vì họ không làm chủ được
tình hình. Những người Bà La Môn với ưu tiên của họ trong
hệ thống đẳng cấp xã hội bị đe dọa cũng là một yếu
tố khác làm suy yếu Ni Ðoàn. Những người Bà La Môn này
tuyên truyền chống đối "thái độ mới" cho phụ nữ tự
do tôn giáo.
Tại Sri Lanka, Ni Ðoàn phát triển
cho đến năm 1017 Tây Lịch đời Hoàng Ðế Mahinda IV. Sau đó
Ni Ðoàn tan rã và không còn tái lập được. Nhưng Ni Ðoàn
được giới thiệu vào Trung Hoa bởi những Ni Sinhalese, và
vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cũng giống như Nhật Bản.
Tuy nhiên theo truyền thống Ðại Thừa, ni giới chỉ đóng
môt vị trí phụ thuộc không thể bằng các tăng được.
Tiến Tới Bình Ðẳng và Tự
Do
Sự tiến tới thời đại tiên tiến
của thế kỷ thứ 19 và 20 khác xa thời Ðức Phật. Giải
phóng phụ nữ, tìm tự do và bình đẳng đạt được bước
tiến dài, đặc biệt ở Tây Phương. Việc này do kết quả
những xu hướng và tư tưởng hiện đại, và giáo dục tiên
tiến cho phụ nữ ở tất cả địa vị học hành cao cấp.
Susan B. Anthony, người Hoa Kỳ tiên
phong trong việc tranh đấu bình đẳng cho phụ nữ từ năm
1848, hơn 148 năm qua. Từ đó, các phong trào và tranh đấu với
mục tiêu rộng lớn hơn, đã tiến lên với nhiều phụ nữ
tiên phong và nhiều tổ chức phụ nữ. Những phụ nữ này
tin tưởng là phái nữ có một vai trò trong tình đoàn kết
ái quốc với phái nam góp phần xây dựng một thế giới tốt
đẹp hơn qua một xã hội và một quốc gia tốt đẹp hơn.
Từ năm 1848, có những phong trào
bình dân được tổ chức để đòi hỏi giáo dục bình đẳng,
quyền chính trị bình đẳng, và kinh tế bình đẳng cho phái
nữ. Ở phương Tây, địa vị phụ nữ được nâng cao bởi
những hoàn cảnh phát sanh bởi cuộc cách mạng công nghiệp,
phong trào nhân đạo, và phong trào phụ nữ đòi bình đẳng.
Nhưng, tại Á Châu và những nước khác, công nghiệp kém phát
triển, những sự thay đổi được đem đến do những nhà
cải tổ có nguồn gốc tôn giáo.
Trong năm, sáu chục năm qua, có một
sự gia tăng đều đều số phụ nữ tham gia vào kinh tế, xã
hội cũng như đời sống chính trị tại các nước của họ.
Sự thành công như vậy đạt được bởi phái nữ mới đây
trong các lãnh vực- khoa học xã hội, kinh doanh, kinh tế và
cả trong lãnh vực chính trị - được mô tả như phi thường.
Mỉa mai thay, tuy một số phụ nữ đã tiến tới tột cùng
trên vũ đài chính trị như giữ chức thủ tướng tại nước
của họ, nhưng tại một số nước khác, những phụ nữ đương
thời lại chưa có quyền công dân - quyền bầu cử! Mặc dù,
hầu hết các nước bây giờ đã áp dụng thái độ công bằng
hơn, và đã tạo những cơ hội về giáo dục và nghề nghiệp
cho phụ nữ, kinh nghiệm không vừa ýù và sự kỳ thị mà
họ đã đưa lên với nhau cùng với sự ganh đua và sợ hãi
vẫn là thái độ phỏ biến ngày nay Thực ra nếu nói là một
số hình thức kỳ thị vẫn còn tồn tại đối với phái
nữ là nói không đúng sự thật.
Hành động quốc tế nâng cao địa
vị phụ nữ bắt đầu bằng một phương thức nhỏ bé với
Hội Quốc Liên nay đã giải tán sau Thế Chiến Thứ Nhất.
Sau này Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đi xa hơn nữa qui định
nguyên tắc bình đẳng và tự do cho tất cả phụ nữ. Một
Ủy Ban về thể chế phụ nữ, một cơ quan của Liên Hiệp
Quốc điều tra vấn đề kỳ thị giới tính và bàn cãi về
những câu hỏi liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ;
bình dẳng về lương bổng cũng như bình đẳng về việc làm,
địa vị phụ nữ trong luật tập tục, quốc tịch phụ nữ
khi lấy chồng; cơ hội giáo dục và kinh tế cho phụ nữ;
giúp đỡ kỹ thuật và sự tham gia của phụ nữ.
Tuy nhiều việc đã được hoàn
tất qua các phong trào phụ nữ đòi quyền bầu cử, những
tổ chức phụ nữ quốc tế đấu tranh cho sự tham gia rộng
rãi hơn của phụ nữ vào các lãnh vực xã hội, kinh tế,
và chính trị, nhưng vấn đề thực sự tự do vẫn chưa giải
quyết được.
Tự Do Trong Ý Nghĩ Phật Giáo
Tự do thực sự phải là tự do
hoàn toàn thoát khỏi mọi hình thức của ràng buộc. Nó chỉ
có thể đạt được do sự phát triển tinh thần đúng cách
và thanh tịnh tâm của chính mình - tẩy sạch tất cả những
dấu vết của tham sân si. Không có bàn luận công khai, biểu
tình hay hiến chương quốc tế có thể mang lại tự do hoàn
toàn. Những việc này chỉ có thể đạt được do chuyên cần
của chính mình và sự chú ý vào việc tu tập thường xuyên
về thiền như Ðức Phật dạy.
Ðức Phật, trong khi xúc tiến nguyên
nhân về phụ nữ, được coi như người đầu tiên giải phóng
phụ nữ, và là người vận động cho lối sống dân chủ.
Chính trong Giáo Pháp Phật Giáo, phụ nữ không bị khinh miệt
và hạ phẩm giá mà địa vị còn được nâng lên như phái
nam trong phương diện tinh thần cố gắng để đạt trí tuệ
và giải thoát.