Có
thể nói vạn vật hữu hình khó đứng vững và tồn tại
trước những cơn thịnh nộ của bão tố. Thế nhưng, đôi
khi đâu đó cũng có những cành hoa bé nhỏ yếu ớt đã sẵn
sàng trụ lại sau những cơn cuồng nộ của tự nhiên. Nó
vươn dậy trổ hoa, tỏa hương và làm thành “giới hương
bất tử” lan tỏa vào không gian đi vào trong sử sách. Đó
là hoa sen, tên hiệu của một vị thiền sư nổi tiếng thời
nhà Nguyễn, thiền sư Liên Hoa
Thiền
sư Liễu Đạt – Thiệt Thành, hiệu Liên Hoa (?- 1823), (hiệu
này do vua Minh Mạng phong cho) tên họ là gì? sinh năm nào và
quê quán ở đâu thì không thấy sử sách ghi chép. Chỉ biết
thiền sư “viên tịch” trong một hoàn cảnh hết sức đặc
biệt, “tự thiêu” để bảo toàn phẩm hạnh của người
xuất gia?
Thiền
sư Liễu Đạt – Thiệt Thành thuộc phái thiền Lâm
Tế, đời thứ 35, là đệ tử của thiền sư Minh Vật - Nhất
Tri (?- 1786), có lẽ thiền sư xuất gia tu học với thiền sư
Minh Vật - Nhất Tri ở chùa Kim Cang (Bình Thảo, Đồng Nai)?.
Do tư chất thông minh và phẩm hạnh nghiêm mật nên được
vua xuống sắc, triệu ra kinh đô Huế để giữ chức Tăng
cang chùa Thiên Mụ (1813-1823) và được cử làm pháp sư giảng
thuyết Phật pháp trong nội cung của vua Gia Long. Và cũng chính
từ đó nghiệp duyên cứ đeo đuổi và gây khá nhiều sự
phiền toái cho thiền sư về sau này.
Sử
truyện kể lại rằng, thiền sư là người rất hảo tướng,
oai nghiêm, đỉnh đạc, thông minh, có tài hùng biện và thuyết
giảng Phật phát rất hay nên được đông đảo quần chúng
và Phật tử mến mộ tài năng và phẩm hạnh của Người.
Tiếng lành của thiền sư đã chinh phục khá đông đảo Phật
tử trong nội cung và các quần thần của triều Nguyễn lúc
bấy giờ. Thiền sư có rất nhiều đệ tử trong hoàng cung,
trong số đệ tử đó có một vị Hoàng cô (cô của vua Minh
Mạng) cũng quy y và thọ Bồ Tát giới, pháp danh Tế Minh, tự
Thiên Nhựt. Do cảm mến và quá hâm mộ tài năng cũng như
đức độ của Thiền sư nên đã có ý định ràng buộc duyên
trần cùng với người. Do thiền sư luôn tỉnh giác và là
người có trí tuệ nên đã chọn phương pháp “tránh duyên”
bằng cách xin về trụ trì chùa Từ Ân ở Gia Định. Lúc này
thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (1725- 1821), trụ trì Sắc Tứ Từ
Ân Tự đã viên tịch.
Thế
rồi vào một buổi sáng đẹp trời tháng mười, năm Quý Mùi
(1823), thiền sư đang uống trà và đàm đạo cùng với đồ
chúng chùa Sắc Tứ Từ Ân, bổng có tin từ quan trấn thủ
Gia Định vào cho hay là Hoàng cô vâng lệnh vua (Minh Mạng)
vào Gia Định để cúng dường chùa Sắc Tứ Từ Ân và chùa
Quốc Ân Khải Tường . (Trước đây chùa có tên Khải Tường,
trong thời gian (1789- 1802) Nguyễn Phước Ánh trung hưng ở Gia
Định, Nguyễn Vương và triều thần ngụ tại chùa Từ Ân;
các vương phi, công chúa…ngụ tại chùa Khải Tuờng. Năm
1791, hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm -sau này là vua Minh Mạng-
đã chào đời tại ngôi chùa này. Sau khi lên ngôi vua Gia Long
đã sắc phong là Quốc Ân Khải Tường tự). Nhận được
tin này, thiền sư phần nào cũng lo âu, bởi lẽ “chúng sanh”
bản tánh cang cường khó thay đổi (Hoàng cô) không biết chuyện
gi sẽ xảy ra. Mặc dầu, thiền sư đã biết mình uyên thâm
Phật pháp. Nhưng đang sống trong một xã hội quân chủ, quyền
sinh sát nằm trong tay một người, đó là thiên tử, cháu của
“chúng sanh” cang cường này.
Thiền
sư đích thân cầu thỉnh, vấn kế thiền sư Tổ Tông Viên
Quang (1758-1827), trụ trì chùa Giác Lâm, Phú Thọ. Thiền sư
Tổ Tông Viên Quang khuyên can và bảo rằng: nếu Hòa thượng
lánh mặt bất ngờ thì sẽ mang tội với triều đình, làm
cho chư Tăng cùng Phật tử xôn xao, nghi ngờ thắc mắc…sẽ
gây nhiều dư luận không tốt và có thể gây nhiều biến
động rắc rối hơn. Thiền sư Tổ Tông Viên Quang khuyên Hòa
thượng hãy định tâm, cố gắng giữ cho tâm được bình
thản và sinh hoạt tự nhiên như mọi ngày, cầu nguyện chư
Phật hộ trì, giúp cho sáng suốt để giải quyết công việc
hợp tình và hợp lý.
Thiền
sư Liên hoa về chùa chuẩn bị đón tiếp Hoàng cô. Lễ tiếp
đón và cúng dường diễn ra tốt đẹp và viên mãn. Hoàng
cô ở lại chùa Sắc Tứ Từ Ân, mỗi sáng thiền sư Liên
Hoa phải tiếp kiến và hầu chuyện bình thường. Nhưng đến
sáng thứ ba không biết có sự việc đặc biệt khác thường
gì không, mà đến sáng sớm ngày ấy Hoàng cô ở chùa , mà
không thấy thiền sư đến tiếp kiến như mọi hôm. Hỏi Tăng
chúng thì không ai hay biết, chỉ có Sa di Mật Dĩnh là thị
giả của thiền sư biết nhưng không dám hé môi.
Do
tâm bịnh nên sức khỏe Hoàng cô ngày một sa sút trầm trọng.
Sợ nguy hại cho bổn tự nên Sa di Mật Dĩnh đành phải nói
sự thật. Thiền sư đã lên chùa Đại giác ở Cù lao Phố,
tỉnh Biên Hòa để nhập thất hai năm. Được tin này, Hoàng
cô thông báo với quan trấn Gia Định là mình lên chùa Đại
Giác để cúng dường. Quan tổng trấn cử phái đoàn hộ tống
Hoàng cô lên chùa Đại Giác. Sau khi đến chùa dâng lẽ cúng
dường và nhờ thị giả Mật Dĩnh đưa đến tịnh thất của
thiền sư Liên Hoa. Hoàng cô với tâm thành kính đảnh lễ
trước tịnh thất và xin gặp mặt thiền sư lần cuối trước
khi hồi kinh. Thiền sư không trả lời. Hoàng cô suy nghĩ kế
khác, sau đó quỳ trước cửa thất thưa rằng: “ nếu Hoà
thượng không tiện ra tiếp, xin Hoà thuợng cho con nhìn thấy
bàn tay của Hòa thuợng, đệ tử cũng hân hoan mà ra về”.
Im lặng vài phút thiền sư đưa bàn tay ra cửa nhỏ nơi đưa
thức ăn vào thất, Hoàng cô vội ôm bàn tay hôn một cách
trìu mến, rồi sụp lạy xuống và khóc sướt mướt. Nhưng
sau đó bà cho biết là ở lại chùa Đại Giác nghi ngơi vài
ngày trước khi hồi kinh
Đêm
hôm ấy, vào khoảng canh ba, trong khi mọi người đang yên giấc,
bổng thấy tịnh thất của thiền sư phát hỏa, mọi người
chạy ra dập lửa thì tịnh thất đã cháy rụi. Nhục thân
của thiền sư cũng cũng cháy đen. Mọi người đang bàn tán,
xôn xao, có người phát hiện bài kệ của thiền sư viết
bằng mực đen trên vách chánh điện:
THIỆT
đức rèn kinh vẹn kiếp trần
THÀNH
không vẩn đục vẫn trong ngần
LIỄU
tri mộng huyễn chơn như huyễn
ĐẠT
đạo mình vui đạo mấy lần
Qua
bài kệ trên chúng ta thấy rằng, thiền sư Liên Hoa là người
rất uyên thâm Phật pháp, biết cuộc đời này là mộng huyễn
ảo ảnh. Người đã dùng ngọn lửa để thức tỉnh và giáo
hóa Hoàng cô. Nhưng có lẽ do duyên nghiệp nhiều đời nhiều
kiếp giữa hai người, nên ngọn lửa ấy đã không đạt được
kết quả như mong muốn. Tuy nhiên qua câu chuyện này, hàng
hậu côn chúng ta cũng rút ra được bài học vô cùng quý báu.
Một người vừa hảo tướng vừa tài năng đôi khi cũng dễ
gặp những chướng duyên trên bước đường tu học. Điều
này đã được báo trước và người nhận ra mối nguy hại
ban đầu cũng như tiên đoán chính xác sự việc đó là thiền
sư Phật Ý - Linh Nhạc. Ngài tiên đoán “ sư Liễu Đạt (Thiệt
Thành, hiệu Liên Hoa) không tránh khỏi mối dây ràng buộc
của nghiệp trần duyên vì thiền sư Liễu Đạt có tướng
hảo, có tài thuyết giảng và khoa ăn nói, lại giảng giải
trong nội cung, gần nhiều giới nữ sắc quyền quý”. Và
điều đó đã ứng nghiệm như thật qua câu chuyện. Các vị
thiền sư xưa kia, bằng công phu tu tập, năng lực thiền định
đã nhận ra tương lai của một người nào đó đối diện
với mình, phần còn lại chỉ do họ có nỗ lực để chuyển
hoá và giải quyết sự việc đó đúng theo tinh thần nhân
quả của nhiều đời, nhiều kiếp hay không?
Cuộc
đời và sự nghiệp của một vị thiền sư tài năng, đạo
hạnh nỗi danh một thời như thế, nhưng phải nhờ ngọn lửa
để giữ gìn giới thân huệ mạng là điều chúng ta ngày
nay phải cần suy ngẫm. Có một vài người cho rằng cách giải
quyết vấn đề như thế là tiêu cực, không lối thoát, chưa
trọn vẹn với tinh thần chánh pháp…Phải chăng những nhận
xét như vậy là quá gay gắt với tiền nhân?! Người viết
cho rằng, khi mình đã là “thần tượng” của quần chúng
Phật tử, nhất là thần tượng của giới trí thức quan lại
triều đình thì việc “tự thiêu” không chỉ bảo tồn giới
thân huệ mạng cho riêng mình mà còn là việc bảo vệ danh
dự cho hàng vạn Tăng lữ và hàng triệu tín đồ đã một
thời kính trọng và ngưỡng mộ tài đức của mình. Việc
làm ấy cũng đủ để hậu thế đảnh lễ tán thán và noi
gương theo công hạnh của Người.
Thời
đức Phật còn tại thế, Ngài đã thuyết tam bất năng (bất
năng miễn định nghiệp, bất năng độ vô duyên, bất năng
tận sanh giới). Chính vì tam bất năng này mà hàng hậu học
hôm nay hiểu được vì sao thiền sư Liên Hoa đã dùng ngọn
lủa “thiêu thân” để bảo toàn phẩm hạnh của mình.
Trước
phong ba bảo táp mọi vật có thể bị hủy diệt và cuốn
trôi theo chiều gió, chỉ hương người đức hạnh mới trụ
lại được và bay ngược lại chiều gió mà thôi. Hưong của
hoa sen thoang thoảng đâu đây, hình ảnh thiền sư Liên Hoa
lại hiện về trong tâm trí của những người đang đi trên
lộ trình giải thoát. Chấp tay búp sen con nhớ lại hình ảnh
người, cúi đầu đảnh lễ cành hoa sen trước gió. (Pháp
Thoại)