I.-
MỞ ĐẦU:
Là
một Phật tử sinh ra và trưởng thành trong thế kỷ 20, đã
trải qua những thăng trầm của vận nước nổi trôi, đã
từng bị cuốn lôi trong cuộc chiến hai miền Nam-Bắc; giờ
đây tuổi đã vào Thu, muốn được cống hiến chuỗi ngày
còn lại cho việc hộ trì Phật pháp và phụng sự nhân sinh.
Để làm tròn ý hướng tự nguyện này, chúng tôi phải tìm
học và tu hành một cách nghiêm túc mới mong đạt được
kết quả tốt đẹp.
Khi
đi vào thực tế, điều đầu tiên đòi hỏi chúng tôi là
phải có cái nhìn chính xác và tư duy đúng đắn. Từ đó
nhìn vào chính mình và nhìn đến các nhân duyên kết hợp,
cùng môi trường sống chung quanh từ gần đến xa khiến chúng
tôi có rất nhiều điều trăn trở và thao thức. Nào là suy
nghĩ về tinh thần phục vụ cá nhân đến việc Phật pháp
phục vụ dân tộc, rồi xa hơn nữa là Phật giáo làm thế
nào để chuyển hóa được con người thời đại, đem lại
hòa bình và hạnh phúc thực sự cho nhân loại.
Những
thao thức này, đối với một cá nhân thì có vẻ lớn lao
như chuyện "đội đá vá trời”; nhưng với một tập thể,
một cộng đồng tôn giáo thì là việc bình thường. Và cuộc
Hội thảo khoa học với chủ đề “Phật Giáo Trong Thời
Đại Mới: Cơ Hội Và Thách Thức” cũng không ngoài mục
đích tìm giải pháp đóng góp của Phật Giáo Việt Nam "để
ứng xử với tiến triển của thời đại và trả lời các
nhu cầu của dân tộc" như đã ghi trong thư mời gửi đến
chúng tôi.
II.-
CÁI NHÌN TỔNG QUAN
Ở
vị trí của một Phật tử hải ngoại, chúng tôi có cái nhìn
bao quát về sự phát triển Phật giáo bên ngoài và ngay chính
tại địa phương của mình cư ngụ, hơn là nhìn về Phật
giáo trong nước. Chúng tôi chỉ nhận xét về bối cảnh chung,
để vẽ ra một bức tranh toàn cảnh khiến cho Phật tử trong
nước có sự hiểu biết tương đối trung thực và cập nhật
về tình hình Phật giáo thế giới nói chung và Phật giáo
Việt Nam tại hải ngoại nói riêng trong hoàn cảnh hiện tại.
Từ đó mới tìm ra câu trả lời về “Vai trò của Tôn giáo
trong đời sống nhân loại – đặc biệt là Phật Giáo –
là gì? và làm gì ?” trong thiên niên kỷ thứ ba này.
Vì
phạm vi bài tham luận không cho phép chúng tôi đi vào các chi
tiết lịch sử với đầy đủ năm tháng như một bài nghiên
cứu. Cho nên, chúng tôi chỉ trình bày tổng quát và so sánh
sự tiến triển bằng những con số để dẫn chứng.
Nói
chung thì từ sau Thế Chiến II, bắt đầu vào hậu bán thế
kỷ 20 vừa qua Phật giáo dần dần có mặt ngày một nhiều
và đi vào quần chúng ở hầu khắp các châu lục, điển hình
tại Âu Châu và Mỹ Châu. Trước đó, Phật giáo chỉ được
một số nhỏ trí thức Âu-Mỹ biết, qua sự nghiên cứu như
một loại triết học và Đạo học Đông phương. Công đầu
về việc truyền bá Phật giáo tại Âu, Mỹ phải kể đến
các thiền sư Nhật Bản trong đó có Ngài D.T. Suzuki là năng
động nhất. Kế đến hai thập niên 60 và 70 của Thế kỷ
20 là các Lạt Ma Tây Tạng. Sau nữa là sự có mặt của Tăng,
Ni và Phật tử Việt Nam. Có thể nói rằng vào 20 năm cuối
của Thế kỷ 20, đạo Phật đã nở rộ khắp nơi như một
hiện tượng rồi khởi đầu bắt rễ vào các miền đất
mới và phát triển hội nhập một cách êm ả vào xã hội
phương Tây.
Chúng
tôi xin dẫn chứng ở Âu Châu trước và lấy nước Ý là
nơi toàn tòng Ki-tô-giáo cũng vào khoảng thập niên 90 đã
có 39.000 Phật tử phần đông là trí thức với:
- 4
ngôi chùa (1 ngay tại thủ đô Rô-ma)
-
2 tu viện (1 cho tăng, 1 cho ni)
-
35 thiền viện.
-
18 trung tâm văn hóa
-
6 tiệm kinh sách Phật Giáo (2 ở thủ đô)
-
6 thư viện (1 tại thủ đô)
-
3 tờ báo Phật Giáo (2 ở thủ đô)
Vào
tháng 11 năm 1991, chính phủ Ý chính thức công nhận Phật
giáo là một trong 5 tổ chức tôn giáo được hoạt động
hợp pháp gồm: Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Do Thái Giáo
và Phật Giáo. Ngoài ra ngày Phật Đản cũng được công nhận
là ngày lễ Tôn Giáo và nước Ý là thành viên thứ 21 gia
nhập Liên Đoàn Phật Giáo Âu Châu. Thật ra thì Phật giáo
ở Pháp, Anh và Đức nhiều hơn (như Phật tử Pháp nay đã
đến con số 6 triệu trên 60 triệu dân). Sở dĩ chúng tôi
lấy nước Ý làm thí dụ vì nước nầy đứng đầu Công
giáo toàn cầu và Tòa Thánh Vatican ở đó. Cho đến nay thì
số Phật tử đã tăng lên gấp 4, 5 lần và hoạt động nhất
là Phật giáo Tây Tạng. Chỉ một mình Lạt Ma Gangchen đã
có 5 trung tâm, 1 tại Roma, còn lại tại 4 thành phố lớn khác
như Torino, Livorno, Milano và Perugia.
Ngoài
các nước Tây Âu, nhìn sang các nước Đông Âu kể cả nước
Nga, Phật giáo cũng đã có mặt và bắt đầu sinh hoạt từ
năm 1990. Tại Trung Âu như nước Hungary đã có những hoạt
động Phật giáo bên cạnh Công giáo, Tin lành, Hồi giáo. Vào
đầu năm 1992, Giáo Hội Phật Giáo Hungary đã thành lập trường
cao đẳng Phật Pháp gọi là “The Gate of Dharma Buddhist College”
ngay tại thủ đô Budapest, với 120 sinh viên ghi danh học khóa
đầu. Ở nước này, còn có Viện Phật Học Alexander Csoma
de Krosos, chuyên nghiên cứu và phổ biến kinh sách Phật giáo.
Chúng tôi không có số liệu về các hội đoàn Phật giáo
cùng số lượng tín đồ. Nhưng với dẫn chứng trên đã cho
ta thấy Phật giáo có mặt, dù với những kiến thức mang
tính kinh viện.
Nhìn
chung, ở toàn bộ Âu Châu, Phật giáo đang bén rễ và bắt
đầu phát triển mạnh như một cây Bồ Đề đang lớn tỏa
ra cành lá trùm khắp các quốc gia.
Tại
Úc Châu chỉ kể từ năm 1986 số người bản xứ theo đạo
Phật là 80.387 và theo tạp chí Sun Herald ngày 30 tháng 3 năm
1991 thì số tín đồ Phật giáo là 200.000, như thế là trong
5 năm tăng lên 250%, với hai trường Cao Đẳng Phật Học và
190 cơ sở Phật giáo, chưa kể số chùa và Phật tử Việt
Nam chúng tôi sẽ nói sau.
Ở
Phi Châu thì hiện chỉ có Phật giáo Tây Tạng và Đài Loan
cùng Nhật Bản có mặt, nhưng chúng tôi không có số liệu
chính xác để trình bày.
Trở
về Châu Mỹ thì các nước Nam Mỹ cũng có mặt các Lạt Ma
Tây Tạng, các Tu sĩ Phật giáo Nhật và Đài Loan, nhưng số
lượng chưa nhiều. Điển hình ngay tại thủ đô của nước
Brazil có một trung tâm Phật giáo của Lạt Ma Gangchen mà chính
người viết bài này đã có dịp thăm viếng vào năm 1994 khi
vị Lạt Ma nói trên đến đó dạy Đạo. Các nước Nam Mỹ
hiện giờ là nơi tranh chấp quyết liệt giữa Tin Lành và
Công Giáo từ 20 năm nay. Ở khu vực này các tín đồ Công
Giáo đổi sang Tin Lành ngày càng đông, Phật giáo đến đây
chỉ mới làm quen bước đầu nên các cơ sở chưa đáng kể.
Trở
về Bắc Mỹ gồm hai nước Hoa Kỳ và Canada thì Phật giáo
đang phát triển tốt. Nhưng Canada còn kém Hoa Kỳ nhiều, chúng
tôi sẽ chứng minh khi nói về sự phát triển của Phật giáo
Việt Nam tại hải ngoại trong phần sau.
Tóm
lại, qua cái nhìn tổng quan toàn thế giới, chúng tôi thấy
đạo Phật đang phát triển tốt ở khắp nơi, đặc biệt
là Âu Mỹ. Chúng ta sẽ phân tích xem “Cơ hội” ở đâu
và có những “Thách thức “ gì?
III.-
TÌM HIỂU VỀ HIỆN TƯỢNG PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẠI HẢI NGOẠI
Chúng
tôi thấy chủ đề cuộc hội thảo được đặt ra mang một
phạm vi rất rộng. Những đề tài gợi ý gồm 41 vấn đề
trong đó 16 vấn đề mang tính quốc tế và 25 vấn đề chuyên
về Việt Nam. Đọc xong 41 chủ điểm, chúng tôi không chọn
được đề tài cho mình trong khuôn khổ đề nghị mà tự
tìm ra điều muốn trình bày với ý nghĩ là thế giới cùng
đất nước có liên hệ chặt chẽ đến nhau và nhờ nhìn
ra bên ngoài mà bên trong thấy được con đường, tìm được
giải pháp để cùng hiểu, cùng làm trong việc hoằng dương
chánh pháp trong thời đại này.
Từ
sự suy nghĩ đó, chúng tôi đã quyết định trình bày sự
phát triển của Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại để nhìn
hiện tượng mà tìm bản chất, vì thông qua Phật Giáo Việt
Nam sinh hoạt tại hải ngoại đã nói lên thực trạng vấn
đề Phật giáo cả trong lẫn ngoài.
Trong
cuốn Beyond Dogma khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đựợc hỏi về
thế giới hiện tại, Ngài đã nhận xét “Thế giới hôm
nay cho thấy trái đất của chúng ta trở nên nhỏ bé hơn và
tất cả mọi người, tất cả mọi quốc gia đều phải sống
nương tựa chặt chẽ vào nhau. Thế nhưng về mặt tâm linh,
về mặt tinh thần có vẻû như chúng ta chưa được chuẩn
bị để theo kịp với thực tế, cho nên đã không hòa điệu
được với khuynh hướng phụ thuộc ngày càng gia tăng.”
Đây là vấn đề “tương liên, tương tức” của Phật giáo
mà Ngài muốn nhắc nhở người đời.
Bây
giờ trở lại với tình hình phát triển của Phật giáo Việt
Nam tại hải ngoại trong đoạn đường 30 năm qua, phải vừa
xây dựng cơ sở để đáp ứng nhu cầu hoằng pháp, vừa hội
nhập với nền văn hóa bản địa, chúng ta thấy gì ? Chúng
tôi xin đưa ra đây những con số mới nhất tương đối đầy
đủ, tuy chưa hoàn toàn chính xác 100%, nhưng đủ để chúng
ta nhìn hiện tượng mà tìm hướng đi.
Theo
thống kê của Giáo Hội Khất Sĩ Việt nam tại Hoa kỳ thì
tính đến cuối năm 2005 tổng số các cơ sở Phật giáo Việt
nam tại hải ngoại như tu viện, chùa, đạo tràng v.v... được
ghi nhận đến con số 480 chia ra như sau:
- Mỹ:
298
-
Âu Châu: 76
-
Canada: 48
-
Úc: 42
-
Á Châu: 16
Ở
Mỹ thì California nhiều nhất với con số 113
Ở
Âu Châu thì Pháp nhiều nhất với con số 38
Ở
Á Châu 16 là kể các chùa Việt Nam ở các nước khác ngoài
Việt Nam
Con
số thống kê vừa trình bày trên cho thấy ở Hoa Kỳ các cơ
sở Phật giáo Việt Nam nhiều nhất. Điều này nói lên cái
gì và cho chúng ta những suy nghĩ gì ?
Chỉ
nhìn vào số lượng về các cơ sở Phật giáo Việt nam phát
triển tại hải ngoại thì cũng lạc quan, nhưng nếu nhìn sâu
hơn thì hiện tượng này là do nhu cầu tự phát chứ chưa
ổn định. Đây chỉ là giai đọan xây dựng ban đầu, còn
phải qua thời kỳ ổn định và phát triển. Kinh nghiệm, tại
California chiếm hơn 1/3 số cơ sở Phật giáo trên toàn quốc
Hoa Kỳ, nhưng phần lớn đều lập ra theo kiểu “cải gia
vi tự”, nên chỉ mang tầm vóc một tịnh thất hay đạo tràng.
Lại thường sinh hoạt, cúng bái khó khăn, vì ở vào khu dân
cư nên làm phiền hàng xóm, nhất là những người không cùng
tôn giáo.
Phật
giáo Việt Nam có mặt hiện nay trong 43 trên 50 tiểu bang của
Hoa Kỳ, trừ 7 tiểu bang chưa có chùa Việt là Arkansas, Delaware,
Idaho, Montana, North Dakota, South Carolina và Wyoming vì những nơi
nay không có nhiều Phật tử Việt.
Các
cơ sở Phật giáo Việt nam tại Hoa Kỳ phát triển nở rộ
trong hai thập niên gần đây tuy là một điều mừng, nhưng
hầu hết được duy trì nhờ vào sự đóng góp của Phật
tử Việt nam ở mỗi địa phương, đa số là người lớn
tuổi, còn tuổi trẻ thì tham gia rất ít. Nếu nhìn về đường
dài thì đây là một sự bấp bênh. Phật giáo Tây Tạng tuy
phát triển với số lượng ít hơn nhưng họ đi vào quần
chúng Mỹ, nhờ vậy mà bền vững hơn.
Nói
đến đạo Phật Việt nam tại Mỹ, thiết tưởng cũng nên
điểm qua sự phát triển của Công Giáo và Tin Lành Việt Nam
trong thời gian qua.
Hiện
nay theo thống kê mới nhất vào cuối năm 2005 thì trong toàn
quốc Hoa Kỳ riêng bên Công Giáo Việt Nam có
-
20 cơ sở dòng tu Nam
-
64 cơ sở dòng tu Nữ
tuy
là ít nhưng có tổ chức và sinh hoạt rất vững vàng.
Về
số lượng Linh mục người Việt có 722 vị và khoảng hơn
một ngàn nữ tu. Còn về phía Tin Lành thì các mục sư người
Việt cũng trên 2.000, còn tín đồ Việt Nam thì nhiều lắm,
thường ở rải rác các tiểu bang. Vì khi họ di tản đến
Mỹ thường được nhà thờ Tin Lành nhận tiền của chánh
phủ để lo ăn ở lúc ban đầu, rồi khuyên theo đạo luôn.
Trên
đây là bối cảnh phát triển ban đầu của một vài tôn giáo
có liên hệ mật thiết hay ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống người Việt tại hải ngoại. Để hiểu rõ hơn sự
phát triển của Phật giáo tại những xứ sở xa quê hương,
thiết tưởng chúng ta cần nhìn qua các con số.
IV.-
NHẬN XÉT TỪ MỘT VÀI CON SỐ TIÊU BIỂU:
Để
đánh giá về sự phát triển của các tôn giáo, không gì bằng
nhìn qua các bảng thống kê tăng, giảm của tín đồ, kế
đến là tìm hiểu về tổ chức, sau nữa mới là vấn đề
giáo lý. Đây là cách đánh giá thông thường mang tính xã
hội của người đời. Còn, nếu đánh giá tôn giáo khởi
sự từ giáo lý rồi đến tổ chức, sau mới về số tín
đồ thì là sự đánh giá của những nhà trí thức và các
người thật tu, chỉ nhắm đến phẩm chất chứ không đánh
giá qua số lượng.
Một
thí dụ về khuynh hướng đánh giá theo số lượng thường
được Tòa Thánh Vatican công bố tính đến cuối năm 2005,
số tín đồ Thiên chúa giáo gồm cả Công giáo, Tin Lành, Chính
Thống giáo và Anh Quốc giáo là 1 tỷ 98 triệu so với năm
1978 chỉ có 757 triệu như vậy là tăng được 12%. Trong khi
đó thực tế bên Âu Châu là thành trì và đầu não của tôn
giáo này thì suy sụp đến độ nhiều nhà thờ phải đóng
cửa, số tu sĩ giảm, giáo dân không đi nhà thờ. Nhưng, ở
các nơi khác như châu Phi, Nam Mỹ và châu Á thì lại tăng.
Sau đây là vài con số của Công Giáo trong bản tổng kết
cuối năm 2005 về sự tăng giảm khi lấy số Linh mục làm
tiêu biểu:
giảm:
Âu Châu: 20% , Bắc Mỹ: 13% (riêng Hoa Kỳ: 20%)
tăng:
Nam Mỹ: 29% , Phi Châu: 84% , Á Châu: 74%
về
số giáo dân cũng vậy: (Tính theo thời gian từ 1978 đến 2005)
Tại
Âu Châu giảm nhưng không cho biết con số
Tại
Mỹ Châu tăng 50%
Tại
Á Châu tăng 80%
Tại
Phi Châu tăng 172%
Qua
những số liệu trên, chúng ta thấy về mặt chiến lược
bành trướng sang Á Châu và Phi Châu của Tòa Thánh Vatican đã
thành công.
Về
cách đánh giá theo chất lượng nghĩa là về mặt giáo lý
đem áp dụng thực tiễn vào cuộc đời thì chỉ có Phật
giáo, hiện giờ đang được một số trí thức Âu Mỹ theo,
ủng hộ và thực sự tu tập. Bảng thống kê mới nhất của
riêng nước Mỹ do Ủy Ban Tôn Giáo Liên Hiệp Quốc ghi nhận
về số người theo Phật giáo tại Mỹ:
-
Năm 1990 là 401.000 người
-
Năm 2005 là 1.527.019 người
Như
vậy là tăng 170%, và với đà này Phật giáo sẽ còn tăng
nữa. Số lượng hơn 1 triệu tín đồ Phật giáo nầy chưa
kể các người gốc Á Châu trong đó có người Việt cư trú
tại Hoa Kỳ.
Trở
lại việc phát triển Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại
căn cứ theo các cơ sở Phật giáo được thành lập rải rác
khắp các nước, có thể nêu ra vài con số tiêu biểu như
sau:
-
Mỹ: 298 cơ sở (riêng California 113)
-
Canada: 48
-
Úc: 42
-
Pháp: 38
-
Đức: 07
-
Đan Mạch: 07
-
Anh: 05
-
Na Uy: 05
-
Thụy Sĩ: 04
-
Thụy Điển: 03
-
Tân Tây Lan: 03 v.v.,
Còn
một số quốc gia Âu Châu khác thì chỉ có một chùa Việt
Nam, kể cả Nga.
Qua
bảng phân tách trên, ta thấy ở Mỹ có con số cơ sở Phật
giáo Việt Nam nhiều nhất ở hải ngoại. Lý do có nhiều,
không phải chỉ vì người Việt nam ở Mỹ đông hơn các nơi
khác, mà nó còn ảnh hưởng từ các vấn đề khác như kinh
tế, chính trị và xã hội cùng văn hóa nữa. Nếu ta xét về
sự phát triển của tôn giáo mà không tìm hiểu qua các vấn
đề trên thì cái nhìn còn phiến diện. Sau cùng, người nghiên
cứu, tìm hiểu không được bỏ qua các vấn đề nhân tâm
với hình thức tổ chức, rồi vấn đề giáo lý nữa.
Chúng
tôi xin lấy nước Mỹ làm chủ điểm để nghiên cứu vì
chúng tôi đang sống ở đây, đang thấy và đang là nhân chứng
của sự phát triển tôn giáo một cách đa dạng, không riêng
gì Phật giáo Việt Nam, nên xin có những nhận định sau đây.
V.-
ĐẶC TÍNH CỦA XÃ HỘI MỸ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
TÔN GIÁO
Dưới
đây là những đặc điểm của Mỹ qua sự nhận xét của
các thức giả:
Hoa
Kỳ tuy là một nước mới lập quốc chưa đầy 300 năm, nhưng
có một truyền thống tín ngưỡng nên là mãnh đất mầu mỡ
của sự phát triển tôn giáo.
Chính
quyền Hoa Kỳ thường không can thiệp đến tín ngưỡng riêng
của các công dân mà để tùy nghi phát triển, nếu không làm
mất an ninh và gây rối trật tự xã hội và làm mất thuần
phong mỹ tục.
Hoa
Kỳ chấp nhận cho các tôn giáo phát triển tự do, nên sự
lớn mạnh tùy thuộc khả năng và thực chất của tôn giáo
đó.
Nước
Mỹ hình thành bởi di dân, tồn tại bởi di dân và lớn mạnh
bởi di dân nên mang một sắc thái đa văn hóa, đa tôn giáo.
Dân
tộc Mỹ sống với tinh thần thực dụng nên hành xử và tư
duy luôn thay đổi, vì vậy tôn giáo cũng mang nhiều sắc thái
ứng dụng, điển hình là đạo Tin Lành có hơn ba trăm hệ
phái.
Nước
Mỹ chủ trương giáo quyền và thế quyền phải tách rời
nhau theo Tu Chính Án số 1 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Hoa
Kỳ là nước pháp trị, tôn trọng tự do và nhân quyền nên
có sự phát triển văn hóa đa dạng mà tôn giáo là một thành
phần của môi trường sống đó.
Hoa
Kỳ là nơi mà sự phát triển về khoa học kỹ thuật cao nhất
thế giới nên niềm tin tôn giáo mang tính thần quyền đang
gặp nhiều thử thách căn bản.
Hoa
Kỳ là quốc gia có nền kinh tế và kỹ thuật cao nên vấn
đề áp dụng tôn giáo trong đời sống không thể tách rời
hai vấn đề này.
Hoa
Kỳ có mức sống vật chất cao, xã hội hiếu động, căng
thẳng thần kinh, do đó mất quân bình về mặt tinh thần,
nên họ đang đi tìm một hướng tâm linh mới.
Qua
mười đặc điểm vừa kể trên, chúng ta đã hiểu được
phần nào về sự phát triển của đạo Phật Việt Nam tại
Hoa Kỳ mạnh hơn các nơi khác. Bây giờ chúng ta bàn qua tổng
quát về vấn đề phát triển của Phật giáo Việt Nam ở
hải ngoại nói chung.
VI.-
SỰ HỘI NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI
Qua
những con số mà chúng tôi đưa ra trong bài này đã nói lên
một sự thật về việc hình thành một cộng đồng Phật
giáo Việt Nam hải ngoại đang có mặt khắp nơi và đang ổn
định cùng lớn mạnh.
Phật
giáo Việt Nam cũng như Tây Tạng đã bung ra trên toàn thế
giới là do một biến cố chính trị dẫn đến một khúc quanh
lịch sử dân tộc, tuy hoàn cảnh khác nhau nhưng giống nhau
về mặt tác động tinh thần, nên đã tạo ra cơ hội để
hai cộng đồng Phật Giáo lan xa, mở rộng khắp năm châu như
một kỳ tích Phật sự không thể nghĩ bàn.
Không
bàn về Phật giáo Tây Tạng, chúng ta chỉ nói về Phật Giáo
Việt Nam hải ngoại.
Sự
có mặt của Phật giáo Việt Nam ở khắp nơi, đó là “Cơ
Hội”, nhưng khi hội nhập với văn hóa bản địa mà muốn
tồn tại và phát triển thì sẽ gặp nhiều “Thử Thách”.
Trước hết xin nói về đặc tính hình thành và duy trì của
Phật giáo hải ngoại hiện thời. Đặc biệt là ở Mỹ, lấy
California làm thí điểm, còn các nơi khác thì có thể khác
biệt tùy hoàn cảnh địa phương.
Chúng
tôi nêu ra đây chỉ là những nét tổng quát mà thôi:
Sự
hình thành các cơ sở Phật giáo ở đây đều vì nhu cầu
tự phát, thường do một vị Tăng hay Ni Cô với một số Phật
tử lập nên.
Nhiều
nơi thành lập một cách tùy duyên, gấp gáp, thiếu chuẩn
bị, chỉ cần gấp để có nơi sinh hoạt.
Hầu
hết đều chưa định hình, định tính. Chưa định hình vì
nhiều nơi không có dáng dấp cơ sở Phật giáo. Chưa định
tính là chỉ để cầu an, cầu siêu chứ không tu tập và giảng
Pháp.
Dựa
vào cộng đồng mà tồn tại. Nhờ vào tiền của Phật tử
Việt nam đóng góp để duy trì.
Mang
căn cước di dân nên sinh hoạt co cụm, tách rời với người
bản địa, không có người Mỹ tham gia.
Mang
nặng hình thức và truyền thống cũ nên khó hội nhập vào
văn hóa địa phương, đặc biệt về lễ nghi còn dùng tiếng
Hán-Việt.
Không
vượt qua được những hệ lụy cũ mang theo nhất là về quan
điểm chính trị.
Còn
nặng tinh thần bảo thủ nên không bắt kịp được hoàn cảnh
mới, khiến thành phần trí thức và thế hệ trẻ: con, cháu
ngày một xa rời. Các chùa có Gia Đình Phật Tử nhưng không
có hình thức sinh hoạt mới.
Đa
số mỗi thầy một chùa, không đào tạo người kế tục nên
nếu vị trụ trì mất thì chùa có thể ngưng sinh hoạt.
Thiếu
tổ chức và hòa hợp thành không có một tổng lực. Về mặt
tổ chức vẫn theo kiểu chùa quê không khoa học tân tiến.
Các chùa không đoàn kết và hỗ trợ nhau. Ở Mỹ có tới
7 Giáo Hội và rất nhiều chùa độc lập.
Qua
những nhận xét trên đã cho ta thấy các cơ sở tuy nhiều
nhưng chưa ổn định về sinh hoạt, chưa vững vàng về tổ
chức, chưa hội nhập được để phát triển.
Cũng
từ những nhận định vừa kể trên đã dẫn đến rất nhiều
thử thách cho các Thầy, Cô cùng các Phật tử nếu muốn tồn
tại và phát triển trên đất Mỹ nói riêng và ở hải ngoại
nói chung.
Hầu
hết các cơ sở Phật giáo hải ngoại chỉ được thành hình
khoảng trên dưới 20 năm nay, nên đây chỉ là giai đoạn hình
thành và xây dựng. Bước qua giai đoạn ổn định và phát
triển sẽ có những vấn đề khác.
VII.-
NHÌN VỀ TƯƠNG LAI
Chúng
tôi muốn nói đến giai đoạn ổn định và phát triển của
Phật giáo Việt nam tại hải ngoại. Bởi vì, những điều
mô tả bên trên là hiện trạng, là bức tranh hiện thực ở
đây, lúc này.
Nhìn
về tương lai là quán chiếu những diễn tiến sẽ xảy ra
trên đường dài và vai trò sẽ đóng góp của Phật giáo Việt
nam tại hải ngoại không chỉ có hôm nay mà cả ngày mai nữa.
Không
ai có thể chối bỏ được hiện tượng nở rộ và lan xa
của Phật giáo Việt Nam tại khắp nơi trên thế giới hiện
nay. Chúng tôi cho rằng đây là một “Cơ Hội” ngàn vàng
của “Dân tộc và Đạo Pháp” mang tính lịch sử. Về mặt
nổi thì đây là một điều mừng và hãnh diện cho toàn thể
Phật tử Việt nam, tăng cũng như tục, ở trong cũng như ngoài
nước. Nếu như người Phật tử nào còn phân biệt “trong
và ngoài” thì người đó đã tự mình tách khỏi truyền
thống dân tộc và cắt đi nguồn sống Phật giáo. Bởi vì,
từ hàng ngàn năm nay Phật giáo đã đồng hành với dân tộc,
đã trở thành mạng mạch của cuộc sống Việt nam. Điển
hình là ở mỗi làng quê đều có một Đình, một Chùa trong
nếp sống dân gian.
Về
chiều sâu thì giáo lý Phật giáo là một nền khoa học tâm
linh có thể đáp ứng với tri thức thời đại và bổ túc
cho khoa học thực nghiệm hiện hành. Ngày nay các khoa học
gia Âu Mỹ, các giáo sư tâm lý học, các bác sỹ tâm thần
đều tìm đến Phật giáo để tìm giải đáp các thắc mắc
tâm linh. Điển hình là Đức Đạt Lai Lạc Ma cùng Thiền sư
Nhất Hạnh đã được những giới khoa học này phỏng vấn
tham khảo hàng trăm hàng ngàn lần. Ngay vào tháng 10-2006 sắp
tới tại Làng Mai Thiền Sư Nhất Hạnh cũng mở một khóa
tu cho các khoa học gia về thần kinh học.
Như
vậy, cơ hội thứ hai cho chung Phật giáo trong đó có Phật
giáo Việt nam, đó là thời đại của Phật học và khoa học
cùng phụng sư nhân sinh bắt đầu. Phật giáo Việt nam không
thể bỏ lỡ cơ hội này, vì nếu hụt mất thì đoàn tàu
cứ đi mà chúng ta đứng lại vì bị lỡ chuyến tàu.
Cuộc
khủng hoảng tôn giáo hiện nay bắt nguồn từ quan niệm “Duy
vật chất” và “Duy lý trí”. Rất nhiều nhà trí thức
đã công khai hay mặc nhiên chối bỏ tôn giáo truyền thống
thần quyền, vì tôn giáo này đã không giải đáp được những
thắc mắc về nhân sinh và vũ trụ cho họ, mà còn áp đặt
những giáo điều và đức tin lỗi thời không đủ tính thuyết
phục.
Phật
giáo Việt Nam phải đi vào nguồn sống nhân loại, phải nỗ
lực chuyển hóa con người thời đại.
Tóm
lại Phật giáo có câu trả lời cho nhân sinh nhưng chưa thực
sự đi vào dòng tri thức chính và chưa đủ mạnh để phát
động một cuộc vận động lịch sử thay đổi bộ mặt xã
hội toàn cầu.
Trở
về Phật giáo Việt nam, từ đây chúng tôi coi là một, không
còn hải ngoại và quốc nội nữa, mà chỉ còn bốn chữ Phật
Giáo Việt Nam.
Phật
Giáo Việt Nam ngày nay, muốn bắt kịp thời đại, muốn không
bị lỡ chuyến tàu thì phải biết thích nghi với hoàn cảnh,
biết đổi thay cùng những diễn biến chung, biết tăng trưởng
cùng sức sống mới của nhân loại đang tràn dâng, biết tiếp
nhận những nhân duyên mới và buông đi những chấp nhặt
lỗi thời, biết trao kinh nghiệm cho lớp trẻ và dọn đường
cho họ vươn lên để lúc nào đạo Phật cũng sinh động đầy
sức sống không bị già nua làm chậm bước tiến.
Nhìn
chung thì cơ hội đã đến và thuận lợi cũng nhiều, nhưng
thử thách không ít. Nói đến thử thách thì có thử thách
riêng và thử thách chung. Thử thách riêng là tùy hoàn cảnh,
thí dụ như ở Mỹ này thì có ba vấn đề nổi bật, đó
là ngôn ngữ, hội nhập văn hóa và tiền bạc để duy trì
cơ sở và sinh hoạt của tổ chức. Thử thách chung nổi bật
nhất là làm sao đáp ứng được nhu cầu thời đại mà phải
bắt kịp thực tế cuộc sống.
Đạo
Phật của hôm nay và ngày mai là phải đi vào hướng thực
tiễn và hiện đại. Đây chính là chủ trương tỉnh thức
của Đạo Giác Ngộ. Phương cách hành xử là đối diện thực
tại mà xây dựng đời sống. Rồi từ đó vươn lên mà thăng
hoa cuộc sống để đáp ứng nhu cầu Tâm linh nhân loại.
Để
kịp đáp ứng thời đại ngày nay, chúng ta phải bắt tay ngay
vào việc đào tạo và giáo dục Tăng Ni Phật tử, phải biên
soạn kinh sách bằng ngôn ngữ thời đại. Và nhất là phải
chuyển hướng tư duy mới để đem Đạo vào Đời.
Thế
giới ngày nay đang nỗ lực để tiến tới:
- Toàn
cầu hóa về kinh tế
-
Đa cực hóa về chính trị
-
Đa dạng về văn hóa và
-
Khoa học hóa về kiến thức.
Đòi
hỏi Phật giáo Việt nam nói riêng và Phật giáo nói chung phải
có một hướng đi mới, hướng hành hoạt mới đặt căn bản
lấy “Bồ Tát Hạnh” mà hành Đạo, cứu Đời.
Từ
nhiều thập niên qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hành đạo
ở Âu Mỹ bằng sự tuyên dương con đường “Bồ Tát Hạnh”.
Hiện giờ người Âu Mỹ đang thực hành nên có một vấn
đề nổi bật được đặt ra, đó là “Vai trò của người
Cư Sĩ trong thời đại mới”. Ngưòi cư sĩ Tây phương vừa
hộ Đạo, vừa hành Đạo rất hiệu quả. Về hộ đạo thì
họ giúp giải quyết rất nhiều khó khăn về mặt tổ chức
và xây dựng cơ sở. Về hành đạo thì họ tổ chức thành
từng nhóm học Pháp và thực hành Bồ Tát Đạo. Phần lớn
những người đến với đạo Phật đều là trí thức, tu
hành rất đứng đắn. Về đường dài, khi đạo Phật bành
trướng ở Âu Mỹ thì chính những cư sĩ sẽ bảo vệ tổ
chức, phát triển rộng rãi sau này. Sự hành hoạt của các
cư sĩ này nói lên tinh thần phụng sự con người của đạo
Phật và mang lại giá trị đích thực của cuộc sống theo
tinh thần Phật giáo. Nhìn người mà nghĩ đến ta, chúng tôi
cũng mong rằng vấn đề “Cư sĩ Việt nam” sẽ được đặt
đúng với giá trị và trách nhiệm như thời Đức Phật. Theo
cái nhìn của chúng tôi thì rồi đây ở Âu Mỹ vai trò cư
sĩ sẽ rất quan trọng trong việc phát triển Phật Pháp.
VIII.-
KẾT LUẬN
Dường
như chúng ta đang ở vào thời kỳ mà tôn giáo muốn tích cực
phụng sự con người thì phải “Đem Đạo vào Đời” và
người tín đồ thì phải “Sống Đạo trong Đời”. Khuynh
hướng của thời đại mới không còn nặng về nghi thức
và lễ lạy. Ở Hoa Kỳ này vì tinh thần thực dụng nên các
lễ nghi tôn giáo đều giảm thiểu và đơn giản hóa, hơn
nữa các ngày kỷ niệm vì nhu cầu công việc nên đều dời
lại cuối tuần, kể cả ngày Phật Đản. Như vậy, chúng
tôi thấy việc thực hành đem Đạo vào Đời cũng rất linh
động, đôi khi bị hạn chế vì đời sống bận rộn.
Chuyện
áp dụng Đạo vào đời sống nếu linh động quá thì không
còn là đem Đạo vào Đời mà thực ra là Đời đang đổi
Đạo! Cho nên người hành đạo thời nay áp dụng cái “Tùy
duyên” của chúng ta là cho hợp thời đại, hợp con người
và môi trường sống. Và cái “Bất Biến” trở thành không
xa Chánh Pháp nhưng thực dụng và lợi ích mọi người.
Phật
tử Việt Nam nhìn ra thế giới, quan sát rõ ràng rồi tự đặt
câu hỏi xem nhân loại sẽ đi về đâu và đang cần món ăn
tinh thần gì để mà định hướng đi. Phật giáo Việt Nam
cũng vậy, hiện thời có hai hướng song song cần hướng đến,
đó là: Hướng hội nhập thế giới và hướng phụng sự
dân tộc.
Kết
hợp hai hướng nầy là con đường hoằng pháp tốt nhất để
chuyển hóa con người Việt Nam nói riêng và nhân loại nói
chung hầu tiến tới một đời sống an bình và hạnh phúc
thực sự trong tinh thần Phật giáo. Được như vậy thì Phật
giáo mới làm tròn chức năng chuyển hóa con người và mới
thực sự đúng là Đạo Giác Ngộ Tỉnh Thức.
Tôi
viết bài này với tất cả nhiệt tình để cúng dường chư
Phật, để cống hiến cho Đạo Pháp và Dân Tộc, cùng làm
quà tặng gửi đến các đạo hữu xa gần dù chưa quen biết,
vì:
Tôi
vẫn yêu đời, thương quê hương,
Vẫn
cười nhân thế, ngắm vô thường.
Vẫn
mong Đạo Phật trường tồn mãi,
Vẫn
thấy Mộng Đời quá dễ thương !
Nam
Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
California,
ngày 15 tháng 6 năm 2006