Vài
nét tổng quan hiện tình thế giới:
Suốt
trong chiều dài lịch sử Phật giáo từ lúc khai sáng tại
Ấn Độ đến phát triển tại Trung Quốc và các nước Á
châu khác như Tây Tạng, Tích Lan, Nhật, Thái Lan, Cam bốt,
Việt Nam, số tín đồ đã nâng lên đến trên 600 triệu người
trong tổng số 6 tỷ người đang có mặt trên thế giới. Theo
thống kê của Liên Hiệp Quốc, thì trong năm tôn giáo lớn,
Thiên chúa giáo chiếm 2.2 tỷ người, Phật giáo 600 triệu,
Hồi giáo 1.6 tỷ. Sự phát triển này không những chiếm nhiều
đặc điểm về mặt rộng Nguyên Thủy, Tây Tạng, Nam Tông,
Bắc Tông, Thiên Thai v.v. mà còn về chất lượng như Đại
Thừa, Bồ Tát Nhập Thế, Tân Tăng (contemporary Buddhism) v.v..
Trong
suốt bốn thập niên vừa qua, sự phát triển các công nghệ
như công nghệ thông tin, và công nghệ sinh học đã dẫn thế
giới bước sang một trang sử mới của nhân loại. Internet
đã biến trái đất thành một trái banh nhỏ bé. Thông tin
chuyển qua internet có thể được cập nhật hóa ngay lập tức
với phí tổn rẻ và đưa đến toàn thể mọi người đang
sử dụng internet hoặc có phương tiện internet trên toàn thế
giới. Tổng số người này lên đến trên 800 triệu theo thống
kê của Liên Hiệp Quốc năm 2005 và con số này đang tăng nhanh
mỗi năm hơn 100 triệu.
Chủ
nghĩa toàn cầu hóa:
Trước
các Thế chiến I và II, vì sự sinh tồn và phát triển của
các quốc gia lớn nên phát sinh chủ nghĩa phát-xít, thực dân
đế quốc. Các quốc gia này phát triển bằng cách đi chiếm
dụng tài nguyên từ các nước nghèo có điều kiện thiên
nhiên ưu đãi nhưng không có phương tiện khai thác. Sự đô
hộ và chiếm hữu trắng trợn đã đưa đến kết cục bi
thảm trong hai cuộc thế chiến. Cả nước lớn giàu và nước
nghèo đều bị thiệt hại nặng nề vế kinh tế và con người.
Sau
hai thế chiến, nhà kinh tế gia lỗi lạc Keynes trong hội nghị
Bretton Woods đưa ra một mô hình kinh tế chiến lược để
tạo ra an bình và phát triển cho toàn thế giới. Mô hình này
được 130 quốc gia trong phiên họp chấp thuận thực hiện,
bao gồm một hệ thống tài chính toàn cầu mà trong đó Ngân
hàng thế giới mệnh danh là ngân hàng cho người nghèo (Bank
for the Poor) nhằm trợ giúp kinh tế và phương tiện cho các
nước chậm tiến giải phóng (liberate) và tận dụng những
tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo sẳn có của quốc gia đó
hầu tăng gia khả năng tiêu thụ của nhân dân trong nước.
Như vậy, nước nghèo có thể mua hàng hóa của các nước
lớn đã phát triển. Mô hình này thành công vào giai đoạn
đầu lúc mới ban hành sau khi thế chiến. Nhưng ngày nay ngân
hàng thế giới đã không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu phát
triển của thế giới. Nó đã trở thành một công cụ cho
nước giàu thống trị thế giới qua kinh tế. Đồng thời
nó cũng trở thành công cụ cho các nước nghèo ỷ lại để
phát triển chủ nghĩa cá nhân sinh tồn, ỷ lại vào các nguồn
trợ giúp và quên đi nhu cầu lâu dài của quốc gia là tự
lực phát triển kinh tế.
Nảy
sinh từ những sự kiện đó, chủ nghĩa toàn cầu hóa ra đời.
Nó nhằm hỗ trợ những yếu kém của mô hình ngân hàng thế
giới trong vai trò thống trị toàn cầu bằng kinh tế của
các cường quốc. Trong lúc phát triển, chủ nghĩa toàn cầu
này mang theo nó những phong tục tập quán, văn hóa, tư duy
và tôn giáo. Tôn giáo chính vẫn là Thiên chúa giáo mở rộng
hay nói đúng hơn Thiên Chúa giáo Canh Tân (Contemporary Christianity).
Tư duy cốt lõi vẫn là tự do cá nhân chủ nghĩa mệnh danh
là chủ nghĩa dân chủ (democracy). Mô hình xã hội chính vẫn
là dân chủ kinh tế tự do theo chủ nghĩa cá nhân cạnh tranh
sinh tồn thay vì hợp tác phát triển sinh tồn.
Do
đó nảy sinh ra sự cạnh tranh sinh tồn giữa những quốc gia
nhỏ nhưng nắm giữ những tài nguyên thiên nhiên trọng yếu
cho sự phát triển kỹ nghệ và những quốc gia lớn đang trên
đà phát triển nhanh và cần những nguồn nguyên liệu này.
Hồi giáo ngẫu nhiên trở thành thế lực đàng sau hỗ trợ
cho những quốc gia nhỏ này trong tranh chấp thế giới. Nó
đã liên tục dẫn đến những sự giao động chính trị và
kinh tế bất ổn trên thế giới trong suốt thập niên vừa
qua. Nó cũng dẫn đến tranh chấp trường kỳ đẫm máu trong
nhân loại nhân danh con người và tôn giáo.
Phát
triển kinh tế không bền vững: hủy hoại trái đất, tài
nguyên, môi sinh và cơ cấu xã hội.
Phát
triển kinh tế đi đôi với tận dụng khai thác tài nguyên
thiên nhiên. Tuy nhiên vì quan điểm ích kỷ trong cạnh tranh
nên các nước thi nhau khai thác tài nguyên thiên nhiên như gỗ
rừng, hầm mỏ, khoáng biển và thử nguyên tử tại biển.
Kết quả là thiên tai, động đất, ô nhiễm môi trường.
Trong suốt vài năm qua, hậu quả thiên tai để lại hằng triệu
người không nhà, hằng triệu người chết vì hậu quả kéo
dài (post-natural disaster impact), hằng trăm ngàn trẻ em trở
thành cô nhi, hằng chục tỷ đô thất thóat v.v.. Đó là chưa
kể đến những thứ bệnh vi khuẩn như cúm gà, miễn tính
HIV, và những vi khuẩn chưa biết tên hiện đang hoành hành
trên hơn 200 triệu người trên thế giới.
Liên
Hiệp Quốc đang kêu cứu và đặt ưu tiên đây là vấn nạn
quốc tế. Trong bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc năm 2004,
nếu thế giới không cùng nhau tìm ra phương thức kiểm soát
hữu hiệu và khống chế sự bành trướng chiến tranh vi khuẩn
này thì trong 50 năm nữa, loài người sẽ sống trong địa
ngục của bệnh tật, thiên tai.
Phong
trào liên tôn kêu gọi tái lập hòa bình thế giới của Liên
Hiệp Quốc.
Trước
những khủng hoảng thế giới, Liên Hiệp Quốc và những thế
lực lớn phía sau chỉ còn một phương thức cổ điển là
xử dụng tôn giáo như là nguồn hy vọng tạo sự ổn định
cho sinh tồn và phát triển của thế giới. Trong suốt hơn
hai chục năm qua, rất nhiều trợ giúp phương tiện và hằng
tỷ đô la đã tung ra để giúp các tổ chức tôn giáo cổ
vũ, giáo dục và xây dựng hòa bình thế giới. Những cuộc
hội thảo thế giới và xuống đường lớn đã được LHQ
tài trợ tại Israel, Dubai trong năm 2004 và 2005. Trong năm 2006,
LHQ lại tài trợ Thái Lan tổ chức ngày Phật đản quốc tế
tại Thái Lan. Rồi đây, mọi người sẽ chứng kiến ngày
Phật đản là một ngày quốc tế như ngày thế vận hội
Olympic. Mọi người sẽ gặp gỡ để cúng kiến, bàn thảo
và kiến nghị về hòa bình thế giới. Nhưng kết quả vẫn
là sự thiếu thốn một mô hình thực tiễn lâu dài trong việc
xây dựng một con người vị tha, bác ái và sống vì mọi
người. Con người ấy hiếm khi được đào tạo tại chùa
như Lý Công Uẩn mà đa số chỉ có thể thực sự được
đào tạo trong một gia đình Phật tử lành mạnh. Giáo dục
gia đình do đó đã được đặt thành thiết yếu cơ bản
trong việc kiến tạo hòa bình thế giới lâu dài.
Liên
Hiệp Quốc đã nghiên cứu và tài trợ những chương trình
tương tự dưới chiêu bài phát triển giáo dục, bảo tồn
văn hóa và giá trị nhân bản con người. Tuy nhiên những chương
trình trên vẫn chưa có khả năng thuyết phục nhiều nước
hoặc các tổ chức quốc tế tham gia vì đa số các chương
trình và nguồn tài trợ đều do khối Thiên Chúa giáo quyết
định và kiểm soát. Do đó ảnh hưởng của chương trình
còn hạn hẹp trong phạm vi vùng (regional) hoặc manh mún (piecemeal
effect) chưa rộng lớn toàn cầu và nhất quán. Phật giáo dựa
trên căn bản hòa đồng, hội nhập có thể dung hợp được
tất cả mọi quan điểm dị biệt trong một phương thức hòa
bình bất bạo động. Tuy nhiên Phật giáo dường như im lặng
trong lãnh vực này mặc dù có sự khích lệ của Liên Hiệp
Quốc và Uỷ Ban Liên Tôn của Liên Hiệp Quốc cho Hòa Bình
thế giới. Đa số nỗ lực kiến tạo hòa bình an lạc cho
mọi người đều do Thiên Chúa giáo Canh Tân khởi xướng và
thực hiện.
Những
cơ hội phát triển của Phật giáo
Phật
giáo đang tiến vào một trang sử mới của thế giới. Thứ
nhất, sự khủng hoảng chính trị và kinh tế của thế giới
kêu gọi mọi sự đoàn kết tôn giáo về tâm linh và niềm
tin để giải quyết những khủng hoảng đó. Phật giáo với
chủ trương hòa đồng, vô chấp, vô phân biệt, bất bạo
động đang được các tổ chức quốc tế kể cả Liên Hiệp
Quốc nghiên cứu như là một phương thức tốt có thể giải
quyết những xung đột của con người. Thứ hai, cơ hội này
được gia tăng lũy thừa vì có sự tham gia của các công nghệ
thông tin. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, số người
xử dụng internet hiện nay đã lên đến trên 800 triệu trên
toàn thế giới. Tất cả bản tin, bài pháp giảng, sinh hoạt
phật sự chỉ cần 5 phút là có thể trải rộng đến toàn
thế giới những người sử dụng internet. Trước mắt là
3 cơ hội chính của phát triển Phật giáo.
1.
Nhu cầu cấp thiết và hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc và các
nhóm quốc tế liên tôn cho hòa bình là động cơ mạnh cho
sự phát triển Phật giáo toàn cầu cho hòa bình thế giới.
Không những nó bao gồm trợ giúp những phương tiện vật
chất, công nghệ và tài chính mà còn cơ hội nối mạng liên
kết cùng các tổ chức quốc tế khác nhằm phát triển hòa
bình thế giới, kiến tạo một xã hội bình đẳng cùng phát
triển vật chất và tâm linh, nhất là trong lãnh vực giáo
dục gia đình, trong đó con người là thành viên đóng một
phần quan trọng. Tham gia vào những hoạt động hòa bình thế
giới một cách tích cực là một cơ hội phát triển của
Phật giáo Việt Nam nói riêng.
i).
Tham gia vào Uỷ Ban Liên Tôn cho Hòa Bình và Thịnh Vượng Thế
Giới của Liên Hiệp Quốc hoặc thiết lập phong trào Phật
giáo quốc tế phụng sư hòa bình thế giới. Hầu hết các
nước Âu châu đều xây dựng trên căn bản của Thiên Chúa
giáo. Kinh tế cũng như pháp luật đều dựa vào nguyên tắc
thần quyền Christianity và sự cứu rỗi. Vật chất thụ hưởng
được xem như ân sủng dành cho những người theo Thiên Chúa
giáo và những ai thực hiện nghiêm túc những điều giảng
dạy trong Kinh thánh (Christian Bible). Các nước giàu mạnh thường
lạm dụng chiêu bài tự do dân chủ để cưỡng chế một
mô hình Thiên Chúa giáo (democracy vis a vis Catholocism) để bành
trướng thế lực kinh tế và chính trị của họ tại các
nước chậm tiến nhưng có nhiều tài nguyên thiên nhiên.
Ngược
lại, Phật giáo xây dựng trên căn bản ý thức (mindfulness),
hòa đồng (harmony) và chấp nhận (tolerance). Phật giáo không
có nhu cầu đối kháng và cưỡng chế. Trái lại Phật giáo
có khả năng dung hòa và kết hợp với các tôn giáo khác cho
hòa bình thế giới. Nhu cầu kết hợp này của thế giới
rất khẩn thiết. Đây là cơ hội lớn cho Phật giáo tham gia
vào việc thiết lập một cơ cấu trật tự tốt hơn cho tương
lai thế giới
ii).
Mô hình phát triển kinh tế cộng tác: Trong tiến trình phát
triển kinh tế kiến thức, nhu cầu cộng tác để sinh tồn
và phát triển đã thúc đẩy nhiều quốc gia hợp tác mặc
dù họ có rất nhiều sự khác biệt về phong tục, tập quán,
tôn giáo và ngay cả chính trị. Tôn giáo đóng một vai trò
rất quan trọng trong tiến trình hợp tác này. Trong khi các
tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo và đạo Hồi có quá nhiều
di biệt đến nỗi không thể chấp nhận ngồi chung với nhau
được, thì Phật giáo có thể chấp nhận tất cả các tôn
giáo khác cùng hợp tác trên căn bản chia sẻ và tôn trọng
quan điểm chung. Liên Hiệp Quốc cũng đang dành diễn dàn cho
phát triển kinh tế cộng tác trong khung đa tôn giáo hoặc liên
tôn. Đây là một cơ hội lớn và tốt cho Phật giáo tham gia
và phát triển trong cộng đồng quốc tế.
2.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin giúp cho
sự truyền bá Phật giáo và hoàn thiện cuộc sống con người
nhanh chóng hiệu quả và toàn cầu. Giáo lý và phương thức
tu tập có thể được truyền bá nhanh chóng, rộng rãi, hiệu
quả và chi phí thấp qua mọi băng tần truyền thanh, truyền
hình, internet, multimedia nhanh chóng đến đại chúng trên khắp
thế giới. Sự sử dụng internet để truyền bá Phật giáo
cần có chương trình, chiến lược và kiến thức chuyên môn
về công nghệ và truyền thông. Sự phát triển của công nghệ
thông tin giúp cho Phật giáo có thể thực hành những sự vụ
như sau:
i).
Thư viện Phật giáo điện tử trên mạng giúp cho việc hoằng
pháp nhanh chóng và ít tốn kém. Buddhanet.net, quangduc.com và
buddhismtoday.com là những bằng chứng rõ ràng. Thư viện điện
tử có thể chuyển ngữ sang nhiều ngôn ngữ khác nhau cho toàn
thế giới bất cứ nơi nào. Nhiều người cùng một lúc có
thể vào trong mạng để tham cứu học hỏi một bài kinh mà
không bị gián đoạn. Thư viện điện tử này sẽ đóng góp
một phần rất lớn trong việc phát huy đạo Phật. Nó cũng
sẽ là bộ máy giảng dạy nòng cốt liên tục 24 giờ một
ngày, bảy ngày một tuần trong việc thiết kế các trường
đại học Phật giáo trên thế giới nói chung và trường đại
học Phật giáo Việt Nam nói riêng.
ii).
Thiết kế chùa, tịnh xá, đạo tràng và giảng đường ngay
trên mạng internet. Các thông tin và sinh hoạt của chùa, tịnh
xá hoặc giảng đường có thể thiết kế trên mạng và trải
rộng đến hằng tỷ người trên thế giới ngay lập tức.
Thông tin liên lạc thường xuyên giữa các trường phái tu
học khác nhau, chùa và giảng đường sẽ giúp liên kết các
tăng ni, tín đồ Phật giáo trên thế giới. Sự hoạt động
của Phật giáo không còn mang tính cách cục bộ địa phương
mà sẽ được thông báo cho toàn thế giới. Sự hỗ trợ của
cộng đồng Phật giáo do đó cũng được phối hợp nhanh chóng
và hiệu quả hơn. Chi phí cho công việc này cũng giảm đi
rất nhiều.
iii).
Chuyển các bài giảng Phật pháp qua băng tần rộng cho toàn
thế giới. Gần một tỷ người trên thế giới hiện đang
có phương tiện sử dụng internet. Voice over Internet là một
công cụ đang phát triển nhanh chóng hiện nay. Công cụ này
đang tiến đến trình độ cao rõ ràng (crystally clear), đa đạng,
nhiều người cùng tham dự, và miễn phí. Công nghệ này cho
phép chuyển tải một bài giảng của một giảng sư đến
toàn thể đại chúng trên thế giới bằng nhiều ngôn ngữ
khác nhau cùng một lúc. Những bài giảng này có thể được
tái phát thanh, phát hình trên băng tần thông số rộng bất
cứ lúc nào theo yêu cầu mà không cần đến sự tham dự trực
tiếp của giảng sư. Buddhistradio.com là một thí dụ điển
hình.
3.
Sự phát triển công nghệ sinh học giúp cho phát triển kinh
tế trong mô hình hài hòa cân bằng của thế giới. Công nghệ
sinh học đã tạo cho một số quốc gia biết tận dụng cơ
hội hiếm có trở thành dẫn đầu trong ngành này trên thế
giới chẳng hạn như Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, Tân Gia
Ba và Trung Quốc. Tại Việt Nam đã có những thành công về
công nghệ phát triển cây trầm bằng sinh hóa, phát triển
những cây thuốc trị bệnh bằng công nghệ cấy phôi.
Với
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học
có thể được sử dụng và truyền bá để cải thiện cuộc
sống nghèo nàn của dân chúng. Những công nghệ về trồng
trọt các loại cây thuốc hoặc những phương thức cải tiến
về chế biến, lưu trữ, thị trường sẽ giúp cho nông dân
phát triển cuộc sống kinh tế. Những thông tin về phát triển
kinh tế hài hòa và tân tiến trên thế giới khi được chuyển
tải đến người dân thường cũng sẽ giúp cải tạo bộ
mặt xã hội tốt đẹp hơn. Khi cuộc sống của người dân
được nâng cao thì việc truyền bá giáo lý Phật lại có
thể càng dễ được chấp nhận hơn theo như cổ ngữ “có
thực mới vực được đạo”.
Những
thách thức đối diện với Phật giáo
Phật
giáo đang phải đối diện những thách thức về nền tảng
lý luận cũng như áp dụng thực tiễn. Những thách thức này
có thể được biến thành cơ hội tốt nâng cấp Phật giáo
về mặt tư duy cũng như hoạt động một cách hiệu quả hơn.
Bài này chỉ chú trọng 5 điểm sau đây:
1.
Những học thuyết nguyên thủy đang bị trải qua thời kỳ
chứng nghiệm bằng những phương tiện khoa học. Các lý luận
logics một phần đã bị xem như thiếu nhất quán về mặt
lý luận. Những lý luận xưa đang bị thử thách. Ngôn ngữ
chuyển tải giáo lý như Pali hiện được xem là tử ngữ (dead
language). Ngôn ngữ Phật giáo cần có sự nhất quán để tạo
ra niềm tin chính xác và vững chắc hơn.
Phật
giáo đã bị hiểu lầm là tiêu cực với vật chất vì hưởng
thụ thường được xem như là có tội. Con người theo Phật
giáo được giáo dục nên từ bỏ những đòi hỏi vật chất,
ngay cả chính sự hiện hữu của bản thân. Điều này khiến
cho nhiều quốc gia ảnh hưởng Phật giáo như Ấn Độ, Thái
Lan, Cambodia, Laos, Miến Điện, Việt Nam và Tích Lan khó phát
triển kinh tế trong suốt thế kỷ vừa qua. Thực ra, đức
Phật có khuyến cáo tất cả mọi người từ bỏ đời sống
vật chất để chọn con đường vô gia cư, khổ hạnh đâu?
Con đường Trung Đạo do đức Phật vạch ra từ xưa cần phải
được giải thích rõ ràng cho đại chúng và áp dụng linh
động trong nhiều tình huống khác nhau.
Liệu
giáo hội Việt Nam có khả năng xây dựng một trường đại
học Phật giáo quốc tế để xây dựng lại cơ bản lý luận
thích ứng hiện tại và tăng đoàn có đạo đức cao và khả
năng tốt phù hợp với cơ cấu xã hội văn hóa Việt Nam không?
Liệu Giáo Hội có đủ uy tín, dõng mãnh và trí tuệ đảm
nhận trọng trách khó khăn trong việc hệ thống hóa Phật
học này hay không? Liệu cơ chế chính trị xã hội Việt Nam
hiện nay có cho phép Giáo hội làm những việc có ích lợi
cho tương lai của Phật giáo và dân tộc hay không?
2.
Cơ cấu tổ chức của hàng ngũ tăng ni từ xưa đến nay đều
tự phát. Những sự tự phát đã dẫn đến sự thiếu đồng
nhất và hệ thống quy củ, nếu không nói là vô tổ chức.
Thứ nhất, nhiều hiện tượng phát sinh về giáo quyền, giáo
chủ mới đã làm nhiều Phật tử suy tư nhiều về Phật giáo
và tăng đoàn. Nhiều vị tự xưng là giáo chủ và sáng lập
ra tôn giáo mới trong đó giáo lý của Phật đã được bóp
méo theo nhu cầu tham vọng cá nhân. Thứ nhì, cộng thêm vào
đó có nhiều hiện tượng thoái hóa của một số tăng ni
đạo hạnh kém, thối thất đã không giữ giới luật nghiêm
minh. Cửa thiền trở thành nơi trú ẩn và phát triển của
tội lỗi. Thứ ba, phong trào tân tăng do hiểu lầm và thực
hiện sai đã làm đại chúng phải suy nghĩ nhiều về giá trị
truyền thống tăng đoàn của Phật giáo. Thực tế thì một
số tân tăng ni Âu Mỹ trên thế giới đã tiến khá nhanh.
Tại New York đã có những thượng tọa Âu Mỹ ban ngày đi
làm trong ngân hàng hoặc IBM, ban chiều về chùa tu học chấp
hành nghiêm túc giới luật và dẫn dắt đại chúng tốt. Tất
cả tiền lương đều sung vào quỹ của chùa hoặc thiền viện.
Cuối cùng, chất lượng do sự đào tạo tăng sinh bậc tiến
sĩ đa số từ Ấn Độ đã không đủ sức về chuyên môn
kỹ thuật và khả năng quản lý để giúp các tăng ni phát
triển trong xã hội văn minh hiện tại với công nghệ tiến
nhanh hiện nay.
Nhìn
chung, không những cơ cấu tổ chức không rõ ràng thống nhất
mà chất lượng tăng đoàn cũng không thể phát triển tốt
nếu không có cơ cấu rõ ràng. Chính đức Phật cũng phải
đặt ra giới luật và tổ chức cơ cấu khi số tăng sinh gia
nhập nhiều. Do vì những yếu điểm nêu trên nên Phật giáo
không đủ sức phát triển tốt như Thiên Chúa giáo và Hồi
giáo.
Liệu
Giáo hội có đủ uy tín và trí tuệ thiết kế một cơ cấu
tổ chức đồng nhất để dìu dắt tăng ni trong con đường
tu học và hoằng pháp lợi sanh hay không? Có phương thức nào
khuyến khích các tăng ni chấp hành thực hiện những giới
luật của Phật một cách nghiêm túc không? Liệu Giáo hội
có đủ uy tín, phương tiện, cơ cấu và quyền hạn để khai
trừ những phần tử cố ý vi phạm giới luật trầm trọng
hay không? Liệu Giáo hội có cho phép tăng ni được thực hiện
như nhóm tân tăng mà vẫn đảm bảo chất lượng giới luật
của người tu sĩ và giáo lý nguyên thủy không?
3.
Việc đem lại an lạc hay thiết lập niết bàn trên trái đất
không thể chỉ bắt đầu duy nhất bằng các tu sĩ. Mô hình
một cộng đồng Phật giáo do đức Phật chỉ đạo từ ngàn
năm trước bao gồm: tăng, ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ vẫn
là mô hình tiêu chuẩn cho sư sinh tồn và phát triển của
Phật giáo. Nó phải bắt đầu bởi con người toàn hảo theo
như bát chánh đạo. Con người sống trong gia đình. Do đó
nhu cầu giáo dục cá nhân trở thành nhu cầu giáo dục gia
đình. Các luận giảng về giáo lý của Phật nên chú trọng
môi trường gia đình hơn. Một số đông cư sĩ ngày nay có
nhiều khả năng thực tế và am tường giáo lý còn hơn cả
đa số tu sĩ tăng ni. Họ lại có đủ phương tiện hoằng
pháp cho đại chúng kể cả người Tây Âu.
Liệu
Giáo hội đã suy nghĩ, hệ thống hóa, đơn giản hóa và chuyển
tải những giáo lý này đến hàng cư sĩ bằng một phương
thức hữu hiệu chưa? Có một cơ cấu như thế nào để sự
hòa nhập giữa tăng già và cư sĩ được chấp nhận đến
mức độ có thể bảo đảm vai trò, vị trí của tăng già
trong khi đó cư sĩ vẫn có thể hấp thụ và thực hiện tốt
được giáo lý của Phật?
4.
Thông tin trên internet và phát hành multimedia rất khó kiểm
chứng về mặt chất lượng và phương thức. Thứ nhất về
chất lượng. Rất nhiều kinh sách đã được chuyển tải
lên Internet. Một số chuyển tải thiếu sót về phần nội
dung vì thiếu kinh nghiệm và chuyên môn về Phật học. Một
số dịch giảng kinh theo quan điểm cá nhân có mục đích đề
cao cá nhân hơn là học hỏi và truyền bá những điều đức
Phật dạy có ích lợi cho chúng sanh. Một số dịch giảng
kinh luật nhằm mục đích đề cao cá nhân thần quyền để
thực hiện tham vọng thiết lập ra một tôn giáo mới. Thứ
nhì về phương thức. Phát triển hàng ngang tải rộng không
có một trung tâm đầu não quản lý hoặc hướng dẫn chỉ
đạo sẽ dẫn đến tình trạng dao động nhầm lẫn và lãng
phí. Một cư sĩ cũng có vài cái websites về Phật giáo để
truyền bá bất cứ tài liệu nào gọi là có dính líu đến
Phật giáo. Rất nhiều websites này đã cho truyền tải những
bài viết nhằm phổ biến mục đích của websites hơn là mục
đích hoằng pháp lợi sinh. Thêm vào đó, nhiều websites của
nhiều cơ quan phật giáo, chùa trên thế giới dành nhiều nhân
sự cho việc thiết kế, đánh máy, chuyển tải, lưu trữ những
tài liệu đã được các cơ quan khác đã làm rồi do đó gây
ra lãng phí thời giờ và tài nguyên.
Liệu
Giáo hội có một mô hình hay cơ cấu nào đề ra giúp cho tăng
đoàn thi hành tốt việc quản lý tài liệu quảng bá về Phật
giáo trên Internet hay không? Liệu Giáo hội có đủ nhân sự
có khả năng chuyên môn về công nghệ thông tin để thực
hiện mô hình này hay không? Và cuối cùng là Giáo hội có
đủ uy tín và thực lực để kêu gọi một cuộc đại hội
để làm việc này vì lợi ích của tương lai Phật giáo hay
không?
5.
Để thực hiện những việc trên, một vấn đề không thể
né tránh được là phương tiện vật chất cơ bản. Thiên
Chúa giáo có một cơ cấu tổ chức và ngân quỹ để hoạt
động. Ngân quỹ này cho phép đầu tư vào những công ty có
sản phẩm phục vụ con người và đạo pháp. Hằng tỷ đô
la do Toà thánh Vatican đã được đầu tư vào trong công ty
điện toán IBM và các công ty y tế. Với số 3 triệu người
Việt hải ngoại hiện nay, theo thống kê của ngân hàng Việt
Nam thì mỗi năm đã gửi về giúp thân nhân theo tính cách
cá nhân hơn 3 tỷ đô la Mỹ, nếu có một Quỹ Phát Triển
Phật Giáo Nhân Bản với mục đích rõ ràng, cơ cấu dân chủ
thực sự (Corporate Democratic Structure) thì có thể huy động
không khó khăn hàng tỷ đô la và hàng ngàn chuyên gia thượng
thặng trong ngành tài chính, quản lý. Trong lịch sử, người
Do Thái, Syrian, Lebanese đã làm được với số người tín
đồ lưu vong ít hơn thế nữa.
Liệu
Giáo hội đã có suy nghĩ và đề ra những mô hình tài chính
hoặc quỹ để có thể phát triển đạo pháp và phục vụ
nhân sanh hay không? Những mô hình tài chính này có thể được
tăng già cùng chấp thuận thực hiện hay không? Liệu cơ chế
chính trị hiện tại có cho phép Giáo hội thực hiện việc
lợi ích này cho dân tộc và đạo pháp hay không?
Con
người là yếu tố quyết định
Nhìn
chung, có nhiều cơ hội tốt đang mở ra trong tầm vóc quốc
tế cho sự phát triển của Phật giáo. Những cơ hội này
phát sinh một phần lớn do sự khủng hoảng chính trị, kinh
tế của thế giới thiếu một mô hình tâm linh bền vững.
Sự phát triển Phật giáo lại gặp nhiều cơ duyên tốt hơn
nữa vì sự phát triển nhanh chóng của hai công nghệ cao trên
thế giới. Đó là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.
Riêng công nghệ thông tin có thể truyền tải giáo lý nhanh
chóng, ít tốn kém đến một số đông người trên thế giới.
Ngược
lại, Phật giáo cũng phải đối đầu với những thách thức
không kém cam go. Sự tái cơ cấu đồng nhất tổ chức về
quản lý, học thuật và tăng đoàn đòi hỏi sự vận dụng
trí tuệ một cách dõng mãnh của Giáo hội. Thách thức về
sự đồng nhất về học thuật, lý luận, quản lý đều là
những thử thách từ trong cơ cấu nội bộ. Lịch sử đã
chứng minh, với hùng tâm và trí tuệ, con người sẽ có thể
cùng nhau vượt qua những thử thách này. Câu hỏi còn lại
là Phật giáo với chất lượng và hoàn cảnh hiện nay có
thể tìm ra những con người như thế không? Nếu có thì Giáo
hội đã có kế hoạch sử dụng hữu hiệu những con người
này cho sự sinh tồn và phát triển của Phật giáo chưa? Nếu
không thì Giáo hội đã có kế hoạch đào tạo những mẫu
người như vậy chưa?
Trên
đây là những điểm tóm tắt nhằm phục vụ Đại hội Phật
giáo tháng 7 năm 2006 tại Việt Nam. Có những vấn đế cấp
bách và không thể tránh né. Vì ưu tư cho tương lai của Phật
giáo, bài viết ắt có những suy tư và phân tích cực đoan.
Kính mong chư vị tôn đức mở lượng từ bi hoan hỷ. Nếu
có những sai lầm sơ sót, đệ tử xin cúi đầu sám hối.
Tài
liệu tham khảo:
- Adherent
statistic of World religions, 2006
-
UN report of World Peace 2005
-
Universal Federation for Peace report 2005
-
UN report on Melinium Development
-
International Internet Association Report, Fleming Group, 2004
-
Microsoft vision, internal memo, 2004
-
Papers in Asian Conference of IT development, Intercountries-Ministerial
Conference