1.
Dẫn nhập
Ô
nhiễm môi trường không phải một vấn đề mới. Từ Bi là
một hạnh cần được thường xuyên suy niệm và tu tập cũng
không xa lạ gì đối với Phật tử. Vì vậy, chúng tôi khẳng
định rằng đề tài “Từ bi: một đức hạnh để sống
thân thiện với môi trường” sẽ không mang đến cho quý
vị một ý tưởng đặc biệt nào ngoài ước mong được sự
góp ý của quý vị nhằm soi sáng nội dung sắp được trình
bày.
Sự
ô nhiễm và hủy hoại của môi trường do tác động của
con người thực ra đã diễn ra đó đây từ bao nhiêu thế
kỷ xa xôi rồi, song mức độ nguy hại của chúng chỉ giới
hạn trên bình diện địa phương. Từ thế kỷ thứ 18, nhờ
khoa học và công nghiệp ngày càng phát triển, sức mạnh biến
cải mặt đất của con người tăng lên khủng khiếp. Sự
biến cải ấy đã lưu lại khắp địa cầu bao nhiêu chất
độc nguy hại cho sức khoẻ và đã hủy hoại hàng loạt địa
bàn sống mà nhiều nơi không còn hy vọng tái sinh lại được.
Những
sự ô nhiễm quá tải cho môi trường dù mang lại tai họa
ngắn hạn hay sự suy thoái dài hạn đều là những nhân tố
hình thành sự khủng hoảng môi trường (hay khủng hoảng sinh
thái) ngày nay. Những tai họa ngắn hạn tuy chỉ gây dư luận
một thời song dấu ấn để lại không dễ xóa nhòa. Cuộc
chiến tranh vì dầu hỏa tại vùng Vịnh, sự cố Dioxin ở
Seveso ở Ý năm 1974, tai nạn lò nguyên tử tại Tschernobyl/
Ukrain năm 1986 và vô số cuộc chìm tàu chở dầu trên các
đại dương v..v.. vẫn tiếp tục gây nỗi lo âu và thường
được lập lại trong các cuộc thảo luận về tương lai nhân
loại.
Đối
với những sự suy thoái dài hạn của môi trường, con người
cũng trở nên nhạy cảm hơn. Nhiều người không còn quá thờ
ơ trước những tin tức về “sự sa mạc hóa cướp đi ngày
càng nhiều đất đai phì nhiêu” tại những vùng xa xôi, về
sự “ô nhiễm ngày càng tăng lên trong không khí và sông biển”.
Nhiều người cũng chịu khó liếc mắt vào bình luận về
“sự tiếp tục suy giảm của đa dạng sinh học” hoặc “ranh
giới băng tuyết tại bắc cực ngày càng thu hẹp lại”.
Họ cũng lo lắng hơn về nhiệt độ quả đất tăng lên v..v..
Tóm lại, số người ý thức rõ rằng sự sống của con người
luôn luôn tùy thuộc vào môi trường được nhân lên.
Tai
họa và suy thoái về môi trường đã trở thành một thách
thức lớn đối với những nhà khoa học, các tổ chức phi
chính phủ, các chính phủ, các tổ chức quốc tế và các
tôn giáo... Họ không chỉ tìm cách cập nhật sự hiểu biết
của mình về cấu trúc, về chức năng và tiến trình của
quỹ thiên nhiên cũng như về mối quan hệ phức
hợp giữa con người và môi trường mà còn sát cánh hợp
tác với nhau để truy tầm những giải pháp và một khung hành
động chung cho mọi người trên thế giới trên lãnh vực bảo
vệ môi trường, bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên
thiên nhiên.
Chúng
tôi nghĩ rằng Phật giáo, nói chung, và Phật tử, nói riêng,
cũng đã và đang đóng góp cho những việc tương tự. Hôm
nay chúng tôi xin góp phần bé nhỏ của mình vào việc chung
ấy bằng cách giới thiệu lại những kỳ vọng lớn của
cộng đồng các quốc gia trên thế giới trong sự nghiệp bảo
vệ môi truờng và những lời khuyên dạy của Đức Phật
trong kinh Từ (Bi) mà chúng tôi đã thọ lãnh như những
phương tiện, những hành trang quí báu để sống thân thiện
với môi trường, với thế giới đồng hiện hữu.
2.
Từ Hội nghị Thượng đỉnh Stockholm đến Hội nghị Thượng
đỉnh Johannesburg.
Trên
bình diện quốc tế, UNESCO là một trong những tổ chức đầu
tiên đã nhận thấy vấn đề môi trường là một thách thức
mới của nhân loại. Tháng 9 năm 1968, UNESCO đã triệu tập
tại Paris/ Pháp một hội nghị về môi trường nhằm tìm kiếm
phương cách sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên
thiên nhiên của sinh quyển(1).
Bốn
năm sau, năm 1972, “Hội nghị Liên hợp Quốc về Môi trường
con người” được tổ chức tại Stockholm/ Thụy Điển. 113
quốc gia tham dự Hội nghị này đã thừa nhận sự xuống
cấp của môi trường toàn cầu và nhận thấy cần phải có
ngay biện pháp bảo vệ và cải thiện vì đó là “một vấn
đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc
và phát triển kinh tế toàn thế giới…”. Hội nghị cũng
nhấn mạnh trách nhiệm quan trọng của con người trong sự
nghiệp này, vì ”con người trong thời đại hôm nay đang có
trong tay một sức mạnh biến đổi môi trường rất lớn,
nếu biết sử dụng một cách thông minh thì nó có thể mang
lại cho mọi dân tộc những lợi ích phát triển và cơ hội
làm cho chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu sử dụng
sai và vô ý, cũng sức mạnh ấy có thể gây hại cho con người
và môi trường một cách không lường được.”(2)
Hội
nghị đã đề ra 26 nguyên tắc định hướng cho hành động
nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên “bao gồm không khí,
nước, thực vật và động vật và các hệ sinh thái thiên
nhiên”, hoặc nhằm “cải thiện năng lực của trái đất”,
ngăn ngừa các chất ô nhiễm độc hại… Những nguyên tắc
về phát triển kinh tế xã hội, về quy hoạch định cư, về
dân số hoặc về giáo dục, về nghiên cứu và triển khai
khoa học cũng đều có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm
những lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường. Hội nghị
cũng đòi hỏi từng công dân, mọi cộng đồng, mọi xí nghiệp
và mọi thể chế, mọi chính phủ thuộc các cấp cần phải
“ nhận trách nhiệm cùng nhau chia sẻ bình đẳng mọi nỗ
lực chung …(3)
Sau
20 năm thực hiện, kết quả đạt được thật là ít ỏi,
bởi vì những nghị quyết được thông qua không mang tính
cưỡng chế. Hơn nữa các chính phủ trên thế giới vẫn luôn
luôn xem việc tăng trưởng kinh tế là mục tiêu ưu tiên hàng
đầu trong việc xây dựng đất nước. Kinh tế là huyết mạch.
Kinh tế là động lực đưa đấ nước đi lên. Vì vậy một
đồng bạc được đưa vào việc bảo vệ môi trường thường
được xem như là một đồng bạc bị đánh mất trong việc
đầu tư kinh tế.
Rút
kinh nghiệm đã qua, người ta nhận thấy rằng các mục tiêu
môi trường chỉ có thể đạt được khi nó được gắn liền
với những mục tiêu kinh tế và xã hội trong một chính sách
phát triển toàn diện. Một khái niệm mới dần dà được
hình thành. Đó là khái niệm “phát triển bền vững”, trong
đó sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ
môi truờng được trở thành 3 trụ cột gắn bó với nhau,
hỗ trợ cho nhau và củng cố, hài hòa lẫn nhau. Khái niệm
này được hiểu một cách khá thống nhất và đồng thuận
tại “Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát
triển” được tổ chức vào năm 1992 tại Rio de Janeiro/ Braxin.
178 quốc gia tham dự Hội nghị đã công nhận “Phát triển
bền vững” là một “Chiến lược của thiên niên kỷ”
nhằm xây dựng một nền văn minh bền vững trên Trái Đất.
Nội dung quan trọng hàng đầu của chiến lược là xoá nghèo
khổ, cải thiện đời sống, tạo sự phồn vinh và hoà bình
cho nhân loại.
Hội
nghị Rio đã tuyên bố 27 nguyên tắc cơ bản định hướng
cho hành động của các chính phủ. Kèm theo đó là Chương
trình Nghị sự 21 (Agenda 21) bao gồm 40 chương ghi rõ chi tiết
những hành động quyết định cho tương lai trái đất (4).
Nội dung quan trọng nhất là chống nghèo khổ, thay đổi thói
quen tiêu dùng, kế hoạch dân số, quy hoạch phát triển khu
dân cư, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ khí quyển, chống sự
phá rừng và sa mạc hóa, bảo vệ biển và nguồn nước ngọt,
xử lý rác và hóa chất độc hại, tăng cường vai trò nữ
giới, quan tâm đến trẻ em và thiếu niên, phát triển khoa
học, giáo dục và đào tạo, phát triển công nghệ sạch,
phát triển hợp tác quốc tế v..v..
So
với Hội nghị Stochkolm năm 1972, nhiệm vụ bảo vệ môi truờng
không còn là ưu tiên hàng đầu nữa, tuy nó vẫn được xem
như là “bộ phận cấu thành của quá trình phát triển”
(Nguyên tắc 4). Nó được đưa ra phía sau việc phát triển
kinh tế và xã hội. Nguyên tắc 5 trong Bản Tuyên bố của
Hội nghị đã ghi rõ rằng việc “xoá bỏ nghèo khổ là một
nhiệm vụ chủ yếu (…) để giảm sự chênh lệch về mức
sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số
nhân dân trên thế giới”(5).
Sau
Hội nghị Rio, Chiến lược “phát triển bền vững” đã
trở thành quốc sách của tuyệt đại đa số quốc gia trên
thế giới. Đây cũng là hệ quả tất yếu khi mà Hội nghị
đã công nhận Trái Đất là ngôi nhà chung của nhân loại.
Từ
năm 1992 đến nay, Chính sách phát triển bền vững đã được
truyền đạt rộng rãi đến công dân mọi quốc gia và được
viết, được quảng bá qua các phương tiện truyền thông trên
khắp thế giới. Nhưng kết quả thu hái được sau 10 năm thực
hiện thì như thế nào?
Sau
đây là câu trả lời của Phó Tổng Thư ký Liên Hợp quốc
Nitin Desai tại “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát
triển bền vững” được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi
năm 2002:
”Mặc
dù đã có sự cải thiện điều kiện xã hội và tiến bộ
trrong việc ban hành pháp luật, nhìn chung, thành quả ghi nhận
được còn nghèo nàn. Nghèo khó và các bệnh tật có khả
năng tránh được vẫn còn tồn tại. Môi trường đất, nước,
đại dương, rừng vẫn tiếp tục suy thoái. Các rủi ro như
từ sự biến đổi khí hậu cũng như các lĩnh vực khác tiếp
tục tăng lên”(6).
Câu
trả lời này cho thấy rõ rằng các mục tiêu chính mà Hội
nghi Rio quyết tâm hướng tới đã không đạt được. Trong
lãnh vực môi trường, sự suy thoái không chỉ tồn tại như
cũ mà còn trở nên trầm trọng hơn nữa! Sự thật này đã
đi ngược lại mục tiêu và điều cam kết long trọng của
Hội nghị Rio.
Tuy
vậy 10 năm so với 990 năm vẫn còn lại quá ngắn để có
thể có một đúc kết chung cuộc. Để tiếp tục thúc đẩy
tiến trình phát triển bền vững, một Hội nghị toàn cầu
nối tiếp mang tên là “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới
về phát triển bền vững” được tổ chức tại Johannesburg,
Nam Phi vào năm 2002, với sự tham gia của 196 quốc gia trên
thế giới. Ngoài việc đánh giá kết quả của 10 năm trước,
Hội nghị đã tập trung bàn thảo về “sự toàn cầu hóa
hàng ngày và khắp mọi nơi” và cố gắng tìm các giải pháp
cho những vấn đề cản trở tiến trình phát triển bền vững.
Sự “phát triển kinh tế theo hướng thương mại và tự do
hóa tài chánh” được xem là một vấn đề lớn “đã gây
nhiều khó khăn cho việc theo đuổi các mục tiêu môi trường
và xã hội…”.
Hội
nghị Johannesburg đã mang lại nhiều đổi thay. Thứ nhất,
đó là sự mở rộng nội dung của khái niệm “phát triển
bền vững” bằng 3 mục tiêu bao quát gồm có: chống nghèo
khổ, thay đổi hình thức tiêu dùng và sản xuất và quản
lý tài nguyên thiên nhiên để phục vụ kinh tế, xã hội.
Nhiều mục tiêu cụ thể cũng được xác định, nổi bật
hơn hết là các mục tiêu hướng đến việc phục vụ lợi
ích cho phụ nữ, thanh niên, trẻ em và những nhóm người đễ
bị tổn hại.
Thứ
hai, đó là sự mở cửa cho những đối tác ngoài chính phủ
được đóng góp phần của họ vào sự nghiệp phát triển
công bằng và bền vững. Sự mở cửa này cũng có thể xem
như một sự công nhận năng lực và hành động hữu hiệu
từ trước đến nay của các tổ chức phi chính phủ, của
các hiệp hội dân sự, các công đoàn phụ nữ thanh niên,
các doanh nghiệp lớn, các hiệp hội kinh tế cấp địa phương
v..v…
Thứ
ba, Hội nghị Johannesburg đã nhất trí thông qua “Chương trình
để thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Hội nghị Rio
năm 1992” và cam kết tiếp tục hành động vì sự phát triển
bền vững.
Trong
phát biểu bế mạc Hội nghị Johannesburg, Tổng thư ký Liên
Hợp Quốc Kofi Annan đã kết thúc bài diễn văn bằng câu nói
như sau: “Đã đến lúc chúng ta cần thực sự vào cuộc và
hành động. Thời điểm kết thúc hội nghị hôm nay (ngày
04/09/2002) chính là thời điểm khởi đầu công việc của
chúng ta”.(7)
3.
Một số nguyên nhân khiến chiến lược “Phát triển bền
vững” chưa ngăn chận được sự suy thoái của môi trường
Trên
thực tế, thời điểm này đích thực là điểm khởi đầu
của các hoạt động phân tích, đánh giá và phê phán về
Hội nghị. Có rất nhiều người tỏ sự ngờ vực về kết
quả có thể đạt được sau Hội nghị.
Nhiều
câu hỏi được đặt ra:
Liệu
trong tương lai còn có bao nhiêu thời điểm mới nữa để
bắt đầu thực hiện lại chương trình đã từng triển khai
trong quá khứ?
Liệu
nội dung của “phát triển bền vững” có còn đổi mới
hay bổ xung nữa không?
Liệu
đến cuối thế kỷ 21 này hay đến vài ba thế kỷ kế tiếp
cộng đồng những quốc gia trên thế giới có thể thực hiện
thành công việc “xây dựng trên quy mô toàn cầu một xã
hội nhân bản, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và thấu hiểu
về nhu cầu phẩm giá cần cho tất cả mọi người” chăng?
Liệu
sau vài thế kỷ hành động cộng đồng các quốc gia có thể
giúp cho trẻ em “được thừa hưởng một thế giới không
có sự phỉ báng và khiếm nhã do nghèo khó, suy thoái môi trường
và các mẫu hình phát triển không bền vững gây ra” chăng?(8)
Liệu
“Chương trình để thực hiện Chương trình Nghị sự 21”
của Hội nghị Johannesburg có thể sớm ngăn chận sự suy thoái
môi trường chăng? Hay còn cần thêm một Chương trình mới
nữa?
Chúng
ta có thể hiểu được tâm trạng ngờ vực có pha lẫn một
chút châm biếm tàng ẩn trong những câu hỏi trên bởi vì
bao nhiêu cam kết, hứa hẹn và nỗ lực từ Hội nghị Paris
năm 1968 cho đến Hội nghị Johannesburg năm 2002 đã đưa lại
một số kết quả vô cùng khiêm tốn, và trên khía cạnh bảo
vệ môi trường thì thật là đáng thất vọng. Kết quả ấy
đã chỉ ra sự yếu kém trong sự liên kết hành động của
cộng đồng các quốc gia trước những vấn đề cấp bách
của nhân loại.
Nhiều
người đã không dấu được nỗi thất vọng vì “Chương
trình hành động” không phải là một Chương trình để đem
ra triển khai vì nội dung chủ yếu chỉ là những mục tiêu
không ràng buộc. Càng thất vọng hơn nữa là mối quan tâm
hàng đầu của Hội nghị hầu như chỉ tập trung vào vấn
đề kinh tế.
Biết
đâu 10 năm, 20 năm hay 50 mươi năm sau rồi cũng sẽ có những
lời tự phê như lời tự phê đáng để suy ngẫm của Tổng
Thống nước Cộng hòa Nam Phi Thabo Mbeki trong bài Phát biểu
chào mừng của ông tại Hội nghị Johannesburg năm 2002: “Thật
đáng buồn, chúng ta vẫn chưa đạt được một bước tiến
nào đáng kể trong việc thực hiện hóa những điều khoản
của Chương trình Nghị sự 21 và những thỏa thuận quốc
tế khác. Rõ ràng là cộng đồng toàn cầu vẫn chưa tỏ rõ
ý chí thực hiện những quyết định đã được chúng ta thông
qua một cách dễ dàng. Hậu quả hiển nhiên của việc
này là sự tăng lên những nỗi thống khổ của nhân loại,
suy thoái về sinh thái, kể cả gia tăng ngăn cách Bắc Nam -
mà tất cả những điều đó lẽ ra đã có thể phòng tránh
được”(9)
Thực
ra sự thiếu ý chí thực hiện của cộng đồng toàn cầu
mà Tổng Thống Thabo Mbeki đã thẳng thắng nhìn nhận chưa
phải là nguyên nhân duy nhất cản trở sự thực hiện những
khát vọng to lớn và quý báu của các Hội nghị thượng đỉnh.
Còn nhiều nguyên nhân khác nữa mà chúng ta đã nghe tại nhiều
cuộc hội thảo hay đã góp nhặt từ sách báo.
Họ
đã lên tiếng về sự trì trệ của các quốc gia. Họ đã
mổ xẻ các biện pháp đề ra không mang tính khả thi. Họ
đã phê phán tính cách lý thuyết hoặc tuyến tính của tư
duy xây dựng Chiến lược phát triển bền vững. Họ đã nhức
đầu về Chương trình nghị sự quá lớn lao mà chính những
người trong hội nghị cũng đã không thực sự hiểu thấu
đáo những mối liên kết giữa các vấn đề.(10) Họ nghi
ngờ lời kêu gọi của Hội nghị về sự tăng cường đối
thoại và sự hợp tác giữa các nền văn minh và các tôn giáo(11),
bởi vì vấn đề văn hóa, một động lực quan trọng của
sự phát triển, không được đề cập đến trong Hội nghị,
nhưng bóng dáng của nền văn hóa Tây Phương lại ẩn hiện
đó đây trong Chiến lược phát triển bền vững. Nền văn
hóa ấy lấy con người làm bản vị và đã hợp pháp hóa
vai trò thống trị của con người lên thiên nhiên.
4.
Khủng hoảng sinh thái là khủng hoảng tâm thức của con
người
Như
chúng ta đã biết, Chiến lược phát triển bền vững được
xem là chiến lược thiên niên kỷ. Việc thực thi, việc bàn
thảo, việc chỉnh sửa chắc chắn sẽ còn dài vô tận so
với một đời người. Chúng tôi xin không đi sâu vào các
nguyên nhân cản trở việc bảo vệ môi trường để trình
bày vài ý tưởng được khởi lên từ một số vấn đề
của các Hội nghị Thượng đỉnh và sau đó xin gợi ý về
một giải pháp cốt lõi rút ra từ Kinh Từ Bi.
Các
Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển bền vững,
theo quan điểm của chúng tôi, thật đáng được ca ngợi.
Thứ
nhất, các Hội nghị này, đầu tiên là Hội nghị Stockholm,
đã cơ bản gộp chung lại những lãnh vực kinh tế, xã hội
và môi trường mà trước kia chúng đứng tách biệt nhau và
chỉ rõ rằng việc bảo vệ môi trường không thể đứng
độc lập được. Hội nghị đã đưa ra một nội dung lý
tưởng cho những mục tiêu cụ thể vì nhân loại.
26
nguyên tắc được Hội nghị tuyên bố đã làm rõ nét sự
đan kết giữa những vấn đề tưởng như không có mối quan
hệ trực tiếp và khắn khít với nhau, ví dụ như giữa “quyền
cơ bản được tự do bình đẳng” và “các hình thức bóc
lột và thống trị nước ngoài khác” (nguyên tắc 1) với
sự bảo vệ tài nguyên và các hệ sinh thái thiên nhiên vì
quyền lợi của các thế hệ hôm nay và tương lai” (nguyên
tắc 2), giữa “tính ổn định về giá cả và thu nhập”
với “quản lý môi trường” (nguyên tắc 10) giữa sự
cung cấp các nguồn lực gìn giữ, cải thiện, quản lý môi
trường (nguyên tắc 12 và 13) với quy hoạch định cư, quy
hoạch dân số (nguyên tắc 15, 16) ...(12)
Thứ
hai các Hội nghị đã công nhận Trái Đất là “Ngôi Nhà
Chung” của nhân loại và tính toàn bộ của hệ sinh thái
Trái Đất. Như vậy các Hội nghị đã chính thức soi sáng
cho công dân các quốc gia trên thế giới thấy được mối
quan hệ tương hỗ giữa nhân loại với thiên nhiên, giữa
các hệ sinh thái nhân tạo với các hệ sinh thái thiên nhiên
trong một mạng lưới rộng lớn của hệ sinh thái Trái Đất.
Hai
điều trên đây đã giúp con người ý thức rõ tác động
đúng-sai, tốt-xấu, riêng-chung đều mang tính liên đới dây
chuyền dài hạn.
Những
nhận thức của các Hội nghị thượng đỉnh là những nhận
thức được phát xuất từ “tư duy nối mạng” của các
bậc minh triết thuộc nhiều thế hệ đã qua và cuối cùng
được đúc kết tại các Hội nghị.
Đối
với hàng Phật tử, cách đây hơn 25 thế kỷ, đức Phật
đã giảng dạy phương pháp tư duy nối mạng qua nguyên lý
Duyên Khởi:
“Cái
này hiện hữu thì cái kia hiện hữu. Cái này không thì cái
kia không
Cái
này sinh thì cái kia sinh. Cái này diệt thì cái kia diệt”.
Nguyên
lý này chỉ rõ rằng mọi sự vật và hiện tượng trong thế
giới và vũ trụ đều làm điều kiện (duyên) cho nhau (vừa
là nhân và cũng là quả) vận hành và chuyển biến không ngừng
nghỉ trong quá trình “sinh thành hoại diệt”. Cũng có thể
gọi đó là Nguyên lý nhân quả tương hỗ.
Ngài
Tịch Thiên đã nhắc lại trong tập Luận “Nhập Bồ Tát
Hạnh”: “Tất cả các pháp đều do các duyên khác sinh ra.
Không pháp nào tự có”. Điều này xác nhận rằng không có
một thực thể độc lập. Mọi sự vật và hiện tượng đề
bị chi phối bởi Nguyên lý nhân quả tương hỗ.(13)
Xin
mạn phép vẽ ra đây hai sơ đồ giản lược sau đây để
làm rõ nét các mối tương quan, tương duyên, tương sinh, tương
tác của vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường. Ví dụ
thứ nhất: Để đến đích nhanh (nguyên nhân) xe cơ giới được
chế tạo và được sử dụng (kết quả). Khói bụi phun từ
xe cơ giới (nguyên nhân) đánh độc con người (kết quả).
Những chất như CO (cacbon mônôxit, SO2 (synphua điôxit)
NO 2 (Nitơ điôxit) và CO 2 (cacbon điôxit)], với
nồng độ loãng, chỉ làm cho con người cay mắt, ngộp thở
hoặc sặc sụa; với nồng độ đậm đặc hơn chúng gây bệnh
đường phổi hoặc giết chết con người. Biến cố sương
mù Luân Đôn năm 1952 đã cướp mất hơn 4 000 nhân mạng. Đó
là những kết quả đồng thời trực tiếp cho con người).
Khí CO 2 đã góp phần tạo ra hiệu ứng nhà kính hâm nóng
Quả Đất, làm rối loạn khí quyễn, nâng cao sức tàn phá
của bão lụt, khiến con người khốn đốn hơn. Đây là
kết quả đa dạng dị thời cho toàn bộ hệ sinh thái Quả
Đất và sự an sinh của nhân loại.
Ví
dụ thứ hai: Vì lợi nhuận tối đa (nguyên nhân kinh tế) nên
rừng nguyên sinh bị “chặt trắng” (kết quả sinh thái).
Vì rừng bị chặt trắng (nguyên nhân sinh thái) nên toàn bộ
hệ sinh thái động và thực vật lâu đời của rừng bị
hủy diệt (kết quả về đa dạng sinh học); đất mất táng
cây che chở nên bị mưa gió xói mòn và rửa trôi (kết
quả về hệ sinh thái đất). Xói mòn và rửa trôi (nguyên
nhân cơ học) cuốn theo chất dinh dưỡng của đất (kết quả
về năng lực sản xuất của đất), và đất không còn
khả năng phục vụ cho sự canh tác và sự sống của con người,
thậm chí còn trở thành hoang mạc hay sa mạc (kết quả kinh
tế, xã hội và môi trường).
Nếu
ví dụ thứ hai được triển khai theo một hướng khác thì
mạng lưới nhân quả nhiều tầng nhiều lớp và quan niệm
lợi hại, tốt và xấu của con người hiện ra rõ hơn: Vì
rừng bị chặt trắng (nguyên nhân) nên các điều kiện trữ
nước, điều tiết dòng chảy và lọc sạch nước của đất
rừng bị hủy diệt (kết quả tai hại), nước mang đất dồn
chảy ngay vào suối sông gây ra lũ lụt, gây tai hại cho mùa
màng và các công trình hạ tầng của con người (kết quả
tai hại) hoặc mang phù sa bồi đắp cho miền đồng bằng (kết
quả thuận lợi cho canh tác).
Như
vậy trong mạng lưới Duyên khởi mỗi một điều kiện mới
thêm vào hay mất đi đều dẫn đến sự biến đổi tất yếu
cho hoàn cảnh chung. Hữu thể cá biệt và hoàn cảnh chung của
giây phút trước đã khác đi ngay trong giây phút sau. Như vậy,
Nguyên lý Duyên khởi một mặt bao hàm cả luật Vô thường
nói lên tính vận động và biến chuyển không ngừng của
vạn hữu; mặt khác bao gồm cả luật Vô ngã khẳng định
rằng không có sự vật nào có “cái Ta” như một thực thể
bất biến, vĩnh hằng. Trong mạng lưới Duyên sinh, mọi sự
sinh thành hoại diệt đều bình đẳng và không bị sự nhào
nặn hay chi phối nào từ bàn tay của một hữu thể thần
thánh đứng phía sau hoặc đứng bên trên. Mọi sự thưởng
phạt đều là quả báo của biệt nghiệp hay cộng nghiệp
của con người, của tác động qua lại giữa các nhân tố
trong mạng lưới Duyên sinh.
Có
một điều quan trọng mà rất người chưa quan tâm đủ, đó
“sức quật ngược” của các tai họa và ô nhiễm môi trường.
Con người càng gieo tai họa, ô nhiễm cho môi trường bao nhiêu
thì cũng nhận lại bấy nhiêu tai họa và ô nhiễm ấy như
hai ví dụ vừa minh họa. Môi trường hay Thiên
nhiên luôn luôn im lặng, không có ngôn từ không phản đối
trước bất cứ một tác động nào của con người. Những
từ “lợi”, “hại”, “tốt”, “xấu” v..v.. đều phát
sinh từ tâm ý của con người. Chỉ có hành động do tâm ý
điều khiển của con người mới đem lại kết quả tốt hay
xấu.
Kinh
Pháp cú 127 đã ghi:
“Không
trên trời dưới biển,
Không
lánh vào động núi
Không
chỗ nào trên đời
Trốn
được quả ác nghiệp”
Các
hệ sinh thái thiên nhiên sau khi bị tàn phá đều có khả năng
tự thiết lập lại sự cân bằng và năng lực phát triển
của chúng. Sự tự thiết lập lại này có thể tiến hành
nhanh hay chậm tùy theo tác động qua lại của toàn bộ những
điều kiện thuộc sinh quyễn..
Sau
khi rừng thiên nhiên bị chặt trắng, như ví dụ đã
kể, nó và toàn bộ hệ sinh thái của nó sẽ dần dần tự
phục hồi trên mặt đất trống qua quá trình diễn thế, nếu
được để yên. Song nếu con người dùng mặt đất trống
để canh tác hay xây dựng những công trình kiến trúc thì
hệ sinh thái của rừng “tự nhiên” trước kia sẽ bị xoá
bỏ và được thay vào bằng hệ sinh thái “bán tự nhiên”
của ruộng đồng hoặc hệ sinh thái “nhân tạo” của đô
thị với phố chợ, đường xá, nhà máy, sân bay v..v..
Vì
lợi ích kinh tế của mình, con người đã không ngừng phá
rừng, xẻ núi lấp sông để làm ruộng, chăn nuôi để thiết
lập các khu dân cư, các chùm đô thị và các cơ sở hạ tầng.
Qua dòng thời gian, con người dần dần huỷ hoại, đẩy lùi,
biến cải hình dạng và cấu trúc tất cả các hệ sinh thái
tự nhiên từ đồng bằng đến cao nguyên, từ đầm lầy đến
lòng biển. Quả Đất hiện nay mang dấu ấn lịch sử sâu
đậm của hoạt động kinh tế và phương thức sản xuất
của loài người từ thời hái lượm sang định canh định
cư, từ tiền công nghiệp đến hậu công nghiệp.
Trong
Quy hoạch cảnh quan, để tiện việc xác định mục tiêu và
kế hoạch sử dụng không gian sống một cách bền vững, các
nhà khoa học đã dựa theo tỷ lệ giữa các nhân tố thiên
nhiên và nhân tạo để phân cấp các hệ sinh thái theo các
tiêu chuẩn tự nhiên, cận tự nhiên, bán tự nhiên, cận nhân
tạo và nhân tạo. Sự phân cấp các hệ sinh thái đã phản
ánh rõ hệ quả của sự biến cải khuôn mặt Trái Đất của
con người thông qua tư duy, hành động, kỹ năng và trình độ
văn minh xuyên suốt qua dòng thời gian. Như vậy, sự khủng
hoảng sinh thái, khủng hoảng môi trường ngày hôm nay thực
chất là sự khủng hoảng của tâm thức con người.
Hiện
nay, trên thực tế, không còn một hệ sinh thái thiên nhiên
nguyên sơ nào nữa. Sự hiện diện và tác động trực tiếp
hay gián tiếp của loài người bao trùm lên khắp mặt Đất.
Vùng “băng tuyết thiên nhiên vĩnh cửu” tại Bắc cực cũng
mang chứng tích của sự đánh độc từ chất diocxin. Qua kết
quả nghiên cứu khoa học, diocxin đã tác động làm vỏ trứng
của loài chim cánh cụt trở nên mỏng manh và dễ vỡ.
Tóm
lại, vì lợi ích của riêng mình, con người đã nhào nặn
Trái Đất theo ý muốn và sức mạnh của mình. Đến nay, con
người là nhân tố chủ động nhất, có quyền lực nhất,
gieo ảnh hưởng lớn nhất và đem lại nhiều kết quả đổi
thay sâu sắc nhất trong mạng lưới quan hệ qua lại giữa
mọi sự vật (trong mạng lưới duyên sinh, theo thuật ngữ
của đạo Phật). Trong những kết quả ấy, có hai kết quả
đã đem lại cho nhân loại nỗi lo lắng vô cùng lớn lao: đó
là sự “khủng hoảng môi trường” và “sự phân chia sâu
sắc xã hội loài người giữa giàu và nghèo”. Hội nghị
Johannesburg đã xem chúng là những thách thức lớn bởi vì
chúng là hai nguyên nhân đe dọa sự tồn tại của Trái Đất
và hòa bình của thế giới.
Theo
đạo Phật, đây là quả báo mà con người phải thọ lãnh
từ nghiệp mình đã gieo.
Hội
nghị Johannesburg đã công bố nội dung của thách thức ấy
như sau: (14)
Về
mặt sinh thái: “Môi trường toàn cầu tiếp tục trở nên
tồi tệ. Suy giảm đa dạng sinh học tiếp diễn, trữ lượng
cá tiếp tục giảm sút, sa mạc hoá cướp đi ngày càng nhiều
đất đai màu mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí
hậu đã hiển hiện rõ ràng. Thiên tai ngày càng nhiều và
càng khốc liệt. Các nước đang phát triển trở nên dễ bị
tổn hại hơn. Ô nhiễm không khí, nước và biển tiếp tục
lấy đi cuộc sống thanh bình của hàng triệu người”.(15)
Về
mặt xã hội: “Ranh giới sai lầm tạo nên sự phân chia sâu
sắc xã hội loài người giữa giàu và nghèo và khoảng cách
ngày một tăng giữa các nước đã phát triễn và các nước
đang phát triển đã tạo ra mối đe dọa lớn đối với sự
phồn vinh, an ninh và ổn định của toàn cầu”.(16)
Theo
Nguyên lý Duyên khởi, chúng ta có thể khẳng định rằng các
vấn đề nêu trên là những hệ quả tiêu cực vô cùng trầm
trọng phát sinh từ nguyên nhân “sử dụng sai hiểu biết
và sức mạnh” của con người. Song nguyên nhân cốt lõi đứng
bên sau sự sử dụng sai ấy chính là tâm thức tạo nên một
thế giới quan phủ nhận mối quan hệ bình đẳng giữa con
người và thiên nhiên, giữa xã hội này với xã hội khác.
Thế giới quan này đã khiến cho nhiều người muốn đứng
tách biệt lên trên và muốn thống trị vạn vật, đã gán
cho thiên nhiên một giá trị sinh lợi, giá trị của hàng hóa
và đã hợp pháp hóa vai trò thống trị của con người đối
với thiên nhiên. Đây là nguyên nhân của sự bóc lột tài
nguyên thiên nhiên không thương tiếc, của sự sử dụng con
người như một loại tài nguyên – chúng ta vẫn thường nghe
thuật ngữ “tài nguyên con người”, tài nguyên nhân lực”!.
Suốt
mấy nghìn năm qua, vô số người đã thực hiện lời khuyên
của một Đấng Cứu Thế là “Các con hãy sinh sản nhiều
hơn và hãy bắt quả đất làm tôi tớ cho các con”. Cũng
có vô số con người tin rằng nền văn hóa này cao hơn nền
văn hóa kia, tôn giáo này siêu việt hơn tôn giáo nọ. Một
khi thế giới quan này đã ăn sâu vào tim óc thì làm sao có
thể nói đến một sự bình đẳng giữa con người và con
ong cái kiến, giữa con người trong ánh sáng văn minh với những
kẻ còn hái lượm và săn thú trong rừng già để sống? Hiện
nay nhiều người sống theo thế giới quan ấy đã chuyển đổi
quan niệm, song bao nhiêu dấu ấn tiêu cực lưu lại trên mặt
đất đã lâu đời hầu như không thể nào đổi ngược được
nữa.
Chúng
tôi nhắc đến thế giới quan này vì nó quan hệ mật thiết
với việc thực thi “Chương trình nghị sự 21” của Hội
nghị Rio và Johannesburg. Nó cản trở tiến trình triển khai
của Chương trình này. Liệu Chương trình này có thể xoá
bỏ cuộc khủng hoảng môi trường không? Có thể xoá bỏ
“sự phân chia sâu sắc xã hội loài người giữa giàu và
nghèo không”? Có thể lấp được “khoảng cách ngày một
gia tăng giữa các nước đã phát triển và các nước đang
phát triển đã tạo ra mối đe dọa lớn đối với sự phồn
vinh, an ninh và ổn định của toàn cầu” không?(17)
Đó
là những câu hỏi rất khó trả lời bởi vì các biện pháp
được các Hội nghị Thượng đỉnh đưa ra đều mang nặng
tính cách hành chánh, quản lý và đào tạo. Các công cụ tài
chánh và kỹ thuật thật sự sẽ không đưa đến kết quả
chờ đợi nếu chúng trở thành công cụ sắc bén của những
kẻ kém thiện tâm và kém bổn phận hỗ tương đối với
môi trường và xã hội. Hơn nữa các Hội nghị chỉ nói nến
cuộc khủng hoảng môi trường và hoàn toàn làm ngơ trước
cuộc khủng hoảng tâm thức. Như vậy làm sao cuộc khủng
hoảng tâm thức có thể đưa ra thảo luận được để từ
đó rút ra một lời khuyên về đạo đức và về cung cách
hành tốt đẹp được. Với lời khuyên “giảm dần
loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không
bền vững” sẻ không mấy ai tuân thủ nghiêm túc vì lợi
nhuận kinh tế vẫn được đánh giá là quan trọng nhất trong
thế giới này.(18)
Đạo
đức và văn hóa cũng là động cơ then chốt của phát triển.
Nhiều nước phương Tây đã đưa văn hoá vào Chiến lược
và quy hoạch Phát triển bền vững như một cột trụ thứ
tư, bên cạnh ba trụ cột gồm có phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trường.
5.
Từ Bi, một hạnh tu, một con đường đưa đến an lạc, hoà
bình và thân thiện với môi trường
Trong
những thập niên qua, thế giới quan phủ nhận sự bình đẳng
giữa con người và thiên nhiên tuy rất phổ biến nhưng đã
dần dần bị đông đảo các nhà đạo đức môi sinh, các
triết gia, khoa học gia … phê phán. Các cuộc bàn luận về
“Chủ nghĩa vì con người”, “Chủ nghĩa vì sinh thái”,
“Chủ nghĩa vì Công nghệ” (Technozentrism) trong mối quan hệ
với Phát triển bền vững đang rất sôi động.
Dầu
sự bàn thảo về đạo đức môi sinh còn tiếp tục kéo dài
đến đâu chăng nữa, con người phải thấy rằng Quả Đất
chẳng khác nào một “Con tàu Vũ trụ”. Cụm từ “Con
tàu Vũ trụ” đã nói lên số phận hoàn toàn bị lệ thuộc
của nhân loại vào Quả Đất. Con tàu này không có một bờ
bến nào khác để tấp vào vì mục đích vứt bỏ không khí
và nước uống ô nhiễm và thay vào đó bằng không khí và
nước uống trong sạch hoặc lấy thêm lương thực dự trữ
cho dân số tăng lên không ngừng. Như vậy, hủy diệt môi
trường và hệ sinh thái Quả Đất cũng là hủy diệt loài
người. Sống thân thiện với môi trường và Quả Đất cũng
là sống thân thiện với loài nguời.
Trên
mặt quốc tế, năm 1991 Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên
Thế giới (IUCN), Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
(UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã đề
nghị một Chiến lược “Cứu lấy Quả Đất” với chín
nguyên tắc cơ bản và 132 hành động thiết thực nhằm bảo
vệ hay cải thiện môi trường và tăng chất lượng sống
của con người. (18).
Chiến
lược đã nêu lên một loạt các yếu tố về đạo đức
để xây dựng tư cách mới của con người “bởi vì đó
là một chân lý”. Đối với sự sống của các loài, Chiến
lược đã xác nhận rằng: “ Mỗi dạng sống đều phải
được bảo đảm quyền tồn tại, bất kể nó có giá trị
như thế nào đối với con người. Sự phát triển của loài
người không được đe dọa đến tính toàn vẹn của thiên
nhiên và sự sống còn của các loài khác. Con người phải
đối xử tử tế với tất cả các sinh vật khác và
bảo vệ chúng chống lại những hành vi hung bạo, những đau
đớn có thể tránh được, cũng như sự giết chóc không cần
thiết.”.(19) Để được vậy, con người”phải thay đổi
thái độ và hành vi” của mình, “thay đổi kiểu sống”,
“thay đổi những quan niệm về giá trị mà họ quen
hiểu xưa nay”.(20)
Trước
đó Albert Schweizer đã nói đủ những điều trên qua một công
thức ngắn gọn: “Đạo đức là sự mở rộng trách nhiệm
đến tận vô biên đối với tất cả những gì có sự sống”(21)
Về mặt tổ chức dân sự, nhiều phong trào bảo vệ thiên
nhiên được thành lập khắp thế giới. Một phong trào gương
mẫu đáng kể ra đây là phong trào Chipko có nguồn gốc từ
Hy Mã Lạp Sơn. Chipko có nghĩa là “ôm cây”. Theo truyền
thuyết, năm 1730 bà Amrita Devi và một số dân làng Rajasthan
đã đấu tranh bất bạo động bằng cách ôm cây chống lại
những người khai thác và tàn phá rừng. Họ đã bị giết
chết nhưng ảnh hưởng của họ lưu truyền mãi đến ngày
nay và lan rộng khắp thế giới. Chipko đã trở thành một
phong trào yêu thiên nhiên của giới nữ. Phụ nữ và con cháu
họ tại nhiều làng ở Ấn Độ đã mang truyền thống trồng
và chăm sóc cây rừng để lấy củi, gìn giữ các nguồn nước
trong sạch và bóng mát. Có nơi phụ nữ đã vận động dân
làng mình và vùng phụ cận cùng ôm cây ngăn chận đoàn công
nhân đến khai thác rừng lấy gỗ cho nhà máy giấy. Họ đã
thành công.
Về
mặt tôn giáo, tình yêu thương rộng lớn như bác ái, từ
bi được xem như nguyên tắc căn bản để cứu lấy Quả Đất.
Gần đây đức Từ Bi cũng thấm dần vào tâm trí của người
Phương Tây.
Điều
này đã khiến chúng tôi tự thấy xấu hổ vì ý thức rất
rõ rằng tâm mình chưa được thấm nhuần đức Từ Bi và
ngay trong đời sống hàng ngày vẫn chưa thực hiện đúng đắn
được một phần vô cùng bé nhỏ đức hạnh này. Nhưng là
Phật tử không lẽ không góp ý gì về nội dung của Từ Bi
trong tương quan với việc “Phát triển bền vững” và cứu
lấy môi trường trong khi đã có người thuộc truyền thống
tôn giáo khác quan tâm nói đến hạnh Từ Bi trong việc cứu
lấy Quả Đất (22)
Là
Phật tử, ai cũng biết rằng thực hiện Từ Bi là thể hiện
lòng thương yêu và lòng thương xót chúng sinh khổ ải để
dốc chí đem lại cho chúng niềm an vui và sự cứu khổ. Đối
với cuộc khủng hoảng môi trường Từ Bi trở thành nguyên
tắc sống thân thiện, sống “vô hại” đối với muôn loài
và địa bàn sinh sống của chúng.
Từ
Bi đi chung với Hỷ Xả (tứ Vô lượng tâm) là bốn hạnh
tu hỗ trợ nhau để để diệt ác tâm và sống an lạc trong
hiện tại. Xa hơn nữa, Từ Bi là một con đường sống cao
đẹp đưa đến hạnh phúc và hòa bình, điều mà toàn thể
nhân loại mơ ước. Từ Bi cũng là một bản đồ tu tập để
Phật tử thoát khỏi vòng luân hồi, một mục đích mà tất
cả Phật tử đều nhắm đến. Những điều này đã được
đức Phật trình bày rất hệ thống trong Kinh Từ Bi.
Chúng
tôi xin mạn phép trình bày lại nội dung của Kinh trong mối
liên hệ với một số vấn đề của môi trường. Chúng tôi
dựa vào bản Kinh Từ hay Kinh Từ Bi (Metta-Sutta) do cố
Hoà Thượng Thích Thiện Châu dịch ra Việt ngữ (23) Một vài
chỗ chúng tôi sửa đổi theo bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu và nhất là theo bản dịch Đức ngữ có chú giải
của Ngài Nyanaponika.(24) Cụ thể, câu “Ưa thanh bần, dễ
dàng chịu đựng” được đổi thành “Sống biết đủ,
dễ dàng thỏa mãn” vì câu chữ rất sát bản dịch của
Ngài Nyanaponika và cũng không lệch với câu dịch lấy
từ thư viện Hoa Sen: “Tri túc, dễ nuôi (sống giản
dị, để cho người thiện tín dễ dàng hộ trì).
Nội
dung của Kinh Từ Bi có thể tóm gọn như sau:
Để
đạt được hạnh phúc và thoát khỏi luân hồi, Phật tử
phải có đầy đủ Trí và Đức.
Thứ
nhất, Phật tử cần phải tu học để phát triển trí tuệ
và nhận thức.
Thứ
hai, Phật tử phải mở rộng từ tâm đến tất cả mọi loài
Thứ
ba Phật tử phải mạnh dạn lãnh trách nhiệm và hành động
vì lợi ích của chúng sinh
Thứ
tư, Phật tử phải cố gắng vươn lên đạt cho được giới
đức và trí tuệ cao vợi và dứt bỏ tham dục lạc để có
thể thoát khỏi vòng sinh tử.
Chúng
tôi xin đọc bốn câu đầu của bản kinh:
Ai
khôn ngoan muốn tìm hạnh phúc
Và
ước mong sống với an lành
Phải
tài năng, ngay thẳng, công minh
Với
những lời dạy ấy đức Phật đã nhắn nhủ rằng để sống
hạnh phúc và an lành người Phật tử phải tự phát triển
nội lực, phải trau dồi thuần thục những đức hạnh tốt.
Đây là “điều kiện cần” trước khi ban vui cứu khổ và
“tài năng” đứng ở vị trí hàng đầu. “Tài năng” hoặc
“khả năng” (tùy theo bản dịch), theo chú giải của ngài
Nyanaponika là sự thâm nhập vào những sự thật mà cụ thể
là sự quán triệt bốn sự thật trong Tứ Diệu Đế.(25) Theo
chú giải ấy “tài năng” có thể xem là khả năng nhận
thức sáng suốt.
Trong
lãnh vực môi trường, với suy nghĩ đúng theo phương pháp
luận của Tứ Diệu Đế, từ “khổ” sang “nguyên nhân
của khổ” đến “con đường diệt khổ” và “sự chấm
dứt của khổ”, người Phật tử sẽ lãnh hội dễ dàng
những thông tin và nhận định đa chiều về ô nhiễm và suy
thoái của môi trường, về sự phân cấp phân tầng xã hội
v..v.. Từ đó sẽ không còn mấy khó khăn để tìm ra những
giải pháp, những hành động thiết thực và hợp với khả
năng mình trong việc cứu trợ môi trường trên địa bàn trước
mặt hay trên địa bàn vùng.
Thâm
nhập vào Tứ Diệu Đế cũng là thâm nhập vào Nguyên lý Duyên
khởi, là thấy được mạng lưới tương quan, tương duyên,
tương tác, tương sinh giữa các sự vật và hiện tượng.
Nhờ vậy có thể ý thức rằng, một con người (hay một sự
vật) đứng tại một điểm nào đó trong mạng lưới dày
chằng chịt và vô thủy vô chung này, không thể được xem
là một kẻ đứng giữa, đứng tại trung tâm của mọi sự
vật chung quanh (như người ta vẫn thường nói: “môi trường
chung quanh”). Con người chỉ có thể “đứng cùng”,
“đứng với”, đứng một cách bình đẳng với muôn loài
trong môi trường, trong toàn thể hệ sinh thái Địa Cầu.
Bản
thân chúng tôi cũng không thoát khỏi thuật ngữ môi trường
như một hoàn cảnh chung quanh. Song riêng cho mình, chúng tôi
thích thay khái niệm “môi trường” bằng khái niệm “thế
giới đồng hiện hữu”. Chúng tôi chỉ có thể “đứng
cùng” hay “đứng với” vạn hữu. Đây là một khái niệm
lạ song thiết nghĩ nó hợp với Nguyên lý Duyên sinh, hợp
với cái nhìn về tính toàn thể của hệ sinh thái Địa Cầu,
hợp với nội dung mở rộng của sự bảo vệ môi trường
và nhất là hợp với nội dung “Từ Bi” và tâm nguyện làm
Phật tử của mình. Khái niệm này giúp chúng tôi thấy rõ
hơn nghiệp báo đồng thời và dị thời, nhìn thấy môi
trường “trả lui lại” lại cho con người tất cả những
gì tốt hay xấu mà con người đem đến cho nó.
“Phải
có tài năng” là một đòi rất cao về mặt trí tuệ. Phải
có trí tuệ mới nhận thức được những mối quan hệ hỗ
tương trong cuộc sống để vững lòng và tinh tấn thực hiện
hạnh Bố thí :
“Đem
an vui đến cho muôn loài
Cầu
chúng sinh thảy đều an lạc.”
Trong
câu “Phải tài năng ngay thẳng công minh” chúng ta thấy bên
cạnh “tài năng” còn có hai đức tính ngay thẳng và công
minh nhưng không phải chỉ bấy nhiêu thôi. Kinh Từ Bi còn liệt
kê một loạt đức tính thiện khác để làm trang bị cho kẻ
đi tìm hạnh phúc. Chúng là:
“Nghe
lời phải, dịu dàng khiêm tốn.
Sống
biết đủ, dễ dàng thỏa mãn
Ít
bận rộn, vui đời giản dị
Chế
ngự giác quan và thận trọng
Không
liều lĩnh, chẳng mê tục lụy
Không
chạy theo điều quấy nhỏ nhoi
Mà
thánh hiền có thể chê bai”
Những
đức tính thiện này giúp con người ứng xử tốt với người
và giữ được mình trong giới hạn không tự làm tổn hại
mình hay gây tổn hại cho người.
Chúng
tôi xin nói thêm về sự “sống biết đủ”. Sống biết
đủ là sống chừng mực, trung dung giữa những thiếu thốn,
bần hàn và xa hoa, lãng phí. “Biết đủ” ngụ ý khuyên
rằng nên giới hạn sự xa hoa, phung phí.
Xin
nêu một ví dụ nhỏ về một hộp kẹo xô-cô-la để minh
họa sự lợi và hại về măt kinh tế và môi trường.
Mỗi
viên kẹo xô-cô-la đều được bọc trong một lớp giấy màu,
có trường hợp còn được bọc thêm bên ngoài một lớp giấy
trong. Những viên kẹo được đem đi bao bì. Trước hết chúng
được đặt vào một khuôn nhựa êm rồi được phủ lên
trên bằng lớp giấp xốp. Sau đó, tất cả đều được để
vào một hộp giấy với mẫu mã và màu sắc đẹp tươi. Hộp
giấy lại được bao thêm bằng một lớp giấy kính. Khi hộp
xô-cô-la được mang tặng, nó lại được bao thêm một lần
nữa bằng giấy hoa sặc sỡ và được ràng xung quanh bằng
giây kim tuyến có kèm theo một đóa hoa nhân tạo.
Đối
tượng của sự sản xuất là kẹo sô-cô-la. Người tiêu thụ
cuối cùng là kẻ ăn xô-cô-la. Sự bao bì không có chức năng
nào khác ngoài sự phục vụ cho nghi thức giao tiếp và thị
hiếu thẩm mỹ. Giao tiếp càng lịch thiệp, càng kiểu cách,
càng “cao cấp” như thế nào thì bao bì càng trang trọng,
càng xa hoa lộng lẫy. Cái giá trị “giản dị” không có
chỗ đứng trong xã hội xa hoa và lãng phí. Các công đoạn
bao bì kiểu cách nói trên thực ra chỉ đem lợi cho các nhà
sản xuất và cung cấp nguyên liệu. Họ đã nhờ các nhà tâm
lý học và thiết kế mẫu mã tư vấn trong việc khai thác
thị hiếu và nếp sống bề mặt của con người.
Bao
bì, giấy gói, giây nhợ, màu sắc, hoa hoè đều chỉ đáp
ứng cho nhu cầu lễ nghĩa trong chốc lát. Cuối cùng chúng
đều thành rác, những thứ rác khó phân hủy. Khi bị đốt
khói bụi của chúng sẽ gây ô nhiễm cho môi trường.
Trong
quy trình chế tạo những sản phẩm bao bì, nhà sản xuất
phải dùng thêm nguyên liệu và năng lượng. Phế liệu, chất
thải và khói bụi từ nhà máy càng gây thêm ô nhiễm lớn
cho đất, cho không khí, cho thủy vực và cho những kẻ không
ăn xô-cô-la.
Chúng
ta nghĩ sao về những con thống kê chỉ rõ rằng khoảng 20%
dân số thế giới (chủ yếu tại các nước công nghiệp)
tiêu thụ khoảng 80% năng lượng toàn cầu. Và khoảng 80% dân
số thế giới (tập trung tại các nước đang phát triển)
chỉ tiêu thụ khoảng 20% năng lượng toàn cầu? Ai chịu trách
nhiệm nặng nề về khí thải ô nhiễm?
Chúng
ta đánh giá như thế nào đối với người hài lòng trả thêm
tiền cho bao bì song lại rất do dự trong việc cho vài đồng
để cứu đói.
Những
lời kêu gọi con người “phải thay đổi quan niệm sống”
và “quan niệm về giá trị từng quen hiểu xưa nay”, “phải
giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và
tiêu dùng”(26) và (27) quả thực mát lòng cho kẻ nặng nghiệp
bảo vệ môi trường. Cụ thể phải thay đổi như thế nào?
Phải
sống “biết đủ” và “giản dị” như Kinh Từ Bi đã
dạy. Đó là nếp sống rất đáng để cho Phật tử quan tâm
suy ngẫm.
Xin
đọc tiếp Kinh Từ Bi :
Đem
an vui đến cho muôn loài
Cầu
chúng sinh thảy đều an lạc.
Không
bỏ sót một hữu tình nào
Kẻ
ốm yếu hoặc người khỏe mạnh
Giống
lớn to hoặc loại dài cao
Thân
trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.
Có
hình tướng hay không hình tướng
Ở
gần ta hoặc ở nơi xa
Đã
sinh rồi hoặc sắp sinh ra
Cầu
cho tất cả đều an lạc.
Đoạn
kinh này nêu rõ những đối tượng của sự đem vui cứu khổ
là những ai.
Đó
là những chúng sinh khác nhau từ hình tướng đến thể lực:
to lớn, dài cao, ngắn, nhỏ, thô, không có hình tướng, ốm
yếu và khoẻ mạnh. Chúng phân phối trên các không gian sống
khác nhau (ở gần hay ở xa) và hiện hữu qua các thời gian
khác nhau (đã sinh hoặc sắp sinh).
Thứ
nhất, đoạn kinh đã vẽ lên trước mắt chúng ta một bức
tranh về các giống loại đa dạng. Từ đó chúng ta có thể
liên tưởng đến những hoàn cảnh sống khác biệt của chúng
sinh.
Tình
thương “không bỏ sót một hữu tình nào” là tình thương
tỏa rộng đến tất cả mọi giống loại, xuyên suốt cả
không gian lẫn thời gian, trùm lên thế giới hữu hình lẫn
vô hình. Đây cũng là tình thương vô ngại, bình đẳng,
mở rộng cùng khắp vạn vật và vũ trụ. Đức Phật há chẳng
dạy đệ tử: “Hãy du hành vì hạnh phúc của quần sanh,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài
người” đó sao? (28)
Lời
khuyên “Tung rải từ tâm khắp vũ trụ” trong Kinh Từ Bi
cũng nói lên yêu cầu mở rộng tình thương đến chỗ vô
cùng.
Thứ
hai, đoạn kinh khuyên Phật tử một cách gián tiếp rằng không
nên để cho hình tướng bể ngoài che lấp cái giá trị nội
tại của chúng sinh. Giá trị nội tại này là sự sống bình
đẳng, là Phật tính ẩn bên sau các dáng vẻ dài ngắn, nhỏ
thô, khoẻ mạnh, ốm yếu.
Về
mặt tâm lý, hình dáng xinh đẹp thường dễ gây được mối
thiện cảm và sức thu hút. Hình dạng dị hợm dễ tạo ra
ngăn cách và dị ứng. Nhiều người sợ những con sâu lông
lá đến dựng tóc gáy, những con sên nhũn nhùn ơn ớn, những
con nhện khủng khiếp, dù chúng chẳng làm gì mình. Không những
chỉ sợ mà còn ghét nữa.
Với
tâm lý như vậy thì tình thương rộng lớn là thuốc lành
trị liệu, giúp con người vượt qua bức tường ớn sợ và
xoá dần sự ngăn cách với chúng sinh. Như vậy tình thương
rộng lớn có công năng giúp đỡ con người thiết lập lại
mối quan hệ “tử tế”, “thân thiện” với thiên nhiên
để từ đó có thể hội nhập lại với toàn thể hệ sinh
thái Quả Đất.
Thứ
ba, thật là kỳ diệu khi tình thương lan tỏa đến cả chúng
sinh “sắp sinh ra” mà mặt mũi chưa được biết như thế
nào. Chúng ta có thể hình dung tình thương vô biên như sợi
giây xuyên suốt nối kết lại tất cả chúng sinh trong cùng
một thế hệ, nối kết lại tất cả chúng sinh thuộc nhiều
thế hệ - từ hiện tại đến tương lai - và nối kết lại
tất cả chúng sinh có “hình tướng” với chúng sinh “không
hình tướng” thành một mạng lưới của sự sống đa dạng.
Tuy đa dạng song bình đẳng trong sự ham sống sợ chết, trong
cốt lõi có mang Phật tính.
Trong
mạng lưới của tình thương vô biên, không có sự khinh trọng
riêng một loài nào, không có sự giết hại tàn nhẫn một
loài nào, không có sự đánh giá một loài nào như hàng hóa
sinh lợi. Đây là mạng lưới lý tưởng cùng tột nói lên
giá trị nội tại bình đẳng của muôn loài. Mạng lưới
này khác hẳn mạng lưới của loài người “giữa các thế
hệ hiện nay và tương lai” mà mối giây liên kết mọi thế
hệ là sự “đáp ứng một cách bình đẳng những nhu
cầu về phát triển và môi trường”.(29)
Thú
tư, sự đa dạng của các loài luôn luôn gắn liền với sự
đa dạng của hoàn cảnh và số phận. Chỉ có trí tuệ sáng
suốt mới cho ta thấy rõ được từng cảnh ngộ và từng
số phận. Chỉ có lòng thương vô biên mới thấm nhuần xuyên
suốt vào từng hoàn cảnh và số phận. Chỉ có trí tuệ sáng
suốt với lòng thương vô biên mới khiến cho người Phật
tử nhạy cảm trước từng cảnh ngộ, với từng số phận
để có thể đem vui và cứu khổ hữu hiệu. Sống với tình
thương vô biên là sống thân thiện và đoàn kết.
Thứ
năm, với lòng nhạy cảm và đem vui cứu khổ chúng sinh, Phật
tử không nỡ bỏ qua số phận nào và không nỡ tàn hại sinh
mạng nào. Hệ quả hiển nhiên là sự từ khước quan niệm
làm chủ và thống trị vạn vật. Nơi nào còn có áp lực,
còn có sợ hãi, còn có giết hại dưới sức nạnh của thống
trị thì nơi đó chưa có hạnh phúc chân thật. Bởi vậy đức
Phật dạy: hạnh vô úy thí là hạnh cao nhất, giới sát sinh
là giới đứng đầu mọi giới cấm.
Kinh
Pháp cú 129 ghi rõ:
Tất
cả mọi người
Cùng
sợ dao gậy
Và
sợ chết chóc
Cứ
tự coi mình
Mong
muốn thế nào
Thì
biết người khác
Cũng
muốn như vậy.
Chớ
có tự mình
Hay
xúi người khác
Làm
việc giết hại (30)
Sống
với tình thương vô biên là sống không gây áp lực, gây sợ
hãi, giết chóc,; sống trong niệm hoà bình.
Thứ
sáu, với tình thương rộng lớn Phật tử chắc chắn ca ngợi
và có thể tiếp tay trong sự “hợp tác trong tinh thần chung
lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục
hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ xủa hệ sinh thái Trái
Đất.(31) Phật tử chắc chắn cũng ca ngợi sự “hợp tác
- của các nước - để phát huy hệ thống kinh tế thế giới
thoáng và giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến sự phát triển kinh
tế và phát triển bền vững (…), để nhằm đúng hơn vào
những vấn đề thoái hóa của môi trường”.(32)
Thứ
bảy, trên bình diện xã hội loài người, sự chia cơm xẻ
áo, sự xoá bỏ ngèo nàn, sự lấp hố sâu phân chia xã hội
giàu nghèo sẽ được giải quyết tốt đẹp với tâm Từ
Bi. Xoá bỏ nghèo nàn và phân chia xã hội là mục tiêu hàng
đầu của các Hội nghị Thượng đỉnh, cũng là của cộng
đồng các quốc gia trên thế giới. Biết đâu rồi đây tình
thương vô biên sẽ trở thành động lực cốt lõi để hội
tụ và vận hành các chính sách, các chương trình, các công
cụ như luật pháp, quy hoạch, tài chánh, nhân lực, kỹ thuật
để có thể đạt được kết quả mong muốn, điều mà Chiến
lược Phát triển bền vững hướng đến.
Chúng
tôi xin đọc tiếp Kinh Từ Bi :
“Với
ai và bất luận ở đâu
Không
lừa dối, chẳng nên khinh dễ
Lúc
căm hờn hoặc khi giận dữ
Đừng
mưu toan gây khổ cho nhau
Như
mẹ hiền thương yêu con một
Dám
hi sinh bảo vệ cho con
Với
muôn loài ân cần không khác
Lòng
ái từ như bể như non”
Đoạn
kinh này chủ yếu nhắm vào con người. Lừa dối, khinh dễ
và giận dữ là ba tính bất thiện. Chúng làm mất sự tin
cậy, mất đoàn kết, mất an vui và mất hoà bình giữa con
người và xã hội. Chúng trái ngược với hạnh Từ Bi. Phật
tử đều biết câu: Lửa sân hận thiêu trụi cả rừng công
đức.
Khổ
đầu của đoạn kinh là lời khuyên vừa mang tính ngăn ngừa
trước những điều bất thiện có thể phát sinh vừa chận
đứng lại những điều bất thiện đã phát sinh, không để
chúng trở nên trầm trọng tạo thêm quả báo nặng nề hơn
do “mưu toan gây khổ cho nhau”.
Nhìn
kỹ, đây cũng là yêu cầu phải thực tập hạnh tinh tấn
gồm hai vế tích cực và tiêu cực và bốn nội dung: không
để phát sinh điều bất thiện, diệt điều bất thiện đang
hiện hữu. Làm nảy nở điều thiện và phát triển điều
thiện đang hiện hữu. Điều bất thiện luôn luôn là trở
ngại trong quá trình thực hiện Từ Bi .
Khổ
kế tiếp của đoạn kinh đã, cụ thể hóa lòng Từ Bi bằng
tình thương yêu của người mẹ hiền dành hết cho đứa con
duy nhất của mình. Đây là tình thương yêu không bờ bến,
rất mãnh liệt khiến người mẹ dũng cảm lấy trách nhiệm
bảo vệ cho con, dám hy sinh vì con. Đối với muôn loài, Kinh
Từ Bi cũng khuyên Phật tử nên hành động như vậy
Trong
khía cạnh bảo vệ môi trường sinh thái, Hans Jonas, một triết
gia nổi tiếng về đạo đức sinh thái, đã đưa nguyên tắc
hành động có trách nhiệm đối với sự sống của con người
qua câu nói được tạm dịch như sau: “Bạn hãy hành động
sao cho những tác động dễ hòa hảo với sự sống thường
trực và thực sự của con người trên Quả Đất” (33)
Đức
Phật đã từng dạy đệ tử cách hành xử “bất hại”
(ahimsa) đầy trách nhiệm đối với người và thiên nhiên:
“Như
ong đến với hoa
Không
hại sắc và hương
Che
chở hoa lấy nhụy
Bậc
thánh đi vào làng”
(Kinh
Pháp cú, kệ 29)
Bất
hại chứa đựng ý nghĩa biết tôn trọng khách thể , vừa
không xâm phạm hay làm tổn hại khách thể vừa che chở cho
khách thể. Như vậy hành động bất hại mang tính hợp tác
và cộng sinh như ong với hoa: không hại sắc, không hại hương
và che chở hoa.
Johnas
nói về tác động của hành động: tác động dễ hoà hảo
(hay hài hòa). “Dễ hoà hảo” là thế nào. Không thể đánh
giá chính xác được. Trách nhiệm mà Jonas nói đến là trách
nhiệm uyển chuyển rất khó đánh giá. Trong khi ấy hành động
“bất hại” có tiêu chuẩn rõ rệt: không hại sắc, không
hại hương và che chở hoa như ong với hoa. Hành động bất
hại mang tính rốt ráo không khác nào hành động của “người
mẹ hiền thương yêu con một, dám hy sinh bảo vệ cho con”.
Chỉ có hàng Bồ Tát mới thực hiện nổi. Thiết nghĩ, người
mẹ hiền với tình thương vô bờ bến đối con, dám hy sinh
vì con cũng có thể xem như là vị Bồ tát của đứa
con.
Thật
lô-gích khi đức Phật khẳng định trong đoạn kinh cuối cùng
rằng người Phật tử sẽ “thoát khỏi luân hồi” nếu
tiếp tục phát triển tình thương đến tận vô biên và
“Đủ
giới đức, trí tuệ cao vời
Và
dứt bỏ lòng tham dục lạc”
Sống
bất hại, sống hy sinh vì mọi loài một cách rốt ráo thật
không dễ bởi vì con người là thành viên của cộng đồng
sinh vật trên Trái Đất. Sự sống còn và phát triển của
con người hoàn toàn tùy thuộc vào thực phẩm, nước uống
và không khí của Trái Đất. Vì vậy mọi hành động nuôi
dưỡng và phát triển sự sống không thể nào tránh khỏi
sự xâm phạm trực tiếp hay gián tiếp đến loài này hay loài
khác thuộc giới động vật hay thực vật. Thực hiện rốt
ráo hạnh “bất hại” đối với hàng Phật tử tại gia
thực vô cùng khó khăn.
Chúng
tôi ý thức rõ rằng mình là kẻ sơ cơ nặng nghiệp nên không
thể lớn lối phạm thượng bàn vào nội dung của mấy khổ
kinh cuối cùng, mà chúng tôi nghĩ rằng đó nội dung lý tưởng
của hàng Bồ Tát.
Chúng
tôi xin đọc tiếp những câu chót để giữ sự tròn vẹn
của bản kinh.
Tung
rãi từ tâm khắp vũ trụ
Mở
rộng tình thương không giới hạn
Từng
trên, phía dưới và khoảng giữa
Không
vướng mắc oán thù ghét bỏ
Khi
đi, khi đứng hoặc nằm ngồi
Hễ
lúc nào tinh thần tỉnh táo
Phát
triển luôn dòng chính niệm này
Là
đạo sống đẹp cao nhất đời
Đừng
để lạc vào nơi mê tối
Đủ
giới đức, trí huệ cao vời
Và
dứt bỏ lòng tham dục lạc
Được
như thế thoát khỏi luân hồi.
Tóm
lại, Kinh Từ Bi ra một con đường tu học cao đẹp để
Phật tử hướng đến một đời sống lý tưởng. Nội dung
của đời sống lý tưởng này bao gồm: mở rộng trí tuệ
và nhận thức để thấy được mạng lưới tương quan tương
duyên giữa vạn vật và mọi hiện tượng; mở rộng tình
thương đến muôn loài; thấy rõ tính bình đẳng của sự
sống; đạt được hoà bình của nội tâm; đóng góp cho hoà
bình và văn minh nhân loại; gìn giữ tính toàn vẹn của các
hệ sinh thái Quả Đất; sống thân thiện với mọi loài; chuyển
dần những thói quen sống lãng phí có hại cho môi trường,
sống biết đủ và giản dị nhằm cởi trói những lệ vào
nếp sống bề ngoài; đóng góp phần bé nhỏ của mình vào
việc kiến tạo sự nghiệp văn minh và hoà bình cho nhân loại
mà cộng đồng các quốc gia trên thế giới đang góp sức
xây dựng.
6.
Vài khó khăn cần vượt qua
Thể
hiện những điều nêu trên đây không phải là một việc
dễ. Trong đời sống thiết thực hiện tại sự học tập
và triển khai một nghề nghiệp trong sáng theo quan niệm
"Ngũ Minh" - để có thể góp phần phát triển kỹ thuật trong
sáng và thức ăn sạch - là một việc khó làm. Càng khó làm
hơn nữa là công nhận và thực hiện sự bình đẳng giới
tính, điều mà các Hội nghị quốc tế không ngừng đòi
hỏi. Lấy Trí và Đức để làm thước đo, để đối đãi
với nhau có lẽ là một giải pháp ổn thỏa. Trí và Đức
là hai điều quyết định ai là kẻ xứng đáng làm người
“Bà La Môn” như kinh Phật đã dạy.
7.
Kết luận
Con
đường tu học và thể hiện Từ Bi là một con đường khó
khăn và dài vô tận đối với Phật tử tại gia, nhất là
khi gặp những hoàn cảnh mâu thẫn giữa „ta“ và „đối
tượng bên ngoài“.
Chiến
lược „Phát triển bền vững“ được xem là chiến lược
dài hạn, không phải chỉ cho thế kỷ mà cho cả thiên niên
kỷ. Quyết tâm hành động của những người theo đuổi việc
thể hiện các mục tiêu lý tưởng mà cộng đồng các nước
trên thế giới đã đề rất đáng để người Phật tử suy
ngẫm mỗi khi đọc lời nguyện: „Chúng sinh vô biên thệ
nguyện độ. Phật đạo vô thượng thệ nguyên thành“.
Kinh
Từ Bi là một bản kinh kỳ diệu. Nội dung của Kinh có thể
tóm gọn trong một câu:
Muốn
được hạnh phúc và an lành cho mình thì trước hết phải
đem hạnh phúc và an vui đến cho người trước đã.
Chú
thích
1.
“Intergovermental conference of experts on the scientific basis for rational
use and conservation of the resources of the biosphere”, Paris, từ
04.-13. tháng 9 năm 1968
2.
Cục Môi trường: Hành trình vì sự phát triển bền vững
1972-1992 – 2002, Hà Nội, 2002, tr.12.
3.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Stockholm về môi trường con
người, tr. 13.
4.
Stiftung Entwicklung und Frieden: Sau Hội nghị Thượng đỉnh (Nach
dem Erdgipfel), Bonn 1993, tr. 211-252
5.
Stiftung Entwicklung und Frieden: sđd, tr.174
6.
Cục Môi trường, sđd: Diễn văn khai mạc của Phó Tổng Thư
ký Liên Hợp Quốc Nitin Desai tại Hội nghị Thượng đỉnh
thế giới về phát triển bền vững, tr. 30
7.
Cục Môi trường, sđd: Phát biểu bế mạc của Tổng Thư ký
Liên Hợp Quốc Kofi Annan tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế
giới về Phát triển bền vững, tr. 42
8.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên Bố Johannesburg về Phát triển
bền vững, nguyên tắc 2 và 3, tr. 24
9.
Cục Môi trường, sđd: Phát biểu chào mừng của Tổng Thống
Nước Cộng Hoà Nam Phi Thabo Mbeki tại Hội nghị Thượng đỉnh
Thế giới về Phát triển bền vững, tr. 38
10.
Cục Môi trường, sđd: Diễn văn khai mạc của Nitin Desai, tr.
31
11.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Johannesburg, tr. 26
12.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Stockholm, tr. 12-16
13.
Sàntideva: Bodhicarỳavatàra (Nhập hạnh Bồ Tát), Việt dịch:
Nguyên Hiển, Chương 6: Nhẫn nhục, điều 31, XB: Hội Phật
học Phổ Minh, 2005, tr. 61
14.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên Bố Johannesburg, điều 12 và 13,
tr. 25
15.
Cục Môi trường, sđd, Tuyên bố Johannesburg, điều 13, tr. 25
16.
Cục Môi trường, sđd; Tuyên bố Johannesburg, điều 12, tr. 25
17.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Rio, nguyên tắc 9, tr. 20
18.
IUCN (Hiệp hội Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên), UNEP (Chương
trình Môi trường Liên Hợp Quốc) WWF (Quỹ Quốc tế về Bảo
vệ Thiên nhiên): Cứu lấy Trái Đất (việt dịch từ Caring
for the Earth), Hà Nội, 1993
19.
IUCN, UNEP, WWF, sđd: tr. 19
20.
IUCN, UNEP, WWF, sđd: tr. 55
21.
Schweizer, A. Kultur und Ethik (Văn hoá và Đạo đức), câu:“
Ethik ist ins Grenzlose erweiterte Verantwortung gegen alles, was lebt“,
München 1990, tr.332
22.
Boff, Leonardo: Quả Đất: Ngôi nhà của chúng ta (Unser Haus: die
Erde, H. dịch sang Đức ngữ từ nguyên văn Bồ Đào Nha), Düsseldorf
1996, tr. 219
23.
Hội Phật tử Việt Nam tại Pháp,Thiền đường Trúc Lâm:
Nghi Thức Lễ Phật- Kinh Từ Bi, Paris 1978, tr. 14-16
24.
Nyanaponika, Mahathera: Sutta-Nipàta, Konstanz 1977, tr.58-59
25.
Nyanaponika, M., sđd: tr. 256
26.
IUCN, UNEP, WWF, sđd: tr.14
27.
Cục Môi trường, sđd: Truyên bố Rio, nguyên tắc 9, tr. 20
28.
Tương Ưng I, tr. 128
29.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Rio, tr. 9
30.
Trí Quang (biên tập): Pháp Cú Nam Tông, Kệ 129, Ấn tống 2002,
tr. 64
31.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Rio, nguyên tắc 2, tr. 19
32.
Cục Môi trường, sđd: Tuyên bố Rio, nguyên tắc 12, tr. 20
33.
Jonas, Hans: Das Prinzip der Verantwortung. Versuch einer Ethik für die
technologische Zeit (Nguyên lý của trách nhiệm, Thử tìm một
đạo đức cho thời đại công nghiệp) Frankfurt a. M. 1984, tr.
36