A.
LỜI MỞ ĐẦU
Thời hậu hiện đại là một minh chứng cho sự phát triển
tột đỉnh trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, nhưng sự suy
thoái về tư cách và đạo đức cũng theo đó len lỏi vào.
Quan điểm này đã được học giả nổi tiếng P.A. Payutto
phát biểu rất thuyết phục rằng:
Cùng
với sự tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt cái gọi là kỹ
thuật cao đề cập đến những thông tin liên lạc, ngày càng
nhiều những công cụ làm việc mang lại hiệu quả vì tính
tham lam và lòng sân hận. Ngành kỹ thuật đã trở thành tai
sai của sự tham lam và lòng căm hờn, sự tiến bộ kỹ thuật
trong hình thức phát triển công nghiệp hầu như không giới
hạn. Ngành khoa học, công nghệ và sự tiến bộ kỹ thuật
thông tin liên lạc thường ru ngũ con người vào trong sự tiêu
hũy, đần độn và say sưa lơ đà hơn là sự phát triển cá
nhân hoặc sự quân bình cuộc sống. Chúng được sử dụng
như những công cụ để mưu cầu mục đích khát vọng, và
với việc làm như thế, khiến phát khởi lòng sân hận vì
sự ganh đua mà chúng tạo ra.[1]
Ngài cũng nhận định với giọng nhấn mạnh và than phiền
rằng sự phát minh khoa học kỹ thuật như những công cụ
mưu cầu mục đích khát vọng hơn là sự phát triển nội
tâm con người, và rằng con người ở thế kỷ 20 gây ra nhiều
hành vi nguy hại làm ảnh hưởng đến bản chất con người
của thế kỷ 21. Đó là một di sản của những vấn đề
nan giải mà con người của thế kỷ 21 sẽ phải đối phó.[2]
Trên thực tế, di sản mà con người đề cập chính là những
vấn đề rất nghiêm trọng về sự gia tăng dân số, sự thoái
hóa tài nguyên thiên nhiên và sự khủng hoảng môi trường,
đang đe dọa nền tảng của sự sống trên hành tinh này, như
Ngài H. H. Dalai Lama thứ 14 đã đề cập.[3] Hay nói cách khác,
từ sự khủng hoảng đạo đức con người, nó đưa đến
những sự việc trầm trọng như: sự khủng bố và bạo động;
chứng bệnh nan y và nguy hiểm của HIV/AIDS; bệnh đồng tính
luyến ái; sự hờ hững về nhân quyền và các loài sinh vật;
… Tất cả đều xuất phát từ ba phiền não (tham, sân, si)
của con người. Vì nhu cầu danh lợi, địa vị xã hội, tiền
tài, vật chất, chức tước, và nhiều sự mong muốn khác
khau,… trong cuộc sống hiện đại; con người đã trở thành
tay sai cho sự tham lam, sân hận và si mê. Mặc dù, vị ấy
có thể chiến thắng và chinh phục thiên nhiên bằng tất cả
những loại phát minh khoa học tiên tiến, nhưng vẫn bị khuất
phục và trói buột bởi sự đau khổ của sanh, già, bệnh
và chết trừ khi vị ấy biết tôn trọng và duy trì sự tu
tập đạo đức và nội tâm.
Đứng trước những tình huống hiện nay, làm thế nào để
đối phó với cái gọi là những làn sóng văn minh vật chất
đang tấn công con người từ nhiều phương diện khác nhau?
Làm thế nào để duy trì truyền thống gia đình, nhân cách
và trật tự xã hội? Đề tài “Vai Trò của Tu Sĩ Phật Giáo
ở Xã Hội Đương Thời” không chỉ mở ra một tầm nhìn
mới mẽ, năng động và sáng tạo về hình ảnh người tu
sĩ Phật giáo trong thời đại mới, với những phương tiện
thiện xảo về sự tu tập và tham gia xã hội, mà còn đóng
góp cho sự phát triển xã hội, Phật giáo, Tăng đoàn trong
hiện tại và tương lai.
B.
VAI TRÒ CỦA TU SĨ PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI MỚI
Như chúng ta biết, ngoài việc xiển dương Phật pháp đến
số đông, những vị tu sĩ Phật giáo với vai trò năng động
tích cực nhập thế bằng những phương tiện thiện xảo,
cần phải tham gia và đóng một vai trò quan trọng cần thiết
trong việc xây dựng nền văn minh lành mạnh qua nhiều phương
diện giáo dục, văn hóa, đạo đức, từ thiện, và xã hội
vì an lạc hạnh phúc cho con người. Một quan điểm tích cực
và năng động như thế được vị thiền sư D.T. Suzuki
diễn đạt rất thuyết phục rằng:
Trong
những ngày nay, chùa chiền Phật giáo là những trường học,
bệnh viện, phòng khám bệnh, trại mồ côi, nơi nương tựa
của những người già; và những vị tu sĩ là những vị giáo
viên, y tá, bác sĩ, kỹ sư, người quản lý nhà trọ miễn
phí, những người trồng trọt, những nhà thám hiểm ở vùng
hoang dã, …Khi cộng đồng đang trong giai đoạn tiến triển
ban sơ, những người đệ tử Phật là những nhà lãnh đạo
trong mỗi chiều hướng, và chính quyền tự nhiên khuyến khích
về hoạt động của họ.[4]
Thêm vào đó, Ngài Ajahn Tiradhammo Thera đã tô điểm thêm một
đoạn phát biểu rất lập luận trong lời nói đầu của ngài:
Một
người đệ tử Phật, đối với tôi không chỉ là người
nào đó đơn thuần nằm lòng những thể thức đúng đắn
hoặc phải mặc đồng phục cần phải có, mà còn là người
sống một đời sống hành thiện trên tinh thần đúng với
lẽ phải. Đây là toàn bộ mục đích tối thượng về lời
dạy của đức Phật. Một nhà hoạt động xã hội khi ấy
là người luôn sống với trí tuệ và lòng từ trong khung cảnh
xã hội; học tập để chia sẻ kho tàng tâm linh vị tha với
tất cả chúng sanh.[5]
Hai quan điểm này không chỉ đủ để thuyết phục những
quan điểm khác, mà còn đủ để khẳng định vai trò tích
cực và khéo léo của người tu sĩ Phật giáo ngày nay. Theo
quan điểm của người viết, vai trò của người tu sĩ Phật
giáo lý tưởng trong thời đại mới sẽ được biểu lộ
qua hai phương diện, đó là phương diện đạo đức và xã
hội. Phương diện đạo đức và trí tuệ thuộc về tự lợi
đề cập đến những nhu cầu tu tập và phát triển đạo
đức cá nhân đối với người tu sĩ Phật giáo. Phương diện
xã hội chính là tinh thần lợi tha liên quan đến vai trò tham
gia xã hội của người tu sĩ với những phương tiện thiện
xảo. Vai trò này sẽ được biểu hiện qua mỗi phong cách
khác nhau như sau:
1.
NHƯ LÀ MỘT ‘BHIKKHU’
Khi đề cập đến thuật ngữ ‘Bhikkhu’, nó được dịch
từ chữ Pāli với ý nghĩa người được cứu tế, người
hành khất, người tu sĩ Phật giáo, hoặc vị linh mục;[6]
và chữ Sanskṛit là ‘Bhikṣu’ với nghĩa là vị ăn xin,
người hành khất Phật giáo, hay là vị tu sĩ.[7] Theo nguyên
từ, nó được bắt nguồn từ gốc Sanskrit là ‘bhikṣ’
có nghĩa là yêu cầu, mong muốn, cầu xin điều gì, … Vì
vậy, nó có nghĩa là người xin những nhu cầu cần thiết,
đặc biệt xin người khác; hoặc nói khác, nó có nghĩa là
người hành khất tôn giáo.[8]
Theo quan điểm Phật giáo, đức Phật giải thích rất ngắn
gọn rằng một Tỳ kheo được gọi chính thức với sự đầy
đủ giới hạnh (Pāli: Sīla; Skt: Śīla’)[9] và trí tuệ (Pāli:
Paññā; Skt: Prajñā).[10] Hay nói rõ hơn, là một tu sĩ chân
chính khi vị ấy không những xa rời sự tham dục và những
trạng thái xấu ác, mà còn thể nhập vào 4 trạng thái của
thiền định (Skt: Dhyānas; Pāli: Jhānas). Người tu sĩ như thế
đáng được kính trọng và được gọi là vi tu sĩ chân chính.[11]
Hơn nữa, vị Tỳ kheo nên làm những công việc đáng làm như
sự tu tập về đức tính tàm quý, về thân-khẩu-ý hành thanh
tịnh, về mạng sống thanh tịnh, sự phòng hộ các căn, sự
tiết độ trong ăn uống, sự chánh niệm và tỉnh giác;[12]
và phải sống như hòn đảo của chính mình, hãy nương tựa
chính mình, không nương tựa ai khác, … để giải thoát mọi
tham dục và phiền não thông thường ở đời.[13] Cuối cùng,
đức Phật kết luận lời dạy của Ngài rằng [14] một tu
sĩ Phật giáo hoàn hảo được đức Phật đề cập với 8
đặc tính:
Khi
nào, này các Tỳ kheo, vị ấy có lòng tin, có giới, có nghe
nhiều, có thuyết pháp, có sống với hội chúng, có vô úy
thuyết pháp cho hội chúng, với bốn Thiền thuộc tăng thượng
tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khăn, chứng được
không mệt mõi, chứng được không phí sức, do diệt tận
các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình
chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát,
tuệ giải thoát; như vậy, vị ấy được đầy đủ chi phần
ấy. Thành tựu 8 pháp này, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo được
tịnh tín hoàn toàn và được viên mãn về mọi phương diện.[15]
Noi theo quan điểm của đức Phật, Ananda Guruge một lần nữa
đã biểu lộ vai trò của người tu sĩ Phật giáo qua một
lối văn phong khác rằng bổn phận của người tu sĩ có đức
hạnh theo truyền thống là nghiên cứu giáo pháp, chú tâm vào
những công việc hàng ngày liên quan đến sự tôn thờ đức
Phật, phát triển lãnh vực tâm linh, vâng giữ các điều luật
về phẩm hạnh và cuộc sống hoàn hảo, …Đó là những nền
tảng về đời sống hoàn hảo của người tu sĩ.[16]
2.
NHƯ LÀ MỘT HÀNH GIẢ
Với vai trò như một hành giả Phật giáo trong thời đại
mới, vị ấy cần phải ứng dụng và thực hành nguyên tắc
tu tập cơ bản một cách tích cực linh động, đó là sự
tu tập Tam Vô Lậu Học (the Threefold Higher Training)
Trước khi tu học Tam Vô Lậu, người tu sĩ trong thời đại
mới nên duy trì đúng đắn tinh thần vô ngã, vô chấp, thiện
xão và khéo léo trong khi thực hành pháp và luật; và cần
thấu triệt nghiêm túc rằng lời dạy của đức Phật và
sự tu tập pháp luật giống như chiếc bè đưa con người
qua biển sanh tử đến bờ giải thoát. Vì thế, người hành
giả không nên cố chấp. Trong kinh Trung Bộ I, đức Phật dạy:
“Cũng vậy, này chư Tỳ kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè
để vượt đưa qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỳ
kheo, các ông cần hiểu ví dụ chiếc bè. Chánh pháp còn phải
bỏ huống nữa là phi pháp”.[17] Một phương diện khác tu
tập ứng dụng thích hợp cho vị tu sĩ ngày nay chính là tiến
trình dần dần tu tập tâm linh để đạt được trí và thức
hoàn toàn. Phương pháp này được đức Phật minh họa bằng
ví dụ về đại dương như sau:
Ví
như, này các Tỳ kheo, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần
tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình
như một vực thẳm. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, trong Pháp
và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thụ
là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể
nhập chánh trí thình lình.[18]
Sau khi thấu triệt tinh thần tu tập như ở trên, hành giả
bắt đầu thực hành nền tảng đầu tiên bằng sự tu tập
về Tam Vô lậu Học (the Threefold Higher Training) bao gồm Giới-
Định -Tuệ như sau:
a. Sự tu tập về Giới (P: Sīla; S: Śīla- Morality or Moral
Conduct)
Trên phương diện tu tập, ‘Giới’ được dịch từ chữ
Pāli là Sīla mang ý nghĩa là sự thực hành đạo đức, là
đặc tính tốt, là đạo đức Phật giáo, và là mực thước
về đạo đức.[19] Theo từ Sanskrit là Śīla được đề cập
như tư cách đạo đức, là một trong 6 hay 10 Ba-la-mật (Skt:
Pāramitās); hoặc những quy tắc về đạo đức (đối với
Phật giáo, có 5 quy tắc nền tảng hoặc những điều luật
về hạnh kiểm đạo đức).[20] Từ định nghĩa trên, chúng
ta có thể kết luận rằng từ ‘Sīla, or Śīla’ được dùng
để nhấn mạnh ý nghĩa về tư cách và những quy tắc đạo
đức. Trong học thuyết Phật giáo, các điều luật về đạo
đức đã đến với chúng ta từ hình thức ban đầu với cái
tên Pāṭimokkha or Prātimokṣa (Giới bổn)[21], (i.e. cơ bản
là sự liệt kê toàn bộ mực thước về những điều luật,
hay được gọi là bổn phận), nó được tập hợp lại từ
những điều luật khác nhau trong Tạng luật (Vinaya Piṭaka),
bao gồm 227 giới[22] đối với Tỳ kheo Tăng và 250 giới thuộc
Tỳ kheo ni,…[23]
Khi đề cập về Giới (Sīla or Śīla) trong Phật giáo, con người
trước hết cần phải thấu triệt đúng đắn về khái niệm
của giới. Sự tuân thủ giới là nhằm vào ý thức đạo
đức cá nhân để giải thoát con người khỏi sự thống khổ
của tham sân si. Vì vậy, đức Phật đã dùng phương tiện
thiện xảo để thiết lập các điều luật. Rõ ràng rằng
sự thực hành giới thì không là gì cả; nó chỉ là những
phương tiện tạm thời để giải thoát mọi phiền não khổ
đau của con người, là chiếc bè đưa người qua biển khổ,
và là chiếc cầu bắt qua sông. Từ đây, chúng ta có thể
mạnh mẽ nói rằng sự thực hành giới sẽ không còn hữu
dụng nữa nếu như con người nhổ bật toàn bộ cội rễ
phiền não và khổ đau từ nội tâm của chính mình.
Trong thời hậu hiện đại, sự tu tập giới sẽ được những
hành giả Phật giáo tuân thủ với thái độ tích cực và
sáng tạo tùy theo những tình huống và thời đại khác nhau,
đặc biệt trong thiên niên kỷ thư ba này. Một phó từ nghi
vấn có lẽ được đặt tại đây là tại sao? Như chúng ta
biết, là một con người, chúng ta dĩ nhiên được nuôi nấng
bởi hai loại thức ăn: (1) thức ăn vật chất bao gồm gạo,
sữa, rau, đậu, mì, bắp… để nuôi dưỡng thân vật chất
cho chúng ta, và (2) thức ăn tinh thần bao gồm những thú tiêu
khiển của cuộc đời như ca hát, thể thao, bơi lội, đá
banh, tình yêu, … để thỏa mãn nhu cầu cho chúng ta về mặt
tinh thần. Điều quan trọng là khi tiếp nhận những thức
ăn đó, chúng ta có thấu triệt được hoàn toàn về những
kết quả tốt hay xấu từ hành vi của chúng ta hay không? Có
nghĩa là chúng ta nên hiểu đúng đắn làm thế nào để tiếp
nhận hai loại thức ăn này mà không bị bội thực, không
đưa đến kết quả tồi tệ, và không có sự cấu uế hay
bất tịnh trong thâm tâm của mình. Giống như một người
đang khát nước trên đường đi, vị ấy tìm kiếm nước
uống, sau khi uống xong, vị ấy hết khát và tiếp tục đi
thẳng trên con đường mình đang đi mà không có sự luyến
tiếc hay say đắm vì nước, không có sự ràng buột và cấu
uế trong thâm tâm. Bằng việc làm như thế, vị ấy đã thực
hành đúng đắn, thích hợp và năng động. Và sự tuân thủ
giới uyển chuyển như thế được gọi là sự tu tập Giới
theo phương pháp uyển chuyển, thích hợp và chuẩn mực.
Tương tự, đối với giới của Tăng lữ, chúng ta sẽ tìm
hiểu thêm một vài ví dụ điển hình liên quan đến giới
điều mà người đệ tử Phật cần phải tu tập với thái
độ uyển chuyển và tích cực như vài điều luật trong 10
giới như: không sát sanh; không ca múa hát xướng; không dùng
giường cao tốt đẹp và rộng lớn; không cất giữ vàng bạc
châu báu, không ăn phi thời; ….[24] Có nghĩa là làm thế nào
người đệ tử Phật xử sự và duy trì những giới điều
này khi một vài sinh vật độc hại (như: muỗi độc, ruồi,
bò cạp, rắn độc…) gây ra những bệnh truyền nhiễm, thương
tích hoặc đi đến cái chết đối với con người (như dịch
cúm gia cầm hiện nay); hoặc khi vị ấy không có tiền để
chi phí cho việc học hành, xe cộ, các cuộc họp ngoại giao
quốc tế, hay xây dựng chùa chiền, tự viện, trường Phật
học…; hoặc khi vị ấy được mời tham gia trong các buổi
hội thảo quốc tế ở nước ngoài và được bố trí ở
tại khách sạn sang trọng; hay khi các vị Tăng Ni sinh trẻ
ăn uống phi thời vì thời khóa biểu học tập ở các trường
Đại học, học viện; … Đó là một vài ví dụ tiêu biểu
đủ để cho chúng ta hiểu rằng sự tu tập giới điều đối
với Tăng lữ ngày nay không nên giữ một thái độ cố chấp,
bảo thủ; mà ngược lại họ cần phải ứng dụng và thực
hành sự tu tập đó với một tinh thần uyển chuyển, đúng
đắn, sáng tạo và tích cực để thể nhập vào những tình
huống và hoàn cảnh mới trong cuộc sống hiện đại. Đây
chính là ý nghĩa tích cực về sự thực hành giới luật của
Phật giáo ngày nay.
b.
Sự tu tập Định (Samàdhi)
Thuật ngữ Sanskrit and Pāli ‘Samādhi’ được bắt nguồn
gốc từ ‘dhā’ nghĩa là ‘đặt, để’ cùng với tiếp
đầu ngữ ‘sam’ và tiểu từ nhấn mạnh ‘ā’. Nó có
nghĩa là ‘đặt lại với nhau’. Nghĩa bóng của từ ‘Samādhi’
được dùng trong Thánh điển Pàli Phật giáo với ý nghĩa
là Định hay Thiền định[25] (concentration or meditation) Tương
tự, Samādhi có nghĩa ‘buột vào nhau, hợp lại hoặc kết
hợp với.’[26] Một sự giải thích rõ ràng hơn về từ Samādhi
được bắt nguồn gốc từ dhā và cùng tiếp đầu ngữ với
sam và ā (sam + ā + dhā) do đó mang nghĩa ‘Định’ (concentration).
Nó là một trạng thái chăm chú, bình tĩnh và tập trung của
tâm và định mà nó đi kèm với lối sống thiện là điều
kiện cần thiết để đạt được trí tuệ và giải thoát.[27]
Thêm vào đó, nhiều học giả khác đã đưa ra lời giải thích
về Samādhi rằng nó là sự nhất tâm, là sự tập trung
của tâm về một đối tượng để loại trừ toàn bộ tất
cả những cái khác.[28]
Theo truyền thống, người ta có thể hiểu lời dạy của đức
Phật về Định mà người tu sĩ Phật giáo cần tu tập là
loại trừ năm triền cái (Skt. & Pāli: Nīvaraṇās)[29] trong
bản thân bằng thiền định, xa rời tham dục và từ bỏ tính
khí bất thiện; vị ấy tuần tự chứng và trú vào Sơ thiền
(the first dhyāna), Nhị thiền (the second dhyāna), Tam thiền (the
third dhyāna), và Tứ thiền (the fourth dhyāna)[30] Tâm vị ấy
trở nên tịch tĩnh, nhất tâm. Sự chuyên chú như thế gọi
là ‘Định hoàn hảo’[31]
Trên thực tế, xuyên qua những khái niệm về Định, người
đệ tử Phật cần thấu triệt rằng sự tu tập thiền định
không có nghĩa là ngồi im bất động trong khi thiền, mà phải
được biểu lộ qua những công việc và lối sống hàng ngày
để thích nghi với những tình huống xã hội hiện nay. Có
nghĩa là vị ấy tu tập thiền định bằng cách luôn duy trì
trạng thái chánh niệm và tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm,
ngồi, nói, ăn uống, ngủ nghĩ, lái xe, học tập, tắm rữa,
đọc sách, … Nói chung, tất cả những công việc và sự
tu tập hàng ngày được dẫn dắt bởi sự chánh niệm và
tỉnh giác. Từ quan điểm trên, chúng ta có thể suy luận rằng
khi một hành giả đang lái xe hoặc bất kỳ loại xe tải nào,
vị ấy luôn giữ chánh niệm, tỉnh giác và luôn ý thức nghiêm
chỉnh khi đang lái xe, không có sự sao lãng và thờ ơ, không
đưa đến kết quả bất lợi, và luôn an toàn, … việc lái
xe như thế được gọi là thiền trong khi lái xe. Cũng vậy,
những công việc và sự tu tập hàng ngày khác cũng đều tương
tự. Đây chính là ý nghĩa tu tập Định của Phật giáo mộït
cách tích cực và năng động trong thời hậu hiện đại.
c. Sự tu tập Tuệ (Pañña or Prajña)
Thuật ngữ Prajña (Skt.) or Pañña (Pāli) được bắt nguồn
gốc từ ‘jña’ (sự hiểu biết) khi tiếp đầu ngữ ‘pra’
được thêm vào để mang ý nghĩa là ‘trí tuệ, sự hiểu
biết, sự nhận thức đúng đắn, sự nhận ra, cách phán xét,
sự thấu triệt, sự hiểu biết về trực giác, …’[32]
Trong các bộ kinh thuộc truyền thống Nikāya, chúng ta có thể
nhận thấy lời dạy của đức Phật về Prajña hay Pañña
(Pāli) rằng vị nào nhận biết như thật về sự tập khởi,
sự diệt trừ, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của
sáu chỗ xuất xứ, vị ấy sẽ có một sự hiểu biết vượt
ngoài những điều trên.[33] Mặt khác, đức Phật nhấn mạnh
rằng người đệ tử Phật không chỉ thấu triệt hoàn toàn
về nguồn gốc Duyên Khởi (Skt: Pratāya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda;
the Law of Dependent Origination) bắt nguồn từ vô minh và tham
ái, mà còn thấu hiểu đúng đắn về con đường chơn chánh
đưa đến sự tận diệt hoàn toàn các khổ uẩn bằng cách
làm mất dần hoàn toàn tham ái và đoạn diệt vô minh.[34]
Ngày nay, bước vào thiên niên kỷ thứ ba, người đệ tử
Phật tu tập trí tuệ bằng cách thực hành chánh kiến và
chánh tư duy. Có nghĩa rằng vị ấy cần thấu triệt hoàn
toàn lời dạy của đức Phật bao gồm Kinh (Discourses- Sūtra),
Luật (Disciplines-Vinaya) và Luận (Super Doctrine-AbhiDhamma) để
ứng dụng đúng đắn vào sự tu tập tâm; truyền bá giáo
pháp tùy theo căn cơ trình độ của con người; thấu suốt
triệt để về Lý Nhơn Quả (the theory of Cause and Effect) đưa
đến kết quả thiện ác từ hành động, về Lý Duyên Khởi
(the theory of Dependent Origination) bắt nguồn từ vô minh và tham
dục của toàn bộ khổ uẩn, và đối với Tứ Đế (the Four
Noble Truths) cũng như Bát Chánh Đạo (the Eightfold Path) đưa
đến sự đoạn diệt hoàn toàn các khổ uẩn, đạt đến
Niết bàn, giải thoát và giác ngộ tối thượng. Ý nghĩa về
Tuệ như thế được gọi là sự tu tập Tuệ với nghĩa đúng
đắn và thích hợp.[35]
Nói chung, trong mối liên hệ mật thiết về Tam Vô Lậu Học,
chúng ta có thể nhận thấy rằng Giới - Định - Tuệ được
phối hợp chặt chẽ và tác động hỗ tương với nhau trên
tiến trình tu tập giải thoát giác ngộ. Chính vì vậy, đức
Phật đã khẳng định quan điểm này trong Kinh Trường Bộ:
Đây
là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.[36]
Từ ý nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định mạnh mẽ rằng
Giới-Định- Tuệ được xem như kiềng ba chân, vì nếu thiếu
một trong ba thì nó không thể đứng vững vàng trên mặt đất
được. Sự tu tập Tam Vô lậu cũng vậy. Nếu sự tuân thủ
Giới mà không có sự hiện hữu của Định và Tuệ, nó trở
thành sự tuân thủ giới một cách cố chấp. Và sự tuân
thủ Định và Tuệ cũng như vậy. Quan điểm này đã được
chuẩn y qua lời dạy đầy súc tích của đức Phật như sau:
Giới, định và trí tuệ – Với ai khéo tu tập,
Vị ấy vượt qua khỏi – Thế lực của Ác ma,
Và chói sáng rực sáng – Như mặt trời chói sáng.[37]
Ngoài việc tu tập Tam Vô Lậu Học, một hành giả Phật giáo
trong thiên niên kỷ thứ ba cần nên trao dồi tích cực và
ứng dụng khéo léo thêm về pháp môn Tứ Nhiếp Pháp[38] (Four
Means of Attraction - Saṃgraha-vastu) bao gồm bố thí (gift-giving,
dāna), ái ngữ (kindly speech, piyavaca or priyavacana), lợi hành
(beneficial actions, arthacaryā or atthacariyā) và đồng sự (sympathy,
samanatthatā or samānārthatā); Ngũ Minh[39] (Fivefold Learning - Pañcavidyā)
bao gồm y phương minh (medical science, cikitsāvidya), công xảo
minh (professional skillfulness, śilpakarmasthānavidya), nhân minh (logic,
hetuvidya), thanh minh (phonetics and languages, sabdavidya), nội minh
(buddhist studies, adhyātmavidya); các bộ môn khoa học hiện đại
liên hệ đến Phật giáo (như là: các tôn giáo thế giới,
khoa học xã hội, thông tin và những phương tiện liên lạc
và mạng lưới internet hiện đại…) để phục vụ cho
công việc hoằng pháp vì lợi ích và an lạc hạnh phúc cho
tất cả chúng sanh, cho cuộc sống nhân loại và cho xã hội
ngày nay.
3. NHƯ LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO
Theo
quan điểm của người viết, vai trò tham gia xã hội và hoằng
pháp độ sanh của một nhà truyền bá Phật giáo trong thời
hiện đại được gói gọn trong hai phương diện, đó là (1)
truyền thừa Phật pháp tùy theo căn cơ của thính giả và
(2) tham gia xã hội dựa trên tinh thần tùy duyên bất biến,
như sau:
a. Truyền thừa Phật pháp tùy theo căn cơ của thính giả
Đới với một nhà truyền bá Phật giáo, đức Phật xác định
rõ ràng rằng nếu Tỳ kheo thuyết pháp và thực hành pháp
yếm ly, ly tham, đoạn diệt già và chết, như vậy đủ để
được gọi là Tỳ kheo thuyết pháp.[40] Lại nữa, trong khi
thuyết pháp, người truyền giáo chỉ nói lời khéo nói, không
nói lời vụng nói; chỉ nói lời đúng pháp, không nói lời
phi pháp; chỉ nói lời khả ái, không nói lời phi khả ái;
chỉ nói lời đúng sự thật, không nói lời không đúng sự
thật.[41] Hơn nữa, người truyền giáo khuyến khích những
người khác không chỉ tu tập và nói phù hợp với lễ giáo,
mà còn đưa ra những quan điểm hợp theo chánh pháp. Quan điểm
này được đức Phật răn dạy vị Tỳ kheo nên thành tựu
ba pháp (1) khuyến khích các thân nghiệp tùy thuận, (2) khuyến
khích các ngữ nghiệp tùy thuận, và (3) khuyến khích các ý
nghiệp tùy thuận. Thành tựu với ba pháp này, một vị Tỳ
kheo có danh tiếng, sống đem lại hạnh phúc cho đa số, an
lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đem lại hạnh phúc, an
lạc cho chư thiên và loài người.[42] Đặc biệt, đức Phật
nhấn mạnh về phẩm chất của vị truyền giáo rằng một
nhà truyền giáo cần phải liễu giải nghĩa và liễu giải
pháp, và người nghe pháp cũng vậy. Cả người dạy và người
nghe đều phải liễu giải nghĩa và pháp. Đó là ba phẩm chất
làm nền tảng đối với người giảng dạy giáo pháp cho người
khác.[43]
Ngày nay, một nhà truyền bá Phật giáo khi muốn hoằng pháp
theo căn cơ của thính giả, cần phải thông thạo về tâm
lý học và xã hội học. Vì sao? Vì tâm lý học sẽ giúp vị
ấy hiểu rõ về những đặc tính tư tưởng của con người
và bản chất cũng như cư xử tâm lý của mỗi cá nhân trong
xã hội hầu ứng dụng giáo lý thích hợp vào trình độ căn
cơ của thính giả. Xã hội học sẽ giúp vị ấy hiểu được
những mối quan hệ giữa con người sống trong quần thể,
đặc biệt là trong xã hội công nghiệp. Từ đó, khi hoằng
pháp, vị ấy có thể ứng xử đúng mức đối với nhiều
tầng lớp khác nhau trong xã hội. Chúng ta có thể đưa ra vài
ví dụ thực tế và tiêu biểu rằng khi thuyết giáo cho những
thính giả có tính khí năng động, sáng tạo và thẳng thắn,
một nhà truyền bá Phật giáo sẽ thuyết giáo với lời nói
năng động, sáng tạo và thẳng thắn; với người có bản
tính lịch thiệp và phóng khoáng, vị ấy sẽ thuyết giảng
với lời nói lịch sự và cởi mở; với người khó tính
và ít nói, vị ấy sẽ dùng lời nói súc tích và hợp lý;
với những đối tượng lãng mạn và dễ xúc cảm, vị ấy
sẽ cư xử một cách nhẹ nhàng, tử tế và văn hoa; với người
trí thức, vị ấy sẽ dùng lời nói trí thức và gia giáo;
hoặc với những người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau như
bác sĩ, kỹ sư, công nhân, nhân viên, quan chức, nhà khoa học,
nhà triết học, nhà tâm lý, sinh viên, học giả, thi sĩ, nhà
văn,…, lời thuyết giảng của vị ấy sẽ tương xứng với
kiến thức, nghề nghiệp và vị trí của họ trong xã hội.
Với một lối thuyết giảng khéo léo như thế, người truyền
bá Phật giáo không những sẽ thành công trong vai trò và nhiệm
vụ tôn giáo, mà còn thích hợp cả trình độ căn cơ của
thính giả và tinh thần truyền bá Phật giáo năng động bằng
những phương tiện thiện xảo ngày nay.
b. Tham gia xã hội dựa trên tinh thần tùy duyên bất biến
Ngay tại đây, một câu hỏi rất hợp lý và thực tiễn được
đặt ra rằng muốn làm vơi đi nỗi đau khổ về tinh thần
của con người và sự khủng hoảng xã hội hiện nay, một
nhà truyền bá Phật giáo trong thời đại mới cần phải làm
gì và bằng cách nào để thực hiện vai trò tham gia xã hội
của mình?
Trở về thời của đức Phật, bản thân Ngài, với vai trò
là một vị Đạo sư cũng như một nhà truyền bá với những
phương tiện thiện xảo phục vụ xã hội trong suốt 45 năm,
Ngài chưa từng ruồng bỏ xã hội; ngược lại, chính Ngài
lại tham gia nhiều lãnh vực chính trị, xã hội, văn hóa khác
nhau mà vẫn không thay đổi bản chất Phật của mình với
mục đích duy nhất là ‘vì an lạc hạnh phúc số đông, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì sự lợi ích, an lạc, hạnh
phúc cho Chư thiên và loài người.’ Ngài không chỉ hướng
dẫn các hàng vua chúa làm thế nào mang lại cuộc sống sung
túc và hạnh phúc cho bá tánh; mà còn khuyến khích và chỉ
dạy con người làm thế nào để biểu hiện những phong cách
và thái độ tốt đẹp với nhau trong lề lối đạo đức
đúng đắn, đặc biệt trong mối quan hệ giữa cha mẹ và
con cái, chồng và vợ, chủ và tớ, và bạn bè với nhau…[44]
Bước vào ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba, một nhà truyền
bá Phật giáo của thế hệ trẻ hậu tấn, ngoài việc noi
gương tham gia xã hội khéo léo của đức Phật và chư vị
tiền bối lỗi lạc Phật giáo, cần thực hiện tích cực
vai trò thiết thực của mình qua hai phương diện chủ yếu:
xã hội và kinh tế với những phương tiện thiện xảo như
sau:
b1. Phương diện xã hội
Để đối diện với những vấn đề khủng hoảng xã hội
hiện nay như: môi trường sinh thái, bệnh dịch HIV/AIDS, bệnh
đồng tính luyến ái, nạn mại dâm, chiến tranh, bạo động
và khủng bố, tình yêu, tình dục và hôn nhân…; một nhà
truyền bá Phật giáo không những nắm bắt thấu đáo về
các tình huống xã hội và tính khí con người hiện nay, mà
còn thực hiện khéo léo làm thế nào để giãm bớt nỗi khổ
đau và khủng hoảng xã hội. Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu
và thảo luận vài trường hợp tiêu biểu liên quan đến từng
vấn đề sau đây:
Với môi trường sinh thái, đặc biệt về những thảm họa
về ô nhiễm không khí, một nhà truyền bá Phật giáo một
mặt giải thích súc tích và hợp lý cho con người về giá
trị và tầm quan trọng thực tế môi trường sinh thái; khuyến
khích họ biết tôn trọng, bảo vệ và duy trì mạng sống
của nhân loại, các loài thuẹc vật, động vật và thiên
nhiên; và mặt khác kết hợp với họ trồng cây gây rừng,
tôn trọng, bảo vệ tất cả các loài thực vật và động
vật, giữ gìn không khí và nguồn nước trong sạch và không
ô nhiễm, … Một hành động khéo léo như thế sẽ làm giãm
bớt sự đau khổ tinh thần cho con người và sự khủng hoảng
môi trường sinh thái.
Với bệnh dịch HIV/AIDS,[45] người truyền bá lý tưởng trước
hết cần thấu hiểu rõ ràng về ý nghĩa và nguyên nhân bệnh
dịch HIV/AIDS. Đó là bệnh nhiễm vi rút thiếu hụt hệ thống
miễn dịch con người (HIV: Human Immunodeficiency Virus) gây ra
hội chứng liệt kháng thể (AIDS: Acquired Immune Deficiency Syndrome)
qua ba đường truyền chính: quan hệ sinh lý với người bị
nhiễm; truyền máu của người bị nhiễm; và người mẹ bị
nhiễm đang mang thai.[46] Kế đến, vị ấy kết hợp với những
đoàn thể xã hội thành lập và tham gia vào việc tuyên truyền
cho mọi người về cách ngăn ngừa bệnh dịch HIV/AIDS; theo
dõi chăm sóc thuốc men kỹ lưỡng, chăm sóc những bệnh nhân
bị nhiễm HIV/AIDS ở giai đoạn cuối; ủng hộ những bệnh
nhân mới bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách đào tạo hướng nghiệp,
khuyên nhũ họ theo tâm lý, hướng dẫn phương pháp thiền
định của Phật giáo một cách có hiệu quả và có lợi,
tạo ra những thú tiêu khiển lành mạnh và các môn thể thao
ưa thích (như: bóng đá, bơi lội, cầu lông, võ thuật, …),
… hầu làm cho họ tăng thêm sức đề kháng mạnh mẽ.[47]
Việc làm như thế không chỉ làm giãm đi bệnh dịch HIV/AIDS
mà còn giãm đi những tai họa cho xã hội.
Đối với nạn mại dâm[48] và bệnh đồng tính luyến ái,[49]
đó là những vấn đề vô cùng phức tạp nhưng rất tế nhị
gây nhiều cuộc tranh luận và sự giải thích từ những quan
điểm của các nhà học giả nổi tiếng, đặc biệt là bệnh
đồng tính luyến ái. Đối với nạn mại dâm, nó chính là
nguyên nhân chủ chốt dẫn đến bệnh dịch HIV/AIDS từ việc
quan hệ tình dục con người, và dẫn đến tai họa cho xã
hội. Để tháo gỡ tế nhị về những vấn đề phức tạp
này, một nhà truyền bá Phật giáo cần cư xử tốt với họ
bằng những phương tiện thiện xảo của mình như: đối với
những người đồng tính luyến ái, vị ấy thực hiện vai
trò tích cực bằng cách khuyên răn và hướng dẫn chuyên nghiệp
về tâm lý sống, về giá trị của một con người đúng đắn,
về những hậu quả tai hại từ những hành vi không hợp lý
và không tự nhiên của con người; khêu gợi dần dần dục
tình của họ bằng cách khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi về sự quan hệ với người khác giới tính từng
bước một; khuyến khích những môn thể thao và những thú
vui lành mạnh cũng như chuyển đổi liệu pháp tâm lý hoóc
môn và diện mạo cơ thể bên ngoài của họ để thích hợp
với tâm lý giới tính thật sự của họ. Với những người
mại dâm, vị ấy hướng dẫn khóa học đào tạo hướng nghiệp
đặc biệt cho họ, tìm cho họ những công việc đúng đắn
và thích hợp, và dùng những lời khuyên chuyên nghiệp về
tâm lý sống, về giá trị của một con người đúng đắn,
về những hậu quả tai hại từ những hành vi không hợp lý
và không tự nhiên của con người…Một vai trò sáng tạo
và khéo léo như thế sẽ làm mất dần về nhũng vấn
đề nan giải của xã hội ngày nay.
Về vấn đề chiến tranh, bạo động và khủng bố, người
truyền bá Phật giáo đầu tiên trao đổi với họ bằng những
lời giải thích đầy thuyết phục và những bằng chứng thực
tế về những thiệt hại trầm trọng cho con người và xã
hội từ những hành vi chiến tranh, bạo động và khủng bố;
sau đó khuyến khích và hướng dẫn họ một cách khéo léo
thực hành tinh thần bất bạo động của Phật giáo (non-violence
- ahiṃsā) bằng cách tu tập lòng từ và sự đồng cảm vì
hòa bình, hạnh phúc và an lạc thật sự cho mình và cho tất
cả chúng sanh. Thật sự, chính việc thực hành bất bạo động
này không những hàn gắn lại vết thương chiến tranh, xung
dột và bạo động cũng như làm giãm đi tất cả những tai
họa cho con người và xã hội; mà còn xây dựng một xã hội
hòa bình và lành mạnh, cũng như thắt chặt nguyên tắc quý
trọng về sự bình đẳng, hữu nghị và tự do.
Tình dục, tình yêu và hôn nhân là ba vấn đề quan trọng
và cần thiết đối với cuộc sống chúng sanh nói chung và
con người nói riêng, đặc biệt về cuộc sống hôn nhân;
ngược lại, ba điểm này cũng có thể làm cho con người đau
khổ và bất hạnh trong nhiều phương diện trừ khi họ thấu
triệt hoàn toàn và thực hiện đúng đắn những vấn đề
này với một thái độ tử tế và lịch thiệp. Trước khi
thực hiện vai trò và nhiệm vụ tôn giáo của mình, người
truyền bá Phật giáo không chỉ thấu hiểu triệt để về
bản chất tâm lý của họ mà còn duy trì quan điểm cởi mở
hầu truyền đạt và hướng dẫn kiến thức về những vấn
đề này cho con người. Đối với tình dục, nó đóng một
vai trò quan trọng và then chốt trong việc duy trì và phát triển
lâu dài về tình yêu và cuộc sống hôn nhân con người. Tuy
nhiên, tình dục có thể là một đầy tớ tốt và cũng có
thể là một ông chủ bất lợi. Nếu con người sử dụng
tình dục điều độ với lý do chính đáng, tình dục sẽ
trở thành một đày tớ tốt; ngược lại nó là một ông
chủ có hại. Vì thế, người truyền bá không chỉ cung cấp
nền giáo dục đúng đắn và kiến thức chuyên môn về kỹ
thuật và thực hành sinh lý với một phương pháp có hiệu
quả và chuẩn mực thích hợp đối với đạo đức con người
và cuộc sống xã hội; mà còn hướng dẫn họ làm thế nào
tiết độ tình dục của mình hầu có được một thân thể
và tinh thần khỏe mạnh. Tương tự tình yêu và hôn nhân cũng
vậy. Đối với vấn đề tình yêu, nó cũng có thể là một
liều thuốc bổ nhất hay trở thành liều thuốc độc và thuốc
phiện nguy hiểm nhất khi chứng bệnh tâm thần của họ đang
tái phát, và cũng có thể là một nguồn nước tinh khiết
và mát mẽ hay trở thành một nguồn cung cấp nước ô nhiễm
và có hại khi con người đang khao khát nước. Tất cả tùy
thuộc vào lý trí, sự hiểu biết, việc làm và thái độ
về những hành vi ý thức hay không ý thức của con người.
Do đó, một nhà truyền bá lý tưởng cần hướng dẫn đúng
đắn về tình yêu cho họ tùy theo tuổi tác, căn cơ, phong
cách và sự hiểu biết… Vị ấy hướng dẫn họ làm thế
nào tạo mối liên hệ tình yêu lâu dài bằng thái độ lịch
sự và nhã nhặn, sự hiểu biết lẫn nhau, sự tôn trọng
và thông cảm lẫn nhau; chia sẽ cho nhau trong lúc khó khăn và
hạnh phúc; xây dựng cho nhau khi có lỗi lầm; … Sự hướng
dẫn khéo léo về tình yêu của vị ấy sẽ làm con người
thỏa mãn và thành công trong một tình yêu đầy ý nghĩa.[50]
Tóm lại, tình dục và tình yêu là nhu cầu quan trọng và không
thể thiếu đối với cuộc sống con người đời thường.
Nếu tình dục mà thiếu đi vị ngọt của tình yêu, nó chỉ
là một cảm giác trống vắng; ngược lại, tình yêu mà không
có sự hiện hữu của tình dục, nó trở thành một tình yêu
vô vị. Chúng ta có thể nói nghiêm túc rằng tình dục và
tình yêu giống như một người có đủ hai chân trong hình
dáng tự nhiên của con người. Nếu thiếu một trong hai, dáng
vẽ vị ấy trông có vẽ không được tự nhiên. Hôn nhân
chính là kết quả cuối cùng của một tình yêu đúng đắn
mà con người khao khát muốn có được. Ý nghĩa và cách cư
xử của nó tương tự như tình yêu nhưng thêm vai trò trách
nhiệm của họ đối với cuộc sống và hạnh phúc lứa đôi,
đối với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ, … Trong tình huống
này, một nhà truyền bá Phật giáo cần dùng những lời khuyên
chân thành cho đôi vợ chồng mới cưới bằng cách hướng
dẫn họ làm thế nào để cư xử, tôn trọng, thông cảm,
và có trách nhiệm với nhau theo năm cách mà đức Phật đã
chỉ dạy trong kinh Trường Bộ;[51] làm thế nào tiết độ
tình dục một cách hợp lý hầu làm cho thân và tâm dễ chịu,
hoặc sức khoẻ và tinh thần tráng kiện,…; làm thế nào
chia sẽ và xây dựng cho nhau những lỗi lầm để trở thành
con người hoàn hảo;… cuộc hôn nhân đầy ý nghĩa như thế
gọi là cuộc nhân hạnh phúc hoàn mỹ.
b2. Phương diện kinh tế
Song song với phương diện xã hội, kinh tế cũng đóng một
phần then chốt trong vai trò tôn giáo của nhà truyền bá Phật
giáo. Thông thường, hầu hết cuộc sống tu hành tôn giáo
của các vị tu sĩ Phật giáo được duy trì vững chắc nhờ
vào sự ủng hộ và cúng dường vật chất của các vị Phật
tử với bốn nhu cầu cần thiết của một tu sĩ như: quần
áo, thức ăn, nệm lót và thuốc men. Mặt khác, đời sống
tu sĩ tùy thuộc vào việc khất thực từ sự cúng dường
của những tín đồ Phật tử. Vì vậy, cuốc sống lâu dài
của họ sẽ không được duy trì trừ khi có sự ủng hộ
và cúng dường của những tín đồ Phật tử, thậm chí bản
thân họ tùy thuộc vào nhiều phương diện cuộc sống, đặc
biệt trong sự giao thiệp và cư xử.
Ngày nay, một nhà truyền bá Phật giáo một mặt nên giảm
bớt việc tùy thuộc vào sự khất thực từ các tín đồ
Phật tử và mặt khác nên tự làm kinh tế để duy trì đời
sống tôn giáo của mình với nhiều phương thức khác nhau:
trồng trọt rau quả; cày ruộng trồng lúa; làm đậu hũ, sữa
đậu nành và bột mì;…làm nhang; ấn hành kinh sách Phật
giáo; làm các vật phẩm cho việc thờ phượng; … Vai trò
kinh tế khéo léo như thế không chỉ cung cấp và ủng hộ
điều kiện vật chất cho nhà truyền bá Phật giáo thực hiện
thành công nhiệm vụ tham gia xã hội cả hai phương diện xã
hội và giáo dục, mà còn tạo ra cho vị ấy có đủ tài sản
để duy trì cuộc sống tôn giáo lâu dài và vững chắc.
C.
CONCLUSION
Nhìn chung, qua những quan điểm tích cực và mới mẽ được
đề cập ở phần trên, chúng ta nhận thấy giá trị của
một tu sĩ Phật giáo lý tưởng ở thiên niên kỷ thứ ba được
biểu hiện qua hai phương diện đạo đức và xã hội. Phương
diện đạo đức thuộc về ý nghĩa ‘tự lợi’ đề cập
về những yêu cầu tu tập và phát triển đạo đức cá nhân
của một tu sĩ Phật giáo lý tưởng (vai trò như là một Bhikkhu,
một hành giả). Phương diện xã hội chính là tinh thần ‘lợi
tha’ liên quan đến vai trò tham gia xã hội của một tu sĩ
lý tưởng vời những phương tiện thiện xảo (vai trò như
là một nhà truyền bá). Dựa trên hai phương diện này, vị
ấy có khả năng thực hiện khéo léo vai trò tôn giáo của
mình về sự tu tập và truyền bá Phật pháp cho số đông,
có khả năng ứng dụng giáo pháp một cách linh hoạt và sáng
tạo vào việc tham gia xã hội vì an lạc và hạnh phúc cho
con người. Hình ảnh một vị tu sĩ Phật giáo lý tưởng như
thế không chỉ mở ra một đạo lộ mới cho thế hệ trẻ
tu sĩ Phật giáo ở tương lai trong vai trò và nhiệm vụ tôn
giáo thích hợp với quan điểm Phật giáo ngày nay, mà còn
đóng góp cho sự nghiệp phát triển đạo đức và giáo dục
con người trong bất kỳ tình huống xã hội nào trong thiên
niên kỷ thứ ba.
THƯ
MỤC THAM KHẢO
A.
KINH
Kinh Trường Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, & II, TPHCM: Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam, 1991.
Kinh Tăng Chi Bộ,
Thích Minh Châu (dịch),Vol. I II, III & IV, TPHCM: Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, 1996.
Kinh Trung Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, II & III TPHCM: Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, 1992.
Kinh Tương Ưng Bộ,
Thích Minh Châu (dịch), Vol. I, II, III & V, TPHCM: Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, 1993.
Kinh Tiểu Bộ,
Thích Minh Châu (dịch),Vol. I, TPHCM: Viện Nghiên Cứu Phật Học
Việt Nam, 1992.
The Sacred Books of the East,
T. W. Rhys Davids & Hermann Oldenberg (trans.), F. Max Müller (ed.),
Vol. 13, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1996.
B.
SÁCH
Ajahn
Chah,
Food for the Heart, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational
Foundation, 1999.
Ananda
Guruge (ed.)
Return to Righteousness, Sri Lanka: Department Cultural Affairs, 1991.
Bapat,
P. V. (ed.),
2500 Years of Buddhism, Delhi: Publication Division, 1997.
Barua,
D. K.,
An Analytical Study of Four Nikāyas, Delhi: Munshiram Manohalal Publishers
Pvt. Ltd., 2003.
Barua,
Dipak K.,
An Analytical Study of Four Nikāyas, Delhi: Munshiram Manohalal Publishers
Pvt. Ltd., 2003.
Buddhaghosa,
B. (au) &
Ñānamoli
(trans.),
The Path of Purification, Kandy, Sri-Lanka: Buddhist Publication Society,
1991.
Conze,
E. (trans. & ed.),
The Large Sutra on Perfect Wisdom, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers
Pvt. Ltd., 1990.
Conze,
E.,
Buddhist Thought in India, Delhi: Munshiram Manohalal Publishers Pvt. Ltd.,
2002.
Copleston,
R. S.,
Buddhism Primitive and Present in Magadha and in Ceylon, New Delhi &
Madrad: Asian Educational Services, 1994.
Dutt,
N.,
Early Monastic Buddhism, Calcutta: Firma KLM Private LTD., 1981.
Fowler,
M.,
Buddhism: Beliefs and Practices, Brighton & Portland: Sussex Academic
Press, 1999.
Geoffrey
DeGraff
(Thanissaro
Bhikkhu),
The Wings to Awakening, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational
Foundation, 1999.
Gethin,
R.,
The Foundations of Buddhism, Oxford & New York: Oxford University Press,
1998.
Goldstein,
J.,
Insight Meditation: The Practice of Freedom, Boston & London: Shambhala
Publications, 1994.
H.H.
The Dalai Lama,
The Way to Freedom, Dharmshala: The Library of Tibet, 2000.
H.H.Dalai
Lama (au.) &
Ramanan,
R. (compiler),
The Heart of Compassion, Delhi: Full Circle Publishing, 2001.
Harvey,
P.,
An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, Delhi: Munshiram
Manohalal Publishers Pvt. Ltd., 1990.
Jones,
K.,
The Social Face of Buddhism: A Approach to Political and Social Activism,
London: Wisdom Publications, 1989.
Joshi,
L. M. & et.al.,
Buddhism, Patiala: Publication Bureau, Punjabi University, 1999.
Karunyakara,
L.,
Modernisation of Buddhism: Contribution of Ambedkar and Dalai Lama XIV,
New Delhi: Gyan Publishing House, 2002.
Kern,
H.,
Manual of Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, Ptv.
Ltd., 1996.
King,
B. M.,
Human Sexuality Today, Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall, 2002.
Kirthisinghe,
B. P.(ed.),
Buddhism and Science, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Pvt. Ltd.,
1999.
Kyabgon,
T.,
The Essence of Buddhism: An Introduction to Its Philosophy and Practice,
Boston & London: Shambhala Publications, Inc., 2001.
Lamotte,
E. (author) &
Boin,
S. W. (trans.),
History of Indian Buddhism, Louvain-le-Neuve: Institut Orientaliste de
I’Universite’ Catholique de Louvain, 1988
Lester,
R.C.,
Theravada Buddhism in Southeast Asia, USA: the University of Michigan Press,
1973.
Malik,
I. L.,
Dalai Lamas of Tibet, New Delhi: Computer Prints Combine, 1984.
Mittal,
M. P. (compiled),
Buddha and Early Buddhism, Vol. 1, Delhi: Originals, 2002.
Morgan,
K.W. (ed.),
The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists, Delhi: Motilal
Banarsidass Publishers Pvt.Ltd, 1997.
Ñāṇamoli
Thera (trans.),
The Pāṭimokkha: The Rule for Buddhist Monks, Bangkok: King Mahā Makuta’s
Academy, 1992.
Narasu,
P. L.,
The Essence of Buddhism, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational
Foundation, 1999.
Pachow,
W.,
A Comparative Study of the Pratimokṣa, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers,
Pvt. Ltd., 2000.
Pandit,
M. L.,
Buddhism in Perspective, Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd.,
2001.
Pandita,
U. S. (author);
U Aggacitta
(trans.);
Wheeler,
K. (ed.),
In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha, Kandy, Sri Lanka:
Buddhist Publication Society, 1993.
Phra
Sunthorn Plamintr,
Basic Buddhism Course, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational
Foundation, 1999.
Piburn,
S. (comp.& ed.),
The Dalai Lama—A Policy of Kindness, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers
Pvt. Ltd., 2002.
Piyadassi,
M.,
The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, Colombo: Printers &
Publishers Karunaratne & Sons Ltd., 1991.
Rahula,
W.,
What the Buddha Taught, Sri Lanka: Buddhist Cultural Centre, 1996.
Rinchen,
G. S. (au.) &
Sonam,
R. (trans.& ed.),
The Six Perfections, Ithaca, New York: Snow Lion Publications, 1998.
Roscoe,
G.,
The Triple Gem: An Introduction to Buddhism, Chiang Mai, Thailand: Silkworm
Books, 1994.
Saddhatissa,
H.,
Buddhist Ethics, Boston: Wisdom Publications, 1997.
Saint-Hilaire,
J.B.,
The Buddha and His Religion, Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers Pvt.
Ltd., 1997
Santina,
P. D.,
The Tree of Enlightenment, Taiwan: The Corporate Body of the Buddha Educational
Foundation, 1999.
Silva,
de L.,
Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka, Delhi: Indian Books Centre,
1980.
Singh,
Sanghasen,
A Study of the Sphuṭārthā Śrīghanācārasaṅraha Ṭīkā, Patna:
K. P. Jayaswal Research Institute, 1983.
Sivaraksa,
S. (Hon.ed.),
Socially Engaged Buddhism for the New Millennium, Bangkok: Sathirakoses–Nagapradipa
Foundation & Foundation For Children, 1999.
Sivaraksa,
S.,
&
et.al (ed.),
Buddhist Perception for Desirable Societies in the Future, Bangkok: Thai
Inter-Religious Commissionfor Development Sathirakoses-Nagapradipa foundation,
1993.
Snelling,
J.,
Buddhism: An Introductory Guide to the Buddhist Tradition, Shaftesbury,
Boston & Melbourne: Element Books Limited, 2000.
Suzuki,
D.T.,
Essay in Zen Buddhism, Third Series, Delhi: Munshiram Manoharlal Publishers
Pvt. Ltd, 2000.
Tachibana,
S.,
The Ethics of Buddhism, Delhi: Cosmo Publications, 1986.
Thich
Nhat Hanh,
The Heart of the Buddha’s Teaching, New York: Broadway Books, 1998.
Warder,
A.K.,
Indian Buddhism, Delhi: Motilal Banarsidass Publishers Pvt. Ltd., 2000.
Williams,
P.,
Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition, London
& New York: Routlege, 2000.
C.
TỰ ĐIỂN & BÁCH KHOA TỰ ĐIỂN
Pali-English
Dictionary, Rhys Davids, T.W. & William Stede (ed.), Delhi: Motilal
Banarsidass Publishers, Ptv. Ltd., 1997.
Phật
Học Từ Điển (Buddhist Dictionary), Đoàn Trung Còn, TPHCM: Nhà
xuất bản TPHCM, Vol. II, 1997.
Sanskrit-Enghlish
Dictionary, Williams, Monier. M. (ed.), Delhi: Motilal Banarsidass Publishers,
Ptv. Ltd., 1999.
The
Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Kapoor, S. (ed.), Vol. I, II, IV &
V, New Delhi: Cosmo Publications, 2001.
The
Encyclopaedia of Buddhism, G. P. Malalasekera (ed.), Vol. III, (1971, rep.
1999); W.G. Weeraratne & Jotiya Dhirasekera (ed.), Vol. IV (1979, rep.
1989), W.G. Weeraratne (Editor-in-Chief), Vol. V, (1990, rep. 2000), Sri
Lanka: The Department of Buddhist Affairs, Ministry of Buddhasasana.
The
Encyclopaedia of Religion, Mircea Eliade (ed.), Vol. 11, New York: Macmillan
Publishing Company, 1987.
Từ
Điển Phật Học Hán-Việt (Chinese-Vietnam Buddhist Dictionary),
Kim Cương Tử (chủ biên), Hà Nội: Phân Viện Nghiên Cứu Phật
Học, Vol I, 1992.
[1]
Bài tham luận của P. A. Payutto, Buddhist Solutions for the 21st Century
(Các Giải Pháp của Phật Giáo đối với Thế Kỷ 21), đọc
tại Nghị Viện Tôn giáo Thế Giới ở Chicago, 1994, có giá
trị tại trang Web: www.buddhismtoday.com/index/ sociology.htm.
[2]
Như trên, có giá trị tại trang Web: www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm
[3]
Bài diễn văn của Ngài His Holiness The XIV Dalai Lama of Tibet,
Human Rights and Universal Responsibility (Nhân Quyền và Trách Nhiệm
Toàn Cầu), June 15, 1993, đọc tại Hội Thảo Quốc Tế Liên
Hiệp Quốc về Nhân Quyền ở Vienna-Úc, có giá trị tại trang
Web www.buddhismtoday.com/index/sociology.htm
[4]
D.T. Suzuki, Essay in Zen Buddhism, quyển III, New Delhi: Munshiram Manoharlal
Publishers Pvt. Ltd., 2000, trang 369.
[5]
Trích từ ‘Lời tựa của Venerable Ajahn Tiradhammo Thera’, trong
Ken Jones, The Social Face of Buddhism: An Approach to Political and Social
Activism, London: Wisdom Publication, 1989, trang 16.
[6]
T. W. Rhys Davids & William Stede (ed.), Pali-English Dictionary, 1997:
504
[7]
M. Monier-Williams (ed.), Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 756.
[8]
A. G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’ (Tỳ Kheo), trong G. P. Malalasekera
(ed.), The Encyclopaedia of Buddhism, quyển III, 1999: 36; John C. Holt,
‘Buddhist Priesthood’ (Tăng Lữ Phật Giáo), trong Mircea Eliade
(ed.), The Encyclopaedia of Religion, quyển 11, 1987: 542. Xem thêm
trang 542ff.
[9]
Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Sīla’(giới) trang 15ff-122ff;
A. K. Warder, Indian Buddhism, 2000: 173.
[10]
Kinh Trường Bộ I.222f. Xem thêm ‘Wisdom’ trang 154f; M. Anesaki,
‘Ethics and Morality’, trong Subodh Kapoor (ed.), The Buddhists Encyclopaedia
of Buddhism, quyển II, 2001: 525ff.
[11]
Kinh Tăng Chi Bộ I.292ff.
[12]
Kinh Trung Bộ I.593ff.
[13]
Kinh Trường Bộ I.184f; II.353f-382f. Xem thêm Kinh Tương Ưng Bộ
III.83 & V.240f.
[14]
Kinh T ương Ưng Bộ II.38f.
[15]
Kinh Tăng Chi Bộ IV.10f.
[16]
Ananda Guruge (ed.), Return to Righteousness, 1991: 223.
[17]
Kinh Trung Bộ I.307f.. Xem thêm ‘Ẩn dụ chiếc Bè’ trong Mahathera
Piyadassi, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi, 1991: 225f;
Paul Williams, Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian
Tradition, 2000: 38ff; Rupert Gethin, The Foundations of Buddhism, 1998:
71f.
[18]
Kinh Tiểu Bộ I.214f; Walpola Rahula, What the Buddha Taught, 1996:
45ff.
[19]
Như trên, Pali-English Dictionary, 1997:712.
[20]
Như trên, Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999: 1079.
[21]
Xem thêm ý nghĩa về ‘Pratimokṣa’ trong W. Pachow, A Comparative
Study of the Pratimokṣa, 2000: 4ff; Peter Harvey, An Introduction to
Buddhism: Teachings, History and Practices, 1990: 224f.
[22]
Xem thêm trong T. W. Rhys Davids & H. Oldenberg (trans.); F.
Max Muller (ed.), The Sacred of Books of the East, Vol. 13, 1996: 3ff;
E. Lamotte (author) & Sara Webb-Boin (trans.), History of Indian Buddhism,
1988: 54f; S. Tachibana, The Ethics of Buddhism, 1986: 80ff; Nalinaksha
Dutt, Early Monastic Buddhism, 1981: 152; Ñāṇamoli Thera (trans.),
The Pāṭimokkha: The Rule for Buddhist Monks, 1992: 66ff; Lynn de Silva,
Buddhism: Beliefs and Practices in Sri Lanka, 1980: 148. Xem thêm các
điều luật của Tỳ kheo ở A. G. S. Kariyawasam, ‘Bhikkhu’
(Tỳ kheo), trong G. P. Malalasekera (ed.), The Encyclopaedia of Buddhism,
Vol. III, 1999: 36; Gerald Roscoe, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism,
1994: 123ff; như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History
and Practices, 1990: 225ff; Robert C. Lester, Theravada Buddhism in Southeast
Asia, 1973: 50ff; như trên, The Foundation of Buddhism, 1998: 89ff.
[23]
Xem thêm con số về các điều luật Pratimokṣa (Giới bổn)
của Tỳ kheo ni với nhiều quan điểm khác nhau, như trên, A
Comparative Study of the Pratimokṣa, 2000: 4ff; như trên, An Introduction
to Buddhism: Teachings, History and Practices, 1990: 225; như trên, The
Foundation of Buddhism, 1998: 89ff.
[24]
Xem thêm ‘10 giới’ trong The Sacred of Books of the East, Vol. 13,
1996:211; H. Kern, Manual of Indian Buddhism, 1996: 70; Sanghasen Singh,
A Study of the Sphuṭārthā Śrīghanācārasaṅraha Ṭīkā, 1983:
15ff-138ff; H. Saddhātissa, Buddhist Ethics, 1997: 59ff; như trên.,
History of Indian Buddhism, 1988:42-54; như trên, The Ethics of Buddhism,
1986: 76f; P. Lakshmi Narasu, The Essence of Buddhism, 1999: 39ff; Shanti
Bhikshu Shastri, ‘Buddhist Ethics and Social Ideas’, trong L.M. Joshi
& et.al, Buddhism, 1999: 44f; như trên, Theravada Buddhism in Southeast
Asia, 1973: 50; như trên, The Foundations of Buddhism, 1998: 87ff; Dipak
Kumar Barua, An Analytical Study of Four Nikāyas, 2003: 128f. Xem thêm
Pātimokkha (Giới bổn) của C.A.F. Rhys Davids, ‘Pātimokkha’,
như trên, The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. IV, 2001: 1062f-1066ff-1109ff;
Reginald Stephen Copleston, Buddhism Primitive and Present in Magadha and
in Ceylon, 1994: 119ff; như trên, The Triple Gem: An Introduction to
Buddhism, 1994: 123ff.
[25]
Georg Feuerstein, ‘Samādhi’, in Mircea Eliade (ed.), The Encyclopaedia
of Religion, Vol. 13, 1987, 32
[26]
Như trên, Sanskrit-Enghlish Dictionary, 1999, p. 1159.
[27]
Như trên, Pali-English Dictionary, 1997, p. 685.
[28]
Như trên, The Buddha and His Teachings,1997, p. 305.
[29]
Năm Triền Cái (Nīvaraṇas) là : (1) tham dục (sensual desires-
kāmacchanda); (2) sân hận (ill will- vyāpāda); (3) hôn trầm và
thụy miên (sloth and torpor - thīna-middha); (4) trạo hối (restlssness
and worry - uddhacca-kukkucca); and (5) hoài nghi (doubts, vicikicchā).
Xem chi tiết trong Mahāthera Nārada, The Buddha and His Teachings:
317ff; Sayadaw U Pandita (author); U Aggacitta (trans.); Kate Wheeler (ed.),
In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha, 1993: 187ff; như
trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices, 1990:
249f; như trên, The Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi: 214ff-250ff
(Addendum IV); Joseph Goldstein, Insight Meditation: The Practice of Freedom,
1994: 57f; như trên, The Essence of Buddhism: An Introduction to Its
Philosophy and Practice: 25f.
[30]
Kinh Trường Bộ I, Vol. I: 139ff-301ff-318f-358f-369f-379f; Kinh Trung
Bộ, Vol. I: 609ff-403f-589f - Vol. II: 25-223-464; Vol. III:32-112f-272ff-304f-350f;
Kinh T ương Ưng Bộ, Vol.V: 21f-310-459f; Kinh Tăng Chi Bộ, Vol.
I: 292f - Vol. II: 224-339ff-502 - Vol. III: 524 - Vol. IV: 184f. Xem thêm
‘Tứ Thiền’ như trên, History of Indian Buddhism: 43; B. Buddhaghosa
(author); Ñānamoli (trans.), The Path of Purification, 1991: 136ff; Kenneth
W. Morgan (ed.), The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists,1997:148f;
U. Aung Thein, ‘Buddhist Meditation and Bioscience’ trong Buddhadasa
P. Kirthisinghe (ed.), Buddhism and Science, 1999: 58f; J. Barthélemy
Saint-Hilaire, The Buddha and His Religion, 1997: 142f; như trên, An
Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices: 250ff; Edward
Conze (trans. & ed.), The Large Sutra on Perfect Wisdom, 1990: 157f;
như trên, Indian Buddhism: 90f; Nalinaksha Dutt, ‘The Buddhist Meditation’,
trong Mahendra P. Mittal (compiled), Buddha and Early Buddhism, Vol. 1,
2002: 194ff; L.M. Joshi, ‘Buddhist Meditation and Mysticism’, như
trên, Buddhism: 62f; như trên, Theravada Buddhism in Southeast Asia:
36f; Opcit., Buddhist Thought: A Complete Introduction to the Indian Tradition:
55; như trên, The Foundation of Buddhism: 184f.
[31]
Xem thêm về ‘Định’ (Samādhi -Meditation or Concentration) trong
The Vajra Regent Wu-Tsen, ‘Meditation’, như trên, The Buddhists Encyclopaedia
of Buddhism, Vol. II: 926ff; Jotiya Dhirasekera, ‘Meditation’, trong
W.G. Weeraratne & Jotiya Dhirasekera (ed.), The Encyclopaedia of Buddhism,
Vol. IV, 1989: 206; Georg Feuerstein, ‘Samādhi’, như trên, The Encyclopaedia
of Religion, Vol. 13: 32f; như trên, History of Indian Buddhism: 42ff;
như trên, The Path of Purification: 85ff; như trên, The Path of the
Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists: 144ff; như trên, The Buddha
and His Teachings: 305ff; như trên, Early Monastic Buddhism: 159ff; như
trên, In This Life: The Liberation Teachings of the Buddha: 13ff-150ff;
Moti Lal Pandit, Buddhism in Perspective, 2001: 82ff; Thich Nhat Hanh,
The Heart of the Buddha’s Teaching, 1998: 209f; His Holiness The Dalai
Lama, The Way to Freedom, 2000: 173ff; Phra Sunthorn Plamintr, Basic Buddhism
Course, 1999: 129ff-133ff; Ajahn Chah, Food for the Heart, 1999: 47ff;
Geoffrey DeGraff (Thanissaro Bhikkhu), The Wings to Awakening, 1999: 223ff;
như trên, The Essence of Buddhism: 138ff; Peter Della Santina, The Tree
of Enlightenment, 1999: 56ff; Sidney Piburn (comp. & ed.), The Dalai
Lama—A Policy of Kindness, 2002: 69ff; L.M. Joshi, ‘Buddhist Meditation
and Mysticism’, như trên, Buddhism: 56ff; như trên, Buddhism: Beliefs
and Practices: 70ff; như trên, The Spectrum of Buddhism: Writings of
Piyadassi: 189ff; như trên, What the Buddha Taught: 67ff; John Snelling,
Buddhism: An Introductory Guide to the Buddhist Tradition, 2000: 62ff;
như trên, The Foundation of Buddhism: 174ff; Dipak Kumar Barua, An Analytical
Study of Four Nikāyas, 2003: 142ff; Traleg Kyabgon, The Essence of Buddhism:
An Introduction to Its Philosophy and Practice, 2001: 23ff-58ff; Geshe
Sonam Rinchen (author); Ruth Sonam (trans. & ed.), The Six Perfections,
1998: 81ff.
[32]
Như trên, Pali-English Dictionary: 390; Như trên, Sanskrit-Enghlish
Dictionary: 659.
[33]
Kinh Trường Bộ I.88.
[34]
Kinh Tương Ưng Bộ II.11ff-14f-29-33ff-43-48-51ff-56-78ff-82ff-83f-84f-104ff-142ff.
Xem thêm ‘Lý Duyên Khởi’ trong Kinh Tiểu Bộ I.115f-116f; Kenneth
K. Inada, ‘Buddhist Observance’, như trên, The Buddhists Encyclopaedia
of Buddhism, Vol. I: 239f; Bhikkhu Khantipalo, ‘Wheel of Life’, như
trên, The Buddhists Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V, 2001: 1479ff; như
trên, History of Indian Buddhism: 36ff; như trên, The Path of Purification:
539ff; như trên, The Path of the Buddha: Buddhism Interpreted by Buddhists:
154; như trên, The Buddha and His Religion: 134ff; như trên, The Buddha
and His Teachings: 240ff; như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings,
History and Practices: 54ff; Edward Conze, Buddhist Thought in India, 2002:
144ff; như trên, The Heart of the Buddha’s Teaching, 1998: 221ff; như
trên, The Tree of Enlightenment: 96ff; như trên, Buddhist Ethics: 16ff;
như trên, Theravada Buddhism in Southeast Asia: 29ff; như trên, The
Spectrum of Buddhism: Writings of Piyadassi: 137ff; Lella Karunyakara,
Modernisation of Buddhism: Contribution of Ambedkar and Dalai Lama XIV,
2002: 74ff; như trên, Buddhist Thought: A Complete Introduction to the
Indian Tradition: 62ff; như trên, The Foundation of Buddhism: 141f; như
trên, Return to Righteousness: 299ff; như trên, The Essence of Buddhism:
An Introduction to Its Philosophy and Practice: 73ff; K. Rama, Buddhism:
A World Religion, 1999: 16f.
[35]
Xem thêm ‘Tuệ’ (Paññā -Wisdom) trong P. D. Premasiri, ‘Ethics’,
như trên, The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V: 152; Tadeusz Skorupski,
‘Prajñā’, như trên, The Encyclopaedia of Religion, Vol. 11: 477ff;
như trên, History of Indian Buddhism: 44ff; như trên, The Path of Purification:
435ff; như trên, The Buddha and His Teachings: 320ff-353f; như trên,
The Heart of the Buddha’s Teaching: 210ff; như trên, The Way to Freedom:
179ff; như trên, The Tree of Enlightenment: 65ff; như trên, An Analytical
Study of Four Nikāyas: 159ff; như trên, The Essence of Buddhism: An
Introduction to Its Philosophy and Practice: 69ff; như trên, The Six
Perfections: 95ff.
[36]
Kinh Trường Bộ I. 559-617-621f.
[37]
Kinh Tiểu Bộ I.364. Xem thêm ‘Tam Vô Lậu Học’ trong Kinh
Tăng Chi Bộ.I.415ff-435ff; P. D. Premasiri, ‘Ethics’, như trên,
The Encyclopaedia of Buddhism, Vol. V: 150ff; như trên, History of Indian
Buddhism: 42ff; như trên, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism:
8ff-12ff-21ff; B. Saṃgharakshita, ‘Buddhism in the Modern World: Cultural
and Political Implications’, trong P.V. Bapat (ed.), 2500 Years
of Buddhism, 1997: 389f; H.H. Dalai Lama (au.); Ramanan, R. (compiler),
The Heart of Compassion, 2001: 110ff; như trên, What the Buddha Taught:
46ff; như trên, Buddhist Ethics: 40ff; như trên, The Spectrum of Buddhism:
Writings of Piyadassi: 204ff; Merv Fowler, Buddhism: Beliefs and Practices,
1999: 58ff; như trên, An Analytical Study of Four Nikāyas: 121ff; Inder
L. Malik, Dalai Lamas of Tibet, 1984: 154ff.
[38]
Xem thêm trong Kinh Trường Bộ II .546f; Alan Senauke, ‘The
Bodhisattva’s Four Methods for Steering Any Vehicle’, trong Sulak Sivaraksa
(Hon.ed.), Socially Engaged Buddhism for the New Millennium, Bangkok: Sathirakoses–Nagapradipa
Foundation & Foundation For Children, 1999: 114ff.
[39]
Xem thêm trong Kim Cương Tử (chủ biên), Từ Điển Phật Học
Hán-Việt, quyển I, 1992: 915f; Đoàn Trung Còn, Phật Học Từ
Điển, quyển II, 1997: 401f.
[40]
Kinh Tương Ưng Bộ II.38f. Xem thêm trong Kinh Tương Ưng Bộ IV.234f.
[41]
Kinh Tiểu Bộ I.605f; Kinh Tương Ưng Bộ I.415
[42]
Kinh Tăng Chi Bộ I.188f.
[43]
Kinh Tăng Chi Bộ I.269.
[44]
Kinh Trường Bộ II.541ff; như trên, The Buddha and His Teachings:
348ff; như trên, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism: 159ff;
như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices:
213f; như trên, Indian Buddhism: 178f; Hema Goonatilake, ‘Women and
Family in Buddhism’, trong Sulak Sivaraksa & et.al (ed.), Buddhist
Perception for Desirable Societies in the Future, 1993: 227f; như trên,
Buddhist Ethics : 97ff; như trên, Buddhism: Beliefs and Practices in
Sri Lanka: 132f; như trên, What the Buddha Taught: 78ff-119ff.
[45]
Xem thêm ‘HIV Infection and AID’ trong Bruce M. King, Human Sexuality
Today, 2002: 114ff.
[46]
Như sách đã dẫn ở trên, trang 116ff.
[47]
Như sách đã dẫn ở trên, trang 120ff-123ff.
[48]
Xem thêm ‘Prostitution’, như sách đã dẫn ở trên, trang 459ff.
[49]
Xem thêm ‘Sexual Problems among Homosexuals’ như sách đã dẫn
ở trên, trang 395.
[50]
Xem thêm ‘Love and relationships’ như sách đã dẫn ở trên,
trang 347ff.
[51]
Xem thêm trong Kinh Trường Bộ II.543; như trên, The Buddha and
His Teachings: 349; như trên, The Triple Gem: An Introduction to Buddhism:
161f; như trên, An Introduction to Buddhism: Teachings, History and Practices:
214; như trên, Indian Buddhism: 179f; Hema Goonatilake, ‘Women and
Family in Buddhism’, như trên, Buddhist Perception for Desirable Societies
in the Future: 228; như trên, Buddhist Ethics: 99ff; như trên, Buddhism:
Beliefs and Practices in Sri Lanka: 132; như trên, What the Buddha Taught:
79-123.