Có
quan niệm cho rằng : “Khi nhân loại còn trong thời kỳ đồ
đá, nếp sống còn lạc hậu, nền kỹ nghệ còn phôi thai,
khoa học chưa phát triển. Đức Phật thị hiện nhằm giác
ngộ cho con người đang còn sống trong u tối lầm than”. Nhưng
hiện nay trước sự bùng nổ của công nghệ tin học, khoa
học đã đưa nhân loại đạt đến đỉnh cao của trí tuệ
loài người. Vậy con người có cần đến sự giác ngộ của
đạo Phật hay không? Và đạo Phật còn có thể đóng góp
được gì cho nhân loại trước trào lưu văn minh hiện nay?
Đức
Phật thị hiện ở cõi đời này dưới hình thức một con
người, Ngài muốn chứng minh con người là địa vị tối
tôn tối thắng (duy ngã độc tôn), con người là trung tâm
của vũ trụ. Vì con người có trí khôn hơn muôn loài chúng
sanh. Nhưng trí khôn đó dù đạt đến đỉnh cao của nền
văn minh như hiện nay hay còn có thể tiến xa hơn nữa trong
tương lai thì trí khôn đó vẫn còn chứa đầy tham, sân, si,
hỹ, nộ, ái, ố ; vẫn còn nhân, ngã, bỉ, thử. Nghĩa là
thế giới vẫn còn hận thù, còn phân biệt giai cấp, còn
kỳ thị chủng tộc, tôn giáo …
Đức
Phật thị hiện giữa cõi đời này dưới hình thức con người,
Ngài muốn chỉ cho mọi loài chúng sinh mà đặc biệt ở con
người không những chỉ có trí tuệ đỉnh cao mà còn có một
trí tuệ tối thắng. Trí tuệ này chỉ có tình thương và
đạo đức ; trí tuệ đó đạo Phật gọi là : “Tuệ Giác”.
Tuệ Giác là một trí tuệ do quá trình tu tập đạt đến
giác ngộ, khác với trí tuệ do học hỏi mà thành tựu. Trí
tuệ do học hỏi càng đạt đến đỉnh cao thì cố chấp càng
lớn, ngã mạn càng to. Trái lại, đạt được Tuệ Giác là
nhờ quá trình tu tập loại bỏ các thói hư tật xấu, chuyển
hóa vô minh, phá trừ ngã chấp … Nhờ có tuệ giác mới thấy
được tự tánh của các pháp là vô thường vô ngã, giã tướng
duyên hợp, thấy rõ sự tương quan tương duyên giữa các pháp,
cái này có thì cái kia có.
Mỗi
khi Tuệ giác đã chỉ cho ta thấy giữa tôi và anh, giữa tôi
và muôn loài chúng sinh có sự liên hệ mật thiết với nhau
như ruột thịt, thì lúc đó mới biết thương yêu nhau, bảo
vệ cho nhau sống chung hòa bình với nhau. Còn ngược lại anh
là anh, tôi là tôi không dính dáng gì nhau … thì cuộc sống
sẽ đầy hận thù và bạo động.
TUỆ
GIÁC CỦA PHẬT ĐÃ ĐÓNG GÓP ĐƯỢC GÌ DƯỚI THỜI ĐỨC
PHẬT
Bằng
Tuệ Giác, Đức Phật đã từ chối ngai vàng và vương vị,
vì những thứ đó không có khả năng đem lại hạnh phúc thật
sự cho con người, cũng không giải thoát con người ra khỏi
sanh già bệnh chết, luân hồi khổ đau.
Bằng
Tuệ Giác tất nhiên là bằng trí tuệ và từ bi, đó là hai
thứ vũ khí lợi hại Đức Phật không dùng để giết hại
mà chỉ dùng để cảm hóa giác ngộ cho những con người còn
mang nặng hận thù.
Bằng
Tuệ Giác, Đức Phật đã tuyên bố một thông điệp ngắn
gọn đầy tính nhân bản : “Không có giai cấp trong nước
mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ”. Nước mắt tượng
trưng cho đau khổ, không chỉ dân ngu mới chịu đau khổ, vua
chúa cũng không tránh khỏi khổ đau. Dòng máu tượng trưng
cho hạnh phúc, không chỉ có vua chúa mới có quyền hưởng
hạnh phúc, mà dân đen cũng có quyền được hưởng hạnh
phúc vì cũng có dòng máu đỏ như nhau.
Bằng
Tuệ Giác, Đức Phật mới tuyên bố thông điệp khoa học
: “Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, bốn đại khổ
không, năm ấm vô ngã”.
Bằng
Tuệ Giác, Đức Thế Tôn xiển dương giáo lý nhân quả nghiệp
báo, luân hồi lục đạo, vô ngã vị tha.
Bằng
Tuệ Giác, Đức Phật trình bày đầy đủ giáo lý nhân duyên,
mọi sự vật trên thế gian này không có cái gì tự nó độc
lập tồn tại. Tất cả đều ảnh hưởng lẫn nhau, tương
quan tương duyên trong quá trình sanh khởi, tồn tại và hoại
diệt. Giáo lý này xây dựng cuộc sống đoàn kết hòa hợp,
tương thân tương ái giữa người và người, giữa người
với muôn loài chúng sanh.
TUỆ
GIÁC CỦA ĐẠO PHẬT ĐÃ GIÚP GÌ CHO ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM
Thời
kỳ dựng nước : Căn cứ vào di sản văn hóa vật thể còn
tồn tại đã chứng minh cho chúng ta thấy từ khi mới mở
Nước, nhờ Tuệ giác của các thiền sư, Phật giáo đã đóng
góp tích cực cho công cuộc dựng Nước. Do đó các triều
đại trước đây đã cho dựng lập lên những ngôi chùa lấy
tên là : “Chùa Khai Quốc, Chùa Kiến Sơ …” để ghi công
của Phật giáo. Cũng buổi ban đầu mới mở mang bờ cõi các
triều đại còn non trẻ đã biết lấy đạo đức Phật giáo
để xây dựng một xã hội thuần lương, một dân tộc thuần
thiện, nên văn học dân gian còn ghi lại : “Đầu làng có
một cây đa, giữa làng cây thị xa xa ngôi chùa”. Ngôi chùa
không thể thiếu khi lập một ngôi làng Việt Nam. Ngôi chùa
hướng dẫn nếp sống đạo đức tâm linh cho dân tộc. “Rủ
nhau xuống biển mò cua, lên non hái củi vào chùa nghe kinh”
; dù cuộc sống có cơ cực đến đâu, người dân Việt cũng
không quên trau dồi đạo đức, xây dựng nếp sống hiền
lương, biết thương yêu nhau : “Bầu ơi thương lấy bí cùng,
tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, biết giúp đỡ
nhau “Lá lành đùm lá rách”, sống sao cho có tình làng nghĩa
xóm.
Thời
kỳ giữ Nước : Giai đoạn vàng son trong quá trình giữ Nước,
lịch sử thường nhắc đến các triều đại huy hoàng nhất,
đó là triều đại Lý Trần. Dưới các triều đại này các
thiền sư nổi tiếng với Tuệ giác siêu trần đã giữ vai
trò Quốc Sư góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước như thiền sư Vạn Hạnh, Huệ Sinh,
Viên Chiếu, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hoàng, Không Lộ …
và trước đó còn có các thiền sư Khuông Việt, Pháp Thuận.
Các thiền sư đã trực tiếp giúp nhà vua thiết lập kế hoạch,
thảo văn thư, soạn chiếu chỉ, tiếp ngoại giao đoàn, bàn
luận cả về quân sự.
Các
vị vua thời Lý Trần là những nhà thâm sâu Phật học, có
những vị xứng đáng là thiền sư như Lý Thánh Tông, Trần
Thái Tông … Họ có ý thức xây dựng một nền văn hóa Việt
Nam độc lập :
- Về
phương diện địa lý, họ đã muốn dời kinh đô tới một
nơi có thể dựng nên sự nghiệp độc lập lâu dài.
- Về
phương diện học thuật, họ có công đào tạo một lớp trí
thức không cố chấp, biết dung hợp các ý thức hệ dị biệt
như Nho, Lão, Phật.
- Về
phương diện văn hóa, họ đã dựng nên một triều đại thuần
từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị.
- Về
văn học, họ là những người đóng góp vào vấn đề sáng
tác nhiều nhất trong nước, dù phần lớn những sáng tác
này nằm trong những chủ đề Phật giáo.
- Về
mỹ thuật : những công trình kiến trúc điêu khắc của Phật
giáo cũng là những đóng góp mỹ thuật quan trọng nhất trong
thời đại (VNPGSL Nguyễn Lang, trang 189 cuốn I).
Đặc
biệt dưới triều đại Nhà Trần, nhất là Trần Nhân Tông,
một vị vua thấm nhuần sâu sắc giáo lý Phật giáo, mười
sáu tuổi đã muốn xuất gia vì ông đã thấy được cái gì
đó còn quý hơn cả ngai vàng. Do đó khi vâng lệnh vua cha lên
làm vua, ông vẫn tuyên bố coi “Ngai vàng như đôi dép bỏ”.
Trên thế gian này xưa nay ai cũng xem đỉnh cao danh vọng của
con người là ngai vàng, cho nên thường xảy ra những cuộc
đẫm máu vì tranh cướp ngai vàng. Trái lại Trần Nhân Tông
với Tuệ giác siêu trần ông đã thấy như thái tử Tất Đạt
Đa đã thấy: Ngai vàng, vương - vị không giải quyết được
vấn đề sinh - tử, vì vậy ông đã xem nhẹ ngai vàng và lấy
xã tắc sơn hà làm quý; lấy hạnh phúc của mọi người làm
hạnh phúc cho mình. Đó là một trong ba tịnh giới (Tam tụ
tinh giới) của người Phật tử, vì thế vua đã đích thân
cầm quân đánh giặc. Trước khi xuất trận, vua đã mở Hội
nghị Bình Than, rồi đến Hội nghị Diên Hồng để hỏi ý
kiến toàn quân và toàn dân. Khi cả quân và dân một lòng
quyết đánh, vua đã thi hành theo quyết định của toàn dân,
cầm quân ra trận. Vua giết hàng vạn quân xâm lược mà vẫn
không mang tội sát sinh, vì vua làm theo ý dân chứ không phải
theo ý riêng của mình. Đó là Tuệ giác và Tuệ giác đó giúp
nhà vua đã biến một chế độ quân chủ chuyên chính thành
một chế độ dân chủ. Đã có trí tuệ giác ngộ tất nhiên
có cả tình thương và đạo đức, do đó Ngài đã không bỏ
tù mà còn tha tội chết cho các quan lại đã nhẹ dạ làm
tay sai cho giặc, bằng cách ra lệnh đốt hết các hồ sơ đen
trước mặt bá quan văn võ và đề nghị các quan lại có tội
hãy lập công chuộc tội. Lý Thánh Tông đã nhờ Tuệ giác
đó mà biết coi dân như con đẻ, coi tù nhân như thân thuộc
và đặc biệt đưa một tên tù lên làm Quốc sư dạy đạo
lý cho dân, cho nước, đó là Quốc Sư Thảo Đường.
Những
chế độ chính trị đầy nhân đạo, nhân quyền và dân chủ
như thế làm sao đất nước không thái bình thịnh trị được.
Đạo
Phật không đem của cải vật chất hay vũ khí tối tân để
giúp vua, giúp nước đánh đuổi ngoại xâm, xây dựng nước
nhà, mà bằng Tuệ giác đã giúp vua giúp nước, đánh thắng
oai hùng quân xâm lược Nguyên Mông, xây dựng nên một thời
đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Cũng
như thời đại Hồ Chí Minh, động cơ nào khiến dân tộc
Việt Nam đánh thắng được hai đế quốc hùng mạnh nhất
loài người. Thông điệp của Bác Hồ là : “Lấy dân làm
gốc, làm quan cách mạng là làm đầy tớ cho dân”. Đó là
tư tưởng chủ đạo trong quá trình phát động công cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc của Bác và với tư tưởng
chủ đạo đó Bác đã thành công.
Đạo
Phật đã tích cực đóng góp Tuệ giác trong công cuộc giữ
Nước, nên các triều đại vua chúa đã cho xây dựng nhiều
ngôi chùa để ghi công Phật giáo như chùa Trấn Quốc, chùa
Hộ Quốc, chùa Hưng Quốc …
Vào
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước Việt Nam rơi
vào cảnh chiến tranh tàn khốc do thực dân Pháp xâm lược
dưới chiêu bài “Đem ánh sáng Thiên Chúa đến khai sáng cho
dân tộc Việt Nam lạc hậu”. Ho dụ dỗ, mua chuộc hoặc
ép buộc người dân Việt Nam theo đạo Chúa, gây mọi khó
khăn và áp lực để buộc người Phật tử đổi đạo.
Đến
năm 1951, phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời, thế hệ
các Ngài như : Trí Hải, Thanh Hanh, Giác Tiên, Tố Liên, Khánh
Hòa, Huệ Quang, Lê Đình Thám, Mai Thọ Truyền … các Ngài
đã đưa ra một hệ thống tổ chức Giáo hội trên tinh thần
vô trụ của kinh Kim Cang : ‘Tổ chức mà không phải tổ chức
mới thật sự tổ chức”. Đó là Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam, đứng đầu là một vị Hội chủ (Vai trò giống như tổng
thư ký LHQ). Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam gồm sáu Hội đoàn
:
Giáo hội tăng già Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt.
Hội Phật Học Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt.
Bản
tuyên ngôn của Tổng Hội PGVN có đoạn : “Họa chiến tranh
đang gieo rắc khắp nơi, nhân loại đang lâm vào cảnh lầm
than phiền não. Chính là lúc đạo từ bi và vô thượng phải
đem nước cam lồ mà rưới tắt sân si, để xây dựng một
hòa bình cho nhân loại …
Hỡi
toàn thể Phật tử Việt Nam ! Chúng ta hãy san bằng những
hình thức sai biệt, cùng chung sức chung lòng để làm tròn
sứ mệnh kiến tạo hòa bình, gây mầm an lạc và nêu cao ngọn
đuốc trí tuệ của Đức Thế Tôn”.
Ngọn
đuốc trí tuệ của Đức Thế Tôn được các Ngài ứng dụng
trong việc xây dựng tổ chức Phật giáo nước nhà. Giáo Hội
tăng già mà đứng đầu là một vị thiền gia pháp chủ chứng
minh tối cao, kế đến là một vị Trị sự trưởng cùng với
Hội đồng Trị sự điều hành Phật sự tại mỗi miền.
Giáo
Hội tăng già lo quản lý tăng sự, quản lý tự viện, đào
tạo tăng tài, cấp phát tăng điệp. Đây là những giáo hội
chuyên trách về tu học cho tăng ni. Mở các Phật học viện,
các tu viện để đào tạo tăng tài, nơi đó tăng ni tu học
tại chỗ, có thì giờ chuyên sâu vào thực nghiệm tâm linh
để phát huy Tuệ giác.
Hội
Cư sĩ Phật Học đứng đầu là một Hội trưởng cùng với
Ban Quản trị chăm lo việc tổ chức các cơ sở Phật học
như khuôn hội Phật giáo, gia đình Phật tử ở mỗi làng,
mỗi xã đem Phật pháp đi sâu vào trong quần chúng, tiếp cận
với quần chúng, giới thiệu và hướng dẫn quần chúng đến
với đạo mầu. Đồng thời phổ biến kịp thời các tin tức
Phật sự, các thông bạch của Giáo hội đến với dân chúng
trong làng xã. Hội Cư sĩ Phật học lo hoạt động về các
mặt xã hội, y tế, văn hóa, giáo dục, kinh tế tài chính
và ngay cả trong lĩnh vực chính trị đã giới thiệu các liên
danh Phật Giáo ra ứng cử Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân,
không có sự hiện diện của chư tăng.
NHỮNG
ƯU ĐIỂM CỦA TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ý thức lẽ vô thường, có hợp có tan, do đó Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam không phải là một tổ chức sáp nhập mọi
thành phần vào chung một Giáo Hội, có một hệ thống hành
chánh quy mô từ trên xuống dưới của một quốc gia trong
một quốc gia.
Vì không có một tổ chức trung ương tập quyền nên mọi
ý đồ phân hóa chia rẽ khó có cơ hội can thiệp.
Chư tăng ni có điều kiện tu học, đi sâu vào thực nghiệm
tâm linh phù hợp với chí nguyện xuất trần, cát ái từ sở
thân. Qua quá trình tu học đạt đến chỗ sở tu sở chứng,
tăng ni sẽ được bổ nhiệm ra làm trú trì, giảng sư, giáo
thọ, Trị sự trưởng … để làm ngọn đuốc soi đường
cho nhân thế.
Chư tăng còn trẻ đạo lực còn yếu vẫn còn phải ở trong
tu viện, trong Phật học viện để tu luyện ít có cơ hội
tiếp cận với quần chúng nhất là trong lĩnh vực hành chính
nhờ đó niềm tin trong quần chúng vẫn được củng cố.
Những công tác Phật sự như tổ chức, điều hành, giáo dục,
hoằng pháp, xã hội y tế … phần lớn do Hội Phật Học
đảm trách. Như trong giai đoạn 1955 đến 1960, giảng sư của
Tỉnh Hội Phật Học Thừa Thiên-Huế là các đạo hữu Tôn
Thất Hàng, Trần Văn Tín đảm trách. Một phần vì thiếu
tăng tài, phần khác vai trò của cư sĩ vẫn có nhiều ưu điểm.
Các tăng ni là giảng sư phần lớn giảng ở chùa, giảng cho
quần chúng Phật tử mà thôi. Còn giảng sư là cư sĩ, họ
tổ chức những buổi trao đổi Phật pháp tại từng gia đình.
Ở đó có quần chúng xung quanh tham dự, trong đó nhiều khi
còn có những người ngoại đạo cũng tò mò đến nghe.
Người cư sĩ Phật tử đảm nhiệm công tác Phật sự phần
lớn do Hội Phật Học tuyển chọn những người có tâm huyết
với đạo pháp, có trình độ có tài lực và vật lực; họ
đem hết lòng thành và khả năng để phục vụ đạo pháp
mà không đòi hỏi lương bổng, họ chịu trách nhiệm trước
Hội và trước Tăng già.
Người cư sĩ Phật tử khi ra làm việc hoặc thuyết giảng
nếu có vụng về sai trái, vẫn chưa làm mất niềm tin của
quần chúng; vì quần chúng còn đặt tin tưởng vào giới Tăng
sĩ.
Trái
lại trước những việc làm hay lời nói sai trái của một
vị tu sĩ sẽ làm cho quần chúng thất vọng, mất niềm tin
dễ dàng.
Cơ cấu tổ chức Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tạo sự sinh
hoạt tương kính lẫn nhau, hòa hợp với nhau và tin tưởng
lẫn nhau. Nhờ đó mà tạo được một sức mạnh, sự đồng
tâm nhất trí trong công cuộc vận động đòi bình đẳng tôn
giáo trong tinh thần bất bạo động, dưới thời kỳ Ngô Đình
Diệm đã dẫn đến thành công.
- Ở
trong cuộc đời đầy ngũ trược ác thế này, Phật giáo cũng
như mọi tổ chức khác đều bị các thế lực vô minh kỳ
thị, chống phá và tiêu diệt. Nhưng nhờ có Tuệ giác soi
đường, Phật giáo không bao giờ trả thù bạo động hoặc
sách động thánh chiến, mà Phật giáo chỉ dùng lưỡi gươm
trí tuệ, cây cung từ bi và áo giáp nhẫn nhục để cảm hoá
và xây dựng. Trên bước đường hoằng truyền chánh pháp
gần ba ngàn năm, Phật giáo chưa bao giờ gây đổ máu cho bất
cứ ai. Chính vì vậy mà Tổ chức văn hoá, khoa học ‘UNESCO
của Liên hiệp quốc đã chính thức công nhận và lấy ngày
Đản Sinh Của Đức Thích Ca Từ Phụ là ngày lễ hội tôn
giáo toàn cầu, ngày hoà bình cho thế giới.
KẾT
LUẬN
Dù
khoa học có tiến bộ đến đâu, nhân loại văn minh đến
mức nào, ánh sáng giác ngộ của Phật giáo vẫn như vầng
thái dương đang cần cho con người và muôn loài.
Mọi
lĩnh vực như khoa học, văn hóa, giáo dục, xã hội, kinh tế,
quân sự, chính trị, thương mại … phải đặt trọng tâm
trên một nền tảng đạo đức thì xã hội con người sẽ
được an lạc; còn ngược lại thiếu nền tảng đạo đức
thì xã hội sẽ băng hoại. Do đó vai trò của Phật giáo hết
sức quan trọng.
Giáo
Hội Phật Giáo không phải là một tổ chức tôn giáo thuần
túy về cơ cấu hành chính, mà Giáo Hội Phật Giáo là một
tổ chức phát huy nền tảng đạo đức tâm linh, sản sinh
ra nhiều bậc cao tăng thạc đức, nhiều thiện hữu tri thức
ngõ hầu đem đuốc tuệ dẫn đường cho quần sinh.
Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay với một hệ thống hành
chính quy mô từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ
sở, thu hút phần lớn chư tăng từ trẻ cũng như già, có
tu hay thiếu tu, có học hay ít học đều được tuyển dụng
vào điều hành và lãnh đạo. Thậm chí ở nhiều nơi, cán
bộ của Giáo Hội toàn là tu sĩ thuộc cổ sơn môn hay lục
hòa tăng. Thành phần này phần lớn họ làm việc vì gia đình,
vì tự viện của họ hơn vì Phật pháp, vì Giáo Hội. Với
giai tầng lãnh đạo Giáo Hội như thế liệu Giáo Hội có
còn đủ khả năng lãnh trách nhiệm chỉ đạo, soi đường
cho nhân thế ! Một khi mà vô minh ngự trị, vô minh cư điện
các, xứ xứ khởi binh đao, xã hội bất ổn lại càng thêm
bất trị. Phật giáo càng xa rời quần chúng vì mọi Phật
sự đều do tăng già điều hành lo liệu ; người Phật tử
tại gia không có cơ hội tham gia do đó nên thụ động, thờ
ơ đứng ngoài mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Thậm chí giới
trẻ bây giờ họ còn xa lạ không biết chùa là gì, Phật
là gì, nhân quả luân hồi là gì …?
Hệ
thống tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hiện nay muốn
thực hiện có hiệu quả nhằm phát huy nền tảng đạo đức
tâm linh, giúp cải thiện con người, cải thiện xã hội, để
tạo niềm tin trong mọi giới, trước trào lưu phát triển
mạnh mẽ của nền khoa học hiện đại, thì hệ thống tổ
chức ấy phải được cải tổ.
Ví
dụ : Hội Đồng Chứng Minh không phải là nơi các vị trưởng
lão ngồi “làm vì”, mà Hội Đồng Chứng Minh phải là một
Hội Đồng Tăng Thống, có trách nhiệm quản lý tăng sự,
quản lý tự viện, đào tạo tăng tài, điều hành các tự
viện, Phật học viện. Tăng ni trẻ được đưa vào các tự
viện, Phật học viện tu học, đến khi đủ tài đủ đức
mới đề cử ra làm trú trì, giáo thọ, giảng sư …
Hội
Đồng Trị Sự tức Hội Đồng Điều Hành chịu trách nhiệm
trước Hội Đồng Tăng Thống. Hội đồng này cũng xin được
tuyển dụng phần lớn nhân sự là những Phật tử cư sĩ
có tài, có đức, có tâm huyết phụng sự đạo pháp, vào
các ngành như: hành chính, văn hóa, giáo dục, từ thiện xã
hội, kinh tế tài chính, kể cả lãnh cực chính trị cũng
nên đưa đại biểu Phật giáo là những cư sĩ Phật tử vào
tham gia chứ không nên giới thiệu tăng sĩ vào, vì như thế
là trái với luật đạo.
Hoạt
động của các ngành chuyên môn đều đặt dưới sự giám
sát của Hội Đồng Trị Sư.
Muốn
Phật giáo Việt Nam ngày một phát triển, hệ thống tổ chức
Phật giáo cần được xây dựng trên tinh thần: “Tăng già
cộng trụ, tứ chúng đồng tu”.
Tăng
già phải tập trung về các trú xứ như: Tòng Lâm học viện,
Phật học viện, tu viện, nơi đó có chúng lý cùng tu, cùng
học, cùng thực nghiệm tâm linh. Không nên để, nhất là giới
tăng ni sinh trẻ sống riêng rẽ trong các am thất tự lập.
Phật
tử tại gia phải được tham gia và đảm nhận những công
tác Phật sự về các lãnh vực như: Kinh tế, tài chánh, từ
thiện xã hội, văn hoá giáo dục, tổ chức hành chánh… Giúp
tăng ni có thời giờ và điều kiện tu tập, đồng thời với
vai trò người cư sĩ dễ gần gũi với quần chúng để tìm
hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, giúp Giáo hội kịp thời
có chủ trương đường lối khế hợp với quần sinh.
Xã
Hội đang cần đến Tuệ giác của đạo Phật, Giáo Hội Phật
Giáo phải chịu trách nhiệm đào tạo và cung cấp Tuệ giác
đó. Ngõ hầu có nhiều đuốc tuệ soi đường cho mọi lãnh
vực sinh hoạt Phật sự