I.
Một đạo giáo suy đồi trong một đất nước bị xâm lược
Vương
triều nhà Nguyễn củng cố sự nghiệp thống nhất đất nước
trên cái nền mà người anh hùng Quang Trung-Nguyễn Huệ đã
nối kết và bảo vệ cương thổ bằng những chiến công hiển
hách và những hoài bảo to lớn về một quốc gia độc lập,
hùng cường và bền vững. Khát vọng thống nhất, độc lập,
hùng cường và bền vững ấy của cả dân tộc chẳng bao
lâu chỉ còn là giấc mộng.
Thống
nhất về mặt cương thổ, vua quan triều Nguyễn gìn giữ được
chưa quá sáu mươi năm (1802-1858).
Còn
thống nhất lòng người thì chỉ là huyền thoại, có lẻ
kể từ khi lễ khởi công xây dựng kinh đô Huế bắt đầu.
Bởi sự hy sinh của trăm họ trong chiến tranh nay chỉ còn
công nghiệp của Tiên đế .Và sự sống, hạnh phúc của muôn
dân nay chỉ còn là sự vững chắc của ngai vàng và vương
triều.
Vua
quan triều Nguyễn xa dần trăm họ khi áp dụng một nền chuyên
chính cơ hội, giáo điều và độc tôn Nho giáo khô chết và
bất lực. Ở trong không nối kết được lòng người. Với
bên ngoài thì mê muội và tự cô lập. Bị đánh bại và xâm
lược là hệ quả tất yếu khi Việt Nam bị buộc phải đối
mặt với một quan hệ quốc tế mới, một sức mạnh mới,
một nền văn hoá văn minh mới:
Khi
mà trung tâm của thế giới đã chuyển dịch từ thượng quốc
đi về phía Tây. Và thượng quốc cũng bị dòm ngó, bị xâu
xé, bị khinh miệt và cưỡng đoạt bởi cái bọn tây di mọi
rợ ấy.
Khi
mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đem lại những
thành tựu tưởng chừng như phép màu, như ma thuật.
Khi
mà cuộc cách mạng 1789 đã đẩy lui nền chuyên chính cấu
kết giữa nhà thờ Thiên Chúa giáo và bọn phong kiến châu
Âu vào sau hậu trường của nền chính trị. Và bọn trưởng
giả tư sản vênh váo trong vai trò của một thứ thượng đế
mới hoành hành ngang ngược giữa một châu Âu, mà một nửa
thì tối đen như mực và một nửa kia thì chói chang một thứ
ánh sáng khó mà phân biệt thế nào là hy vọng, thế nào là
tội ác. Chẳng bao lâu, chế độ tư bản đã biến châu Âu
thành tâm điểm của một cuộc khủng hoảng mang tính toàn
cầu. Châu Âu của những ông chủ cá mập bóc lột và đàn
áp dã man người cùng khổ. Châu Âu của những cuộc chiến
đẫm máu của các quốc gia và liên minh tư bản. Châu Âu của
sự thặng dư hàng hoá và đói khát nguyên vật liệu. Châu
Âu rất cần những vùng đất mới để giải toả cuộc khủng
hoảng nguy kịch của chính mình. Thế là tàu bè, súng ống,
những tên lính đánh thuê, những tay phiêu lưu anh chị, những
con buôn háu hức thị trường, tài nguyên từ châu Âu toả
đi bốn biển.
Khi
mà những kẻ tiền tiêu của chủ nghĩa thực dân bắt gặp
đó đây các đồng hương của mình: các giáo sĩ và giáo đoàn
Thiên Chúa giáo, những đứa con nhiệt tình củaThượng đế
đã âm thầm đi rao giảng tin mừng từ hàng trăm năm trước
cho những kẻ khốn cùng ở các xứ sở tối tăm man di mọi
rợ, bụt thần ma quỉ. Cuộc đồng hành tương kết giữa
chủ nghĩa thực dân và đạo Thiên Chúa là như thế.
Chúng
ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng các tu sĩ Thiên chúa giáo
ở các làng chài ven biển, ở các thôn bản heo hút tận rừng
sâu từ thế kỷ 15-16.
Chúng
ta đã thấy các vị này rỏ nét hơn ở các thủ phủ, các
cửa biển ở đàng Trong, đàng Ngoài.
Chúng
ta không chỉ thấy mà còn biết rất rỏ sự cấu kết giữa
Nguyễn Anh với giám mục Bá Đa Lộc và nhiều linh mục tu
sĩ khác trong suốt cuộc mưu cầu tranh bá đồ vương của
con người sau này trở thành vị vua đầu tiên của triều
Nguyễn.
Và
từ đó cho đến khi đất nước bị cắt xé, bị xâm lược
toàn phần chẳng bao giờ thiếu vắng các vị sứ giả của
Chúa trời, của các giáo hội Thiên Chúa giáo và tổ quốc
họ.
Đồn
bót, dinh luỹ, phủ thống đốc, phủ toàn quyền, toà khâm,
toà sứ và nhà thờ Thiên Chúa giáo đối với nhiều người
Việt Nam thời bây giờ là không phân biệt. Tất cả đều
là pháo đài. Tôn giáo, văn hoá, chính trị, quân sự, kinh
tế..., tất cả đều là vũ khí xâm lược. Đồng bào theo
đạo Phật cảm nhận sâu sắc hơn bất cứ thành phần dân
tộc nào thực tế lịch sử này.
Vương
triều nhà Nguyễn bị đánh bại. Những cuộc kháng chiến,
những phong trào yêu nước của nông dân, của vua quan, của
văn thân, sĩ phu trên khắp cả ba kỳ cũng lần lược bị
đánh bại.
Sự
thật cay đắng này có nghĩa là cả đất nước, cả dân tộc
với lịch sử lâu dài của nó, cả nền văn hoá, văn minh
rực rỡ của nó đang đối mặt trước một thử thách chưa
từng thấy.
Có
một điều quan trọng nhưng không được nhiều người chú
ý là trong suốt thời gian từ lúc hạm đội của liên quân
Pháp-Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng cho đến trước Cách Mạng
Tháng Tám, trong tất cả các cuộc kháng chiến, các phong trào
yêu nước, chúng ta không thấy xuất hiện một lãnh tụ, một
lực lượng nào có tầm cở là tín đồ theo đạo Phật cả.
Chúng ta chỉ thấy các lãnh tụ kháng chiến, yêu nước đa
phần là nhà Nho (nhà Nho quan lại, nhà Nho khoa bảng hay nhà
Nho ở nông thôn), là nông dân, thậm chí là binh lính, là thư
lại trong bộ máy cai trị của thực dân. Dường như lịch
sử đã bỏ quên họ (các tu sĩ Phật giáo). Hay là chính họ
đã đứng bên lề lịch sử. Nhìn lại lịch sử, sau những
công nghiệp hiển hách ở hai triều đại Lý-Trần, Phật giáo
đã suy thoái và tồn tại bất thường suốt mấy trăm năm.
Bởi các triều đại từ Hồ, Lê, Trịnh-Nguyễn đến Tây
Sơn hoặc chỉ biết có Nho, độc tôn Nho, hoặc chỉ biết
đạo Phật qua các biểu hiện tiêu cực trên các nẻo đường
hành đạo tối tăm, lệch lạc của quá nhiều sư sãi. Tôn
giáo nào cũng vậy, có phần hình như thượng và cũng có phần
hình như hạ. Đạo Phật suốt nhiều thế kỷ từ sau nhà
Trần cáo chung hiện hữu trong đất nước dân tộc chỉ có
phần hình như hạ. Đến triều Nguyễn, Phật giáo chỉ được
xem là phương tiện để thực hiện lòng hiếu để, hoặc
để ổn định phần hồn của vua quan và cả đến mọi tầng
lớp nhân dân. Các sư sãi cam phận nương tựa vào cung đình,
thế gia vọng tộc, và trình diễn trước nhân dân những sắc
thái của một Phật giáo dân gian với rất nhiều tệ đoan,
mê tín. Hoạ hoằn lắm mới còn lại một vài ngôi chùa của
năm ba sư sãi lánh đời, thoát vòng tục luỵ, là nơi trú
ẩn, là bạn tâm hồn của những nhà ái quốc đứt gánh nửa
đường.
Đạo
Phật chỉ có thế thôi sao?
Tổ
tiên tâm linh (Từ của Thích Nhất Hạnh) của Phật tử Việt
Nam nghèo nàn, tầm thường và mệt mỏi như thế sao?
Câu
trả lời trước hết thuộc về chính những người trong cuộc.
Và đồng bào theo Phật trong cả nước, đặc biệt ở miền
Trung-Huế đã trả lời theo cách riêng của mình. Vào hai thời
kỳ khác nhau, Phật tử miền Trung-Huế đã tiến hành hai cuộc
vận động, hai phong trào có cùng một mục đích, một hoài
bảo, một khát vọng là phục hưng Đạo pháp, góp phần phục
hưng đất nước, phục vụ nhân loại.
II.
Phong trào Chấn hưng của Phật giáo miền Trung-Huế:
Năm
1925, Phan Châu Trinh, nhà chí sĩ, vị lãnh đạo lừng danh của
phong trào Duy Tân những năm đầu thế kỷ, từ Pháp trở về.
Một năm sau 1926, ông đã qua đời tại Sàigòn. Trước đó
không lâu, năm 1924, Phan Bội Châu, linh hồn của phong trào
Đông Du, nhà yêu nước vĩ đại, bị thực dân bắt đưa ra
toà rồi an trí tại Huế. Hai sự kiện này báo hiệu kết
thúc vai trò lịch sử của kẻ sĩ cựu học và ý thức hệ
Nho giáo. Vào thời điểm này ở miền Trung-Huế bắt đầu
nhen nhóm, rồi phát triển nhanh chóng hai cuộc vận động xã
hội, hai phong trào yêu nước mới:
* Thứ
nhất: Phong trào Marxisme của những thanh niên tân học
trên dưới 20. Những người tuổi trẻ sôi sục lòng căm thù
bọn cướp nước và khát khao tự do, công bằng này đa phần
là học sinh, sinh viên hay viên chức nhỏ xuất thân từ các
gia đình trung lưu có truyền thống yêu nước. Đây là xu thế
cách mạng cùng một lúc tiến hành hai nhiệm vụ: đánh đuổi
ngoại xâm và cách mạng vô sản. Những thanh niên thuộc xu
thế này về sau: một số là sáng lập viên và nòng cốt của
đảng Tân Việt, một số khác tham gia hình thành nên đảng
Cộng sản Việt Nam. Phong trào này không là đối tượng tiếp
cận của chúng tôi trong tham luận hôm nay.
* Thứ
hai: Phong trào Phật giáo của những trí thức Phật tử,
một vài quan lại cao cấp, khoa bảng và những vị tu hành
tuổi từ trung niên trở lên. Những vị này đến năm 1932
là người phát khởi, nòng cốt của phong trào Chấn hưng Phật
giáo. Mục đích đồng thời là khẩu hiệu của phong trào
là Đạo pháp và Dân tộc. Nói là hai, nhưng thật ra chỉ là
một, bởi lẻ hàng ngàn năm đạo Phật là một bộ phận
không thể tách rời của Dân tộc. Nhiệm vụ trung tâm của
phong trào tập chú vào mặt trận tôn giáo, văn hoá, tư tưởng:
Phải
làm sống lại, làm mới và đưa tinh thần chân chính của
đạo Phật vào cuộc đấu tranh đẩy lùi các thứ ma chướng
của thời đại: đó là nền văn minh cơ giới quá thiên trọng
vật chất và một thứ tôn giáo độc tôn, thần thánh hoá
mọi thứ quyền lực.
Phải
phục hưng truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và bản
sắc Phật giáo Việt Nam thời Lý-Trần.
Qua
đó mà xây dựng lại con người Việt Nam với những phẩm
chất Phật giáo: Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi, Vô uý,
Bao dung và Hoà bình.Với sức mạnh, phẩm chất và bản lãnh
của con người Việt Nam mới ấy, nền độc lập dân tộc
nhất định sẽ được vãn hồi và đất nước sẽ được
yên vui trong thế giới hoà bình. Bởi, đối với Phật giáo,
cuộc đấu tranh chính đáng, đầu tiên và cuối cùng là cuộc
đấu tranh của mỗi người, mỗi tôn giáo, mỗi đất nước
với chính mình. Không thắng được chính mình thì không thể
chiến thắng được bất cứ thứ ma chướng nào.
Để
thực hiện mục đích và khát vọng của mình, phong trào Chấn
hưng Phật giáo miền Trung-Huế bắt đầu từ:
1.
Phục hồi sức sống và phẩm chất Phật giáo chân chính cho
tất cả Phật giáo đồ, đặc biệt là giới tu hành, kết
nối thành một khối thống nhất các sơn môn, các hệ phái.
Tổ chức các cấp giáo hội từ trung ương, xuống tỉnh, huyện
và phường xã.. Công cuộc này bắt đầu từ việc hình thành
một Hội Đồng Giám Luật mà thành viên là các cao tăng đạo
cao đức trọng, một An Nam Phật Học Hội với những Phật
tử thuần thành và nhiệt huyết được trang bị một nền
học vấn tương đối đầy đủ (so với thời bây giờ): có
Đông, có Tây, có tân, có cựu, có đạo, có đời, và một
Hội Đồng Chứng Minh gồm các sư tăng cao cấp. Đây là những
viên đá tảng đầu tiên để tổ chức thành một giáo hội
có đủ mọi quyền lực kiểu giáo hội Thiên Chúa giáo. Công
cuộc này là một thách thức cả trên mặt lý thuyết, bản
chất và thực tế của một tình hình Phật giáo vào một
thời buổi mà thượng toạ Thích Mật Thể gọi là thời mạt
pháp. Có thể có một giáo hội với những quyền lực tuyệt
đối trên những con người được soi rọi bởi một thứ
ánh sáng để nhận ra một chân lý là “Vạn hữu đều vô
thường”, và “không có gì đáng tin (kể cả những gì Phật
dạy) nếu sự thật không được kiểm nghiệm bằng sự hiểu
biết chân thật và tự do của mỗi con người”? Có thể
có một giáo hội với những quyền lực tuyệt đối khi các
thành viên của nó đều được chỉ cho biết rằng mỗi con
người tự trách nhiệm lấy tất cả mọi hành vi của mình,
không có sự cứu chuộc, ban phát, tha thứ hay trừng phạt
từ một thần linh hay thượng đế? Bình đẳng và tự do tuyệt
đối trong mọi quan hệ giữa người và người là lý tưởng
của người học Phật. Tôi chưa hiểu hết ẩn ý sâu xa khi
các vị chủ xướng của phong trào muốn tạo dựng một giáo
hội kiểu Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên có một điều thu hút
sự chú ý của tôi với rất nhiều thiện cảm là sự ra đời
của các tổ chức cơ sở. Đó là các Niệm Phật Đường
và các Khuôn hội. Khi mà chùa chiền và sư sãi chưa đủ để
đáp ứng các nhu cầu tín ngưỡng, tu tập của Phật tử và
quần chúng liên cận, thì Niệm Phật đường và Khuôn hội
là nơi tốt nhất để họ cùng nhau sinh hoạt Phật sự. Trong
trường hợp bị tấn công hoặc xâm hại bởi thiên tai dịch
hoạ, cộng đồng tôn giáo cơ sở này còn là nơi để các
thành viên nương tựa giúp đở lẫn nhau vượt qua các thử
thách trước mắt và lâu dài. Cũng có thể đây là một loại
chính quyền cơ sở trong những tình thế đặc biệt yêu cầu.
2.
Giáo dục và đào tạo các thế hệ tăng ni và phật tử có
phẩm hạnh, có học vấn, có tài năng, có bản lãnh để khế
hợp và chuyển hoá các thực tại của cuộc sống theo hướng
tích cực (lý tưởng Phật giáo và dân tộc). Sự nghiệp này
bắt đầu từ các Đạo tràng, đến các lớp thuộc Sơn môn
học đường, các cấp thuộc An Nam Phật Học đường, các
Phật học viện, các giảng sư, các ban giảng sư, các chương
trình giảng tập với nội dung kết hợp nội ngoại kinh điển,
mở rộng thêm các kiến thức về lịch sử, văn hoá của
dân tộc và của các nước thuộc khu vực Ấn Trung, đặc
biệt là các kiến thức cơ bản về khoa học kỹ thuật và
nền văn minh phương Tây. Đường hướng giáo dục và đào
tạo này mãi cho đến ngày nay tuy trình độ so sánh có chênh
lệch, nhưng trên đại thể vẫn còn nhiều điều khả thi.
Một chi tiết rất quan trọng mà nếu thiếu nó, phong trào
Chấn hưng Phật giáo chắc chắn không đạt được thành tựu
như chúng ta đã thấy: đó là phương pháp sư phạm, phương
pháp tư duy khoa học. Chính nhờ các phương pháp tiên tiến
này mà các giảng sư đã cung cấp cho các học viên cách tiếp
cận mới các vấn đề thuộc gia tài văn hoá, lịch sử truyền
thống một cách thích thú và tương đối dể dàng. Phương
pháp tư duy, cách tiếp cận và giải thích các vấn đề thuộc
lãnh vực học thuật, tâm linh mỗi bên mỗi khác, bên này
thì xử dụng trực giác là chủ yếu, bên kia thì mãi mê với
phân tích-tổng hợp, nhưng nếu không nhờ các phương pháp
khoa học đánh thức thì nền văn minh phương Đông trong đó
có Việt Nam chẳng biết tiếp tục ngủ quên cho đến bao giờ?
Chúng tôi dài dòng đông tây ở đây chỉ với mục đích là
làm rỏ hơn vai trò của bác sĩ Lê Đình Thám, của thượng
toạ Thích Trí Độ, của một số vị khác trong phong trào
Chấn hưng Phật giáo và đồng thời cũng để tự nói với
chính mình rằng đạo Phật là con đường rộng mở chỉ có
chào đón, dung hợp và chuyển hoá chứ không hề là pháo đài
cố thủ, bắn phá và tiêu diệt các nền văn hoá văn minh
khác.
3.
Xuất bản báo chí và kinh sách. Ra đời chưa được bao lâu
thì An Nam Phật học hội đã có tờ báo Viên Âm và một cơ
sở xuất bản nhằm phổ biến rộng rãi hơn các nội dung
học thuật (Phật học, Nho học), tu học (Phật giáo), các
kiến thức nền tảng hổ trợ, các thông tin liên quan đến
các chương trình hoạt động của Hội, của Học đường.
Đặc biệt trên báo Viên Âm có mục Diễn đàn trình bày quan
điểm, lập trường và đường lối của Phật giáo đối
với Đạo pháp và Dân tộc trước bối cảnh mới. Bên cạnh
nguyệt san Viên Âm do Hội (ANPHH) quản lý còn có một Phật
Học Tùng Thư của Đoàn Phật Học Đức Dục. Phật Học Tùng
Thư đã xuất bản một số sách làm thức ăn tinh thần cho
giới trẻ Phật Tử. Viên Âm và các sách của Phật Học Tùng
Thư đã mở rộng độc giả ra ngoài lãnh thổ Huế-miền Trung
và các giới Phật tử. Nó đã ra Bắc vào Nam, và độc giả
của nó còn là những người ngoài Phật giáo.
4.
Đoàn Phật Học Đức Dục. Tuổi trẻ bao giờ cũng có vai
trò xứng đáng trong bất cứ sự nghiệp to lớn và lâu dài
nào. Các nhà khởi xướng, lãnh đạo phong trào Chấn hưng
Phật giáo đã có ý tưởng đúng đắn và hành động kịp
thời khi tổ chức nên Đoàn Thanh Thiếu Niên Phật Học Đức
Dục. Đây là đội ngũ những người kế thừa sự nghiệp
của các thế hệ khai sáng. Vào những năm sau 1940, một tổ
chức xã hội đã thu hút, qui tụ đông đảo thanh thiếu niên
trong cả nước đặc biệt là ở Huế, đó là một phong trào
Hướng Đạo Sinh. Phong trào này du nhập từ châu Âu, do những
người Pháp và những thanh niên du học từ Pháp, những sinh
viên, học sinh các trường Pháp, Pháp Việt tổ chức và điều
hành. Phong trào có mục đích huấn luyện thanh thiếu niên
trở thành những người tháo vác, sống vui, sống khoẻ và
hữu ích. Nội dung và phương pháp huấn luyện, hoạt động
rất phù hợp với tâm lý và thể chất của tuổi trẻ. Nhưng
không biết mục đích sau cùng của phong trào Hướng Đạo
Sinh là gì? Phải chăng đây cũng là một tổ chức nhằm lôi
kéo và ru ngủ thanh thiếu niên khiến họ quên đi các trách
nhiệm đối với Đạo pháp, Dân tộc? Bất cứ ai quan tâm
đến vận mệnh đất nước và Phật giáo cũng không thể
thiếu cảnh giác trước một hiện tượng xã hội như thế.
Đoàn Thanh Thiếu Niên Đức Dục, tiền thân của Gia Đình
Phật Hoá Phổ những năm từ 1943-1950, và gia đình Phật tử
từ 1950 trở đi, ngoài mục đích đào tạo huấn luyện các
thế hệ kế thừa, còn có mục đích gìn giữ, bảo vệ tuổi
trẻ cho Đạo pháp và Dân tộc.
Khát
vọng, hoài bảo và mục đích rất lớn, rất xa, công sức
đổ ra nhiều, nhưng thành quả của phong trào chấn hưng Phật
giáo ra sao?
Đến
năm 1943, một trong những người nòng cốt và năng nổ của
phong trào: Thượng toạ Thích Mật Thể đã mô tả tình hình
Phật giáo sau 15 năm chuyển mình (1928-1943) khá bi quan:
Ôi!
Tinh thần Phật giáo đến đây hầu như đã tuyệt diệt. Bởi
vậy các cảnh chùa trong nước đã thành những cảnh gia đình
riêng. Không còn tính cách đoàn thể của một tôn giáo nữa.
Họ sống trong Phật giáo hầu hết chỉ còn “dốt” và “quên”.
Quên để khỏi phải biết bổn phận-bổn phận chân chánh
của một tông đồ”. (Thích Mật Thể-Việt Nam Phật Giáo
sử lược)
Chúng
ta không hoài nghi sự chân thành của Thượng toạ Mật Thể
khi ông đưa ra nhận định này. Và cũng qua đó chúng ta thấy
được sự nôn nóng của ông trước tiền đồ Phật giáo.
Sau mấy trăm năm suy thoái và hơn nửa thế kỷ sống trong
áp bức và nô lệ, công cuộc Chấn hưng mới chỉ từng ấy
năm trời với một nhóm nhỏ con người và phương tiện-cho
dù những con người ấy có tài năng và nhiệt huyết đến
đâu cũng chưa thể đưa Phật giáo thoát khỏi tình trạng
bế tắc. Hơn nữa, dù thế nào thì Phật giáo Việt Nam cũng
chỉ là một bộ phận của dân tộc. Khủng hoảng của Phật
giáo không ở ngoài khủng hoảng của dân tộc. Vấn đề của
Phật giáo nhất thiết chỉ được giải quyết sau khi nền
độc lập của đất nước được vãn hồi và sự hàn gắn
dân tộc có điều kiện thực hiện.
Cuộc
cách mạng tháng 8-1945 và cuộc kháng chiến tiếp liền sau
đó đã đặt Phật giáo trước những khó khăn và những cơ
hội mà người lãnh đạo tưởng chừng không thể vượt qua
và khó mà tận dụng hết.
Khó
khăn thứ nhất là một bộ phận nhân sự chủ chốt của
phong trào như bác sĩ Lê Đình Thám, thượng toa Thích Trí Độ,
thượng toạ Thích Mật Thể và nhiều tu sĩ, Phật tử khác
rời bỏ cương vị và cuộc sống tu hành tham gia kháng chiến.
Khó
khăn thứ hai là các nguồn tài trợ cho phong trào và cho sinh
hoạt của rất nhiều chùa bị cắt giảm, thậm chí dứt hẳn,
bởi chế độ phong kiến đã cáo chung, và đời sống của
đại bộ phận quần chúng Phật tử không có dấu hiệu gì
được cải thiện sau những đổi thay chính trị đã kéo theo
sự đình đốn kinh tế.
An
Nam Phật Học Hội và An Nam Phật Học Đường tạm ngừng
hoạt động. Công cuộc Chấn hưng đứng trước một thử
thách lớn, thậm chí ở một vài lãnh vực có những bước
thụt lùi: khối lượng thầy cúng, thợ tụng có giảm bớt
sau hàng chục năm vận động chỉnh lí đã gia tăng trở lại.
Các hoạt động báo chí, xuất bản và sinh hoạt của Gia Đình
Phật Hoá Phổ cũng gián đoạn một thời gian. Trước những
biến động to lớn của xã hội, đất nước, Phật giáo Việt
Nam, Phật giáo miền Trung-Huế quay trở lại củng cố hàng
ngũ tăng già. Năm 1947, khi mà lực lượng kháng chiến cố
thủ một số vùng nông thôn và các chiến khu ở rừng núi,
thực dân Pháp đặt ách cai trị tương đối ổn định ở
các đô thị, phong trào Chấn hưng Phật giáo tại Huế và
các thành phố tỉnh lị miền Trung bắt đầu hoạt động
trở lại. Lần này không phải với danh nghĩa An Nam Phật Học
Hội, mà là Hội Phật Học trong ý hướng tiến tới thống
nhất Phật giáo toàn quốc. Phải chăng cuộc Cách Mạng Tháng
Tám và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời năm
1945 đã củng cố và góp phần tăng thêm ý chí và khát vọng
hình thành một cơ cấu lãnh đạo duy nhất cho Phật giáo Việt
Nam. Ý chí, khát vọng ấy đặc biệt mạnh mẽ nơi Phật tử
miền Trung-Huế . Tuy sự nối kết giữa các Hội Phật Học
ở các tỉnh miền Trung-Huế lúc bây giờ vẫn còn lỏng lẻo
và các Hội Phật Học ở miền Bắc, miền Nam vẫn còn hoạt
động riềng lẻ, nhưng báo Viên Âm ở Huế vẫn được gọi
là cơ quan hoằng pháp của Hội Phật Học Việt Nam.
So
với An Nam Phật Học Hội, thì Việt Nam Phật Học Hội có
những đổi thay quan trọng: Thành phần lãnh đạo không còn
là cư sĩ nữa mà là các tăng sĩ. Các tăng sĩ trẻ là thành
tựu của công cuộc Chấn hưng bắt đầu xuất hiện trong
các vai trò trọng yếu. Các nhà sư Trí Quang, Minh Châu, Nhất
Hạnh, Thiện Minh, Đức Tâm... đã chen vai cùng các tăng sĩ
đàn anh thuộc thế hệ trung gian, như Trí Thủ, Đôn Hậu,
Mật Nguyện, Mật Hiển... gánh vác công cuộc Chấn hưng. Trên
báo Viên Âm giai đoạn này (1949) chúng ta thấy xuất hiện
những vấn đề mới thu hút sự tò mò quan tâm của độc
giả thuộc thành phần có học vấn cao (đăc biệt độc giả
ngoài Phật giáo): Lịch sử Phật giáo, Phật giáo và khoa học,
Phật giáo và giáo dục, Phật giáo và triết học, Phật giáo
và tôn giáo, Phật giáo và mỹ thuật. Những công trình nghiên
cứu có tính tư tưởng học thuật này đã hé mở cho độc
giả thấy rằng Phật giáo là một thế giới rộng lớn, phong
phú, mới lạ bị che khuất cần phải được khám phá, và
Phật tử Việt Nam đã chứng tỏ khả năng bỏ lại đằng
sau thời kỳ mà Thích Mật Thể mô tả là “dốt” và “quên”
từng bước vượt qua các trở ngại, các ma chướng để khẳn
định sự tồn tại của mình giữa lòng dân tộc và thời
đại mới.
Do
những điều kiện và hoàn cảnh thực tế, phong trào Chấn
hưng giai đoạn từ 1947 trở về sau phải tạm thời hạn chế
công tác giáo dục đào tạo. Thay vào đó đẩy mạnh công
tác báo chí, tuyên truyền, phát triển các Khuôn hội, các
Niệm Phật đường, các Gia Đình Phật Hoá Phổ. Đến năm
1950 tại Thừa Thiên-Huế đã có trên 100 Khuôn hội và Niệm
Phật đường. Năm 1951 Gia Đình Phật Hoá Phổ có mặt khắp
các làng xã Thừa Thiên-Huế thu hút hàng ngàn thanh thiếu niên.
Chính
các Gia Đình Phật Hoá Phổ Huế-miền Trung là lực lượng
nòng cốt tổ chức Đại Hội các huynh trưởng Gia Đình Phật
Hoá Phổ toàn quốc. Tại Đại Hội này Gia Đình Phật Hoá
Phổ đổi tên thành Gia Đình Phật Tử Việt Nam.
Cũng
trong năm 1951, một kết quả vô cùng to lớn của công cuộc
Chấn hưng là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời và đặt
trụ sở tại Huế. Phật giáo miền Trung-Huế là nòng cốt
của giáo hội thống nhất này. Một sự kiện mới mẻ và
đặc biệt quan trọng cũng diễn ra tại Huế năm 1951 là trường
trung học tư thục Bồ Đề được thành lập. Đây là cơ
sở giáo dục ngoài truyền thống của Phật giáo xuất hiện
lần đầu tiên tại Việt Nam. Những năm tiếp theo một mạng
lưới trường Bồ Đề hai cấp trung và tiểu học có mặt
tại Huế, tại nhiều tỉnh thành của miền Nam. Thầy và trò
của các trường Bồ Đề đã tham gia rất tích cực các phong
trào của giai đoạn Phật giáo Dấn thân.
Phật
giáo miền Trung-Huế chuyển mình từ những năm cuối của
thập kỷ thứ ba thế kỷ hai mươi, bắt đầu công cuộc chấn
hưng từ 1932, trải qua nhiều tháng năm thăng trầm, đã gặt
hái được những thành tựụ đáng kể làm rộn lên bầu
không khí phấn chấn vui tươi trong cộng đồng Phật Giáo
đồ, thu hút được sự tò mò chú ý nể trọng của các thành
phần quần chúng khác, sau năm 1954, làm cho chế độ độc
tài và độc tôn Thiên Chúa Giáo gai mắt và e ngại.
Sau
hàng mấy trăm năm suy thoái, lụi tàn, đạo Phật đã hồi
sinh như một sức mạnh vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa
hứa hẹn một năng lực sinh động xem ra rất phù hợp với
lý tưởng Cộng hoà Dân chủ, và đồng thời như một ngọn
lửa thắp sáng niềm tin và hy vọng cho một bộ phận không
nhỏ quần chúng mới vượt thoát ra khỏi tình trạng bế tắc
mịt mù của cá nhân, Đạo pháp và Đất nước. Chúng ta thấy
được, cảm nhận được tình trạng phấn chấn và niềm
hy vọng này qua những lễ hội rực rở trong các mùa Phật
Đản tại Huế những năm sau 1954.
III.
Khúc quanh mới - bối cảnh mới.
Năm
1954, chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp dịnh Genève, vĩ tuyến
17, sông Bến Hải là những từ gây chấn động mãnh liệt
và vô cùng sâu sắc trong tâm thức nhân dân Việt Nam.
Sau
gần một trăm năm kháng chiến với rất nhiều đau thương,
mất mát, hy sinh, vào giai đoạn cuối, nhân dân Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của đảng Cộng sản đã dành lại độc lập,
chủ quyền trên một nửa đất nước: miền Bắc. Một nửa
còn lại: miền Nam, nằm trong vòng kim cô của đế quốc Hoa
Kỳ.
Chiến
thắng Điện Biên Phủ: đỉnh cao của vinh quang và tự hào
dân tộc. Đồng bào theo đạo Phật chia xẻ niềm vinh quang
và tự hào ấy. Công cuộc Chấn hưng đã góp phần, bước
đầu, làm sống lại tinh thần Phật giáo Lý-Trần, đã nối
kết người Phật tử với thân phận đất nước. Tăng sĩ,
Phật tử cũng tham gia “sát thát” như bất cứ người Việt
Nam yêu nước nào.
Đất
nước bị chia cắt, cuộc ra đi từ miền Bắc của non một
triệu con người, cuộc ra đi từ miền Nam (tập kết) của
hàng trăm ngàn con người khác. Những biến cố này là nổi
đau, là món nợ, là sự nghiệp dở dang, là niềm ray rứt,
hy vọng, là cơ hội để thực hiện một hoài bảo, một mưu
đồ, một tham vọng... Mỗi cảm nhận, mỗi động thái tâm
hồn, mỗi toan tính và hành động thể hiện tâm thức của
từng bộ phận quần chúng nhân dân, kể cả từng cá nhân,
gia đình trước khúc quanh lịch sử.
Xâm
lược và đô hộ, thực dân và đế quốc, đàn áp và bóc
lột, chém giết và tù đày, nô lệ và nghèo đói, cuộc kháng
chiến trường kỳ và vô cùng khắc nghiệt, ý thức hệ, chánh
kiến, tôn giáo, đảng phái, địa phương, địa bàn cư trú,
thành phần xã hội, lợi quyền, địa vị, danh vọng..., tất
cả những thứ ấy Cộng lại và nhiều thứ khác nữa đã
tích tụ, đã tác động qua lại làm nên VẤN ĐỀ MIỀN NAM,
VẤN ĐỀ VIỆT NAM với những mốc điểm thời gian: 1954, 1960,
1963, 1968, 1973, 1975. Phật giáo Việt Nam, Phật giáo miền Trung-Huế
vào những thời điểm đặc biệt ấy đã thể hiện sự tham
dự của mình. Sự tham dự mà như sự mong ước của nhà sư
Trí Quang, người khởi xướng và chung sức lãnh đạo phong
trào Phật giáo Dấn thân 1963-1966: “trong cơn nghiêng ngửa
của đất nước, ai [kể cả người Mỹ và thế giới: Chu
Sơn] nhìn vào Phật giáo cũng nghĩ rằng đất nước này còn
có cái ấy”. (Tiểu truyện tự ghi - Thích Trí Quang).
IV.
Phong trào Dấn thân của Phật Giáo miền Trung-Huế
Điều
1 (chương một) của hiệp định Genève về Việt Nam qui định:
“Một đường ranh giới quân sự tạm thời được vạch
ra để tập kết lực lượng quân sự của hai bên về phía
sau”.
Mục
6 của tuyên bố cuối cùng nói rõ rằng:
“Đường
ranh giới quân sự là tạm thời và trong bất cứ trường
hợp nào cũng không được coi là biên giới lãnh thổ hay chính
trị”.
Như
vậy vĩ tuyến 17 không phải là lằn ranh giới chia hai đất
nước. Vĩ tuyến 17 chỉ là lằn ranh tạm thời giữa hai khu
phi quân sự. Hai bên rút quân về phía sau khu phi quân sự ấy.
Người Pháp ở phía Nam, Việt Minh ở phía Bắc. Sau đó người
Pháp rút quân về nước và một cuộc tổng tuyển cử sẽ
được tổ chức hai năm sau hiệp định ký kết để bầu
chọn ra một nhà cầm quyền cho quốc gia Việt Nam Độc lập
và Thống nhất.
Tinh
thần hiệp định Genève là như thế.
Nhưng
các bên liên hệ đã làm gì trước và sau khi hiệp định
được công bố? Ngày nay ta không khó lắm để mô tả mưu
đồ và hành động của mỗi bên.
Về
Phía Mỹ: Mỹ là một trong chín bên tham dự hội nghị Genève
về Đông Dương, tám bên còn lại là: Pháp, Liên Xô, Anh, Trung
Quốc, Campuchia, Lào và hai phía Việt Nam là chính phủ Hồ
Chí Minh, chính phủ Bảo Đại thuộc Pháp. Nhưng Mỹ đã không
ký vào tuyên bố cuối cùng tại Genève. Sách lược của Mỹ
về Đông Dương sau chiến tranh thứ hai là: một: ủng hộ
Pháp phục hồi lại các thuộc địa. Cung cấp tiền bạc và
vũ khí cho Pháp tái chiếm Đông Dương. Xử dụng Pháp như
tên lính đánh thuê để thực hiện sách lược toàn cầu của
Mỹ ở châu Á. hai: Từ năm 1950 khi thấy Pháp sa lầy ở Việt
Nam, Mỹ dần dần muốn đẩy Pháp ra và tự mình đảm trách
vai trò cảnh sát quốc tế ở khu vực này. Việc tuyển chọn
Ngô Đình Diệm (từ 1953) điều đình với Pháp, trả giá với
Bảo Đại, cấu kết với nhà thờ Thiên Chúa giáo để đưa
Ngô Đình Diệm về Việt Nam làm thủ tướng, và bày bố mưu
ma chước quỉ để Ngô Đình Diệm chiếm đoạt mọi quyền
lực và biến miền Nam thành một tiền đồn chống Cộng là
những mắc xích nằm trong sâu chuổi sách lược của Mỹ ở
Việt Nam, ở Đông Dương, Đông Nam Á và châu Á. Sách lược
này bất chấp các quyền lợi tinh thần, vật chất của nhân
dân, đất nước Việt Nam.
Chính
Mỹ là con ách chủ bài phá bỏ hiệp định Genève.
Về
Phía tập đoàn Ngô Đình Diệm: Trong khi Mỹ muốn biến miền
Nam thành tiền đồn chống Cộng theo sách lược toàn cầu
của họ, thì Ngô Đình Diệm nương nhờ thế lực Mỹ để
thực hiện mưu đồ cát cứ lâu dài, tách miền Nam ra khỏi
đất nước Việt Nam, xây dựng vùng lãnh thổ này thành một
nước riêng biệt, một quốc gia độc tôn Thiên Chúa Giáo.
Để
thực hiện tham vọng đen tối chống lại quyền lợi thiêng
liêng của tổ quốc, Ngô Đình Diệm và tập đoàn Cần Lao
Thiên chúa Giáo của ông, một mặt ngang ngược phá bỏ hiệp
định Genève, một mặt tiến hành các sách lược sau:
1.
Lật đổ Bảo Đại, người đã bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm
làm Thủ ướng và ông đã quì lạy hứa trung thành “với
hoàng thượng” trước khi trở về Việt Nam.
2.
Tiến hành các chiến dịch đẩm máu tố Cộng, diệt Cộng,
bắt bớ tra tấn và giết hại hàng chục ngàn người cựu
kháng chiến, làm tan nát hàng trăm ngàn gia đình có thân nhân
đi tập kết.
3.
Tiêu diệt các đảng phái, giáo phái.
4.
Thực hiện một kế hoạch lâu dài nhằm hạn chế, đàn áp
và tiêu diệt Phật giáo.
Về
phía miền Bắc, bên duy nhất thành thực muốn thi hành hiệp
định Genève, Đảng Cộng sản và chính phủ Hồ Chí Minh đã:
1.
Triệt thoái hết lực lượng quân sự về phía bên kia bắc
vỹ tuyến 17. Chỉ để lại miền Nam những cán bộ chính
trị nhằm vận động dân đấu tranh để chính quyền Ngô
Đình Diệm chấp hành nghiêm chỉnh các điều khoản của hiệp
định, tiến tới hiệp thương, tổng tuyển cử. Miền Bắc
phải trả giá cho ảo tưởng chính trị này bằng cái chết
hoặc tù đày hàng chục ngàn cán bộ đã trưởng thành trong
kháng chiến và rất nhiều những cơ sở của họ.
2.
Tiến hành cuộc cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc.
3.
Đến khi không còn hy vọng gì chính quyền Ngô Đình Diệm
thi hành hiệp định Genève, thì đảng Cộng sản và chính
phủ Hồ Chí Minh mới phát động chiến tranh giải phóng. Mặt
trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ra đời vào tháng 12-1960
là hành động chẳng đặng đừng. Bởi đất nước này là
một, dân tộc này là một.
Đại
thể tình hình chính trị ở miền Nam và cả Việt Nam sau hiệp
định Genève là như thế. Còn tại Huế-miền Trung toàn cảnh
xã hội ra sao?
Hơn
bất cứ nơi nào trên cả miền Nam, chế độ Ngô Đình Diệm
đã thực thi tại miền Trung-Huế các sách lược cực kỳ
thất nhân tâm, nham hiểm và tàn ác:
Huế
là kinh đô của nhà Nguyễn, việc truất phế Bảo Đại và
tước đoạt một số tài sản của hoàng tộc đã gây bất
mãn, khinh bỉ và căm giận trong các giới thuộc cựu trào.
Huế
là kinh đô của Phật giáo, việc kỳ thị, bêu riếu, hạn
chế, đàn áp và tiêu diệt Phật giáo đã thúc đẩy đồng
bào Huế theo đạo Phật đoàn kết lại và đấu tranh sinh
tồn với chế độ.
Huế-miền
Trung là xứ sở của những cực đoan chính trị, là nơi hoạt
động sôi nổi của các đảng phái. Việc tố Cộng, diệt
Cộng bằng các biện pháp phát xít và thanh toán các đảng
Đại Việt, Quốc Dân Đảng đã biến anh em nhà họ Ngô thành
kẻ thù không đội trời chung của tất cả.
Huế-miền
Trung là một khu vực kinh tế nghèo nàn, việc Ngô Đình Cẩn
và anh em nhà họ Ngô bắt bớ, tống tiền, làm nhục và cướp
bóc tài sản của một số thương gia, nhà doanh nghiệp đã
khiến giới doanh thương hoảng sợ tìm đường làm ăn nơi
khác, những người còn lại đa phần là tiểu thương âm thầm
chịu đựng và khinh ghét chế độ. Đường lối kinh tế của
tập đoàn Ngô Đình Diệm là bỏ rơi nông dân và dân nghèo
thành thị, bao che cho địa chủ và bọn tư sản mại bản.
Viện trợ Mỹ tập trung vào túi không đáy của bọn tham nhũng,
vào bộ máy quân sự, công an mật vụ, thông tin tuyên truyền,
hành chính và thư lại.
Chính
sách văn hoá giáo dục phục vụ cho mưu đồ cát cứ, nhân
danh chủ nghĩa chống Cộng mà chống phá miền Bắc, cản ngăn
việc thống nhất đất nước, tuyên truyền chủ nghĩa Duy
linh-Nhân vị, thần thánh hoá anh em nhà họ Ngô và cuối cùng
là chống phá Phật giáo.
Một
thị xã nhỏ như Huế mà có đến bốn trường trung học Thiên
Chúa giáo: Pellerin, Providence, Jean D’art và Việt Hương, tất
cả các huyện thuộc lãnh thổ Thừa Thiên. Quãng Trị đều
có trường tư thục do các tu sĩ linh mục đảm trách. Trường
Quốc học đổi tên thành trường Ngô Đình Diệm. Viện đại
học Huế do linh mục làm viện trưởng, phụ trách giảng dạy
các môn Văn, Sử và Triết đa phần là linh mục, tu sĩ và
giáo sư Công giáo. Sách giáo khoa các môn học trên tập chú
tuyên truyền cho đạo và nền văn minh Thiên Chúa giáo.
Tất
cả các mưu đồ, sách lược và động thái của chính quyền
Ngô Đình Diệm từ việc thay đổi thành phần viên chức,
thành phần dân cư theo tiêu chí Thiên Chúa giáo, đến việc
đánh phá tiêu diệt niềm tin, nhân sự các bộ phận quần
chúng ngoài Thiên Chúa giáo đều nhắm đến mục tiêu cuối
cùng là biến Huế-miền Trung và cả miền Nam thành một quốc
gia riêng biệt, một nước Thiên Chúa giáo dưới sự quan phòng
của Đức Chúa Trời-đấng sáng tạo ra muôn loài có quyền
năng và giá trị tuyệt đối. Đất nước, Dân tộc và các
nền văn hoá văn minh khác chẳng là cái gì cả trước mắt
Giáo hội và số đông người Thiên Chúa giáo vào thời buổi
ấy. Càng ngày đồng bào theo đạo Phật miền Trung-Huế càng
thấy rỏ nguy cơ Đạo pháp và Dân tộc bị huỷ hoại bởi
chính quyền anh em nhà họ Ngô.
Nhưng
nguy cơ đâu chỉ đến từ một phía.
Đồng
bào theo đạo Phật ở miền Trung-Huế, đặc biệt là thành
phần trí thức (sau Chấn hưng trí thức Phật giáo tăng trưởng
mạnh và đông) cảm nhận về một nguy cơ đến từ phía khác
đó là chiến tranh và chủ nghĩa Cộng sản. Khi không thống
nhất đất nước theo con đường hoà bình theo tinh thần Hiệp
định Genève, đảng Cộng sản và chính phủ Hà Nội chắc
chắn sẽ tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, nối
liền Nam-Bắc và xây dựng chủ nghĩa Cộng sản trên cả hai
miền. Đối với Phật giáo chiến tranh không hứa hẹn điều
gì tốt đẹp cả. Và chủ nghĩa Cộng sản theo sách vở và
những thông tin họ nhận được qua báo chí, đài phát thanh-thì
luôn xem tôn giáo là kẻ đồng hành với phản động và lạc
hậu. Trong kháng chiến chống Pháp hầu như tất cả các chùa
chiền sư sãi, Phật tử đã không nhiều thì ít, không trực
tiếp thì cũng gián tiếp, đều tham gia. Và kinh nghiệm đứng
chung chiến hào với người Cộng sản, số đông trong họ
đinh ninh rằng bạo lực cách mạng sẽ quay chỉa về phía
tôn giáo sau khi đánh đuổi được ngoại xâm.
Tình
trạng của Phật giáo từ sau Genève là trên đe dưới búa.
Hồi
1972, ở trại thẩm vấn, nhà sư Thích Như Ý còn nói với
tôi: “Đấu tranh với chính quyền Ngô Đình Diệm là khó,
nhưng không khó bằng sống chung với người anh em Cộng sản.
Trong chế độ Ngô Đình Diệm số người có lý tưởng không
nhiều. Bản chất của chế độ ấy là tham vọng độc tôn
và quyền lợi tầm thường, điểm tựa dân tộc còn chông
chênh hoặc không có. Cụ Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam
thì ý thức, tình cảm dân tộc sâu sắc và mạnh mẽ. Chủ
nghĩa Cộng sản đối với các vị là một lý tưởng. Lý
tưởng ấy đối với cụ Hồ và các đệ tử của cụ cũng
để trước hết phục vụ dân tộc, phục vụ tổ quốc Việt
Nam”. Sư Như Ý còn nói thêm một câu mà đến nay tôi chưa
hiểu hết: “Nhiều người tiếc là Marx chưa tiếp cận với
phương thức sản xuất châu Á. Tôi thì chỉ tiếc là Marx
chưa tiếp cận với đạo Phật và dịch lý ...”
Để
thoát ra khỏi các nguy cơ trước mắt (chế độ Ngô Đình
Diệm) và lâu dài (chủ nghĩa Cộng sản) như ở trên tôi đã
trình bày, để khẳn định mình là một bộ phận sinh lực
có quyền tồn tại và có trách nhiệm trước vận mệnh Đất
nước, Dân tộc và Đạo pháp, Phật giáo miền Trung-Huế đã
chuyển mình qua giai đoạn khác, giai đoạn Dấn thân.
Trong
“tiểu truyện tự ghi” của hoà thượng Thích Trí Quang có
một đoạn như sau:
“Giáp
ngọ 2498 (1954), kháng chiến chống Pháp kết thúc. Miền Nam
ông Ngô Đình Diệm đứng ra. Việc này được biết rỏ khi
hội nghị Genève sắp kết thúc. Lấn chót trước khi đất
nước phân cách, mẹ con tôi đã nói chuyện với nhau khá nhiều.
Rốt cuộc mẹ tôi bảo, vậy là miền Nam “quạ lang” vẫn
hoành hành. Thôi thì con đi mà báo bổ cho Phật. Tôi đi và
ất mùi 2499 (1956), [? Chu Sơn]. Tôi nhận chức vụ Hội Trưởng
Tổng trị sự hội Phật học, vận động đổi tên Phật
học ra Phật giáo. Đưa Tổng hội Phật giáo Việt Nam vào
đặt trụ sở tại Sài Gòn. Rồi nghỉ việc cho đến Quí
Mão 2507 (1963) nhận lại chức vụ nói trên. Với chức vụ
này, Phật Đản năm ấy tôi phát động, và chung sức lãnh
đạo việc chống chế độ Ngô Đình Diệm”.
Đoạn
tự truyện này chứa đựng nhiều thông tin. Tôi chỉ nêu vài
chi tiết:
Thứ
nhất: Vào thời điểm trước khi hiệp định Genève ký kết,
nhà sư Trí Quang lúc bây giờ vừa bước tới tuổi trung niên
(ông sinh năm 1923). Ông không ở lại trên miền Bắc mới được
hoàn toàn giải phóng để xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, mà
ông đi vào Nam để lo “báo bổ cho Phật” . Là một người
hoạt động tôn giáo, vào thời điểm ấy (1954) ông không
có vai trò trong Xã Hội Chủ Nghĩa. Vả lại, chế độ Xã
Hội Chủ Nghĩa cũng không cần ông trong tư cách một nhà tu
hành.
Là
một trong những đứa con ưu tú của phong trào Chấn hưng,
ông phải đến cái nơi mà tình thế cần. Nơi ấy “quạ
lang” đang “hoành hành”, Phật đang cần được “báo bổ”.
Bởi nơi ấy, ông Ngô Đình Diệm-vị thượng thư đầu triều,
đạo (Thiên Chúa) dòng năm nào, nay đã “đứng ra” . Phải
chăng đây là lời tiên báo, là cuộc dấn thân của một nhân
vật tự biết mình sẽ nắm giữ vai trò “phát động” và
“chung sức lãnh đạo việc chống chế độ Ngô Đình Diệm?
Hay, đây là một biện chứng tất yếu, một hành xử mẫu
mực của một trong những thành tựu mà phong trào Chấn hưng
đã dày công un đúc?
Thứ
hai: là những lời mà hoà thượng Trí Quang đã không ghi lại
trong tiểu truyện tự ghi . Ây là: Phật giáo miền Trung-Huế
đã làm gì, đã chuẩn bị ra sao trước khi vào cuộc? Đương
nhiên là trong từng ấy năm trời (1954-1963), những người
khởi xướng, lãnh đạoû Phong trào cùng với đông đảo các
Phật tử, quần chúng của họ, đã làm biết bao công việc
để: chỉ với kinh kệ, chuông mỏ, chỉ với tinh thần Vô
uý, chỉ với ánh sáng Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi,
chỉ với phương pháp bất bạo động, chỉ với niềm tin
mãnh liệt và bền vững vào Đạo pháp, họ đã đĩnh đạc
đương đầu với các thứ ma chướng bạo tàn và hung hiểm
từ chế độ Ngô Đình Diệm, để rồiì góp phần quyết
định đánh bại nó.
Trong
khi tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm ồn ào
Phát động các chiến dịch bài Phong, đả Thực, diệt Cộng,
đằng đằng sát khí với máy chém và súng đạn, bắt bớ,
tra tấn, tù đày, chém giết, thì bộ phận đầu não của
phong trào Phật giáo Dấn thân miền Trung-Huế, một mặt kiên
trì khiếu nại, phảng kháng và tố cáo các hành động tội
ác của chính quyền đối với Phật tử ở nhiều địa phương
trong phạm vi luật pháp của chế độ Việt Nam Cộng hoà,
một mặt âm thầm mà quả quyết tiến hành các chương trình
kế hoạch, tổ chức và phát triển lực lượng để sẳn
sàng thách đấu khi thời cơ đến:
Tiếp
tục đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo tăng ni với
qui mô lớn hơn, cải cách và nâng cấp chương trình, nội
dung, phương pháp thích ứng với cơ, lý của đất nước và
thế giới trong thời đại mới. Khuyến khích, tạo điều
kiện để các tăng ni tiếp cận có chọn lựa một số bộ
môn học thuật ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công
lập, kể cả việc gởi tu sĩ đi du học ở các học viện
Phật giáo thế giới.
Mạng
lưới các trường tư thục Bồ Đề từng bước tăng cường
và mở rộng không những ở Huế mà ở nhiều tỉnh thành,
huyện lị miền Nam. Trước năm 1963 mặc dù chính quyền Ngô
Đình Diệm tìm đủ mọi cách làm khó dể, ngăn chặn, phá
hoại, số lượng các trường Bồ Đề có đến con số trăm.
Cũng
cố và phát triển hệ thống giáo hội các cấp. Mặc dù tổng
hội Phật Giáo Việt Nam đã được thành lập ở Huế từ
năm 1951, và sau đó giáo hội Tăng già toàn quốc cũng đã
ra mắt tại chùa Quán Sứ Hà Nội. Tuy nhiên trong thực tế,
các tổng hội, giáo hội thống nhất đó chỉ hiện hữu trên
danh nghĩa, không phát huy được chức năng, tác dụng như mong
ước của Phật tử cả nước và các nhà lãnh đạo (giáo
hội). Bù lại các giáo hội và tổng hội miền Trung-Huế
lại tỏ ra năng nổ và tích cực. Trước tình hình miền Nam
“quạ lang hoành hành” và “Ngô Đình Diệm đứng ra”,
Sự năng nổ và tích cực ấy càng gia tăng. Một mặt Phật
giáo miền Trung-Huế ra sức củng cố, phát huy vai trò, năng
lực của các cấp hội từ Trung ương xuống địa phương,
một măt mở rộng mạng lưới chùa, học viện, ni viện ra
ngoài khu vực miền Trung. Năm 1973, tôi có dịp đến Sa Đéc
cùng với vị Đại đức Hiệu trưởng trường Bồ Đề. Đại
đức đưa tôi qua thăm ni viện gần kề. Ni viện trưởng là
một sư bà rất nổi tiếng tại các tỉnh miền Tây Nam bộ
trong phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Paris. Té
ra ni viện này do sư bà Diệu Không từ Huế vào kiến lập
đã 15 năm trước đó (1958). Cũng năm 1973 tôi đến một nơi
gọi là Quảng Hương-Già Lam ở Gò Vấp, được biết ngài
Trí Thủ đã khai mở cơ ngơi to lớn này từ năm 1956. Rất
nhiều “chùa Huế “đã mọc lên trên đất Nam bộ sau mốc
điểm lịch sử 1954 trong xu thế chuyển mình từ Chấn hưng
qua Dấn thân của Phật giáo miền Trung-Huế .
Gia
đình Phật tử: song song với sự phát triển của mạng lưới
Chùa chiền, Niệm Phật Đường và Khuôn Hội, Gia Đình Phật
tử tại các tỉnh miền Trung-Huế lớn lên không ngừng cả
lượng và chất. Trước 1945, so với tổ chức Hướng Đạo
sinh, Gia đình Phật tử (lúc bây giờ là Gia Đình Phật Hoá
Phổ) còn quá khiêm tốn. Sau 1954, tổ chức của Phật tử
trẻ tuổi này đã tỏ ra ngang ngửa bên cạnh anh bạn lớn
tuổi của mình. Tại Thừa Thiên Huế vào năm 1963, đã có
trên một trăm Gia đình Phật tử . Phật tử sinh hoạt bên
cạnh các Khuôn Hội và Niêm Phật Đường. Rất nhiều huynh
trưởng Gia Đình Phật tử có học vấn cao (tốt nghiệp đại
học hay tương đương) và có trình độ chuyên môn vững vàng
nên hoạt động gia đình Phật tử là rất hữu ích, có uy
tín không những trong giới Phật giáo đồ mà còn gây được
thiện cảm ngoài xã hội.
Công
cuộc chuẩn bị lực lượng để bước vào giai đoạn Dấn
thân của Phật giáo miền Trung-Huế theo như tôi đã trình
bày e rằng có tiếp mà chưa được cận. Rất mong các nhà
viết lịch sử Phật giáo xem đây là những gợi ý để độc
giả có được những công trình nghiên cứu nghiêm túc và
đầy đủ về một thời kỳ lịch sử quá ư phức tạp nhưng
không kém phần thú vị.
Phong
trào Phật giáo Dấn thân đối đầu với chế độ Ngô Đình
Diệm (1963)
Sau
1954, tại Thừa Thiên Huế và một số tỉnh miền Trung, hằng
năm đến mùa Phật Đản (8-4 ÂL) và lể Vu Lan (ngày rằm tháng
7 âm lịch) là tưng bừng lể hội. Cổng chào, xe hoa, lồng
đèn, cờ xí, mô hình các sự tích, các biểu tượng liên
quan đến ngày sinh và cuộc đời của đức Phật, các cuộc
cắm trại của gia đình Phật tử, các sinh hoạt văn hóa văn
nghệ ... không những rực rở, tưng bừng trong và ngoài khuôn
viên các chùa lớn nhỏ-đặc biêt là Từ Đàm và Diệu Đế-mà
đến cả trên môt số đường phố, công viên và hầu hết
các tư gia. Ở Huế vào thời điểm ấy ít ra có đến trên
dưới 70% gia đình hân hoan tham giạ lể hội. Thật là một
cảnh tượng đẹp đẻ, yên vui, thanh bình. Nếu có một du
khách đã đến Huế trong các dịp lể hội ấy mà sau đó
nghe tin có tình trạng đàn áp, kỳ thị tôn giáo tại Việt
Nam thì chắc chắn người ta sẽ không tin và cho là vu khồng,
bịa đặt, nói xấu chính quyền.
Tuy
nhiên chuyện chính quyền Ngô đình Diệm kỳ thị đàn áp,
âm mưu tiêu diệt Phật giáo và độc tôn Thiên Chúa giáo là
điều có thật. Chuyện xảy ra trong tất cả các cơ quan hành
chánh, các đơn vị quân đội, các trường học và đặc biệt
ở nông thôn. Ở Huế có khoảng 10% dân số là người theo
đạo Thiên Chúa, 90% còn lại là người theo đạo Phật, đạo
thờ cúng ông bà. Như vậy cứ cho người Thiên Chúa giáo chiếm
tỷ lệ 10% trong các trường học, các cơ quan hành chánh, các
đơn vị quân đội, các nơi công Cộng như rạp hát, rạp
xinê. Thế mà 90% người ngoại đạo lại phải suy tôn ông
Tổng Thống Thiên Chúa mỗi ngày, lại phải cơm áo gạo tiền
vào tận Nam bộ để học các khoá Duy Linh-Nhân vị do ngài
Tổng Giám mục anh ruột ngài Tổng Thống chủ trì; lại phải
vào tận Sàigòn ra tận Lavang để dự các thánh lể, lại
phải dâng lể vật lên ngài Tổng Giám Mục nhân lể ngân
khánh; lại phải đút lót, biếu xén các của quí vật lạ
lên ngài Cố vấn chính trị miền Trung Ngô Đình Cẩn; lại
bị đảng Cần Lao, Thanh niên Cộng hoà của Ngô Đình Nhu và
Phụ nữ Liên Đới của Trần Lệ Xuân chèn ép, doạ nạt;
lại bị vu khống là Việt Cộng để rồi bị bắt bớ, tra
tấn, tù đày và giết chóc. Ở nông thôn tình trạng này còn
trầm trọng hơn. Ở nông thôn công cuộc Thiên Chúa giáo hoá
bắt đầu từ việc Cha cố đi làm công tác tổ chức, tuyển
chọn cán bộ, viên chức ở tận thôn ấp, xã phường, quận
huyện. Công cuộc Thiên Chúa giáo hoá không chỉ bắt đầu
từ trên xuống mà còn từ dưới lên. Ở nông thôn phong trào
“theo đạo có gạo mà ăn” là sự thật phổ biến. Cùng
bần hoá nông thôn là một sách lược trong mưu đồ Thiên
Chúa Giáo hóa. Ở nông thôn các gia đình theo đạo Phật muốn
yên ổn làm ăn, sinh sống chỉ có cách là theo đạo Thiên
Chúa, bằng không thì tai ương hoạn nạn hoặc còn có cách
nữa là bỏ xứ mà đi. Quốc sách ấp chiến lược không chỉ
nhằm một đối tượng duy nhất là Việt Cộng mà còn là
Phật giáo. Công cuộc Thiên Chúa Giáo hóa của chế độ Ngô
Đình Diệm là một kế hoạch tiệm tiến, tằm ăn dâu. Đặc
biệt tại thành phố Huế nơi mà hơn 90% là người theo đạo
Phật hoặc Nho Phật thì việc tiến hành kế hoạch đó lại
càng thận trọng và kiên trì. Do vậy mà các lể hội Phật
Đản, Vu Lan được tổ chức hàng năm là một cái gai gây
nhức nhối cho anh em nhà họ Ngô và tập đoàn Cần lao Thiên
Chúa giáo. Tuy nhiên những người có hiểu biết và kinh nghiệm
chính trị đôi chút như Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Diệm, Ngô
Đình Nhu... thì có thể nhẫn nhịn chờ đợi, còn những người
xốc nổi như Trần Lệ Xuân, nóng vội như Ngô Đình Thục
thì thời điểm 1963 là quá sức họ. Họ chẳng còn nghị
lực để chứng kiến cái vẻ nhơn nhơn đầy thách thức của
cái đám ma quỉ bụt thần quê mùa dốt nát qua mùa lễ hội
Phật đản 1963. Chiều ngày 6-5-1963 Ngô Đình Thục từ Lavang
vào lại toà Tổng giám mục với lòng buồn bực và căm giận.
Trên đường đi, ngài đã chứng kiến quang cảnh reo vui, cờ
xí và cổng chào mà đồng bào Phật tử đã chuẩn bị để
đón chào ngày Đản sinh của vị Thầy vĩ đại. Thế là câu
chuyện cấm treo cờ Phật giáo bắt đầu vào chiều hôm sau.
Thế là cuộc đụng độ giữa hai lực lượng: Chế độ Cần
lao Thiên Chúa giáo Ngô đình Diệm và Phật giáo bắt đầu.
Đây là cuộc đụng độ kỳ lạ giữa một bên với: tua tủa
dùi cui ma trắc, lưởi lê và súng ống, lựu đạn và xe tăng,
xích sắt và nhà tù, tấn công và đàn áp, mưu ma và chước
quỉ... với một bên là tràng hạt và kinh mỏ, kiến nghị
và tuyên ngôn, biểu tình và tuyệt thực và đỉnh cao là vị
pháp thiêu thân.
Có
người bảo đây là cuộc đụng độ giữa Đông và Tây, giữa
Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Tôi
không nghĩ như thế.
Có
người bảo đây là cuộc đấu tranh sinh tồn giữa một bên
là Phật giáo Việt Nam đã hồi sinh sau mấy trăm năm suy đồi
hội nhập với một số khía cạnh tích cực của nền văn
minh hiện đại, và bên kia là một tập đoàn phong kiến Nho
giáo lạc hậu, lỗi thời kết hợp một cách bản năng với
cặn bã của nến văn minh Thiên Chúa giáo biến dị trong bối
cảnh của cuộc chiến tranh Việt Mỹ.
Trên
đại thể tôi chia xẻ nhận định này.
Phong
trào Phật giáo chống tập đoàn Ngô Đình Diệm nổ ra tại
Huế, miền Trung vào giữa tháng 5-1963 và kết thúc tại Sàigòn
vào đầu tháng 11 năm ấy, gây sửng sốt cho cả Việt Nam
và toàn thế giới ở ngoài dự kiến của chính phủ Mỹ và
đảng Cộng sản. Không ai có thể hình dung trong lòng Việt
Nam ngoài sức mạnh kháng chiến Cộng sản còn có một nội
lực hùng hậu và lạ lẫm đến như thế.
Đế
quốc Mỹ tính toán sức mạnh trên khối lượng tính năng
vũ khí và đồng dollars.
Đảng
Cộng sản Việt Nam dự hoạch sức mạnh tổng hợp quân sự
và chính trị. Chính tri trong quan điểm chiến tranh nhân dân
cũng là một hình thái bạo lực.
Phong
trào Phật giáo đã thể hiện một sức mạnh khác đó là
sức mạnh của tình yêu, của tinh thần vô uý và của chỉ
với phương sách bất bạo động.
Từ
năm 1960, chế độ Ngô Đình Diệm ở trong một tình thế phức
tạp và cực kỳ mâu thuẩn.
Một
mặt anh em nhà họ Ngô và bầu đoàn yên chí rằng mình đã
bước vào thời kỳ ổn định. Bởi tất cả các đối thủ,
các chướng ngại đều bị đánh tan, dẹp yên và công cuộc
Cần lao Thiên Chúa giáo hoá guồng máy quyền lực đã đặt
xong nền móng, hầu như tất cả các đơn vị quân đội, các
cơ quan hành chánh, các ban ngành từ trung ương xuống địa
phương quận huyện, phường xã, thôn ấp, các nguồn lợi
kinh tế béo bở đều đã được sắp xếp, ban phát cho người
của tập đoàn và bè cánh nắm giữ. Mỹ tăng cường viện
trợ quân sự, kinh tế và hổ trợ ngoại giao để phát triển
uy tín của Diệm trên trường quốc tế. Nhờ có trực thăng,
thiết vận xa M113 và cố vấn quân sự Mỹ mà quân đội Việt
Nam Cộng hoà tổ chức được những cuộc hành quân thọc
sâu hơn vào các căn cứ kháng chiến. Các toán biệt kích,
thám báo được tung nhiều hơn vào lãnh thổ miền Bắc và
các vùng căn cứ kháng chiến bên Lào và Campuchia. Anh em nhà
họ Ngô thoả thuê trước những gì đạt được, tin chắc
rằng chiến thắng Cộng sản là ở trong tầm tay, công cuộc
biến miền Nam thành nước Chúa được đức Mẹ phò trợ
và thế giới tự do vổ tay.
Mặt
khác đại bộ phận nhân dân miền Nam ngày một thấy rỏ
hơn bộ mặt thật phản dân hại nước của tập đoàn Ngô
Đình Diệm. Rất nhiều người đã tin tưởng hoặc đã Cộng
tác, thân cận với anh em nhà Ngô lần hồi tỏ ra chán nản,
bất mản, oán ghét, căm thù chế độ. Nhóm 18 nhân vật nhóm
họp ở khách sạn Caravelle ra tuyên ngôn kêu gọi Diệm thực
thi dân chủ và chấm dứt chế độ gia đình trị đa phần
là những chiến hữu của ngài Tổng thống. Tháng 4-1960 nhóm
Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông làm đảo chánh (11-1960) là
những sĩ quan ưu tú của binh chủng nhảy dù. Đồng mưu với
Thi và Đông gồm nhiều sĩ quan khác của quân đội VNCH và
nhiều chính khách thuộc nhiều đảng phái, phe nhóm chính trị
đã bị anh em Diệm loại khỏi cuộc chơi. Hai sự kiện này
báo hiệu sự đổ vở trầm trọng trong lòng chế độ.
Tuy
nhiên biến cố quan trọng nhất trong năm 1960 là sự ra đời
của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTGP), chấm dứt
thời kỳ đen tối của các cán bộ chính trị nằm vùng trên
toàn bộ các tỉnh thành miền Nam suốt năm sáu năm liền nhịn
nhục, chịu đựng không biết bao nhiêu hành vi tàn ác hiểm
độc từ các chiến dịch sát Cộng, diệt Cộng. Thực ra MTGP
xuất hiện chỉ là sự công khai hoá một thủ pháp chính trị
trong sách lược cách mạng hai chân, ba mũi, ba vùng chiến lược
từ nghị quyết 15 của trung ương đảng Cộng sản Việt Nam,
do ông Tổng bí thư Lê Duẩn đề xuất. Nghị quyết 15 là
ánh sáng đưa đường chỉ lối cho kháng chiến miền Nam. Kháng
chiến miền Nam tiến lên bằng hai chân: chính trị và quân
sự, tấn công bằng ba mủi: chính trị, quân sự và binh vận
trên cả ba vùng chiến lược là rừng núi, nông thôn và thành
thị.
Thế
là chế độ Ngô Đình Diệm bắt đầu thời kỳ tứ phương
thọ địch.
Năm
1961, rồi năm 1962 theo những tin tức tình báo Mỹ thì “Cộng
quân tăng cường hoạt động trên 80% lãnh thổ ở nông thôn”.
Ở thành phố Sài Gòn thì đặt công Việt Cộng tấn công
Mỹ bằng bom ở nhiều nơi.
Ngô
Đình Diệm ban bố tình trạng khẩn trương. Kêu gọi Hoa Kỳ
và các quốc gia khác thuộc phe thế giới Tự do giúp đở.
Mỹ
tăng cường quân viện, thành lập bộ tư lệnh quân đội
Mỹ tại Sàigòn (MACV) Tổng thống Mỹ Kennedy gởi Phó Tổng
thống Jhonson tới Sàigòn công kênh Diệm lên hàng nhà lãnh
đạo tầm cở thế giới. Tuy nhiên tình hình của chế độ
Diệm vẫn không tốt lên chút nào. Trong lòng chế dộ tiếp
tục đổ vở. Tháng 2 năm 1962, nhóm các sĩ quan không quân
Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử ném bom dinh Độc lập, làm
đảo chánh hay cảnh báo Diệm về tình trạng độc tài gia
đình trị? Sau lưng nhóm này là một lô các chính khách, đảng
phái mà Ngô Đình Nhu gọi là đám xôi thịt.
Nhưng
thảm hoạû của chế độ Ngô Đình Diệm thực sự bắt đầu
từ trận đại bại Ấp Bắc. Ấp Bắc là một thôn nhỏ nằm
sát cạnh thị xã Mỹ Tho, cách Sàigòn 50 km về phía Tây. Nhiều
tiều đoàn VNCH gồm bộ binh, biệt động quân, lính dù, bảo
an, pháo binh, trực thăng, tàu chiến, thiết vận xa M113 cùng
31 cố vấn Mỹ được điều tới đây để đánh nhau với
một tiểu đoàn Việt Cộng. Trận chiến diễn ra ác liệt.
Quân Việt Nam Cộng hoà bị đánh tan tác. Quân Việt Cộng
rút lui an toàn. Kết quả 65 binh lính và sĩ quan Việt Nam Cộng
hoà với 03 cố vấn Mỹ bị giết, vô số bị thương, 16 trực
thăng bị bắn hạ hoặc hư hại nặng, mấy chiến xa, tàu
thuỷ nhỏ, xe pháo bị bắn cháy, bắn chìm.
Lập
trường của chính giới Mỹ đối với Diệm đã chia hai sau
trận Ấp Bắc. Đã có đề xuất thay thế Diệm bằng một
nhân vật khác để đánh thắng Cộng sản.
Vụ
Phật giáo nổ ra tại Huế trong nhận thức của Mỹ và tập
đoàn Cần Lao Thiên Chúa giáo Ngô Đình Diệm lúc ban đầu
chỉ là vấn đề địa phương không khó giải quyết. Giới
chính trị Mỹ và phương Tây vào thời điểm ấy rất thiếu
hiểu biết về Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam
nói riêng. Tập đoàn Ngô Đình Diệm kế thừa quan điểm tự
cao tự đại của các quan thầy của họ là giới Thừa sai
và giáo hội mẫu quốc. Họ xem đạo Phật là bụt thần ma
quỉ và các tăng ni là bọn quê mùa dốt nát. Họ nghĩ rằng
Cộng sản, phong kiến thực dân, đảng phái, giáo phái còn
bị họ tiêu diệt, dẹp yên huống hồ gì một nhóm sư sãi
tay không tất sắt, và đám học sinh sinh viên trẻ dạ non
lòng.
Năm
nguyện vọng mà Phật giáo miền Trung-Huế đề xuất sau vụ
cấm treo cờ chiều ngày 7 tháng 5 và vụ đàn áp đẩm máu
bằng xe tăng lựu đạn trước đài phát thanh Huế tối hôm
sau, ngày 8 tháng 5, đã được gởi khẩn cấp tới chính quyền
Ngô Đình Diệm. Nhưng nhiều ngày sau vẫn không có bất cứ
một hồi âm nào ngoại trừ một thông cáo cho rằng Việt
Cộng là thủ phạm sát hại 08 thiếu niên trước đài phát
thanh Huế. Những dấu hiệu ban đầu ấy tiên báo rằng sẽ
không có việc thoả mãn năm nguyện vọng phải chăng, bức
thiết và tối thiểu của Phật giáo đồ miền Trung-Huế:
1.
Đề nghị chính phủ rút lại lệnh cấm treo cờ.
2.
Đề nghị chính phủ công nhận quyền tự do truyền đạo
và thực hành tôn giáo của Tăng Ni tín đồ Phật giáo.
3.
Đề nghị chính phủ đối xử công bằng đối với Phật
giáo cũng như Thiên Chúa giáo và bãi bỏ dụ số 10 xem Phật
giáo như một hiệp hội.
4.
Đề nghị chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ khủng
bố tín đồ Phật giáo.
5.
Đề nghị chính quyền bồi thường cho các nạn nhân bị sát
hại tại đài phát thanh Huế và trừng trị xứng đáng kẻ
gây tội ác.
Thực
ra 5 nguyện vọng của Phật giáo không ở ngoài các nguyên
lý của hiến pháp và luật pháp Việt Nam Cộng hoà về sự
công nhận các quyền tự do và sự bình đẳng của các công
dân.
Tuy
nhiên trong việc thực hành luật pháp thì chính quyền Ngô
Đình Diệm cho rằng:
1.
Phật giáo đã không tôn trọng luật pháp khi treo cờ ở nơi
công Cộng.
2.
Phật giáo chỉ là một hiệp hội theo qui định của dụ số
10 do Bảo Đại ký năm 1950. Theo tinh thần của dụ số 10 thì
các hiệp hội (như hội đá banh, hội thả diều ...) chỉ
được phép hay đình chỉ hoạt động theo quyết định của
chính quyền địa phương. Như vậy Phật giáo trong tư cách
pháp nhân là một hiệp hội không thể đòi các quyền tự
do của một tôn giáo và không có quyền đòi bình đẳng với
Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đích thực và duy nhất trong
chế độ Việt Nam Cộng hoà.
Theo
tinh thần và cách lập luận đó, anh em và chính quyền Cần
lao Thiên Chúa giáo cho rằng không có tình trạng bắt bớ khủng
bố tôn giáo mà chỉ có chuyện trừng trị theo pháp luật
những hội viên hiệp hội (Phật giáo) nào vượt quá quyền
hạn của mình (được qui định bởi dụ số 10 đành cho các
hiệp hội) và vi phạm pháp luật, hoặc giả: những người
mà Phật giáo cho là Phật tử bị bắt bớ, khủng bố chỉ
là bọn Cộng sản đội lốt. Mà Cộng sản thì đã bị dặt
ngoài vòng Pháp luật theo luật số 10/59(cũng con số 10)
Về
phía Phật giáo đã nhìn nhận vấn đề và những sự kiện
theo một cách khác:
1.
Nếu bảo treo cờ tôn giáo nơi công Cộng trong các lể hội
tôn giáo là vi phạm luật pháp thì chính gia đình, chính quyền
Ngô Đình Diệm và giáo hội Thiên Giáo đã vi phạm nhiều
vô số kể:
Lễ Noel hàng năm được tổ chức tưng bừng trong và ngoài
nhiều khu vực Thiên Chúa giáo, các doanh trại quân đội. Các
đại lộ công viên ở Sàigòn, Huế, Qui Nhơn, Đồng Nai, Đà
Nẵng, Quãng Trị.
Năm 1959, cờ xí giáo hội La Mã, ảnh tượng Đức Mẹ tràn
ngập nhiều nơi công Cộng tại Sàigòn và nhiều tỉnh thành
khác nhân đại hội Thánh Thể và lễ nâng nhà thờ Đức
Bà lên hàng Vương Cung Thánh Đường.
Năm 1961, tại Lavang Quãng Trị, nhân lễ kỷ niệm đức Mẹ
hiện ra và khánh thành Vưong Cung Thánh Đường Lavang, cờ xí,
ảnh tượng, khải hoàn môn thiết trí khắp nơi trên quốc
lộ 1 từ Huế qua Quãng Trị đến Lavang và nhiều khu vực
khác tại Quãng Trị. Đồng bào ngoài Thiên Chúa giáo tỉnh
Quãng Trị cũng bị bắt ép đi dự Thánh lễ.
Lễ khánh thành nhà thờ Chúa Cứu Thế do Ngô Đình Thục chủ
quản xây cất, và lể Ngân Khánh (sinh nhật) của ngài Tổng
giám mục cũng đã phô diễn quan cảnh như vậy khắp nơi phía
bờ Nam sông Hương. Rất nhiều viên chức, sĩ quan và tướng
lãnh quân đội, thương gia ngoài Thiên Chúa giáo bị thúc ép
hiến dâng lể vật lên Đức Cha.
2.
Dụ số 10 là một sản phẩm, một thủ đoạn của thực dân
Pháp, vua Bảo Đại chỉ là kẻ thừa hành. Thực dân Pháp
áp lực để Bảo Đại ký chỉ dụ này nhằm mục đích trước
mắt là hạn chế, tiêu diệt Phật giáo, tạo điều kiện
thuận lợi cho Thiên Chúa giáo bành trướng. Mục đích lâu
dài và thâm độc là chuyển đổi tâm hồn não tuỷ Việt
Nam từ truyền thống (trong đó một phần là đạo Phật) qua
Thiên Chúa giáo, biến vĩnh viễn đất nước này thành lãnh
thổ phía Đông của nước mẹ Đại Pháp. Ngô Đình Diệm
đã “bài phong-đả thực” sao không huỷ bỏ dụ số 10.
Phải chăng Ngô Đình Diệm lợi dụng chỉ dụ này để thực
hiện mưu đồ Thiên Chúa giáo hoá toàn miền Nam, biến lãnh
thổ này thành đất đai của đức Chúa Trời và người đại
diện là giáo hội La Mã.
3.
Phật giáo là một tôn giáo có lịch sử trên hai ngàn năm
trăm năm, đã là gốc rể của một trong hai nền văn minh vĩ
đại và một thời rực rở của nhân loại, hiện đang là
ánh sáng tâm linh của mấy trăm triệu con người trên trái
đất.
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ những kỷ nguyên đầu
tiên của lịch sử dân tộc, đã góp phần hình thành và phát
triển tâm hồn và trí tuệ Việt Nam, đã góp phần to lớn
trong công cuộc phục hồi nền Độc lập sau hàng ngàn năm
nô lệ, đã tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, mở
mang và xây dựng đất nước ở hai triều đại Lý-Trần.
4.
Chỉ có bọn xâm lược, bọn cướp nước và con đẻ của
chúng mới đánh giá và đối xử với Phật giáo như là một
hiệp hội trong ý đồ tiêu diệt Phật giáo, đào cắt gốc
rể văn hoá lịch sử dân tộc, xâm chiếm vĩnh viễn đất
nước Việt Nam.
Âm mưu và sách lược đó của bọn thực dân đế quốc và
bè lũ tay sai là tội ác không những đối với dân tộc, đất
nước Việt Nam, mà còn là tội ác đối với nhân loại.
Chính quyền Ngô Đình Diệm hoàn toàn không có lý do chính
đáng khi duy trì chỉ dụ số 10.
5.
Năm nguyện vọng của Phật giáo là tối thiểu. Thái độ
và phương pháp đấu tranh của Phậtû giáo là mềm dẻo, bất
bạo động nhưng không khoang nhượng.
Trong
một quốc gia dân chủ như hiến pháp Việt Nam Cộng hoà xác
lập, như mô hình lý tưởng mà tập đoàn Ngô Đình Diệm,
chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đã rêu rao và tự hào trong
quá trình đấu tranh với chế độ Cộng sản độc tài đảng
trị, thì năm nguyện vọng của Phật giáo miền Trung-Huế
nêu lên trong tuyên ngôn 10-5, chẳng có gì để anh em nhà họ
Ngô phải phẩn nộ mà la toáng lên rằng cách ứng xử của
Phật giáo là ngông cuồng, là làm loạn cả. Chính các nhà
lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà cũng biết như thế nên ngay từ
đầu họ đã né tránh thảo luận trực tiếp, thẳng thắng
và giải quyết dứt điểm vấn đề trong tinh thần hoà hợp
hoà giải dân tộc. Nhiều người bảo tập đoàn Ngô Đình
Diệm chỉ xem việc cấm treo cờ Phật giáo như là một cái
cớ để thực hiện mưu đồ và sách lược độc tài-Thiên
Chúa giáo hóa miền Nam như họ đã tính toán từ trươc. Tôi
chia xẻ nhận định này.
Đối
diện với một chính quyền như thế, Ban lãnh đạo Phật giáo
(BLĐPG) cùng một lúc chuẩn bị hai phương án để sẳn sàng
ứng phó:
* Thứ
nhất: kiên trì đàm phán với chính quyền để đạt được
05 nguyện vọng trong tinh thần hiến pháp Việt Nam Cộng hoà.
Chúng ta đã thấy Tuyên ngôn 5 nguyện vọng được soạn thảo
và công bố tại chùa Từ Đàm ngày 10 tháng 5. Ngày 15 tháng
5 Tuyên ngôn được gởi đến các cấp chính quyền qua đường
bưu điện. Ngày 16 tháng 5 Tuyên ngôn được công bố trước
báo chí và các cơ quan truyền thông khác tại chùa Xá Lợi
Sàigòn có đại diện chính quyền tham dự. Không có hồi âm
từ chính phủ Việt Nam Cộng hoà, lại bị các cơ quan truyền
thông của chính phủ bêu riếu, nhục mạ và vu khống là phong
trào do Cộng sản điều động. Ngày 23 tháng 5, một bản phụ
đính và một bản phụ trương được soạn thảo để làm
sáng tỏ nội dung của tuyên ngôn ngày 10 tháng 5, và minh định
quan điểm lập trường của Phật giáo về những vấn đề
liên quan mà chính quyền đang xuyên tạc:
1.
Chỉ có kêu gọi chính phủ tôn trọng quyền tự do tôn giáo,
không kỳ thị, và đối xử với Phật giáo ngang bằng với
Thiên Chúa giáo. Phật giáo không coi Thiên Chúa giáo là kẻ
thù.
2.
Phật giáo trong truyền thống cũng như trong hiện tại luôn
đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên. Tuyệt đối không
để cho bất cứ ai lợi dụng. Tất cả các văn bản (tuyên
ngôn 10-5, phụ đính và phụ trương 23-5) đều được BLĐPG
gởi đến Tổng thống Ngô Đình Diệm qua một ban đại diện
cũng không có hồi âm. Đầu tháng 6, theo đề nghị của phía
chính quyền, BLĐPG cử một Uỷ ban Liên phái cùng với Uỷ
ban Liên bộ của chính quyền đàm phán. Kết quả là một
thông cáo chung có chữ ký của hai Uỷ ban ra đời. Thông báo
chung không được công bố và đương nhiên không được thi
hành. Phật giáo hết hy vọng đàm phán.
* Thứ
hai: Tiến hành đấu tranh dân chủ bằng phương pháp bất bạo
động. Mà đấu tranh dân chủ thì yếu tố đầu tiên là quần
chúng. Như chúng ta biết 90% dân chúng Huế là Phật giáo, Nho
Phật, hay Tam giáo cửu lưu.
Từ
sau hiệp định Genève, tập đoàn Ngô Đình Diệm càng ngày
càng tự cô lập mình, càng gây thù kết oán với hầu hết
khối lượng quần chúng ngoài Thiên Chúa giáo, mà khối lượng
quần chúng ấy, họ ở đâu trong cái thành phố mà sự nhẫn
nhục, chịu đựng của dân Huế kết tụ lâu ngày thành một
sức mạnh âm ỉ, dồn nén như lòng núi lửa chỉ đợi một
cơn địa chấn là vở bùng phun lên. Nay cơn địa chấn đã
bắt đầu từ một hành động ngu xuẩn và điên cuồng là
triệt hạ cờ Phật giáo, sát hại trẻ em bằng súng đạn
và xe tăng Mỹ, và nhất là thái độ bạo ngược, gian dối
của một chế độ đã đến thời điểm không cần che dấu,
nguỵ trang tham vọng độc tôn và các hành động phát xít.
Từ
sau Genève, trong cái bối cảnh”quạ lang hoành hành “và “Ngô
Đình Diệm đứng ra “, Phật giáo miền Trung-Huế đã tận
dụng tình thế mà tập đoàn Ngô Đình Diệm còn bận tay thanh
toán các “kẻ thù gần “(đảng phái, phong kiến-thực dân
và Cộng sản), đã ráo riết đẩy mạnh các chương trình:
Đào tạo tăng ni, phát triển Gia Đình Phật tử và mạng lưới
trường Bồ Đề, củng cố và mở rộng hệ thống tổ chức
Giáo hội - đặc biệt là mạng lưới Khuôn Hội. Vào cái
thời điểm nổ ra sự biến “Triệt hạ cờ Phật giáo”,
trên địa bàn miền Trung-Huế đã có tới 1000 Khuôn hội,
một nửa con số ấy là Gia Đình Phật tử. Riêng tại Thừa
Thiên-Huế số Khuôn Hội lên đến 300 và Gia Đình Phật tử
là 150. Hội viên các Khuôn Hội, đoàn viên Phật tử các thế
hệ từ Đoàn Thanh Niên Đức Dục, Đoàn Thanh Thiếu Niên Phật
Hoá Phổ và đoàn viên Gia đình Phật tử có mặt khắp nơi
từ chợ búa, trường học, công sở, phố phường thôn ấp.
Các đoàn viên Phật tử sau khi tốt nghiệp các trường đại
học, trung cấp chuyên nghiệp hoặc bị gọi lính toả đi khắp
các tỉnh thành quận huyện miền Trung và một số nơi ở
Nam bộ. Họ sẽ là những hạt nhân hoặc là bạn đồng hành
của phong trào Phật giáo những nơi họ tới. Một điều đặc
biệt cũng rất cần được lưu ý là sau 1954, các Khuôn hội,
các trường Bồ Đề là chốn dung thân, là đất lành, là
nơi để giải toả khi có thời cơ và cũng là nơi để chờ
đợi một vận hội mới của các cựu kháng chiến-những
con hổ phải gặm một khối căm hờn trong cụi sắt của luật
số 10/59 (một đạo luật của chế độ Việt Nam Cộng hoà
đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật).
Ban
lãnh đạo Phật giáo miền Trung-Huế biết mình đang đứng
ở đâu và bắt đầu công cuộc đấu tranh với một lực
lượng, một khối lượng quần chúng ra sao trong bối cảnh
miền Nam vào thời điểm đó.
Đạo
pháp và Dân tộc đối với các vị vừa là mục tiêu, vừa
là khẩu hiệu và đồng thời là phương pháp của cuộc đấu
tranh.
Hai
tiêu chí mà Phật giáo đã đề ra trước và trong cuộc đấu
tranh là:
Không
khoan nhượng với chế độ Ngô Đình Diệm nhưng phương pháp
vẫn là hoà bình và bất bạo động.
Không
để bị lợi dụng từ bất cứ phía nào. Các nhà sư trong
những hoàn cảnh đặc biệt, họ thường nói không hết lời.
Chữ phía trong tiêu chí thứ hai, chúng ta có thể hiểu ngầm
là cả Mỹ và đảng Cộng sản. Lập trường Dân tộc của
Ban lãnh đạo Phật giáo trong chừng mực nào đó ẩn tàng
nơi chữ phía này. Nó có nội dung ý thức hệ tư tưởng,
triết lí và văn hoá hơn là lịch sử. Về mặt nhận thức,
đảng Cộng sản chắc chắn là không đồng tình khi có một
bộ phận quần chúng lập lờ đứng giữa, nhưng về mặt
phương pháp họ lại cổ vỏ nhiệt liệt. Một bộ phận quần
chúng không phải địch đã là may lắm rồi. Huống hồ cái
bộ phận quần chúng đó có khả năng làm rối loạn hàng
ngũ, sào huyệt của đối phương. Đảng Cộng sản đã nhiệt
liệt cổ vủ phong trào Phật giáo nhưng chủ trương không
can thiệp, không chen vào công việc nội bộ để cho Phật
giáo giữ được thế hợp pháp. Về phần chúng tôi trong tư
thế của người kháng chiến không Cộng sản, chúng tôi không
chia xẻ lập trường Dân tộc của Phật giáo. Chủ quan mà
nói: vì lí do ý thức hệ mà chúng tôi không trở thành Cộng
sản. Nhưng chúng tôi cho rằng không nên vì lí do ý thức hệ
mà cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ cứ kéo dài. Chúng
tôi tình nguyện đứng về phía đảng Cộng sản trong cuộc
chiến tranh đành Độc lập là bởi chúng tôi muốn cuộc chiến
tranh đó kết thúc sớm được ngày nào hay ngày đó. Mà chiến
tranh sớm kết thúc có nghĩa là hoà bình sớm được lập
lại. Từ Hoà bình trong tình thế lúc bây giờ nhất thiết
phải gắn liền sau từ Độc lập.
Do
nhận thức nông cạn và nóng vội nên chúng tôi khi có cơ
hội là muốn chen vào, muốn đẩy kéo phong trào Phật giáo
về phía kháng chiến. Các nhà lãnh đạo phong trào Phật giáo
biết rỏ điều đó nên thường rất thận trọng, cảnh giác
để giữ vững thế đứng chính trị của mình: không bên
này cũng chẳng bên kia.
Ngay
từ đầu chính quyền Ngô Đình Diệm không muốn giải quyết
vấn đề Phật giáo theo giải pháp điều đình thương thảo,
nên BLĐPG chuyển dần tính chất và qui mô của cuộc đấu
tranh này sang phương thức thứ hai: Đấu tranh Dân chủ với
rất nhiều hình thái: kháng thư, tuyệt thực, bãi khoá, đình
công bãi thị và đỉnh cao là tự thiêu. Cuộc đấu tranh mà
ngay từ đầu và các giai đoạn diễn biến, BLĐPG cương quyết
tiến hành phương pháp bất bạo động và hoà bình, nhưng
máu vẫn đổ, người vẫn bị bắt bớ, tra tấn tù đày và
giết chóc. Bởi phía chính quyền Ngô Đình Diệm thì trước
sau cũng chỉ có bạo lực. Họ muốn chỉ dùng bạo lực để
giải quyết vấn đề một lần và dứt điểm.
Ở
Huế, đại bản doanh của phong trào là chùa Từ Đàm, các
chùa Linh Quang, Bảo Quốc là những cứ điểm vệ tinh. Các
nhân vật lãnh đạo và lực lượng nòng cốt đều qui tụ
ở trung tâm đầu não này. Tại Sàigòn các trung tâm đầu
não là chùa Xá Lợi, Ấn Quang, Théravada, Giác Minh, Từ Quang.
Ở các tỉnh như Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn, ĐàLạt..., các
chùa Tỉnh Giáo Hội là đại bản doanh. Nhưng đấu tranh dân
chủ thì mặt trận thực sự là đường phố, quãng trường
và nhân dân mới là nguồn nhân vật lực cung ứng cho cuộc
đấu tranh lâu dài.
Lúc
đầu bạo lực Ngô Đình Diệm nhắm vào các cuộc mitting,
biểu tình trên đường phố quãng trường. Tiếp đến chúng
bao vây tấn công vào các trung tâm đầu não, ngăn chận các
trục lộ giao thông, cắt đứt các liên lạc trong ngoài, áp
dụng các thủ đoạn cúp điện nước, cô lập đầu não với
quần chúng. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã điều động một
lực lưọng đông đảo gồm công an mật vụ, cảnh sát dã
chiến, quân cảnh, nhảy dù và nhiều đơn vị quân đội trang
bị các vũ khí sát thương cá nhân, các phương tiện đàn
áp như lựu đạn cay, lựu đạn hoá học, lựu đạn hoả
mù, ma trắc, kẽm gai, xe tăng xe vận tải... vào các chiến
dịch ngày càng tinh vi, hoàn hảo, trắng trợn và bạo tàn
hơn, nhắm vào những con người chỉ có trang bị bởi duy nhất
một niềm tin vào một dạng thể năng lực khác (với bạo
động) ẩn tàng nhưng hùng hậu nơi mỗi con người: đó là
tình yêu thương nhân loại được thể hiện qua việc tự
bảo vệ mình, đấu tranh để giảm trừ, hoá giải bạo lực
và các thứ ma chướng đã xâm chiếm ngự trị nơi một bộ
phận nhân loại khác. Trong trường hợp này là tập đoàn
Ngô Đình Diệm.
Có
người ví tình trạng Phật giáo đồ bị bách hại bởi bạo
lực Ngô Đình Diệm cũng giống như người Do Thái bị bách
hại bởi bọn Nazi. Tôi chỉ chia xẻ một nửa sự so sánh
này. Đó là tính chất, mức độ của bạo lực và sự đồng
dạng đồng thể giữa bọn Nazi và tập đoàn Ngô Đình Diệm.
Nửa kia tôi chưa ăn ý là: Cũng đều là nạn nhân của bạo
lực nhưng người Do Thái thì thụ động chịu đựng bởi
vì tự xét rằng tương quan lực lượng (bạo lực) chẳng
ngang bằng. Còn đối với Phật giáo, thì đã chuẩn bị để
chủ động đương đầu với bạo lực (Ngô Đình Diệm) bằng
một sức mạnh khác: sức mạnh của Đạo pháp, của tinh thần
Vô uý, của Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi thể hiện
bằng tinh thần bất bạo động-Lấy tình yêu mà hoá giải
hận thù.
Tôi
không phải là Phật giáo đồ, tôi chưa hoàn toàn tin vào đạo
lý “Dĩ đức báo oán” nhưng khi đọc báo biết tin và thấy
ngài Thích Quảng Đức uy nghi ngồi trong lửa cháy ngày 11-6-1963,
tôi đã vô cùng xúc động và ngưỡng mộ.
Thích
Quảng Đức, Thích Quảng Đức, suốt mấy chục năm liền
cái tên ấy vang vọng trong tâm trí tôi khi thì mạnh mẽ như
một khúc quân hành, khi thì sâu lắng, nồng nàn như một lời
tự sự, khi thì thanh thoát, dịu dàng như một ánh trăng. Dường
như cái con người uy nghi ngồi trong lửa cháy đó đã hút
hết vào trái tim vĩ đại và nhân hậu của mình tất cả
cái nóng bức nghiệt ngã của trần gian, để lại cho tôi
một khoảng trời trong xanh mát mẻ và tĩnh lặng.
Thích
Quảng Đức, Thích Quảng Đức, cái tên như những dấu hỏi
lớn từ khắp các chân lục hướng về Việt Nam, ngở ngàng
và khâm phục. Có tình yêu, sự sống và cái chết nào mà
lạ lẫm và hùng tráng đến như thế?
Thế,
tuy nhiên sự kiện một thầy tu tự đốt mình tại ngả tư
Phan Đình Phùng-Lê Văn Duyệt của Sàigòn lại gây cho anh em
chế độ Ngô Đình Diệm những cảm nhận trái khuấy. Hai
ông Diệm Nhu thì nổi giận vì cảm thấy bị khiêu khích.
Bà Nhu thì đánh hơi được mùi thịt nướng. Tổng giám mục
Thục thì bảo chỉ là lửa rơm. Và họ càng cứng lòng tối
dạ hoa chân múa tay điều động thêm binh mã uy hiếp và khép
chặc vòng vây các trung tâm đầu não của Phật giáo. Mặc
dầu theo lời đề nghị của phía chính quyền, Uỷ ban Liên
phái đã cùng với Uỷ ban Liên bộ ngày đêm đàm phán để
có được một thông cáo chung nhằm giải quyết vấn đề
theo hướng hoà giải. Nhưng thông cáo chung lại bị ém nhẹm.
Ngô Đình Diệm thì một mặt tiếp tục lải nhải những từ
ngữ vô nghĩa rổng tuếch: ái quốc, đoàn kết, huynh đệ,
lương tri, thành tín.... Một măt ra lệnh đưa ra toà án quân
sự xét xử “vụ phản loạn nhảy dù 11-11-60 “để răn
đe những ai đứng về phía Phật giáo. Ngô Đình Nhu thì cùng
với cảnh sát và Thanh niên Cộng hoà xuống đường đòi xét
duyệt lại thông cáo chung “không công bố” Bà Ngô Đình
Nhu thì hiệu triệu Phụ nữ Liên đới lên án “trò gây rối,
phản loạn của bọn sư sãi “cùng lúc đó họ điều động
các đơn vị nhảy dù, thuỷ quân lục chiến tăng cường thêm
sức mạnh cho cảnh sát công an, mật vụ và cảnh sát dã chiến.
Về
phía Phật giáo, mấy ngày trước và sau khi ngài Thích Quảng
Đức tự thiêu, ở Huế cuộc đấu tranh lan toả ra các trường
Đại học, Cao đẳng, Trung, tiểu học, các công tư sở. Sinh
viên bỏ thi, giáo chức, công chức đình công, chợ búa không
họp. Cuộc đấu tranh bước vào giai đoạn bất hợp tác.
Hoà
thượng Thích Tịnh Khiết với sự phò tá của hai nhà sư
Trí Quang và Thiện Minh rời Huế vào Sàigòn trực tiếp đương
đầu với Dinh Độc Lập.