Dẫn
chứng bằng một số trường hợp lịch sử, bài viết nầy
nhằm xác định rằng trong lịch sử phát triển xã hội loài
người, hiện tượng giao thoa giữa nội dung tôn giáo và chính
sách quốc gia thì có thật và mang tính tất yếu. Từ đó,
bài viết lấy nước Mỹ làm trường hợp mô tả và khảo
sát để, thông qua đó, rút tỉa một vài đề nghị cho trường
hợp Việt Nam.
Trong
khuôn khổ của bài viết ngắn nầy, nhất là trong phần đề
nghị cho tình hình Việt Nam, người viết xin tổng quát hóa
những đề nghị đó thành những nguyên tắc tiếp cận chỉ
hướng mà không cụ thể hóa thành các chính sách hoàn chỉnh
và có hệ thống.
DẪN
NHẬP - GIAO THOA LÀ QUY LUẬT, LÀ HIỆN TƯỢNG CÓ THẬT
Hiện
tượng giao thoa giữa nội dung tôn giáo và chính sách quốc
gia là một hiện tượng khá phổ biến kể từ khi thần quyền
(của Giáo hội có tổ chức) và thế quyền (của Nhà nước
làm quản lý) đan bện vào nhau và tương tác để cùng tồn
tại và phát triển. Quá trình đan bện đó, trên lý thuyết
cũng như trong thực tế, là một quá trình phức tạp và đa
dạng, hàm chứa và phát sinh nhiều mâu thuẫn đối lập tiêu
cực nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều cọng hưởng hài
hòa tích cực. Chẳng khác gì hiện tượng giao thoa của hai
nguồn sóng, tuy không cùng biên độ nhưng lại cùng tần số,
nên đã kết hợp thành những “bụng” và những “nút”,
tuy đều đặn nhưng lên xuống chập chùng.
Hầu
hết các tôn giáo (độc Thần, đa thần hoặc vô thần) đều
vận dụng nội dungï thần học và/hoặc triết học để
chuyển hóa nội tâm tín đồ hướng đến những giá trị
hoàn thiện và vĩnh cửu, tuy chủ yếu nhằm giải quyết những
nhu cầu tâm linh và siêu hình của con người, nhưng đồng
thời cũng thiết định các giá trị đạo đức và văn hóa
làm kim chỉ nam cho đời sống xã hội của tín đồ. Còn chính
quyền thì triển khai triết lý trị nước của mình, thông
qua các chính sách quốc gia, để bảo vệ tổ quốc, phát triển
xã hội, và nâng cao phẩm chất cuộc sống của toàn thể
nhân dân.
Tuy
nhiên, dù lấy đối tượng là con người cá nhân hay con người
tập thể, con người xã hội hay con người công dân, trong
quá trình thể hiện chức năng của mình, tôn giáo và chính
quyền thường thường, nhưng không phải luôn luôn, là những
bạn đồng hành tâm đầu ý hiệp. Nhưng khi mâu thuẫn xuất
hiện, mà thường thường là mâu thuẫn quyền lợi và quyền
lực, hai thực thể nầy lại trở thành đối thủ bất khoan
nhượng, thậm chí còn sát phạt lẫn nhau. Vì thế mà đã
có những tôn giáo hô hào lật đổ nhà nước và có người
đã tuyên bố tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân hoặc
cho rằng Thượng Đế đã chết rồi .
Đó
là chưa nói đến mâu thuẫn giữa các nhà nước trong cùng
một tôn giáo, và mâu thuẫn giữa các tôn giáo trong cùng một
nhà nước. Hay lên đến cao điểm, khi một tôn giáo nhân danh
niềm tin tín ngưỡng của mình, huy động một (hay nhiều)
nhà nước để tuyên chiến với một (hay nhiều) nhà nước
khác. Quan niệm “thánh chiến” của một vài tôn giáo có
nền giáo lý cực đoan và giáo điều đã làm đổ ra không
biết bao nhiêu xương trắng máu đào giữa các dân tộc trong
lịch sử nhân loại kể từ cuộc chiến tranh tôn giáo đầu
tiên giữa Byzantine và Hồi giáo năm 645 cho đến mười hai
cuộc chiến đang tiến hành ở ngay thời điểm 2006 nầy.
Mười
hai cuộc đụng độ vũ trang có yếu tố tôn giáo chi phối
hiện nay là: Ở Palestine (Do Thái giáo và Hồi giáo), ở Balkans
(Công giáo và Chính Thống giáo), cũng ở Balkans (Chính Thống
giáo và Hồi giáo), ở Bắc Ireland (Công giáo và Tin Lành),
ở Kashmir (Hồi giáo và Ấn Độ giáo), ở Sudan (Tin Lành và
Hồi giáo), ở Nigeria (Tin Lành và Hồi giáo), ở Ethiopia (Tin
Lành và Hồi giáo), ở Sri Lanka (Ấn Độ giáo Tamil và Phật
giáo Sinhalese), ở Indonesia (Tin Lành và Hồi giáo), ở Caucasus
(Chính Thống giáo và Hồi giáo) và cũng ở Caucasus (Công giáo
và Hồi giáo). Điều đáng lưu ý là ngoại trừ ở Sri
Lanka, 11 trong 12 cuộc đụng độ nầy (92%) đều có quan hệ
đến những tôn giáo với nền thần học lấy cùng một Thiên
Chúa làm xuất phát điểm tín ngưỡng.
Theo
Sam Harris, chính “Sự bất tương đồng giữa các nền thần
học đã chia tách thế giới chúng ta thành những cộng đồng
đạo đức khác biệt làm nguồn gốc cho những tranh chấp
đẫm máu giữa con người”
Trong
buổi giao thời giữa hai thiên niên kỷ, nhiều người đã
nói đến thế kỹ thứ XXI như một thế kỷ của tôn giáo,
nghĩa là các tôn giáo có tổ chức sẽ vừa năng động hơn
trong nỗ lực biến nội dung thần học thành định hướng
học thuật chủ đạo quốc gia, vừa chủ động hơn trong việc
cụ thể đi vào và khống chế dòng chính (mainstream) của tiến
trình phát triễn xã hội loài người.
Lời
tiên đoán nầy dựa trên hai, trong nhiều, lý do sau đây:
Thứ
nhất là lịch sử tôn giáo trong 500 năm vừa qua đã chứng
tỏ rắng các xu hướng vận động tôn giáo hầu như lúc nào
cũng có tính cách toàn cầu, triệt để và tác động sâu
sắc lên những hình thái sinh hoạt khác của con người. Nó
lại càng rõ ràng hơn khi, hiện nay, các định chế tôn giáo
có tổ chức đã đẩy mạnh chính sách truyền giáo của mình
bằng cách bám vào cuộc cách mạng thông tin và cỡi lên trên
làn sóng toàn cầu hóa kinh tế .
Thứ
nhì là hạ bán thế kỹ thứ XX đã được khắc đậm
bắng các mâu thuẫn và tranh chấp có tính tôn giáo. Những
mâu thuẫn nầy càng lúc càng trở nên phức tạp và càng ngày
mức độ cực đoan càng gia tăng. Tranh chấp giữa các tôn
giáo thông qua các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, và
nhiều khi bằng vũ lực giữa hai khuynh hướng hữu thần và
phi Thượng Đế đang rõ nét và không thấy có dấu hiệu
giảm thiểu.
Lịch
sử nhân loại, từ Đông sang Tây, từ xã hội cổ truyền
đến nhà nước hiện đại, cho ta biết nhiều giai đoạn mà
trong đó nhà nước cầm quyền đã vận dụng nội dung tôn
giáo vào các chính sách quốc gia. Và ngược lại, các chính
sách quốc gia cũng đã tìm cách tác động lên đời sống
tôn giáo của các tín đồ.
Khi
hiện tượng giao thoa thuận chiều, nghĩa là nhà nước và
tôn giáo cùng mục tiêu, cùng đối tượng, và cùng quyền
lợi thì dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh, công dân có
văn hóa một cách bền vững. Khi hiện tượng đó ngược chiều
thì nó sẽ trở thành một đại họa cho quốc gia.
Tôi
chỉ xin liệt kê ngắn gọn bốn trường hợp lịch sử tiêu
biểu mà những ai quan tâm đến lãnh vực nầy cũng đều biết,
để xác nhận rằng hiện tượng nầy đã xảy ra, và đó
là quy luật tự nhiên của quá trình phát triển xã hội. Hệ
quả của sự vận dụng nầy có thể tốt mà cũng có thể
xấu, nhưng nói chung, thật khó mà tránh được.
Trước
hết là hai chuyện Đông Tây thế giới, chuyện cả mấy ngàn
năm trước cũng như chuyện cận đại:
Sau
trận đánh đẩm máu chiếm thành Hưu Thị La (Kalinga) mà số
tử thương của cả hai phe lâm chiến lên đến cả mấy ngàn
người, bạo chúa A Dục vương (Asoka, 273-232 trước Tây lịch),
đã nghe lời Tỳ kheo Ưu Ba Cúc Đa đoạn tuyệt với chính
sách trị quốc bằng bạo lực để quay về cửa Phật, phát
tâm vận dụng nội dung Phật giáo vào chính sách quốc gia.
Vị “đồ tể buông dao” nầy cho thiết lập một số “luật”
(khắc lên 36 trụ đá tại tỉnh Bhopal, Ấn Độ) quy định
và thể chế hóa những nguyên tắc ứng xử trong quan hệ xã
hội, quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo, và triệt để
thi hành một chính sách ngoại giao đa phương và đa diện “làm
bạn với tất cả mọi người” nên đã mang lại hòa bình
và thịnh vượng cho vương quốc. Sự vận dụng nầy lấy
nội dung nhập thế của Phật giáo làm cơ sở, đã giúp nhà
vua “cai trị dể dàng một đế quốc rộng lớn mà không
cần dùng đến sức mạnh ”.
Vua
Louis 16 (1638-1715), thừa kế chủ thuyết Quân chủ Tuyệt đối
(Absolute Monarch) của vua Louis 14 trước đó, vốn duy trì vương
quyền bằng một hệ thống quản lý quốc gia rập khuôn theo
mô hình tổ chức quyền hành độc tôn của Giáo hoàng Công
giáo La Mã, đã thiết kế chính sách điền thổ, chính sách
thuế khóa và chính sách giáo dục mang lại nhiều đặc quyền
đặc lợi cho giai cấp Tăng lữ. Đến khi không giải quyết
thỏa đáng được mâu thuẫn quyền lợi giữa thế lực Tăng
lữ nầy và hai tầng lớp Quý tộc và Maiï bản công nông,
vua Louis 16 đã ban hành một loạt những biện pháp cải cách
bất bình đẳng, làm tiền đề chính trị xã hội cho giới
tư sản và nông dân kết hợp phát động cuộc cách mạng
dân quyền 1789 tại Pháp. Chảy xuyên suốt các triều đại
của dòng họ Louis Bourbon ngoan đạo nầy là não trạng độc
tôn quyền lực, xuất sinh từ nội dung thần học Công giáo
La Mã lúc bấy giờ, quyết đoán rằng chỉ có ta là sự thật
duy nhất, chỉ có ta là con đường cứu chuộc duy nhất.
Đó
là hai trường hợp nước ngoài. Trở lại với Việt Nam, ta
cũng đã có trường hợp cả mấy trăm năm trước và trường
hợp mới đây:
Triều
đại nhà Trần của nước ta đã thể hiện một cách nhuần
nhuyễn nội dung của giáo lý đạo Phật trên cả hai mặt
nội trị và ngoại giao, làm cho nước ta trở nên hùng mạnh
mà vẫn hiếu hòa, dân nước ta nhu thuần mà vẫn phú cường
trong gần 3 thế kỳ . Những vị vua Phật tử khai sáng như
Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đã xây dựng một cơ sở
tinh thần để từ đó và trên đó, vận dụng tinh thần dung
hợp và khai phóng của Phật giáo, đoàn kết và thống nhất
toàn bộ nổ lực tri thức và nguồn lực vật chất xã hội
để vừa có thể đánh bại các đạo quân xâm lược hung
bạo phương Bắc, vừa mở mang bờ cõi về phương Nam, lại
đặc biệt vừa tiếp thu một cách có đãi lọc và sáng tạo
các nền văn hóa ngoại nhập hầu súc tích hóa và hiện đại
hóa nền văn hóa bản địa đương thời của nước ta. Những
chính sách quân phân điền thổ, lương bổng và thuế khóa,
cải tạo tù binh và hàng binh, giáo dục và thi cử để tuyển
chọn nhân tài, ... đều bắt nguồn từ tính bình đẳng, hạnh
bồ tát, và lý duyên khởi của giáo lý nhà Phật.
Năm
1956, tại miền Nam nước ta, có một chế độ Cọng hòa Tổng
thống chế được hình thành. Nhưng vì chế độ nầy thừa
kế những di sản lịch sử của Hội Truyền giáo Hải ngoại
Pháp tại Paris, khai sinh do và phát triển nhờ những vận động
chính trị của giới Công giáo Mỹ , lại chủ yếu do khối
trí thức Công giáo tại miền Nam thành lập, nên chế độ
Cọng hòa nầy, tự trong bản chất, có thể gọi là một chế
độ “Công giáo trị”. Từ những điều kiện lịch
sử đóù, chính quyền Ngô Đình Diệm trong suốt 9 năm cầm
quyền đã vận dụng nội dung Thiên Chúa giáo vào các chính
sách trị nước. Trước hết và quan trọng nhất là hai quốc
sách chống Cọng (hữu thần chống vô thần) và Công giáo
hóa miền Nam (diệt trừ tà ma ngoại đạo để vinh danh Thiên
Chúa). Những chính sách quản lý quốc gia còn lại chỉ là
công cụ nối dài của hai quốc sách nầy: Quốc phòng, ngoại
giao, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, tư pháp, nhân dụng, thông
tin, điền địa,... . Đến năm 1963, trước chính sách tôn
giáo bất bình đẳng trắng trợn của chính quyền Ngô Đình
Diệm, Phật giáo đồ miền Nam đã vận dụng chữ “Không”
của nhà Phật để cùng với nhân dân miền Nam dõng dạc đứng
lên khước từ chế độ nầy.
Liệt
kê bốn trường hợp lịch sử trên đây, từ Đông sang Tây,
từ nước người cho đến nước ta, từ nghìn năm trước
cho đến bây giờ, ... là chỉ để minh chứng một điều:
Sự giao thoa giũa nội dung tôn giáo và các chính sách trị
nước là hiện tượng có thật, không tránh được. Nếu cần
phải kể thêm những trường hợp tiêu biểu khác thì ta còn
thấy tiêu cực như loạn Thái bình Thiên quốc của Hồng Tú
Toàn tại Trung Quốc, Tám cuộc “thánh chiến” của
Thập tự quân tại Âu châu, các chế độ Thần chủ (Theocracy)
Hồi giáo tại Cận và Trung Đông, ... Còn về mặt tích
cực, thì ta có thể kể đến ảnh hưởng triết lý Khổng
giáo tại Singapore, thần học Do Thái giáo tại Israel, hay phương
châm trị quốc “Bhutan không có GNP , Bhutan chỉ có GNH (Gross
National Happiness)” của tiểu quốc Phật giáo Bhutan.
Nhưng
có lẽ không có trường hợp nào mà sự giao thoa giữa nội
dung tôn giáo và chính sách nhà nước lại rõ ràng và quy mô
như trường hợp nước Mỹ. Trong cuộc vận động tranh cử
vào năm 2004, khi biện minh cho chính sách ngoại giao cố tìm
cách áp đặt các giá trị Mỹ lên các nước khác trên toàn
thế giới, ứng cử viên tổng thống George W. Bush đã tuyên
bố rằng: Tự do không phải là món quà của Mỹ cho thế giới.
Nó là món quà của Chúa Quyền năng ban cho mỗi người nam
và người nữ trên thế giới nầy. Như vậy, rõ ràng nhân
vật cao cấp nhất nầy của chính quyền Mỹ còn muốn vượt
cả biên cương quốc gia mà vận dụng nội dung tôn giáo vào
đời sống của toàn nhân loại !
TỔNG
QUAN TÌNH HÌNH TÔN GIÁO TẠI MỸ – ĐA TẦNG, ĐA DIỆN VÀ ĐA
CHIỀU
Hợp
chủng quốc Hoa kỳ được hình thành vì hai biến cố lớn
tại Âu châu (và sau nầy, tại thuộc địa Anh trên vùng đất
mới) vào cuối thế kỷ thứ mười bảy: Sưu cao thuế nặng
và bách hại tôn giáo. Từ đó, chảy
xuyên
suốt quá trình lập quốc của Hoa Kỳ, “thuế” và “giáo”
đã luôn luôn là hai lãnh vực được cả giới lãnh đạo
lẫn nhân dân quan tâm đặc biệt trong nỗ lực thiết kế
chính sách quốc gia.
Mùa
Xuân năm 1620, sau một chuyến hành trình gian khổ băng qua Đại
Tây dương, thương thuyền Mayflower đã cập vào mỏm đá Plymouth
(sau nầy thuộc tiểu bang Massachusetts), mang theo 120 hành khách
mà đa số là tín đồ Tin Lành ly khai Puritans tại Hà Lan và
Anh. Dù từ thế kỷ thứ 16 đã có những người Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha đến thám hiểm châu Mỹ, nhưng một cách chính
thức, chính những hành khách Tin Lành Puritains nầyï sẽ là
những nhà truyền giáo đầu tiên, sau nầy, theo làn sóng mở
đất và tìm vàng để đi về miền viễn Tây, nối liền hai
bờ đại dương của lục địa Bắc Mỹ.
Sam
Harris, Killing Buddha, Taïp chí Shambhala Sun, soá thaùng Ba 2006,
Halifax, Canada. Sam Harris laø taùc giaû cuoán saùch noåi tieáng
The End of Faith, trong ñoù taùc giaû cho raèng noäi dung vaø haønh
trì cuûa Phaät giaùo thì seõ ñem laïi lôïi loäc nhieàu hôn
neáu Phaät giaùo ñöôïc trình baøy vaø aùp duïng khoâng phaûi
nhö moät Toân giaùo.