Sau
nhiều năm đàm phán, bản Tuyên ngôn bước ngoặt về “Sự
Loại bỏ tất cả Những hình thức Bất Khoan Dung và Phân
biệt Đối xử dựa trên Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng” đã
ra đời vào năm 1981 để giải thích cho các điều khoản về
tôn giáo và tín ngưỡng trong Thoả ước Quốc tế về Quyền
Dân sự và Chính trị. Chỉ trong thập kỷ 1980 sự phân
tích của học gỉa sự che chở cho tôn giáo và mối tương
quan giữa nhân quyền và tôn giáo mới được khởi sự nghiêm
túc, với sự trỗi dậy của tôn giáo trên vũ đài thế giới.
Một vài biến cố quốc tế gần đây đã nhắc nhở các học
giả nên quan tâm nhiều hơn đến tôn giáo như một vấn đề
nhân quyền. Một là, Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Tự do
Tín ngưỡng Quốc tế 1998 với sự bỏ phiếu nhất trí tại
cả hai viện Quốc Hội, đưa tự do tín ngưỡng lên thành
mối quan tâm hang đầu trong chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ; bổ nhiệm một Đại sứ toàn quyền về Tự do tín ngưỡng
quốc tế, yêu cầu Bộ Ngoại giao đệ nạp báo cáo thường
niên về tự do tín ngưỡng toàn cầu và Tổng thống phải
áp dụng các biện pháp “củ cà rốt và cây gậy” để
khích lệ các quốc gia khác cam kết không được vi phạm
tự do tín ngưỡng. Hai là, trong vài năm gần đây, một số
quốc gia Châu Âu đã cố gắng hạn chế những hệ phái hoặc
nhóm cuồng tín tôn giáo mới xuất hiện. Ba là, loài
người ngày càng quan tâm nhiều hơn đến cái gọi là ”sự
xung đột về văn minh” giữa những tôn giáo khác nhau, và
bạo lực cùng sự ngược đãi nhân danh tôn giáo đã xảy
ra, chẳng hạn sụ đàn áp dã man đối với nữ quyền ở
Afghanistan bởi phe Taliban nhân danh Hồi giáo, mà đã được
tiết lộ khi Hoa Kỳ truy nã bọn khủng bố trong đất nước
này sau những sự biến ngày 11-9-2001; hoặc là án tử hình
cho người Hồi giáo nào muốn theo đạo Thiên Chúa, tại Afghanistan
cả trong giai đọan dân chủ hóa sau khi lật đổ chế độ
Taliban, án tử hình này bị đe dọa áp dụng cho trường hợp
Abdur Rahman và bị các lãnh đạo và báo chí Tây Phương phản
đối.
Trong
khung cảnh này, có nhiều cuộc thảo luận và các bài viết
về cuộc xung đột lịch sử giữa tín đồ Hồi giáo và tín
hữu Cơ Đốc giáo. Trong suốt lịch sử tám cuộc thập tự
chinh kéo dài gần năm thế kỷ , từ năm 1095 – khi cuộc thập
tự chinh thứ nhất được tuyên khai, cho đến năm 1578 –
khi cuộc thập tự chinh cuối cùng được tiến hành để chống
lại người Thổ Nhĩ Kỳ ở Morocco, nhân quyền đã bị vi
phạm bởi cả hai bên. Chẳng hạn, trong cuộc thập tự chinh
thứ nhất, do những hiệp sĩ sùng đạo cầm đầu, các đội
quân Cơ Đốc giáo từ Pháp, Đức, Anh và những nước khác
đã hành quân qua lãnh thổ nước Hungary ngày nay đến Constantinople,
sau đó tiến về Thánh địa Jerusalem, nơi mà để nỗ lực
giành lại mảnh đất thiêng này về tay người Cơ Đốc, họ
đã gieo rắc biết bao điêu tàn, thảm sát. Về phía những
người theo Đạo Hồi, mà ký ức của họ về các cuộc thánh
chiến tàn bạo vẫn luôn sống động, phần thế giới bên
ngoài không gian Hồi giáo được gọi là Thế giới của Chiến
tranh – nơi sinh sống của những kẻ ngoại đạo (kafir), và
nhiều người diễn dịch rằng danh từ “jihad” do Giáo chủ
Mohammed truyền lại có nghĩa là “đấu tranh theo con đường
của “Thượng Đế” và cho rằng , trong cuộc đấu tranh
vũ trang vì sự phát triển của khối Hồi giáo cho sự thống
tri thế giới, những kẻ thù hàng đầu vẫn là những người
Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, vì sự thất bại của người Thổ
trong cuộc bao vây Vienna năm 1683, lực lượng Cơ Đốc Châu
Âu buộc thế giới Hồi giáo phải chịu đựng những cuộc
chiến bại tiếp nối nhau .
Vì
lý thuyết cho rằng người Do Thái ngược đãi Jê-su và chịu
trách nhiệm về cái chết của Jê-su, nhiều người Cơ Đốc
Giáo đã ngược đãi người Do Thái qua hai ngàn năm lịch sử
(thí dụ, Hoàng Đế Theodosius II ra sắc dụ truy tố việc truyền
đạo của người Do Thái là một tội phạm tử hình), mà
giai đọan chót là cuộc Tận Thiêu Diệt Dân tộc Do Thái (Holocaust)
của Hitler—mà Giáo Hoàng Pius XII không phát biểu một lời
nói nào chống lại. Chỉ đến thời đại Giáo Hoàng
John Paul II , thì Giáo Hội Công Giáo La Mã mới yêu cầu bổn
đạo đừng có cố gắng vận động người Do Thái bỏ
đạo theo Thiên Chúa Giáo và mới có một Tài Liệu 50
trang nhan đề “ Hồi Ức và Hòa Giải, Giáo Hội và
Lỗi Lầm Quá khứ”, được Hồng Y Joseph Ratzinger (Giáo Hoàng
tương lai) tuyên bố ngày 7 tháng ba năm 2000 và được dùng
trong buổi Đại Lễ ngày 12 tháng 3 năm 2000 do Giáo Hoàng John
Paul II chủ lễ, để kêu gọi hàa giải với người Do Thái
và các tôn giáo khác và để xin Thượng Đế tha thứ cho những
lỗi lầm quá khứ.
Ngay
trong nội bộ Thiên Chúa Giáo, đã có nhiều cuộc chiến tranh
đẫm máu giữa nhũng người theo Công Giáo La Mã và nhũng người
theo Tin Lành, chẳng hạn như các cuộc chiến tranh khi nóng
khi nguội giữa hai bên tại Aí Nhĩ Lan, kéo dài hai thế kỷ,
nhưng đặc biệt ác liệt kể tứ năm 1916 khi Đạo Quân Cộng
Hòa Aí Nhĩ Lan (Irish Republican Army) được thành lập.
Hiện nay, có một thí dụ khác về sự không bao dung giữa
người Tin Lành và người theo Cơ Đốc Giáo Chính Thống bên
Nga (Russian Orthodox), cũng gọi là Thiên Chúa Giáo Phiá Đông
(Eastern Christian) : sau khi Liên Sô sụp đổ, vào thập niên
1990, Giáo Hội Chính Thống bên Nga—và cả các giáo quyền
Hồi Giáo tại 4 nước trong Cộng Đồng các quốc gia độc
lập, như Uzbekistan và Kazakhstan—muốn rằng nhà nước dùng
quyền để dập tắt công cuộc truyền đạo của các người
Tin Lành.
Trong
nội bộ Hồi Giáo, trong suốt lịch sử của nó, đã
có các cuộc chiến tranh giữa các hệ phái khác nhau, do các
giáo phẩm khác nhau lãnh đạo, má mỗi nhóm đều tự tuyên
bô là hậu duệ chính đáng hay đích thực cảa Mohammed, giáo
chủ thiết lập ra tôn giáo này. Sự thù nghịch giữa
những người Sunnis và Shiites , và sự đàn áp của nhóm này
chống lại nhóm kia, đã có từ lâu trong các quốc gia ở Trung
Đông và ở ngay trong một quốc gia, thí dụ Iraq, và đã đưa
đến các cuộc chiến tranh phe phái đẫm máu.
Khuynh
hướng lịch sử này của lực lượng Cơ Đốc và Hồi giáo
để dành độc quyền về quyền lực nhà nước và loại bỏ
các đối thủ trong cuộc đấu tranh giành ưu thế tôn giáo
thì tương phản với triết lý khoan dung và tôn trọng nhân
quyền của người khác trong Phật giáo. Để minh hoạ nét
đặc trưng này của đạo Phật và Phật giáo đồ, thật đáng
bõ công để điểm duyệt lại tài liệu lịch sử sau đây
về ảnh hưởng của đạo Phật đối với nhân quyền trong
đất nước Việt Nam truyền thống. Công trình nghiên cứu
này cung cấp những chứng cứ xác đáng, ghi nhận được trong
truyền thống Phật giáo của một nước Á châu, rằng các
chuẩn mực về nhân quyền là những giá trị toàn cầu căn
bản được chấp nhận bởi loài người ở những nơi chốn
và thời gian khác nhau. Giáo sư Đại học Tokyo Nakamura cho rằng:
Đạo Phật, với những quan niệm có sức lôi cuốn rộng rãi,
đã và đang trở thành một tôn giáo của thế giới như Đạo
Cơ Đốc và Đạo Hồi, đang vượt ra khỏi biên giới các
quốc gia. (Tạp chí Oriental Studies, số 2/1989, trang 50 – 67).
Đặc
biệt, công trình nghiên cứu này cũng giúp tạo cơ sở thuận
lợi cho các cuộc đối thoại đáng được mong mỏi giữa
các tôn giáo, nhất là đối thoại Phật Giáo – Thiên Chúa
Giáo. Do nhãn quan nhân quyền của Phật giáo, bao gồm các ý
niệm về tôn trọng cuộc sống (không sát sanh, không chiến
tranh tôn giáo), về bình đẳng (tất cả mọi sinh vật đều
bình đẳng và có Phật tánh) và về tự do tư tưởng (đa
nguyên – phong phú về các vị Bồ Tát, về tình thương và
về sự tôn trọng tha nhân), ta có thể thấy triển vọng lạc
quan về sự đối thoại giữa những tín đồ Phật giáo Việt
Nam với những tín hữu Cơ Đốc Việt Nam . Các tín đồ Cơ
Đốc Việt Nam đã lien hoan vào tháng 6/1988, với việc
Đức Giáo Hoàng phong thánh cho 117 tín hữu đã bỏ mình vì
đạo trong thời gian trước thế kỷ 20 tại Việt Nam.
Có một điều quan trọng là cần minh định quan điểm của
Phật giáo đồ về hoà bình, bác ái và tự do tôn giáo, để
quy trách cho trúng những người liên can trong những cuộc ngược
đãi đã qua đối với Thiên Chúa giáo tại Việt Nam. Có lẽ
phải cần đến trọn một bài báo hoặc một chương
sách (1) và hơn nữa, các chi tiết về cuộc đời của những
thánh tử đạo gây tranh cãi trong số 117 nhân vật này, ngõ
hầu đi đến một sự xác quyết công bằng rõ rệt về điểm
mà Chính quyền Cộng sản Việt Nam đã nêu ra, là liệu có
một số trong những người tử vì đạo này là tay sai của
thực dân Pháp hay không. Nhưng đó không phải là mục
đích của chúng tôi. Điều mà chúng tôi muốn thực hiện
ở đây là giải quyết một khiá cạnh của sự ngược
đãi đó, nó là quan trọng cho việc đối thoại giữa Phật
giáo và Thiên Chúa giáo Việt Nam: Phật giáo đồ có làm điều
gì không phải trong sự đàn áp Thiên Chúa giáo tại Việt
Nam thời trước ? Công trình nghiên cứu được trình bày hôm
nay sẽ làm rõ rằng Phật giáo đồ Việt Nam, với triết lý
khoan dung và lòng tôn trọng nhân quyền của mình, là hoàn
toàn không thể bị quy trách và chỉ có tư cách là những
người ngoài cuộc trong việc đàn áp Thiên Chúa giáo
dưới các triều đại Lê, Nguyễn. Nếu sự kết luận
công bằng này có thể bắc một nhịp cầu thông cảm cho sự
đối thoại Phật – Chúa giữa những người Việt Nam, đặc
biệt là những người Việt ly hương mà cần phải đoàn kết
để vượt qua khó khăn khi sinh tồn rải rác khắp thế giới
như những cộng đồng thiểu số giữa những dân tộc khác,
và nhờ vậy vượt thắng được nỗi đơn độc cá nhân và
khủng hoảng về thế đứng tập thể, thì đây là một phần
thưởng đáng khích lệ đối với tác giả.
Câu
chuyện về ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam đối với
chính sách nhân quyền của nhà cầm quyền thì hết sức có
giá trị làm sáng tỏ, bởi vì đây là một trong số ít trường
hợp khi mà người Phật giáo trực tiếp tác động lên đường
lối, chính sách của Nhà nước và trực tiếp gây dựng,đóng
góp vào chính sách nhân quyền của chính quyền. Sau cùng, nếu
đây là một bằng chứng rõ rệt cho thấy rằng một tôn giáo
có thể gây ảnh hưởng đến chính sách nhân quyền của Nhà
nước thì chúng ta có thể cho rằng những sự kiện này chứng
minh mạnh mẽ rằng lý thuyết duy vật lịch sử của
Mác-xít – ở đây hàm nghĩa hạ tầng cơ sở của một xã
hội quyết định kiến trúc thượng tầng của nó – là sai.
Khi
nói về nhân quyền, nhiều người Tây phương lập tức nói
tới các quyền hiến định trong những quốc gia Tây phương,
được công nhận là có tính cưỡng chế theo hiến pháp và
do đó có thể được gọi một cách đúng đắn là ”các
quyền”. Hơn hai phần ba những hiến pháp thì được ban hành
từ Thế chiến II, và phần lớn tác giả của chúng là “những
nhà soạn chép hiến pháp”…”Các kiểu mẫu chính về nội
dung và văn thức của các hiến chương nhân quyền chủ yếu
là: Hiến Chương Anh quốc về Các Quyền (1689), Tuyên ngôn
Pháp quốc về các Quyền của Con người và Công dân (1789),
và Hiến Chương Mỹ quốc về các Quyền (mười Sửa đổi
hay Tu Chính Hiến Pháp đầu tiên, 1791).(2) . Ta thử đặt câu
hỏi: có phải nhân quyền là sản phẩm của nền văn minh
Tây phương, còn đối với các nước châu Á truyền thống
– mà Việt Nam là một trong số đó – chỉ có cái mà một
số học giả gọi là “sự chuyên chế Đông phương” ? (3).
Trong quyển sách của chúng tôi, Truyền thống Việt Nam
về Nhân quyền (The Vietnamese Tradition of Human Rights) (Viện Đông
Á Học / Đại học California / Berkeley-1988), chúng tôi thấy
bằng chứng lịch sử đưa đến kết luận rằng những quy
chuẩn và những thực hành pháp luật của nước Việt Nam
truyền thống đã theo sát nhiều trong số các chuẩn mực quốc
tế ngày nay và thậm chí còn vượt trội trong lĩnh vực những
quyền về kinh tế và xã hội (có thể đòi thi hành được).
Những độc giả quan tâm đến toàn thể đề tài này có thể
đọc tổng luận này về lịch sử ngàn năm nhân quyền tại
Việt Nam. Trong bài chuyên khảo nhỏ hơn này, chúng tôi chỉ
tập trung vào ảnh hưởng của Phật giáo đối với chính
sách nhân quyền của nhà nước trong đất nước Việt Nam
truyền thống.
Khi
đề cập đến đạo Phật trong thời Việt Nam quân chủ phong
kiến, các sử gia thường nhắc đến các đời nhà Lý(1010-1225)
và nhà Trần (1225-1400), mà trong các triều đại đó đạo
Phật rất phát triển. Trong đời nhà Lê (1428-1788), ảnh hưởng
của Phật giáo suy yếu dần do việc chủ thuyết Tân Tống
Nho đã trở thành hệ tư tưởng thống soái của những quan
lại cầm quyền, của các vua Lê (nhất là Thánh Tông), chúa
Trịnh và chúa Nguyễn. Trong đời nhà Nguyễn (từ 1802 cho đến
cuộc chinh phục của người Pháp vào cuối thế kỷ 19), vua
Gia Long và đặc biệt là vua Minh Mạng đã áp dụng trung thành
không những các chế định cai trị của triều đại Mãn Thanh
(Trung Hoa) mà còn áp dụng bộ luật Đaị Thanh Luật Lệ
của họ (chỉ thêm vài điều khoản). Các quy tắc Khổng giáo
(Nho giáo) đã thắng thế các nguyên lý Phật giáo. Sự thống
trị của Khổng giáo trong những thế kỷ này đã tạo ra một
hệ quả gián tiếp về tự do tín ngưỡng đối với Thiên
Chúa giáo, như được đề cập ngắn gọn sau đây, trong một
giai đoạn mà Phật giáo không còn tạo được ảnh hưởng
nào đối với nhà cầm quyền. Vì thế, khi bàn về ảnh hưởng
của Phật giáo đối với chính sách nhân quyền của nhà nước
trong lịch sử Việt Nam, chúng ta phải tập trung vào đời
Lý và đời Trần, khi Phật giáo có vai trò và do đó có trách
nhiệm đối với chính sách của nhà cầm quyền, để nhận
ra mối quan hệ nhân quả giữa đạo Phật và nhân quyền;
bất cứ sự bàn thêm nào về đời Lê và đời Nguyễn –
khi Phật giáo không còn gây được ảnh hưởng đối với
chính quyền – sẽ chỉ được xem như những trường hợp
phản biện hoặc “dữ liệu kiểm chứng lại” để xác
minh các chứng cứ trong giai đoạn chính được nghiên cứu
(trước năm 1400) – theo phương pháp nghiên cứu khoa học xã
hội tiêu chuẩn.
VAI
TRÒ CHÍNH TRỊ VÀ Ý THỨC HỆ CỦA ĐẠO PHẬT TRONG NƯỚC
VIỆT TRUYỀN THỐNG, TỪ THUỞ SƠ KHAI ĐẾN CUỐI ĐỜI TRẦN
(1400)
Đạo
Phật bắt đầu có ảnh hưởng tại Việt Nam kể từ thời
kỳ Trung Hoa đô hộ (111 TCN – 939 Sau CN). Trung Hoa đã áp dụng
chính sách đồng hoá văn hoá đối với đại chúng và đồng
thời ngăn cản việc học lên cao từ sách chữ Hán ( mà có
thể là một kênh giúp thăng tiến trong xã hội ). Thực tiễn
này đã gián tiếp tạo nên vai trò quan trọng cho các nhà sư
Phật giáo, họ vốn tinh thông chữ Hán nhất trong xã hội(để
nghiên cứu kinh sách), cũng như tạo ra ảnh hưởng của đạo
Phật tại Việt Nam từ những thuở ban đầu. Khi giành lại
độc lập, ba triều đại – Ngô (939 – 967), Đinh (968 –
980), và Tiền Lê (980 – 1009) – đã nối tiếp nhau nhanh
chóng. Bởi vì những người chấp chính vốn là “con nhà
võ” đang bận bịu củng cố quyền lực còn non yếu, nên
họ cậy nhờ đến những tỷ kheo Phật giáo uyên thâm này,
cả về công vụ đối nội cũng như về quan hệ ngoại giao
với Trung Hoa. Họ sử dụng kiến thức của các nhà sư mà
không phải âu lo về lý thuyết trung thành kiểu Khổng
giáo đối với một vị vương (trung thần bất sự nhị quân)
khi phụng sự một triều đại mới kế nghiệp vị vương
đó. Sư Ngô Chân Lưu, hậu duệ nhà Ngô, đã phụng sự vua
Đinh Tiên Hoàng – người đã bổ nhiệm sư làm Tăng Thống
Giáo Hội Phật Giáo và ban tặng tước hiệu Khuông Việt Đại
Sư ( cao tăng giúp việc trị vì nước Việt). Trong thời gian
tại vị, vua Đinh Tiên Hoàng cũng đã ban hành quy định về
các hang tăng phẩm, các tăng này được xem là triều thần.
Sau khi Lê Hoàn tiếm quyền từ người kế vị vua Đinh Tiên
Hoàng và trở thành vua Lê Đại Hành, tất cả công việc triều
chính được xử lý bởi sư Khuông Việt. Vị cao tăng này
đã cùng sư Lạc Thuận phụ giúp nhà Vua trong việc tiếp nhận
sứ thần Trung Hoa (4). Sư Vạn Hạnh đã được vua Lê Đại
Hành tham vấn về chính sự trong các chiến dịch phá Tống
bình Chiêm. Vị sư này khi chứng kiến điềm gỡ nơi một
cây lớn bị sét đánh đã tiên đoán rằng nhà vua tham sắc
Lê Ngoạ Triều sẽ là vị vua cuối cùng của triều đại
Tiền Lê và đã khuyên Lý Công Uẩn chiếm ngai vàng (5) .
Lý
Công Uẩn, tứ sau này là vua Lý Thái Tổ (thứ nhất) của
triều đại nhà Lý, là một trẻ ngoại hôn, làm con nuôi cho
sư Khánh Vân. Như vậy là đời nhà Lý (1010 – 1225) theo cơ
duyên đã gắn kết với đạo Phật ngay tự ban đầu. Mặc
dầu vai trò chính trị của các cao tăng không còn thống soái
như trước đó, ảnh hưởng của họ vẫn còn rất mạnh,
và Phật giáo đã có được sự tự do và hỗ trợ rộng rãi
nhất như từng được biết trong lịch sử Việt Nam thời
cổ. Được học tập nhiều hơn những vua triều trước, các
vua nhà Lý ngưỡng mộ đạo Phật theo một phong cách mẫn
tuệ hơn.
Trong
suốt triều đại này, quyền lực nằm trong tay hoàng tộc,
một số hoàng tử có quân túc vệ riêng. Triều đình được
tổ chức theo kiểu Trung Hoa, cũng có nhiều Nho sĩ hơn. Năm
1070, vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu, nơi Vua gởi
hoàng thái tử đến học tập và cũng là nơi lưu giữ những
kinh điển Khổng giáo. Nhà vua cũng cho tạc tượng Chu Công,
Khổng tử và bảy mươi hai vị thánh hiền. Năm 1075, vua Lý
Nhân Tông tổ chức khoa thi tam trường để tuyển dụng Nho
sĩ ra làm quan. Kỳ thi này đã khởi sự cho hệ thống khảo
hạch Nho học tại Việt Nam. Năm 1076, nhà vua lập ra Quốc
Tử Giám. Với vai trò ngày càng lớn mạnh của Nho giáo,
các nhà sư đã không còn giữ một địa vị ưu thắng về
chính trị như trước nữa.
Tuy
nhiên, trong tinh thần “tam giáo đồng nguyên”: Nho, Phật,
Lão ( Đạo giáo), các nhà sư danh tiếng vẫn giữ được ảnh
hưởng rộng lớn của họ và ảnh hưởng Phật giáo này đã
thấm nhuần trong chính sách và thực tiễn ( và luật) về
nhân quyền của triều đình với tinh thần từ bi và bác ái,
như sẽ được nêu ra sau đây. Các tỳ kheo này thực thi ảnh
hưởng của mình theo ba cách. Một là, nhiều người trong số
này là con/cháu của các vua/hoàng hậu, hoặc các quan to, và
do đó, vẫn có – một cách gián tiếp, riêng tư – ảnh hưởng
đối với các vua và triều thần. Sư Mãn Giác là con trai
Lý Hoài Tố; ni sư Diệu Nhân là con nuôi vua Lý Thánh Tông;
sư Viên Chiếu là cháu của hoàng hậu Linh Nhân. Hai là, họ
luôn được tôn kính như những lãnh đạo tôn giáo bởi các
vua và hoàng hậu/ hoàng thái hậu – những người thường
hay mời họ trụ trì đền, chùa ở kinh đô và thuyết pháp
trong các cung điện. Sư Huệ Sinh và sư Viên Chiếu đã được
vua Lý Thái Tổ vời vào cung. Vua Lý Nhân Tông và mẹ - Hoàng
hậu Linh Nhân, là những người mộ đạo và thường thỉnh
các nhà sư danh tiếng đến đàm đạo về các vấn đề tôn
giáo. Nhiều vị tỳ kheo rất được kính trọng bởi vua Nhân
Tông và các vua nhà Lý khác, trong số đó có: Thông Biên, Mãn
Giác, Chân Không, Giác Hải và Không Lộ (6) . Ba là, nhiều
vị vua cũng tự mình xuất gia sau khi về hưu: Thánh Tông (sáng
lập tông phái Thảo Đường), Anh Tông, Cao Tông và Huệ Tông.
Các vị thái thượng hoàng (vua đã về hưu) , mà đã
là tăng sĩ, vẫn có nhiều uy lực đối với các vua đang trị
vì, do đó ảnh hưởng của Phật giáo đối với triều đình
rất mạnh mẽ.
Dưới
đời Trần (1225 – 1400), ảnh hưởng của Phật giáo đối
với triều đình đã giảm sút so với dưới đời Lý. Trong
một nỗ lực nhằm duy trì sự cố kết trong họ tộc Trần,
hoàng thân quốc thích đã được trao cho nhiều vai trò quan
trọng trong việc trị quốc hơn là như dưới đời Lý: họ
nắm giữ các chức tước quan trọng trong quân đội và dân
sự, được ban tặng điền thổ để đánh thuế và thu tô,
và các hoàng tử có quân túc vệ riêng (họ đánh đuổi quân
xâm lăng Nguyên). Các quan lại (những nhà hành chính chuyên
nghiệp) được tuyển dụng thông qua các cuộc thi tuyển
công chức ( được phát triển hơn dưới đời Trần so với
đời Lý), bổ nhiệm vào các chức vụ xuống tới cấp làng.
Như vậy, tất nhiên là ảnh hưởng của Phật giáo đã sụt
giảm. Đến gần cuối triều đại, năm 1396, vua Trần Thuận
Tông đã thực thi một biện pháp tương tự như trong một
đạo luật của nhà Minh- Trung Hoa; các tu sĩ Phật giáo và
Đạo giáo dưới 50 tuổi phải hoàn tục. Hàng Nho sĩ công
khai tấn kích vào ảnh hưởng của Phật giáo trong các chính
sách của triều đình.
Tuy
nhiên, đạo Phật vẫn còn tạo được một ảnh hưởng lớn
trong tín ngưỡng và hành xử của các vua. Nhà Trần tiếp
tục hệ tư tưởng chính thức “Tam Giáo Đồng Nguyên” và
nếu Nho giáo là một triết lý xã hội chi phối tổ chức
nhà nước và các mối quan hệ xã hội thì đạo Phật được
công nhận như là tôn giáo của mọi người, vua quan cũng như
thần dân. Trong phần dẫn nhập cuốn Thiền Tông Chỉ Nam của
mình, vua Trần Thái Tông đã kể lại câu chuyện ông rời
bỏ ngai vàng lên chùa Yên Tử để tìm kiếm một vị thiền
sư và rồi phải trở lại kinh đô chỉ vì lời doạ của
Thái Sư Trần Thủ Độ là sẽ chuyển toàn bộ triều đình
lên chùa này. Người viết rằng: “Từ thuở niên thiếu khi
bắt đầu hiểu biết, trẫm đã hấp thụ những lời dạy
của các vị Thiền sư. Trẫm đã học hỏi và nghiền ngẫm
về Phật Thiền. Lòng Trẫm đã khao khát theo một vị thầy
và nguyện trung thành với Đạo”. Về sau, khi đã trở thành
thái thượng hoàng, Thái Tông đã xuất gia đầu Phật, tạo
nên một tiền lệ cho các vua kế vị noi theo. Phần lớn các
vua nhà Trần là phật tử thuần thành, thích đàm đạo với
các tăng sĩ, và xuất gia khi về hưu và trở thành thái thượng
hoàng: Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông. Một tình trạng
có thể tiếp diễn trong đó một vị vua ủng hộ Phật giáo
trong khi vua cha- đã về hưu và trở thành thái thượng hoàng-
chu du trong thiên hạ quảng bá đạo Phật. Quả là một hoàn
cảnh càng dẫn đến sự duy trì mạnh mẽ sự hiện diện
của Phật giáo. Khi thái thượng hoàng Nhân Tông lai kinh năm
1304 với tư cách là chưởng môn của Phật phái Trúc Lâm,
vua Anh Tông và toàn thể triều đình đã ra nghênh đón, nhà
vua xin thọ giáo tỷ kheo và tất cả triều thần đã đồng
thanh thọ nguyện (7).
Cho
dù Phật giáo đã rõ ràng tạo dựng được một sự thống
trị tinh thần lớn lao đối với các triều đại Lý và Trần,
khi điểm lại những công việc thế tục (đời thường) đã
được hành xử bởi những quan chức Nho sĩ, mà một số trong
họ- như sẽ nêu ra dưới đây- đã cố gắng làm giảm vai
trò của Phật giáo, thì chúng tôi vẫn phải xác định vấn
đề khảo cứu cốt lõi một cách thật chính xác là:
Phật giáo đã có ảnh hưởng gì đối với các chính sách
về nhân quyền của các triều đình ?
ẢNH
HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI CÁC CHÍNH SÁCH VỀ NHÂN QUYỀN
CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI LÝ VÀ TRẦN
Khi
bàn về các chính sách nhân quyền của một chính phủ thì
cũng có nghĩa là phải xem xét đến những quyền nào mà hiến
pháp quy định cho công dân, hoặc trong một thời đại chưa
có hiến pháp, phải xem xét những nguyên tắc luật lệ gì
– đặc biệt là trong luật hình và thủ tục tố tụng hình
sự – quy định các quyền của con người, như quyền sống,
quyền tự do, quyền an toàn than thể, hoặc quyền tự do tư
tưởng hoặc tôn giáo, hoặc quyền về kinh tế và các phúc
lợi xã hội.v.v..
Những
văn bản pháp luật đời Lê và Nguyễn hiện còn khá đầy
đủ để cho phép chúng ta nghiên cứu về hồ sơ nhân quyền
trong các triều đại này một cách toàn diện. Nhưng đối
với các đời Lý và Trần, chúng ta không có sự may mắn như
vậy – chẳng còn tuyển tập luật lệ gì – có lẽ là vì,
như sử sách ghi, tướng Trương Phụ đời Minh, trong giai
đoạn lịch sử ngắn ngủi khi Trung Hoa xâm chiếm Việt Nam
sau đời nhà Trần, đã tịch thu sách vở của nước ta và
mang tất cả về Bắc Kinh. Bộ chính sử của Việt Nam, Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư, có đề cập đến một số bộ luật,
nhưng hiện nay chúng không còn nữa.
Năm
1042, vua Lý Thái Tông ban hành luật Hình Thư, mà đã được
các sử gia cuối đời Lê ca ngợi trong Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư như sau: “Cho đến thời đó, các việc kiện tụng
trong nước rất phức tạp. Các quan xử án theo sát những
câu chữ của luật, cho nên trở thành khắc nghiệt, kết án
oan kẻ vô tội. Nhà vua, cảm thông với họ, nên đã chỉ
dụ rằng luật lệ phải được soạn thảo cập nhật, phải
phân loại và rút gọn thành các điều khoản đưa vào Bộ
Hình thư, để nhân dân có thể hiểu chúng một cách dễ dàng”
(8). Bộ Hình thư này, mà ắt hẳn là thấm nhuần tinh thần
nhân đạo Phật giáo, thì không còn nữa. Năm 1230, triều đại
nhà Trần cũng đã ban hành hai bộ luật: Quốc Triều Thống
Chế, gồm 20 quyển, được bổ sung năm 1244 với những điều
khoản về sự áp dụng luật hình; và Hình Thư, được biên
soạn năm 1341 bởi Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn theo
lệnh của vua Dụ Tông. Theo Lê Quý Đôn, các bộ luật đời
Trần là hoàn chỉnh nhất trong đỉnh cao của triều đại
nhà Trần. Đáng tiếc là chúng ta không còn giữ được các
bộ luật này, và chứng tích còn lại duy nhất của luật
Trần là cuốn An Nam Chí Lược, một cuốn sử không chính
thức của Lê Tắc – một viên quan Việt Nam đã phản bội
dân tộc đi theo quân Nguyên về Tàu năm 1285. Xét cho cùng,
để bàn về ảnh hưởng của Phật giáo đối với các chính
sách nhân quyền của các đời Lý, Trần, chúng tôi chỉ có
những lời đề cập rải rác trong những tài liệu lịch sử,
nói tới những sắc lệnh, chính sách và những biến cố.
Như vậy do không có đủ những tài liệu pháp luật, những
phân tích của chúng tôi về đời Lý và đời Trần chỉ có
thể tường thuật được một vài quyền của con người mà
chúng tôi chỉ có thể tìm thấy những vết tích trong chính
sử, mà không bàn được về tất cả những quyền đã được
liệt kê đầy đủ trong những tài liệu pháp luật quốc tế
ngày nay.
Sẽ
bàn về :quyền toàn vẹn con người, quyền bình đẳng và
quyền tự do tư tưởng và tôn giáo.
A.
Quyền toàn vẹn con người
Theo
các văn bản của Liên Hợp Quốc, trong đề mục này, mọi
người có quyền sống, quyền tự do không bị nô lệ, nô
dịch hoặc tù tội, và quyền có an ninh cho con người trong
tiến trình pháp luật, như là sự bảo đảm không bị bắt
bớ / giam cầm đợc đoán, quyền được xét xử công khai,
công bằng, không chậm trễ .v.v…Quyền toàn vẹn
con người là một điều kiện tiên quyết để có thể hưởng
bình đẳng, hoặc các quyền dân sự và chính trị cũng như
các quyền kinh tế và xã hội.
1.
Quyền sống. Theo luật quốc tế hiện hành về nhân
quyền, quyền sống là không tuyệt đối. Mặc dầu một số
tổ chức quốc tế (chẳng hạn Tổ chức ân xá Quốc tế)
tranh đấu cho sự bãi bỏ án tử hình như một sự vi phạm
quyền sống, và mặc dầu một số tiểu bang ở Hoa Kỳ đã
bỏ án tử hình theo cùng một lý do , trong luật nhân quyền
quốc tế ngày nay, ý nghĩa thực của quyền sống chỉ có
nghĩa là quyền đó không thể bị tước đoạt một cách độc
đóan . Nếu theo đúng diễn tiến luật định (due process),
cả về nội dung lẫn thủ tục, án tử hình có thể
áp dụng bởi Nhà nước trong phần lớn các quốc gia: một
toà án đủ thẩm quyền có thể kết án tử hình một người
phạm vào một trọng tội do luật có hiệu lực quy định,
theo đúng thủ tục pháp lý, trên căn bản của chứng cứ
rõ rệt.
Dưới
đời Hậu Lê và đời Nguyễn, án tử hình tuyên bởi các
toà cấp dưới phải được phê chuẩn bởi cấp toà cao nhất
– dưới đời Lê, đó là Thẩm Hình Viện; dưới đời Nguyễn,
đó là một tập hợp các cơ quan: Bộ Hình và Tam Toà – bao
gồm, thứ nhất, chính Bộ Hình, thứ hai, Đại Lý Tư, và
thứ ba, Ngự Sử Đài – và rồi bản án, nếu được xác
định, phải được chuyển đến nhà vua để có quyết định
chung thẩm. (Có một sự khác biệt duy nhất với chuẩn mực
nhân quyền ngày nay là án tử hình có thể được tuyên đối
với một số tội hiện nay không còn bị tuyên tội chết,
như tội thông dâm với cô, dì chẳng hạn).
Chúng
ta không có những chứng liệu để biết nhà Lý và nhà Trần
đã có cùng thủ tục kết án tử hình phức tạp như vậy
hay không, nhưng có thể hiểu rằng nếu nhà Nguyễn áp dụng
theo thủ tục kết án tử hình của nhà Mãn Thanh bên Trung
Hoa, và nếu nhà Tống bên Trung Hoa học theo nhà Lý về sự
tổ chức quân đội, thì nhà Lý có thể đã áp dụng định
chế về Thẩm Hình Viện của nhà Tống. Năm 1052, vua
Lý Thái Tông đã ra lệnh đúc và đặt một cái chuông trong
sân cung Thiên An để người dân có thể gõ chuông kêu oan
(9). Dưới đời Trần, ngoài Ngự Sử Đài và Bộ Hình, cũng
có Thẩm Hình Viện để xét duyệt và cho ý kiến đối với
hình phạt được tuyên bởi các toà cấp dưới (10). Các cấp
toà thượng thẩm này làm cho khó mà tước đoạt sự sống
một cách độc đoán, nhất là khi các vua là người nhân từ,
như chúng ta sẽ thấy sau này.
Các
triều đại Lý và Trần có lẽ không đi quá xa đến mức
bãi bỏ án tử hình, nhưng triết lý về pháp luật của họ,
vốn ảnh hưởng tinh thần Phật giáo (rất ngại sát sinh),
đã dẫn đến sự chế giảm số hình phạt phải kết án
tử cũng như khả năng cho chuộc .
Các
đạo luật đời Lý phạt tội đánh chết người bằng việc
cho đánh 100 trượng, xâm 50 chữ lên mặt và bắt làm tiện
nhân lao dịch ; và giết chết với vũ khí bén nhọn trong một
cuộc tranh chấp đất đai chỉ với 80 trượng và tội đồ
khổ sai (11) . Những triều đại sau đó phạt tử hình tội
trốn ra ngoại quốc theo giặc, nhưng vào năm 1125, Mạc Hiền,
huyện quan ở Quảng Nguyên, đã trốn theo nhà Tống năm trước
và bị gởi trả về Việt Nam, chỉ bị đày đi Nghệ An rồi
Thanh Hoá, còn vợ và con bị phạt chuyển thành nông nô (12).
Tội phản nghịch, chống lại nhà vua, lẽ ra là bị phạt
tội chết theo luật pháp truyền thống của Trung Hoa và Việt
Nam (xử trảm- chém đầu, đôi khi bêu đầu, là hình phạt
tiêu chuẩn). Nhưng chỉ trừ trường hợp ngoại lệ thi hành
án lăng trì (xẻo thịt cho chết) đối với tướng Nguyễn
Khanh năm 1035 (13), thì nhiều trường hợp phản nghịch dưới
đời Lý đã được xử nhẹ hơn tội chết. Năm 1028, khi vua
Lý Thái Tổ băng hà, có ba hoàng tử mang quân vào kinh thành
để tranh ngôi với Lý Thái Tông- người kế vị hợp pháp,
một hoàng tử bỏ mạng còn hai người kia bỏ trốn và sau
đó quay về đầu hàng. Nhà vua đã tha tội và phục hồi tước
vị cho họ. Sau đó, một hoàng tử khác nổi loạn ở Trường
Yên và sau khi đầu hàng, cũng đã được tha tội và phục
hồi chức, tước (14) . Năm 1096, quan đại thần Lê Văn Thinh
bị kết tội phản nghịch, nhưng chỉ bị đày đi Thao Giang
do đã có những công trạng lớn trong quá khứ. Cáo trạng
nói là khi vua đang dạo chơi trên một thuyền đánh cá trên
hồ Dâm Đàm, đang xem người ngư phủ làm việc thì đột
nhiên, sương mù kéo đến giăng đầy mặt hồ và trong vùng
sương phủ đó,vẳng nghe tiếng mái chèo của một chiếc thuyền
đang tiến đến. Khi sương mù tan biến, người ta nhìn thấy
một con hổ trên chiếc thuyền đó. Mục Thận, người ngư
phủ, quăng lưới chụp lên con hổ mà sau đó trở thành Lê
Văn Thịnh. Lòng độ lượng của nhà vua có lẽ đã phát sinh
từ sự thiếu chứng cứ vững chắc: sự thật có lẽ là
Lê Văn Thinh bơi thuyền ra hồ để tìm nhà vua khi sương mù
kéo đến, và nhà vua thì không nhìn thấy rõ Thinh mà nhầm
tưởng là một con hổ. Song sự ảnh hưởng tinh thần Phật
giáo như vậy đã làm các triều thần Nho gia khó chịu đến
nỗi sau đó, họ than phiền rằng sự độ lượng của nhà
vua đối với Lê Văn Thịnh là do sự cảm hứng theo tinh thần
đạo Phật (15) . Lòng khoan dung của nhà vua thậm chí còn mở
rộng đến người dân tộc thiểu số phạm tội phản nghịch.
Năm 1041, phản thần Nùng Trí Cao bị bắt và giải về kinh
đô. Cảm kích vì sự kiện rằng cha của phản thần này đã
chết trong một vụ nổi loạn trước đó vào năm 1039, vua
Lý Thái Tông đã tha tội và cho Cao tiếp tục phục vụ với
chức huyện quan ở huyện Quảng Nguyên và thậm chí còn được
ban thêm những vùng khác để cai quản, bao gồm huyện Tu Lang.
Một năm sau đó, Nùng Trí Cao được ban ấn tướng và tước
vị danh dự Thái Bảo. Một kết quả của chính sách nhân
từ đối với quan lại người thiểu số là sự hậu thuẫn
hiệu quả cho triều đại này trong những chiến dịch thành
công chống lại những đợt xâm lấn của nhà Tống (16).
Các
hình phạt tử hình dưới đời Trần thì nghiêm khắc hơn.
Một người chồng được cho phép giết tình nhân của vợ
mình và đối xử với người vợ tội lỗi đó như đối
với tôi tớ, cầm hoặc bán đi. Một tên trộm phạm tội
đến lần thứ ba thì bị xử tội chết (17) . Tuy vậy, trong
thực tế, án tử hình có thể được cho chuộc. Trong một
vụ sử dụng thư nặc danh phỉ báng triều đình năm
1283, vua Nhân Tông kết án tử một người tên là Mạnh, tay
chân của hoàng tử Trần Lão, nhưng đã cho phép hoàng tử
chuộc hình phạt xử tử đó với 1000 quan tiền và chỉ kết
án khổ sai (18).
Nếu
ta nhớ tới hình ảnh những nho sĩ khoan dung mà thường được
đề xuất bởi những học giả Tây phương học chuyên ngành
Văn minh Trung quốc, thì ta sẽ thấy đặc biệt lý thú
rằng các học giả và sử gia Việt Nam ở các thời kỳ sau
chịu ảnh hưởng Nho giáo nhiều hơn đã nhận định là pháp
luật đời Lý quá độ lượng. Nhiều trong số những học
giả này đã trách cứ sự nhân từ này là do ảnh hưởng
của đạo Phật.
Về
hình phạt trượng và đồ khổ sai áp dụng cho tội đánh
chết , Ngô Thời Sĩ (1725 –1780), còn mang tên là Ngô Ngọ
Phong, đã phê phán rằng: “Luật xưa phạt tử hình kẻ giết
người. Thật không thể chấp nhận rằng kẻ phạm tội đánh
chết người mà chỉ phải chịu hình phạt đánh bằng trượng
và hình phạt đồ khổ sai. Áp dụng một sự xử phạt nhẹ
như vậy, những bọn hung hiểm, nhỏ nhen và những kẻ phạm
tội gian xảo sẽ dễ dàng trả thù mà chẳng có sự tôn trọng
mạng sống con người. Kẻ bất lương sẽ dễ dàng vi phạm
pháp luật và người tốt thì cứ gánh chịu sự bất công.
Thật là một sai lầm lớn trong chính sách hình sự ! Những
nhà cai trị không bao giờ được quên những lời phê phán
về lòng độ lượng của Tử Kiều và Thôi Thực” (19) .
Về
hình phạt nhẹ đối với tội giết ngừơi khi tranh chấp
đất đai, sử gia Nho giáo thế kỷ 15 Ngô Sĩ Liên (14?? –14??)
cũng đã mạnh mẽ bài bác nhà Lý: “Luật xưa phạt tử hình
những kẻ sát nhân. Trừng phạt kẻ sát nhân theo cùng một
cách như đối với các tội phạm khác là chưa phân biệt
được những mức độ khác biệt về tính nghiêm khắc của
tội phạm”(20).
Ngô
Sĩ Liên cũng phê bình quyết định của vua Lý Nhân Tông chỉ
kết án lưu đày Lê Văn Thịnh năm 1096: “Miễn tử hình cho
một bày tôi toan giết vua và chiếm ngai vàng là một sai lầm
trong chính sách hình sự. Đó là do niềm tin của nhà vua ở
đạo Phật” (21) .
Về
cách xử sự khoan dung đối với những kẻ nổi loạn, Lê
Văn Hưu, một nhà chính sử thế kỷ 13 (1231 -????) quy
trách sự tha tội cho Nùng Trí Cao cho ảnh hưởng của đạo
Phật: “Trước đây, khi cha của y là Nùng Tôn Phúc
phạm tội phản nghịch, tiếm danh vị [ vua ] và lập
nước riêng, vua Thái Tông chỉ xử phạt người cha và tha
tội người con Trí Cao. Nay Trí Cao lại theo con đường phản
ngịch của người cha, với trọng tội đó, y đáng nhận lãnh
hình phạt tử hình hoặc ( ít nhất) sự tước bỏ phẩm hàm
và đất đai đã được cấp và giáng xuống làm dân thường.
Thế mà vua Thái Tông đã tha tội cho đương sự, cho y
thêm lãnh thổ để cai quản, ban cho ấn tướng và tước hiệu
Thái Bảo. Đấy không phải là một chính sách đúng đắn
về xử phạt và tưởng thưởng… Tất cả là do vua Thái
Tông đã say mê với chủ trương nhân đạo nhỏ nhen củaPhật
giáo và quên đi những nguyên tắc trọng đại của một vị
vua “ (22).
Về
vụ án Nùng Trí Cao này, Ngô Sĩ Liên cũng đã bình phẩm
về tác động của đạo Phật: “Nhà vua, bị quyến rũ bởi
thuyết nhà Phật về tình thương và lòng nhân đạo, đã tha
tội cho một kẻ phản ngịch. Vì vậy, lòng nhân từ của
ông đã trở nên sai hỏng. Đó là khuyết điểm của nhà vua”
(23).
Như
vậy, quan niệm Phật giáo quí trọng mạng sống đã làm cho
chính sách của Triều Lý về tử hình trở nên rất khoan dung.
2.
An ninh cho con người trong diễn tiến pháp luật:
Chúng tôi tìm thấy dấu vết lịch sử về ba quyền trong
phạm vi này.
a)
Một trong những yếu tố căn bản về an ninh của cá nhân
liên quan đến quá trình pháp luật là sự phỏng đoán là
vô tội cho đến khi bị kết án chính thức, và do đó người
bị cáo bị truy tố phải được phân biệt với người đã
bị kết án. Trong mùa đông khắc nghiệt năm 1055, vua
Lý Thánh Tông đã nói với triều thần:
“Sống
trong cung điện được sưởi ấm với lò than và mặc nhiều
đồ ấm, trẫm vẫn cảm nhận cái lạnh này. Trẫm khá băn
khoăn về những người bị giam cầm trong ngục thất đang
khốn khổ bị xiềng xích với gông cùm, không có đủ đồ
ăn và áo quần để che ấm cơ thể, hoặc một số thậm chí
bị chết oan uổng trong khi vẫn chưa xác định có tội hay
vô tội. Trẫm cảm thấy thật xót thương họ.”(24).
Vì
vậy, nhà vua đã ra lệnh phân phát mền và chiếu cho tù nhân
và cung cấp cho họ hai bữa ăn mỗi ngày. Dường như thể
nhà vua coi những tù nhân là vô tội cho đến khi tội lỗi
được chứng minh và họ phải được hưởng sự đối xử
nhân đạo. Lối tư duy pháp lý này có thể so sánh với nguyên
tắc pháp luật nhân quyền hiện đại về sự phỏng đóan
vô tội cho đến khi bị toà án kết tội. Đây là một điểm
son trong lịch sử nhân quyền tại Việt Nam.
b)
Sự bảo đảm tránh bị nguy cơ hai lần nghĩa là không
ai có thể bị xét xử và phạt thêm lần nữa về một vi
phạm mà y đã bị kết án chung thẩm hoặc được tha bổng
theo luật và thủ tục tố tụng. Điều này là do hệ quả
hợp lý của nguyên tắc res judicata pro veritate habetur tức là
nguyên tắc quy định rằng một vấn đề đã được xét xử
thì được xem như chân lý, đã có trong luật Tây phương từ
thời Cổ La Mã. Một nguyên tắc như vậy đã được công
nhận dưới đời Lý( sắc lệnh 1128) và được tiếp tục
trong các triều đại sau đó, kể cả đời Lê và đời Nguyễn
(25).
c)
Tránh đối xử hoặc hình phạt bất nhân. Điều 5 của Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân quyền và điều 7 của Thoả ước Quốc
tế về Các quyền Dân sự và Chính trị có cùng một cách
diễn đạt: “Không ai phải chịu tra tấn hoặc đối xử
hoặc hình phạt độc ác, bất nhân và mất phẩm giá”.
Chúng
tôi nhận ra từ lời nói và lệnh nói trên của vua Lý Thánh
Tông một chính sách đối xử nhân đạo đối với người
bị tạm giam. Do ảnh hưởng của đạo Phật, nhà vua này cũng
muốn áp dụng hình phạt nhân đạo cho tội nhân đã có án.
Năm 1064, trong khi chủ trì một phiên xử ở cung Thiên Khanh,
vua chỉ vào công chúa Động Thiên, đang đứng dự bên cạnh
mình, và phán với triều thần: “ Trẫm yêu thương thần
dân của Trẫm cũng nhiều như yêu thươngi chính con gái trẫm.
Họ phạm tội vì họ không biết ( luật) và trẫm có
nhiều tình thương cho họ. Từ nay trở đi, trẫm muốn tất
cả tội phạm, nặng hay nhẹ, đều phải được xét xử với
sự khoan hồng” (26). Những xử phạt độ lượng của nhà
Lý đối với tội sát nhân hoặc phản nghịch như đã đề
cập ở trên, trong khi bàn về quyền sống, đã phản ảnh
chính sách hình phạt nhân đạo này, mà các Nho sĩ đã
bài bác là một chính sách hình sự sai lầm và quy lỗi cho
sức gợi ý gây cảm của Phật giáo.
Hình
phạt của nhà Trần thì nghiêm khắc hơn, nhưng như đã
trình bày, vẫn cho phép chuộc tội. Ngoài ra, chính sách đối
với những tội tiểu hình trong dân chúng nói chung dường
như là dễ dãi. Một ví dụ: để kiểm soát dân số và sự
di chuyển trong lãnh thổ quốc gia, triều đình yêu cầu mỗi
người phải đăng ký. Theo Phan Phú Tiên, một số Nho sĩ đã
đệ trình một số báo cáo lên vua Trần Minh Tông (1314 –1329)
về những kẻ lang thang, và phiêu lưu mà đã biến mất
khỏi sổ đăng ký dân số để tránh bị thu thuế và sưu
dịch. Nhà vua trả lời rằng nếu không có những kẻ
lang thang và phiêu bạt như vậy thì triều đại này đã chẳng
được xem là một triều đại thanh bình; hơn nữa, tốt
đẹp gì mà đi xử phạt những người này ? (27)
Các
vua nhà Lý cũng như nhà Trần đã nhiều lần ra lệnh đại
ân xá cho tội phạm: 14 lần dưới đời Lý và 17 lần dưới
đời Trần, đặc biệt là vào những dịp như ngày sinh của
các hoàng tử, xây dựng chùa, và các dịp đúc tượng.
Chính
sách khoan dung này đối với phạm nhân đã bị chỉ trích
bởi các nhà Nho về sau, họ quy lỗi cho đạo Phật. Về một
dịp ân xá năm 1129 của vua Lý Thần Tông, Ngô Sĩ Liên đã
cho rằng Kinh Thư là một chỉ dẫn tốt hơn là đạo Phật
cho chính sách ân xá:
“Nhân
Tông thường sử dụng những dịp lễ lạt Phật giáo
để ban lệnh ân xá là sai, nhưng ít ra ngài đã viện
cớ các ngày lễ của Phật giáo. Về phần nhà vua đây (Thần
Tông), ngài đã không có bất kỳ lý do nào như mà vẫn ban
lệnh ân xá … Nếu mọi người đều được tha tội, thì
kẻ bất lương sẽ may mắn thoát khỏi sự trừng phạt và
điều này là không có lợi cho người lương thiện. Những
bậc hiền nhân ngày trước đã biết rằng đối với nhà
cầm quyền, không thể xóa bỏ sự ân xá, song cũng phải nhận
thức rằng cần phải cân nhắc về cái hại phát sinh từ
việc ân xá … Như Kinh Thư đã nói,’ tha thứ cho một lỗi
lầm, nhưng phải phạt tội cố ý’. Như vậy mới là chính
sách đúng “ (28).
Khi
những nhà Nho ở những triề đại sau chỉ trích như vậy
cái chính sách hình sự nhân đạo của nhà Lý và nhà Trần,
họ tỏ ra thiếu lòng nhân, cái long nhân tràn đầy nơi
các vua nhà Lý và nhà Trần, vì các ngài đã thấm nhuần
các nguyên lý của đạo Phật. Từ nhãn quan của chúng ta trong
thế kỷ 21, chúng ta có thể nhận thấy rằng chính các nhà
Nho mới là”nhỏ nhen”, bởi vì ý niệm long nhân như
là một yếu tố của luật pháp thì không chỉ có trong
các triều đại Lý và Trần, và không chỉ bởi ảnh
hưởng của đạo Phật. Tại Hoa Kỳ ngày nay, Thẩm phán Toà
án Tối cao Brennan đã cho rằng xét cho cùng, các nguyên tắc
pháp luật thuần tuý phải được hướng dẫn bởi lòng nhân,
bởi vì lòng nhân là mặt kia của công lý.
B.
Quyền bình đẳng
Sự
bình đẳng là quyền cơ bản nhất và nguyên tắc độc nhất
bao trùm tất cả các cơ cấu quốc tế về nhân quyền. Bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền phát biểu tại điều 1 rằng:
“Tất cả con người được sinh ra tự do và bình đẳng về
phẩm giá và các quyền”, và tại điều 2 rằng: “Mọi người
có quyền đối với tất cả các quyền và các sự tự do
nêu trong Tuyên ngôn này mà không bị bấ kỳ sự phân biệt
nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,
chính kiến, nguồn gốc sắc tộc hay xã hội, tài sản hoặc
tình trạng khác”.
Sự
Nho giáo hoá luật pháp tại Trung Hoa và Việt Nam đã cho ra
đời một số bất bình đẳng dựa trên căn bản của những
chỉ tiêu đặc biệt về vị thế xã hội ( hoàng tộc, quan
lại, thường dân, nô tỳ), về quan hệ gia tộc ( tôn trưởng,
ty thuộc ), về giới (chồng, vợ), về chủng tộc ( dân tộc
thuộc văn hoá Hán, dân tộc thuộc văn hoá ngọai nhân– vua
Minh Mạng đời nhà Nguyễn hy vọng rằng các dân tộc Tây
nguyên và các dân tộc thiểu số Cam bốt sẽ từ bỏ những
“tập quán man ri” của họ và theo phong tục Hán [ Hán-Việt]
). Phải nói rằng những bất bình đẳng này đã được làm
nhẹ bớt bởi phong tục Việt Nam về quyền bình đẳng về
tài sản giữa người chồng và người vợ – mà đã thể
hiện trong luật pháp đời Lê – và chính sách bình đẳng
đối với các dân tộc thiểu số, ít ra là trong diễn tiến
pháp luật, nếu không phải là trong các quyền về chính trị
và dân sự.
Tương
phản với sự chuẩn nhận của Nho giáo về những bất bình
đẳng, Phật giáo đối xử bình đẳng đối với tất cả
mọi loài sinh vật. Mỗi con người đều có thể tự hoàn
thiện mình để thành Phật và thoát khỏi vòng luân hồi khắc
nghiệt của nghiệp ( karma). Mỗi người phải chịu trách nhiệm
đối với các sự biến xảy đến cho mình trong cuộc đời
này, bởi chúng là hậu quả của những hành động trong tiền
kiếp của mình. Sự bình đẳng và nhân phẩm của mọi người
theo thuyết nhà Phật thì rất gần gủi với tiêu chuẩn luật
pháp quốc tế về sự bình đẳng của tất cả mọi người.
Ý
niệm về bình đẳng như vậy đã thể hiện tác dụng trong
pháp luật đời Lý và đời Trần. Chẳng hạn, dưới đời
Lý, các gia tộc thế lực không thể áp bức dân thường.
Sắc luật 1129 đã bảo vệ thường dân khỏi hành động áp
bức của gia tộc thế lực thông qua nô tỳ thuộc hạ của
họ; nếu nô tỳ thuộc hạ của các hoàng tử hoặc quan lại
đả thương người dân thường, những tên nô tỳ thuộc hạ
đó sẽ bị sung công và chủ nhân của chúng sẽ lãnh án đồ
khổ sai (29). Triều đại nhà Trần có vẻ đã tuân thủ nghiêm
ngặt hơn đối với nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật,
như thể tính nghiêm khắc của hình phạt đã cân bằng
với sự đối xử bình đẳng đối với mọi người. Luật,
trong mọi trường hợp, được áp dụng đồng đều cho mọi
người, kể cả hoàng tộc, không nhân nhượng về địa vị
xã hội. Năm 1264, Linh Từ Quốc Mẫu, phu nhân Thái Sư Trần
Thủ Độ ( nguyên là hoàng hậu vua Lý Huệ Tông), từ chối
bước xuống kiệu khi ngang qua Cấm Thành Môn ( một cổng thành
dẫn vào các cung vua) và do đó đã bị viên đội trưởng
thị vệ ngăn lại; bà ta đã than phiền với phu quân (Trần
Thủ Độ) nhưng ông ta đã khen thưởng viên quan đội vì đã
“tuân thủ đúng pháp luật” (30). Trong một trường hợp
khác, cũng chính phu nhân này đã xin Thái Sư bổ nhiệm đặc
cách một người vào chức thừa phát lại. Thủ Độ đã bảo
người này: “Vì bà công chúa đã xin cho ngươi ân huệ được
bổ nhiệm làm thừa phát lại, ngươi không giống những thừa
phát lại khác. Ngươi phải chặt một ngón chân làm dấu hiệu
phân biệt “. Người này đã năn nỉ xin thôi. Sau việc này,
không ai dám hỏi xin quan Thủ Độ các đặc ân (31). Một vài
sự việc trong triều đại vua Minh Tông (1314 –1329) đã cho
thấy những nỗ lực để giữ gìn tác phong của các hoàng
hậu theo khuôn khổ pháp luật. Năm 1320, hoàng thái hậu muốn
để cho mệnh phụ Huy Tư, mẹ đẻ của nhà vua đang tại vị
Minh Tông, sử dụng kiệu của hoàng thái hậu để tháp tùng
thái thượng hoàng Anh Tông. Thái Thượng Hoàng nói với hoàng
thái hậu: “Nếu mẹ thích bà ta, mẹ có thể để bà ta sử
dụng những thứ khác; về phần cái kiệu, đã có những quy
định từ xưa, mẹ không thể để cho bà ta sử dụng nó được”(32).
Người ta cũng phát hiện Huy Tư có vi phạm những quy định
về các đồ chi dùng ở một trường hợp khác, khi một viên
quan đã duyệt cắt giảm một số dây chão kéo thuyền của
bà ta xuống đến mức hai chiếc như được phép theo địa
vị của bà; viên quan này đã được vua Minh Tông khen thưởng
(33). Một bà vợ khác của thái thượng hoàng đã chiếm đất
trái phép của dân; khi con gái bà ta kết hôn, vua Minh Tông
đã đưa chàng rể lời khiếu nại của nạn nhân và khuyên
chàng ta trả lại phần đất đó (34).
C.
Tự
do tư tưởng và tôn giáo.
Mặc
dầu Việt Nam truyền thống không phải là một quốc gia theo
một định hướng chủ thuyết (état engagé) với một
ý thức hệ được xác nhận như chân lý duy nhất –
chẳng hạn thuộc loại quốc gia Hồi giáo theo kiểu Iran, Việt
Nam chịu ảnh hưởng Khổng giáo chính thống sâu đậm, mà
lại được tăng cường bởi chủ nghĩa độc đoán của nền
quân chủ nó biện minh cho quyền lực của mình theo nguyên
tắc trung quân kiểu Nho giáo. Giai cấp quan lại cầm quyền
dưới trướng nhà vua phải ủng hộ hệ tư tưởng Nho giáo
trong học hành, thi khảo để được cử ra làm quan, cũng như
trong công việc hàng ngày của họ theo công vụ. Vì lẽ này,
có thể dự đoán được rằng sẽ có những giới hạn về
tự do tư tưởng. Như vậy, vấn đề tự do tư tưởng và
tôn giáo tại Việt Nam truyền thống có thể đúc kết là:
các quan lại Nho giáo đã dung thứ đến mức nào đối với
những hệ tư tưởng hoặc tôn giáo khác, đặc biệt là
hành đạo hoặc truyền đạo.
Trong
các giai đoạn của đời Lý và đời Trần, khi đã có chính
sách Tam giáo đồng nguyên, tức sự cùng tồn tại Khổng giáo,
Phật giáo và Đạo giáo, và khi Phật giáo đã có ảnh hưởng
về chính trị và tư tưởng đối với nhà cầm quyền, thì
đã có một sự khoan dung đáng kể về tự do tư tưởng và
tôn giáo trong các chính sách của Nhà nước. Chúng ta sẽ đối
chiếu thời đại này với những dữ liệu kiểm tra từ các
đời Hậu Lê và đời Nguyễn, khi Nho giáo đã có sự ưu thắng
hoàn toàn, cũng như một số dữ liệu từ những quốc gia
và những thời kỳ khác, để phối kiểm lại điều ta tìm
thấy là đạo Phật nhân từ đã thực sự nâng cao tự do
tư tưởng và tôn giáo khi nó đã có ảnh hưởng đối với
các triều đình nhà Lý và nhà Trần.
Phật
giáo đã có một sự khoan dung vô bờ bến về tự do tư tưởng
và tôn giáo. Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã quán chiếu trong
vũ trụ bao la này nhiều thế giới và nhiều thần linh. Ngài
không bao giờ xem thường bất kỳ bậc thần linh nào được
các dân tộc vào thời đại của mình tin theo. Ngài đã dạy
chàng thanh niên Thiện Sinh phải tôn trọng các tôn giáo khác.
Nếu có nhiều vì sao hoặc mặt trời trong vũ trụ, sự kiện
đó sẽ không làm giảm tầm quan trọng – theo nghĩa ánh sáng
và sức nóng cho sự sống – của vầng thái dương vốn đã
gần gủi với con người trên quả đất này. Theo cùng cách
suy tư này, điều Đức Phật và các đệ tử quan sát
thấy trong vũ trụ này là dù có nhiều bậc thần linh, thì
điều đó không phải là lý do để xem thường bất cứ tôn
giáo nào khác hiện được thực hành bởi bất kỳ người
nào, trong quá khứ cũng như hiện tại, bởi lẽ tôn giáo đó
là” mặt trời” của người đó. Trong phạm vi của lòng
khoan dung như vậy về tự do tư tưởng và tôn giáo, nhiều
tông phái đã nở rộ ngay chính trong Phật giáo mà không có
tranh chấp gì. Tại Ấn Độ thời xưa, các tu sĩ thuộc hai
phai Tiểu Thừa và Đại Thừa cùng tu tập trong một tu viện.
Phật giáo chưa bao giờ đòi hỏi một sự sùng bái tuyệt
đối bất kỳ nhân vật tôn giáo nào của mình và cũng chưa
bao giờ gây ra một cuộc thánh chiến như kiểu những cuộc
thập tự chinh tại Châu Âu và Trung Đông. Trong quan điểm
nhìn xa của Phật giáo, Chúa Jesus, với lòng bác ái của mình,
có thể được xem như một vị đại Bồ tát. Tại Việt Nam,
trong thế kỷ 19, những tu sĩ Thiên Chúa giáo bị khủng bố
và truy đuổi bởi phong trào Nho sĩ Văn Thân, đã chạy trốn
vào những chùa Phật và đã được bảo vệ bởi các nhà
sư.
Ngược
lại, một số tôn giáo cho rằng chỉ có họ là nắm được
chân lý. Chủ nghĩa Tân-Khổng giáo đời Tống (Tống Nho),
được quảng bá từ đời nhà Tống bênTrung Hoa đã thu hẹp
quan điểm của nhiều Nho sĩ và làm cho họ nghĩ về các hệ
tư tưởng khác như là” những chủ thuyết đi lạc đường”.
Giáo sư Woodside đã mô tả sự nộ lệ về tư duy của
các Nho sĩ đời Nguyễn như sau: “ Bóng ma của triết gia Tân-
Khổng giáo Chu Hsi, người Trung Hoa thế kỷ 12 và những
môn đệ của ông ta thì lơ lửng trên các trường thi đời
nhà Nguyễn… Sự quền biến cá nhân và tính sáng tạo đã
giảm sút” (35) bởi vì học sinh thì đang học vẹt từ cùng
những sách cổ và không dám đi chệch hướng từ quan niệm
Tân –Khổng giáo khi làm bài thi, họ e ngại là mình sẽ thi
trượt vì truyền bá những “tà thuyết”.
Sự
khoan dung của nhà Phật đối với tự do tư tưởng và tôn
giáo chắc chắn đã ảnh hưởng đến chính sách nhân quyền
của các triều đình nhà Lý và nhà Trần trong lĩnh vực này.
Tam giáo, tức Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo, thì cùng
quan trọng trong việc học và thi của những quan lại có học
thức. Đáng chú ý hơn, những nhà cai trị theo Nho giáo đã
ủng hộ Phật giáo trong việc tạo dựng tài sản, tuyển dụng
nhân sự và những hoạt động tôn giáo.
Các
vua đời Lý đã xây dựng và sửa chữa hàng trăm ngôi chùa
Phật, nhiều trong số đó ngày nay vẫn còn tồn tại ở miền
Bắc Việt Nam, như chùa Một cột (xây dựng năm 1049),
chùa Quan Thánh (1102), chùa Hai Bà ( thờ hai chị em Trưng
trắc và Trưng nhị, hai bà đã đánh đuổi quân xâm lược
nhà Hán, xây dựng năm 1160), chùa Voi Phục (11??). Quá trình
xây dựng đã bắt đầu ngay khi Lý Thái Tổ lên ngôi vua và
được tiếp tục suốt triều đại này. Một mình Thái hậu
Linh Nhân ( là Ỷ Lan ngày trước) đã xây dựng hơn 100 ngôi
chùa. Tiền bạc và đất đai cũng như nhân công sưu dịch
được cung cấp để xây dựng và bảo trì những ngôi chùa
này. Hệ thống các hang tăng phẩm của đời Đinh được tiếp
tục áp dụng. Chứng chỉ tu sĩ (độ điệp) được cấp
lên đến con số nhiều ngàn: chỉ riêng năm 1016, hơn một
ngàn cá nhân được tuyển chọn làm tu sĩ trong kinh đô. Đựơc
miễn sưu dịch và quân dịch, các tăng sinh này được giúp
đỡ về vật chất bởi dân chúng và các vua. Triều đình
cũng đặt hang, mua tài liệu, biên tập lại, và lưu trữ kinh
sách trong các nhà kho và đã tổ chức nhiều lễ hội và lễ
kỷ niệm về Phật giáo. Vào năm 1179 và 1195, gần cuối đời
vua Lý Cao Tông, các kỳ thi về tam giáo được tổ chức (36).
Tất cả những điều này đã đóng góp thêm vào mức độ
cao nhất về tự do tôn giáo và sự phát triển đối với
Phật giáo trong lịch sử Việt Nam.
Về
cuối đời nhà Lý đã có những dấu hiệu rằng các Nho sĩ,
ngày càng không giữ được kiên nhẫn với những tự do mà
triều đình giành cho Phật giáo, đã tạm thời thành công
trong việc phản kích họ. Năm 1179, vua Lý Cao Tông đã hạ
lệnh các tăng sinh phải được khảo hạch về kinh kệ Phật
giáo. Năm 1198, viên quan Nho sĩ Đàm Dĩ Mông đã tâu nhà
vua:
“
Hiện
nay, số lượng tăng sĩ đã gần bằng số người lao động
sưu dịch. Họ kết bè kết phái, chọn lựa sư tổ, và phạm
nhiều việc dơ bẩn, như là ăn thịt và uống rượu ở nơi
chốn chay tịnh hoặc bí mật phạm tà dâm trong đền
, chùa. Họ ẩn náu vào ban ngày và xông ra ngoài vào ban đêm,
theo cùng một kiểu như loài chuột và loàichồn
cáo. Họ làm huỷ hoại phong tục và suy đồi văn hoá. Nếu
chúng ta không thẳng tay diệt trừ, họ sẽ trở nên ghê tởm
quá mức” (37).
Nhà
vua đã đồng ý với Đàm Dĩ Mông và bảo ông ta ra lệnh cho
tăng sĩ trong đất nước phải quy tập vào các chùa. Khoảng
mười sư danh tiếng được cho phép ở lại một chùa,
số còn lại buộc phải chịu xâm lên người và phải hoàn
tục (38).
Tuy
nhiên, bất chấp sự công kích này của các Nho sĩ, ảnh hưởng
của Phật giáo vẫn không giảm sút. Vua Lý Cao Tông và vua
kế vị ông ta là Lý Huệ Tông vẫn sùng Phật và đã vào
chùa sau khi về hưu. Đạo Phật vẫn phổ biến trong dân gian
đến nỗi mà sau đó, dưới đời Trần, Nho sĩ Lê Quát, một
người có học vị tiến sĩ, đã có lời than phiền ghi vào
một tấm bia dựng trong chùa Thiệu Phúc thời ấy: “Các chùa
Phật thì hiện hữu trong mọi làng mạc nhưng chẳng tìm thấy
nơi nào thờ Khổng Tử ” (39).
Như
đã trình bày ở trên, Phật giáo với tư cách là một tôn
giáo vẫn tạo được một ảnh hưởng tinh thần lớn lao đối
với các nhà cai trị đời Trần. Hơn thế nữa, nhà Trần
vẫn tiếp tục các khoa thi về tam giáo mà đã bắt đầu dưới
đời nhà Lý (40). Vua Trần Thái Tông đã viết luận án
Thiền Tông Chỉ Nam và Khoa Hư (nói về hư vô) trong đó ngài
đã đề cao Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo đối
với mỗi đề tài bàn luận (41). Vì chủ trương tổng hợp
này, đạo Phật đã được ủng hộ tích cực bởi triều
đình nhà Trần, cũng nhiều như dưới đời nhà Lý, trong cả
sự hỗ trợ vật chất cũng như sự thực hành về tự do
tôn giáo. Năm 1231, vua Thái Tông hạ lệnh cho dân chúng đặt
tượng Phật tại mọi công sở và nơi hội họp (42). Năm
1248, ngài mời sư Trúc Lâm xét duyệt các kinh Phật trước
khi cho in (43). Những chùa Phật mới đã được xây dựng và
các trường Phật học đã được mở ra trong triều đại
vua Trần Thánh Tông (44). Sau khi vua Nhân Tông về hưu và xuất
gia đầu Phật, ngài đã trở thành chưởng môn của Phật
phái Trúc Lâm, du hành thuyết pháp khắp nơi trong nước, và
đã thu hút được nhiều môn đệ. Trong đời vua Anh Tông,
kinh sách Phật đã được mang về từ Trung Hoa bởi sứ giả
Trần Khắc Dung, các kinh này đã được in ra và phát hành
trong dân chúng (45).
Tuy
nhiên, quan lại Nho sĩ không bao giờ chịu ngưng lại các nỗ
lực hạ bệ Phật giáo. Chẳng hạn Trương Hán Siêu đã viết
bài văn sau đây lên một bia trong một chùa Phật ở Tỉnh
Bắc giang: “ Ngôi chùa đổ đã được tái tạo, nhưng điều
đó không phải la do sự đề xướng của tôi. Với tư
cách là một quan Nho, tôi sẽ không nói về bất kỳ điều
gì ngoài Nghiêu và Thuấn. Tôi sẽ không viết về bất kỳ
điều gì ngoài Khổng học. Và tuy vậy tôi phải bàn về đạo
Phật. Liệu tôi có lừa được ai không ? “ (46).
Về
cuối đời nhà Trần, trong giai đoạn 1358 –1369, trong đời
vua Dụ Tông (1341 –69), các nhà Nho đã có một dịp củng
cố vị thế của mình một cách ngắn ngủi bằng việc tấu
trình lại bản đề nghị đã một lần bị bác bởi vua Minh
Tông (1314 –29) và thế là luật Tống và các chế định nhà
Tống đã được triều đình áp dụng quy mô. Họ thành
công trong một thời gian. Mặc dù vua Nghệ Tông (1370 –72)
sau đó đã huỷ bỏ những thay đổi này mà vốn đã được
đề nghị bởi các “ bạch diện thư sinh” và đã quay trở
lại hệ thống luật và các chế định Việt Nam trước đó,
cái sức đẩy căn bản của chủ nghĩa tân -Nho giáo vẫn dai
dẳng và ảnh hưởng đến sự phát triển về sau, ảnh
hưởng đến tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo
khác, kể cả Phật giáo. Năm 1381, vua Trần Phế Đế ban sắc
lệnh quy định rằng tăng sĩ Phật giáo được động viên
vào lực lượng viễn chinh để đi chiến đấu trong chiến
dịch chống lại Vương quốc Chàm. Năm 1396, vua Trần Thuận
Tông đã ban hành một sắc lệnh quy định hoàn tục một số
tu sĩ Phật giáo và Đạo giáo chưa đủ năm mươi tuổi (47).
Chính sách này đã được khởi sự thực hiện bởi nhà Nho
kiên quyết Hồ Quí Li, cố vấn toàn quyền của triều đình
thời đó.Biện pháp này, được tiếp tục dưới đời Hậu
Lê, đã đánh dấu sự bắt đầu suy giảm về tự do tôn giáo
song hành với sự ưu thắng của Nho giáo.
DỮ
LIỆU PHỐI KIỂM LẠI TỪ NHỮNG THỜI GIAN VÀ NƠI CHỐN
KHÁC.
Khi
Nho giáo tòan thắng dưới đời Lê và đời Nguyễn, gây sự
tổn hại cho các hệ tư tưởng khác, sự phai nhạt của ảnh
hưởng Phật giáo trong các triều đình đã song hành với sự
hạn chế quyền tự do tôn giáo.
A.
Chính sách hạn chế tự do đối với Phật giáo, Đạo giáo
và các tín ngưỡng phổ thông của đời Lê và đời Nguyễn.
Mặc
dầu pháp luật và chính sách của các triều đại này vẫn
cho phép một mức độ tự do tôn giáo đối với Phật giáo,
Đạo giáo và những tín ngưỡng dân gian trong dân chúng, đó
là một sự tự do được quy định sát sao.
Kiểm
soát giới tu sĩ. Triều đình độc quyền trong việc cấp
giấy độ điệp (chứng nhận thụ phong) cho tu sĩ Phật
giáo và Đạo giáo, và chỉ những người đủ năm mươi tuổi
trở lên mới được nhận chứng thư này. Bất cứ nỗ lực
nào nhằm có được chứng thư thụ phong tư lập hoặc gia
nhập giới tu sĩ mà không có chứng chỉ sẽ đưa đến việc
bị phạt đồ khổ sai (đời Lê) hoặc phạt trượng (đời
Nguyễn). Để nhận dạng tăng sĩ hoặc đạo sĩ một cách
rõ rệt, ai không phải là tu sĩ thì không được cạo đầu
hoặc mặc áo thầy tu (48). Hiển nhiên là các tăng sĩ và đạo
sĩ phải qua các kỳ sát hạch về đạo đức và kiến thức
kinh kệ trước khi được trao chứng chỉ. Bất cứ người
nào thi rớt thì phải hoàn tục (49). Cái chính sách kiểm soát
nhân số của tu giới đã chính thức được giải thích bởi
mối quan tâm kinh tế về sự thiếu thốn lao động sưu dịch
khi cứ để những người ấy đi vô hàng ngũ cấp bậc tu
sĩ. Theo sự bình luận chính thức về Điều 75 của bộ luật
đời Nguyễn và sắc lệnh 3 theo sau điều luật đó, triều
đình tin rằng nếu không hạn chế con số tu sĩ Phật giáo
và Đạo giáo, khi họ không đăng ký trong sổ hộ khẩu
gia đình họ và như vậy là được miễn sưu dịch, dân số
cũng sẽ giảm , và cũng vì giới tu sĩ thì không còn
đất hoặc công việc làm ăn gì và phụ thuộc vào dân chúng
về thực phẩm và y phục, tài nguyên quốc gia sẽ bị hao
phí. Do đó, bất kỳ nỗ lực nào nhằm đưa thiếu niên mười
sáu tuổi hoặc lớn hơn xuất gia ( nghĩa là vào tu giới) sẽ
bị xử phạt (50). Hệ quả gián tiếp của sự giới hạn
con số tu sĩ đã là một sự hạn chế đối với sự tự
do hành đạo của tôn giáo và sự phát triển hữu hạn của
Phật giáo, Đạo giáo, và các tôn giáo khác. John Crawfurd, trong
tường thuật về một chuyến du hành tại Đông Nam Á hồi
1821 –1822 đã mô tả hoàn cảnh của giới tu sĩ tại
Việt Nam bằng những từ ngữ sau:
“
Đến từ những quốc gia như Hindostan và Xiêm, nơi mà những
nghi thức mang tính quốc gia và có hệ thống được thiết
lập và nơi mà tôn giáo tạo được một ảnh hưởng rất
mạnh đối với xã hội, chúng tôi ngạc nhiên về sự
tương phản với những gì mà Đông Dương (Cochinchina) thể
hiện trong khía cạnh này. Các tu sĩ, thay vì là danh giá, đáng
kính, và đầy quyền uy, như tại các quốc gia Phật giáo và
Bà- La- Môn, thì lại ít về số lượng và thuộc đẳng cấp
thấp và ít được tôn trọng”(51).
Vua
Minh Mạng đời Nguyễn còn can thiệp vào công việc tổ chức
nội bộ của Giáo hội, chỉ phong chức Hoà Thượng cho mỗi
một sư Giác Ngộ và hạ lệnh tất cả Hoà Thượng trong
nước phải mang tên « Tăng Cang », hàm ý rằng họ là viên
chức nhà nước quản giám tăng ni trong giáo hội Phật giáo.
Các chế tài pháp luật được áp dụng đối với những vi
phạm về giới luật tôn giáo như ăn thịt, uống rượu,
hoặc tà dâm và kết hôn.
Kiểm
soát việc xây chùa và đúc tượng. Dưới cả triều
Lê lẫn triều Nguyễn, những hoạt động này cần phải có
sự cho phép của triều đình. Dưới đời Nguyễn, không có
tu viện hoặc nhà nữ tu kín nào có thể được xây dựng
trừ phi có phép của triều đình. Hình phạt cho sự vi phạm
là đi đày (52).
Kiểm
soát việc in kinh, sách tôn giáo. Dưới đời Lê, sách
Phật giáo và Đạo giáo chỉ có thể được in nếu có phép
của triều đình, vi phạm là lãnh án đồ khổ sai. Lệnh cấm
được coi là để ngăn ngừa những bất thiện tăng ăn bám
vào dân chúng cũng như bòn tiền bạc của bá tánh. Lệnh cấm
này được xem là quan trọng đến nỗi quan lại có trách nhiệm
bắt giữ những người vi phạm và báo cáo về triều đình,
nếu không làm thì chính họ sẽ bị giáng cấp (53).
Kiểm
soát những tín ngưỡng dân gian. Sự thực hành việc
thờ cúng tổ tiên được quảng bá bởi đạo Khổng thì được
đối xử trọng thị. Đây là một nghĩa vụ pháp lý để
được hưởng phần di sản cho việc thờ cúng tổ tiên; và
bất cứ ai bán đi phần tài sản hương hoả sẽ bị phạt
nặng vì như vậy là thiếu lòng hiếu thảo, một trong mười
tội thập ác (54). Mặt khác, các hình thức khác của những
tín ngưỡng phổ thông, như việc thờ thần cây cối, đồ
vật, các thần linh, hình nhân thì không được các nhà cai
trị Nho giáo tán đồng. Để thờ thần hoàng của mình trong
đình làng, các làng phải có sắc phong do vua ban; những ai
tự do lập những tượng thần trong đình chùa mà không có
sự cho phép của triều đình sẽ bị phạt đồ khổ sai (55).
Sự kiểm soát việc hành đạo bắt đầu mang tính cách áp
bức tôn giáo khi án tử hình được áp dụng đối với “
những tà đạo ” trong một số điều khoản của bộ luật
đời Nguyễn, nó phỏng theo bộ luật Mãn Thanh. Bộ luật
đời Nguyễn xử giảo (treo cổ) những thầy pháp hoặc “
thầy phù thuỷ”, họ kêu gọi « ma quỷ », “thánh”, và
tất cả “ những giáo lý lừa phỉnh” khác, hoặc những
ai thành lập những hội tôn giáo trái phép, mà từ đó”
gây hoang mang trong dân chúng”. Những người láng giềng không
tố giác cũng như những quan lại không tiểu trừ được
những kẻ vi phạm này thì cũng sẽ bị xử phạt (56).
Khi
xử phạt những hoạt động thuần tuý theo tín ngưỡng trên,
nếu không vi phạm an ninh quốc gia, thì tức là xử phạt ”
những tội phạm về tư tưởng”, là một sự vi phạm tiêu
chuẩn hiện đại về tự do tư tưởng và tôn giáo.
B.
Chính sách của triều Lê và triều Nguyễn đối với đạo
Cơ đốc và thái độ của những tăng sĩ Phật giáo bình thường
trong cùng các thời kỳ với Cơ đốc giáo - như là dữ liệu
phối kiểm lại.
Phật
giáo không còn có ảnh hưởng trong triều Lê và triều Nguyễn.
Do đó, người ta phải để Phật giáo ra ngoài cuộc tranh luận
về chính sách của các chính quyền này đối với Cơ đốc
giáo, và chỉ có những nhà cai trị Nho giáo, các vua cũng như
các quan lại, là có trách nhiệm về bất kỳ sự đàn áp
nào đối với các tu sĩ Cơ đốc và các con chiên, Hơn nữa,
thái độ thân thiện của một số tăng sĩ Phật giáo bình
thường đối với Cơ đốc giáo trong những giai đoạn này
thực sự tương phản hẳn với cái chính sách hạn chế của
triều đình đối với Cơ đốc giáo. Tất cả những dữ liệu
này xác nhận cái kết luận rằng khi Phật giáo có thể ảnh
hưởng đến chính sách nhân quyền của triều đình, Phật
Giáo đã đem lại nhiều tự do tư tưởng và tôn giáo hơn.
Đây
không phải là nơi để thảo luận đầy đủ về chính sách
của triều Lê và triều Nguyễn đối với Cơ đốc giáo. Chúng
sẽ được nghiên cứu trong một công trình khác. Nhưng vì
mục đích phản biện ngắn gọn bằng cách đối chiếu chính
sách tôn giáo rộng thoáng của nhà Lý và nhà Trần, ảnh hưởng
bởi tinh thần khoan dung của Phật giáo, với chính sách hạn
chế tôn giáo của nhà Lê và nhà Nguyễn đối với đạo Cơ
đốc, chúng tôi cần phải tóm tắt những kết luận của
mình về chính sách hạn chế này đối với Cơ đốc giáo,
mà chúng tôi đã đề cập đến trong cuốn sách của chúng
tôi : The Vietnamese Tradition of Human Rights (Truyền thống Việt
Nam về Nhân quyền), University of California/Berkeley,1988
a)Sự
khoan dung về tín ngưỡng đã là một quy luật hơn là sự
ngoại lệ cho Thiên Chúa giáo ( Cơ đốc giáo) trong giai đoạn
từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 tại Việt Nam. Trong phần
lớn hơn của bốn thế kỷ này, hoặc là dân chúng được
hưởng sự tự do trong việc theo đức tin Thiên Chúa và thực
hành tôn giáo này trong những dịp lễ hoặc trong việc xây
dựng nhà thờ ( ngay cả các bà hoàng, công chúa cũng được
phép theo đức tin), hoặc là các sắc lệnh cấm đoán thì
cũng không thi hành hoặc bị thu hồi nhiều lần.
b)
Sự cấm đoán lúc đầu thì đã kèm theo những hình phạt
nhẹ. Mặc dầu một số vụ giết hại giáo sĩ nước ngoài
đã xảy ra trong thế kỷ 18, Thiên Chúa giáo vẫn được tự
do truyền bá sách phúc âm cho đến đời vua Gia Long của triều
đại nhà Nguyễn ( ngài đã để lại di chúc ra lệnh rằng
phải khoan dung đối với tất cả những tôn giáo lớn như
Khổng giáo, Phật giáo và Cơ đốc giáo).Cuộc đàn áp đẫm
máu Thiên Chúa giáo Việt Nam chỉ bắt đầu với sắc lệnh
1833 của vua Minh Mạng và chấm dứt năm 1862 dưới đời vua
Tự Đức, nghĩa là chỉ trong thời gian 29 năm. Vua Tự Đức
sau đo đã thay đổi chính sách của mình, mở lòng khoan dung
đối với Thiên Chúa giáo, và đã sử dụng quân đội để
trấn áp những nhà Nho Văn Thân đã ngược đãi giáo
dân và xử những nhà lãnh đạo Văn Thân đó tội tử hình.
c)
Cái đường lối ngang ngạnh khiêu khích theo đó các nhà truyền
giáo và con chiên Việt Nam đã phủ nhận những giá trị truyền
thống, như thờ tổ tiên hoặc tôn kính Khổng tử hoặc đức
Phật (A, de Rhodes đã gièm pha Khổng giáo là “tà thuyết”
và gọi đức Phật là “người da đen nói dối này”) là
nguyên nhân sâu xa của tình trạng xung đột leo thang giữa
giáo dân và tầng lớp quan lại Nho sĩ cầm quyền, lúc đầu
họ chỉ yêu cầu những nhà truyền giáo phải rời khỏi.
Nhưng sự không dung thứ sau đó của các vua và các quan lại
Nho sĩ đối với bất kỳ sự làm sai trệch các tiêu
chuẩn Nho giáo nào ( như thờ cúng tổ tiên,tôn quân ngay
cả trong những lĩnh vực tinh thần), và đòi hỏi những người
Thiên Chúa giáo không có tội gì cũng phải bước qua
thánh giá để từ bỏ đức tin của họ thì mới thoát
tội, thì đã là bằng chứng rõ rệt cho sự vi phạm quyền
tự do tôn giáo.
d)
Trong nhiều trường hợp, sự đàn áp Thiên Chúa giáo là có
lý do và có thể biện minh được bởi nhu cầu an ninh của
triều đại hoặc nhà nước , đặc biệt là khi các giáo sĩ
ngoại quốc cộng tác với những thế lực nước ngoài với
hy vọng tạo nên một đất nước có thiện chí hơn cho sự
truyền bá phúc âm.(Chẳng hạn, những biện pháp của Trịnh
Tắc năm 1659; của Nguyễn Phúc Khoát năm 1750; của Minh Mạng
năm 1638 sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi- Marchand; của
Thiệu Trị sau cuộc bắn phá Đà Nẳng của Genouilly năm 1847,
gây ra bởi thông tin mật báo từ một số giáo dân; hoặc
của Tự Đức sau khi Pháp và Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng
và Sài Gòn hồi 1858 –59 do đề nghị của Giám mục Pellerin).
Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa những tu sĩ dòng Tên, Phái bộ
Hải ngoại (Mission Étrangère) của Pháp, và người Bồ Đào
Nha đã khiến họ tố cáo lẫn nhau là gián điệp và đã làm
triều đình Việt Nam thêm nghi ngại. Tuy nhiên, khi chính quyền
phân tán giáo dân bừa bãi, hoặc phạt án tử hình những
giáo dân Việt Nam bình thường không dính dáng với sự can
thiệp của nước ngoài và chỉ có tội phạm duy nhất là
không chịu từ bỏ đức tin của họ, mới là một sự vi
phạm những quyền căn bản của con người như quyền tự
do tôn giáo và quyền không bị xử phạt độc ác. Hơn nữa,
những hành động thái quá như vậy đã dẫn đến cái vòng
lẩn quẩn : áp bức – phản kháng – can thiệp của nước
ngoài – áp bức .v.v…Có lẽ để tránh cái vòng lẩn quẩn
tai hại này tại Việt Nam ngày nay nó có thể sảy ra nếu
chính quyền cứ nghi ngờ Thiên Chúa giáo sẽ thực hiện những
hoạt động phản động chống lại an ninh quốc gia của Việt
Nam, và để đảm bảo cho sự sống còn của tự do tôn giáo
cho Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, Giáo hoàng John Paul II đã
có bài thuyết pháp này cho người Việt ở hải ngoại tập
trung tại Vatican ngày 19/6/1988 :
“Giáo
hội tại Việt Nam, với những thánh tử vì đạo của mình
và thông qua sự chứng thực của mình, đã có thể công bố
ý chí và sự cam kết không từ bỏ truyền thống văn hoá
và các chế định pháp luật của quốc gia. Giáo hội đã
tuyên bố và minh chứng rằng Giáo hội mong muốn trở thành
một bộ phận của quốc gia, đóng góp với sự trung thực
và lòng thành tín cho công cuộc xây dựng đất nước này
… Tôi biết rằng trong sâu thẳm con tim các bạn, vẫn giữ
được một lòng trung thành căn bản đối với đất nước
Việt Nam của các bạn, đối với dân tộc các bạn, đối
với văn hoá của mình, đặc biệt là đối với những thân
hữu và anh em mà các bạn đã để lại đàng sau …Hãy trung
thành với những gốc rễ sâu xa này …”
Sau
khi minh định sự trách cứ và trách nhiệm về sự đàn áp
Thiên Chúa giáo trong lịch sử Việt Nam, tưởng cũng nên đề
cập đến thái độ đối với đạo Cơ đốc của một bộ
phận tăng sĩ Phật giáo bình thường, không dính dáng đến
chính quyền dưới đời Lê và đời Nguyễn và không chịu
trách nhiệm về bất kỳ chính sách nào của triều đình
về nhân quyền trong những giai đoạn đó. Một số tăng sĩ
đã đi theo đức tin Thiên Chúa, chẳng hạn một người
đã theo A. de Rhodes và chúa Trịnh trong cuộc chiến chống
lại Chúa Nguyễn ở miền Nam, lấy tên Thánh là Jean (John)
(57). Những người khác đã giúp các giáo sĩ Thiên Chúa giáo,
như trong trường hợp của cha Baldinotti (58). Một số tăng
sĩ khác nữa tham dự các buổi hội thảo về các học thuyết
tôn giáo với các tôn giáo khác, kể cả Thiên Chúa giáo; chẳng
hạn như cuộc hội thảo kéo dài ba ngày về bốn tôn
giáo trong đời chúa Trịnh Sâm, được tổ chức bởi chú
của chúa này- mà có mẹ là tín đồ Thiên Chúa giáo, về
những đề tài “Nguồn gốc của con người”, “Mục đích
cuộc sống con người”, “Đời sống sau khi chết”, với
sự tham dự của các cha Castanheda và Vinh Sơn và đại diện
của Khổng giáo, Phật giáo và Đạo giáo (59).
C.
Lòng khoan dung Phật giáo tại những quốc gia khác.
Sự
thể Phật giáo tôn trọng tự do tư tưởng và tôn giáo biểu
lộ không chỉ ở Việt Nam mà còn tại những xã hội hướng
về Phật giáo như Tích Lan, Miến Điện, Lào, Căm bốt
và Thái lan, nơi mà các giáo sĩ Thiên Chúa giáo cảm thấy
có nhiều thuận lợi hơn khi thực hiện công việc truyền
bá phúc âm hơn, so với tại Trung Hoa, Nhật Bản hoặc Việt
Nam – những nơi mà Khổng giáo khống chế triều đình.
MỘT
SUY NGHĨ SAU CÙNG.
Trong
vài thập kỷ cuối thế kỷ 20 tại Việt Nam, sự hồi
sinh của Phật giáo về phương diện xã hội và chính trị
đã làm một số người lo ngại, đặc biệt sau vụ đảo
chính năm 1963 tại miền Nam Việt Nam. Nhưng trong những giờ
phút huy hoàng nhất đó của Phật giáo tại miền Nam, từ
1963 đến 1966 – khi ảnh hưởng chính trị của tăng đồ
là mạnh nhất và dường như đe doạ chế độ quân nhân của
Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, thì nhà sư đáng kính Trí
Quang đã tuyên bố rằng Phật giáo không bao giờ muốn tìm
kiếm một vị trí độc đoán trên vũ đài chính trị và chỉ
đòi hỏi những cuộc tổng tuyển cử dân chủ thông qua phổ
thông đầu phiếu, đưa đến một quốc hội lập hiến. Những
ai mà đã lo ngại có lẽ đã không hay chưa đọc kỹ phần
lịch sử đầy đủ chúng tôi trình bày trên, và có lẽ đã
bị lung lay bởi bài báo giới thiệu ở trang bìa tạp chí
Time về “Con người làm lay động nước Mỹ” này !
Ảnh
hưởng của Phật giáo Việt Nam đối với chính sách nhân
quyền của các triều đình trong lịch sử Việt Nam thì đã
rõ. Điều này không phải là để nói, như chúng tôi đã cảnh
báo với quý độc giả tại phần mở đầu của bài thuyết
trình này, rằng các Nho sĩ trong triều đình là” những gã
đại tệ” gây nguy hiểm cho nhân quyền, bởi vì công trình
nghiên cứu rộng lớn hơn của chúng tôi – cuốn sách Truyền
thống Việt Nam về Nhân Quyền, thì đã cung cấp các
chứng cứ phong phú rằng các Nho sĩ, dù là vua hay là quan lại,
đã tôn trọng những tiêu chuẩn về nhân quyền đến một
mức độ lớn lao.
Nếu
người Pháp và người Anh đã đọc nhiều hơn về hồ sơ
nhân quyền tại Đông Á nói chung và tại Việt Nam nói riêng,
có lẽ họ đã tranh cãi ít hơn về nước nào trong hai
nước đã đi trước về vấn đề nhân quyền. Trong dịp phỏng
vấn hồi tháng 7 / 1989 – Kỷ niệm 200 năm cách mạng Pháp—Bà
Thủ tướng Anh Thatcher đã tuyên bố rằng người Pháp đã
không sáng tạo ra nhân quyền với “ Bản Tuyên ngôn về những
quyền của con người và của công dân”, bởi vì những quyền
này đã có từ thời Cổ Hy Lạp , trong Thánh kinh và trong Magna
Carta ( Đại Hiến Chương) của Anh. Chính quyền Pháp không
lấy làm vui lòng với nhận xét này, đã trừng phạt trả
đũa bà Thatcher bằng việc đòi xuất trình uỷ nhiệm thư
và hình nhân dạng của tất cả thành viên của phái đoàn
Anh quốc, kể cả bà ta. Nếu người Pháp và người Anh đã
hiểu biết nhiều hơn về những truyền thống nhân quyền
của Đông Á và Việt Nam, có lẽ họ đã nhận ra rằng sự
tranh cãi của mình là vô ích.
PHẦN
CHÚ THÍCH
* Tác
giả chân thành cảm tạ cư sĩ Nguyên Tuệ đã sơ thảo bản
dịch từ nguyên bản tiếng Anh sang tiếng Việt (và cả đạo
hữu Nhật Thanh Tân là người giới thiệu), nhờ đó việc
tác giả hiệu đính bản dịch gỉam thiểu thời giờ rất
nhiều.
1.
Xem Tạ Văn Tài, The Vietnamese Tradition of Human Rights (Truyền
thống Việt Nam về Nhân quyền), Viện Đông Á Học/ Đại
học California/ Berkeley, 1988, các trang 157 –176. Quyển sách
này sử dụng danh mục đầy đủ về các tiêu chuẩn nhân
quyền quốc tế hiện nay, như một khung phân tích và hòn đá
thử vàng cho việc đánh giá thành tích của Việt Nam trong
những lãnh vực về sự toàn vẹn con người ( quyền
sống, quyền tự do và quyền an tòan trong quá trình pháp luật),
quyền bình đẳng, các quyền dân sự và chính trị, các
quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá.
2.
Ivo B. Duchacek, Rights and Liberties in the World Today (Các quyền
và các tự do trong thế giới ngày nay), Santa Barbara,CA: Ban xuất
bản Clio,1973, trang 4.
3.
Muốn đọc sự trình bày đầy đủ về “quyền lực chuyên
chế – toàn diện và không nhân từ”, xin xem quyển
Oriental Despotism ( Chuyên Chế Đông phương) của Karl Wittfogel,
New Haven: Ban xuất bản Đại học Yale,1957.
4.
Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Hà Nội, 1949, các trang 400
và 403; Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hoá Sử Cương, Saigon, 1951,
trang 234.
5.
Hoàng Xuân Hãn, các trang 403 –404; Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư, sau đây gọi tắt là TT., bộ chính sử của Triều đại
nhà Lê. Bản dịch sang Tiếng Việt của Cao Huy Giu, Hà Nội,
1967, tập I, trang 185.
6.
Hoàng Xuân Hãn, 401, 404 –405.
7.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Saigon, 1974,
307 –308.
8.
TT, I:219.
9.
TT, I: 226.
10.TT,
II:21.
11.
TT, I:255,278.
12.
TT, I: 254, 264.
13.
TT, I: 212.
14.
TT, I: 203 –204.
15.
TT,I:242.
16.
TT, I: 218, 221.
17.
Lê Tắc, An Nam Chí Lược, bản dịch tiếng Việt, Huế, 1961,
222 –223.
18.
TT, II: 49.
19.
Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí – Hình Luật
Chí. Sau đây gọi tắt là HLC. Bản dịch của Cao Nãi Quang,
Saigon, 1957, 523. Tử Kiều hoặc Tử Sản (581 –522 TCN), tể
tướng nước Trịnh Thời Xuân Thu , người đã cho khắc chạm
một bộ luật hình lên một kiềng ba chân bằng đồng thiếc,
trên giường bệnh đã trăn trối với Tử Thái Sư rằng :
"Khi ta chết, quyền lực sẽ vào tay ngươi. Chỉ những người
có đạo đức mới có thể cai trị xã tắc với lòng khoan
dung; đối với những người khác, tốt hơn là nên nghiêm
khắc. Khi ngọn lửa đang cháy sáng, người ta nhìn nó với
sự kinh sợ, và ít có ai chết vì nó. Trái lại, nước thì
nhu yếu, người ta coi thường và rỡn với nó, vì thế nhiều
người chết vì nó. Thật khó mà cai trị với sự mềm dịu
".James Legge. The Chinese Classics.( Kinh điển Trung Hoa), quyển
5, trang 684 . Thôi Thực là thành viên của một gia đình nổi
tiếng hay chữ trong triều đại Hán Huân đế( I 47 –168) và
đời vua kế vị. Ông viết cuốn Luận giảng về Chính quyền,
đại ý cho rằng sự khoan dung chỉ có thể được sử dụng
bởi các chính quyền mạnh; trong những thời buổi hỗn loạn,
sự nghiêm khắc nên là quy tắc tiêu chuẩn.
20.
HLC, 525; TT, I:278.
21.
TT, I:242.
22.
TT,I: 221.
23.
TT, I: 228.
24.
TT, I: 229 –230.
25.
HLC, 522; TT, I: 263.
26.
TT, I: 242.
27.
TT, II; 145.
28.
TT,I: 264 –265.
29.
TT, I : 266.
30.
TT,II: 33 –34.
31.
TT, II : 34.
32.
TT, II : 109.
33.
Như trên.
34.
TT, II: 106.
35.
Vietnam and The Chinese Model (Việt Nam và Mô hình Trung Quốc),
Ban xuất bản
Đại học Harvard, 1967, 207, 208, 215.
36.
Hoàng Xuân Hãn, 309 –402.
37.
Như trên, 402.
38.
Như trên.
39.
Như trên.
40.
Đào Duy Anh, 255.
41.
Đào Duy Anh, 235, 236; TT, II : 20; Thích Nhất Hạnh, Vietnam :Lotus
in the Sea of Fire (Việt Nam : Hoa sen trong biển lửa), 1967, các
trang 8 –10.
42.
TT, II: 11, Thích Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, 1960,
trang 145.
43.
Nguyễn Lang, 228.
44.
Thích Mật Thể, 149 –150.
45.
Thích Mật Thể, 151, 162.
46.
TT, II :141.
47.
TT, II : 176, 198.
48.
Quốc Triều Hình Luật hoặc Bộ luật đời Lê. Bản dịch
và chú giải của Nguyễn Ngọc Huy và Tạ Văn Tài có tựa
đề The Le Code (LC), Ban xuất bản Đại học Ohio, 1987, điều
288. Hoàng Việt Luật Lệ hoặc The Nguyen Dynasty Code (NC), bản
dịch của Philastre có tựa đề Le Code Annamite, 1909, điều
75; TT, III : 227.
49.
TT, III : 70.
50.
Philastre, Le Code Annamite, Tập I, điều 336.
51.
Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochichina (Nhật Ký
của một Phái Bộ Ngọai Giao đến các Triều đình Xiêm
la và Đông Dương (Cochinchina), 1928, trang 499.
52.
LC, 289; NC, 75.
53.
LC, 215.
54.
LC, 388,400; NC, 87.
55.
LC, 600.
56.
NC, 144. Điều khoản này đề cập đến những nhà sư
và đạo sĩ phạm các tội này.
57.
Alexandre de Rhodes, Histoire du Royaume du Tunquin (Lịch sử
Vương Quốc Tunquin), Lyon, 1651, các trang 147 –148.
58.
Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử , Saigon, 1965, I: 85.
59.
Như trên, I:222-223
BUDDHISM
AND HUMAN RIGHTS IN TRADITIONAL VIETNAM
Ta
Van Tai , Harvard Law School.
After
years of negotiation, the landmark Declaration on the Elimination of All
Forms of Intolerance and Discrimination Based on Religion or Belief came
in 1981 and served to elaborate on the articles on religion and belief
in the International Covenant on Civil and Political Rights. Only in the
1980’s did the scholarly analysis of the protection of religion and the
relationship between human rights and religions start in earnest, with
the rise of religion to prominence on the world arena. Several recent international
developments have prompted scholars to pay more attention to religion as
a human right issue. First, the United States passed with unanimous votes
in both houses the 1998 International Religious Freedom Act, making religious
freedom a central aspect of American foreign policy, appointing an ambassador
at large for international religious freedom, requiring the State Department
to submit an annual report on religious freedom worldwide and the President
to adopt both carrot and stick measures to discourage other states from
committing violations of religious freedom. Second, in the last few years,
a number of European countries have tried to restrict new religious sects
or cults. Third, increased attention has been paid to the so-called “clash
of civilizations” between different religions, and the violence and rights
abuses committed in the name of religion, such as the brutal suppression
of women’s rights in Afghanistan by the Taliban in the name of Islam,
which was revealed when the United States pursued the terrorists in that
country after the events of September 11, 2001, or the death penalty for
any Muslim in Afghanistan who wants to convert to Christianity, even after
the democratization pursuant to the overthrow of the Taliban, which
penalty was threatened on Mr. Abdur Rahman and was protested by the Western
leaders and press.
I n this context of world events, there has been a lot of discussions and
writings about the historical clash between Islam and Christendom. During
the eight Crusades spanning over almost five centuries, from 1095, when
the First Crusade was declared, to 1578, when the last Crusade was launched
against the Turks in Morocco, human rights were violated by both sides.
For example, in the First Crusade, led by religious knights, armies of
Christians from France, Germany, England and other countries marched through
the territory of present-day Hungary to Constantinople, then to the Holy
City of Jerusalem, where, in their effort to recapture it for the Christians,
they sowed destruction and committed massacres. For the Muslims,
whose memory of the brutal Crusades was always vivid, the world outside
the world of Islam is called the House of War, inhabited by “infidels”
(kafir), and many of them interpret that the word “jihad” bequeathed
by the Prophet means the “striving in the path of God” and consider
Christians the primary rivals in their armed struggle for the advancement
of Muslim power toward world domination,. However, since the failure of
the Turkish in the 1683 siege of Vienna, Christian European forces inflicted
defeat after defeat on the Muslim world.
Because
of the theory that the Jews persecuted and were responsible for the death
of Jesus, many Christians have persecuted the Jews through two thousand
years (for example emperor Theodosius II’s edict made proselytizing by
Jews a capital crime), culminating in Hitler’s Holocaust for extermination
of the Jewish people—and against which the Pope said nothing .The Jewish
people had to demand a territorial state for their survival after
World War II. Only under Pope John Paul II did we hear that the Catholic
Church advised its members not to try to convert Jews anymore and did we
read about the Document on “Memory and Reconciliation, The Church and
Past Mistakes” proclaimed on March 7,2000 by Cardinal Joseph Ratzinger
(the future Pope) and used during the March 12,2000 Mass conducted by Pope
John Paul II, to call for reconciliation with the Jewish and other religions
and to ask God for forgiveness for past mistakes .
Within
Christianity itself, there were bloody wars between Catholics and Protestants,
such as the intermittent wars between them in Ireland , lasting two
centuries but becoming particularly vicious since 1916 with the establishment
of the Irish Republican Army. There is another example at the present time
of the intolerance between the Protestants and the Russian Orthodox (Eastern
Christian) Church, another branch of Christianity : after the collapse
of the Soviet Union, in 1990’s, the Orthodox Church in Russia--and
also the Islamic authorities in the four Independent States, among them
Uzbekistan and Kazakhstan-- want the state to suppress the proselytizing
work of the Protestants.
Within Islam itself, throughout its history, there were wars between its
different branches, headed by different clerics each of whom claimed to
be more legitimate or true descendant of Mohammed, the founder of
the religion. The rivalry between the Sunnis and the Shiites, and the oppression
of one by the other, has existed for long among countries of the Middle
East but also within one country, such as Iraq, and has resulted
in bloody sectarian wars.
This
historical tendency of Christians and Moslems, for gaining religious superiority,
to monopolize state power and exclude other competitors, stands in contrast
to the Buddhist philosophy of tolerance and respect for the human rights
of other people. To illustrate that particular trait
of Buddhism and the Buddhists, it is worthwhile to attempt the following
review of the historical record of the impact of Buddhism on human rights
in traditional Vietnam. This study provided relevant proof, within the
Buddhist tradition of one Asian country, that human rights standards are
fundamental world values accepted by peoples of different places and times.
Tokyo University Professor Nakamura said that Buddhism, with concepts of
universal appeal, has become a world religion as Christianity and Islam,
transcending national boundaries.(Journal of Oriental Studies, vol.2/1989,pp.50-67).
In particular, this study also facilitates the much desired inter-religion
dialogue, especially Buddhist-Christian dialogue. Because of the human
rights position of Buddhism, including its ideas on respect for life (no
killing, no wars of religion), on equality (all living creatures are equals
and potential buddhas) and on freedom of thought (pluralisms of many buddhas,
compassion and respect for others), optimistic prospects exist for
the dialogue between Vietnamese Buddhists and Vietnamese Catholics who,
in June 1988, celebrated with the Pope the canonization of 117 Catholic
martyrs who died in prior-20th century Vietnam. It is important to
make clear the position of the Buddhists on peace, compassion and freedom
of religion, and to allocate blame to the appropriate persons for
the historical persecution of the Catholics in Vietnam. It would take a
whole article or chapter of a book (l) and moreover, the detailed life
histories of the disputed cases among these 117 figures, to render a definitively
fair judgment on the issue of whether, as the Communist Vietnamese
Government charged, some of the martyrs were collaborators of the French
colonialists. But that is not our purpose here. Our purpose here is the
settlement of one side-issue of the persecution, which is important to
the Vietnamese Buddhist-Christian dialogue: whether the Buddhists
had anything to do with Catholic repression in old Vietnam ? The present
study, as will be seen below, shows that the Vietnamese Buddhists, with
their tolerant philosoph