Hướng
tới Kỷ niệm 30 năm ngày Hòa thượng Tố Liên viên tịch
(1977 - 2007), và nhân dịp Phân viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Sơn môn
Hương Tích tổ chức Hội thảo "Hòa thượng thượng Tố Liên
trong sự nghiệp xây dựng Phật giáo Việt Nam và Phật giáo
Quốc tế" tại Hà Nội ngày 30 tháng 3 năm 2007, PTVN xin trân
trọng giới thiệu đến quý vị độc giả một số Phật
sự mà Ngài đã ghi chép lại trong tác phẩm “Ký sự Phái
đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ và Tích Lan”.
Tháng
5 năm 1950, Thương Tọa Tố Liên đại diện cho Phật giáo Việt
Nam đi dự Hội nghị thành lập Hội Phật giáo Liên hữu thế
giới tại Tích Lan (Srilanca) và đưa Phật giáo Việt Nam tham
gia với tư cách sáng lập viên của Hội này. Đồng thời
Ngài được Đại hội suy cử làm Đệ nhất Phó Hội trưởng
Hội Liên hữu Phật giáo thế giới, Chi hội trưởng chi hội
Việt Nam.
Ngày
23 tháng 5 năm 1950, Hội Việt Nam Phật Giáo nhận được công
văn đề nghị cử lấy một vị Tăng sĩ gia nhập Phái đoàn
Phật giáo Việt Nam sang Ấn Độ. Thượng tọa Tố Liên cho
mời ông Viên Quang là Tổng thư ký của Hội Việt Nam Phật
giáo đến bàn việc triệu tập Hội đồng để thảo luận
việc quan trọng đó. Hội đồng đã đề cử một vài vị
Thượng toạ, nhưng các vị đều viện cớ rằng: Thượng
toạ Tố Liên là Hội trưởng Hội Tăng Ni Bắc Việt lại
là Phó Hội trưởng Hội Việt Nam Phật giáo, phải lấy tư
cách ấy mà ứng phó với thơ mời để gia nhập Phái đoàn
Phật giáo Việt Nam thì đối với cả trong Thuyền gia lẫn
người ngoài Thiện tín mới được danh chính ngôn thuận.
Vì thế mà Hội đồng Quản trị đã ấn định thỉnh Ngài
đại diện.
Ngài
bộc bạch:
“Tôi
còn e việc đi đây, không khéo ra thì dính vào Chính trị.
Chắc các Cụ cũng đã nhận thấy trong gần 20 năm nay, tôi
ra đây theo đuổi công việc chấn hưng Phật giáo, chỉ dấn
thân thẳng tiến với mục đích thực hiện tôn chỉ tự giác
giác tha của Phật Tổ, là những việc Phật học, việc truyền
bá, với việc từ thiện, cứu thế, ngoài ra, không nghiêng
ngả theo một phe đảng chính trị nào, mặc dầu nhiều khi
bị dụ dỗ, áp bức. Nếu trước đây tôi đã đi theo con
đường chính trị hay phái đảng, có lẽ tính mệnh tôi không
còn đến ngày nay, hay có còn sống cũng chẳng còn ở chùa
Quán Sứ này nữa. Vả lại tôi là người tu theo Tôn chỉ
Đại thừa Phật giáo không bao giờ được phép ghét bỏ một
việc gì về thế gian nếu là việc có ích chung cho xã hội.
Tôi chỉ có một điều ước mong đừng làm cho con đường
Phật giáo bị tối tăm, để cho mọi người đã chót lầm
lỡ đi theo con đường ấy bị va chạm, vấp ngã, đau đớn,
rồi biết hối lại mà quay về với con đường sáng suốt
của Phật giáo. Tôi gia nhập Phái đoàn Phật giáo, còn đi
hay không, để khi vào Nam Việt được gặp Thủ tướng hoặc
Bộ Ngoại giao tôi sẽ trình thực rằng Phật giáo không bao
giờ dính vào Chính trị, nếu cần, tôi chỉ đi theo phạm
vi Phật sự. Nếu được ưng thuận thì tôi sẽ đi, nhược
bằng không, thì sẽ trở về”.
Chính
quyền phúc đáp:
“Cụ
Thượng tọa Tố Liên là một vị tu hành, học lực uyên thâm,
hiểu thấu đạo Phật, rất hoạt bát và là một vị cao cấp
của Phật giáo, rất có uy tín đối với dân chúng và có
thể đại diện Phật giáo Việt Nam để đàm đạo với ngoại
quốc.
Thượng
toạ Tố Liên có ngỏ ý xin Ông Võ Đình Cường ở Hội Phật
học Huế, biết nói tiếng Anh, hiểu biết đạo Phật đi theo
làm thông ngôn, sẽ giúp được nhiều việc.”
Ngài
ấn định khởi hành ngày 11/3/Canh Dần (1-5-50). Hội Việt
Nam Phật giáo có sửa tiệc trai tiễn hành trước ngày đăng
trình một hôm. Đến dự có: Tổ Tịnh, chủ sự chùa Bà Đá
với hầu hết các Cụ, Thượng tọa Tăng, Ni ở Hà Nội cùng
nhân viên Ban Quản trị với rất đông các Giáo hữu Hội
Việt Nam Phật Giáo. Cụ Hoàng Đạo Thắng có thơ tiễn rằng:
“Bể
Nam nay mới nẩy bông sen,
Mừng
cuộc Tây Du Cụ Tố Liên.
Ướp
lấy mùi sen vườn Thất Bảo,
Thu
về ánh sáng cõi Tam Thiên.
Móc
mưa tô điểm mầu hoa mới,
Cây
có vui chào mặt khách quen.
Muôn
dậm cánh hồng chiều gió thuận,
Chúc
mừng mọi sự được như nguyền.
Đường
thì Tam Tạng, Hán Trương Khiên,
Nam
Việt ngày nay Cụ Tố Liên,
Vì
việc nước nhà đi phỏng đạo,
Nhân
sang nước Phật để tham thuyền.
Mong
bồi cỗi gốc nền Tôn Giáo,
Mừng
gặp anh em cõi Phạm Thiên.
Trân
trọng mấy lời xin kính tặng,
Chúc
câu Không, Lực, Tịnh, Khinh, An.”
Khi
Ngài ở Chùa Phật Ấn (Sài gòn) có ba vị Cư sĩ đến phỏng
vấn:
“HỎI:
- Phái đoàn Phật giáo VIỆT NAM đi ẤN ĐỘ có liên can
gì tới chính trị không?
ĐÁP:
-
Nước ta có linh 18 triệu dân hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
theo Phật giáo. Vậy thì Phái đoàn Phật giáo chúng tôi đi
đây, nếu được thành công với nhiệm vụ nối lại dây
tinh thần Phật giáo giữa VIỆT-ẤN có đã gần 2000 năm, như
thế tuy không can đến chính trị hiện thời, nhưng cũng vì
dân tộc gây cuộc hòa hảo bằng tôn giáo. Huống hồ còn
rước hồn đạo đức thuần túy về cảm hoá nhân tâm, cải
thiện đời sống tinh thần tức là bổ cứu tình thế rối
ren giữa lúc này, như thế chả là âm phù chính trị gây hòa
bình cho dân tộc chúng ta ư!”
Ngài
nói: “Riêng tôi nghĩ, Phái đoàn Phật giáo đi đây là
do Chính phủ cử. Nhưng Phái đoàn Phật giáo chúng tôi chỉ
theo với một mục đích là nối lại dây tinh thần văn hoá
Phật giáo giữa VIỆT NAM - ẤN ĐỘ và các nước, sẽ theo
chương trình sau này: Bắt đầu đến chùa hội quán Hội ĐẠI
BỒ ĐỀ (Maha Bohhdi) ở CALCUTTA là Thủ đô cũ của ẤN ĐỘ,
sẽ nhờ Hội đó tổ chức cuộc nói chuyện về Phật giáo
VIỆT NAM đã có một lịch sử sâu xa, kế đến đi chiêm bái
các nơi Phật tích để chứng minh thêm được phần nào của
lịch sử Phật giáo ẤN ĐỘ và thăm các cơ quan và thăm các
cơ quan Phật giáo lớn hiện có ở ẤN ĐỘ, trong dịp đó
sẽ chuyển hòm sách trong có những tác phẩm quý nhất của
Phật giáo VIỆT NAM do HỘI VIỆT NAM PHẬT GIÁO kính biếu Chính
phủ ẤN ĐỘ để mở đường thân thiện với dân tộc ẤN
ĐỘ và mua các kinh sách về Phật giáo làm tài liệu cho Phật
giáo nước nhà. Sau sẽ sang TÍCH LAN dự Hội nghị Phật giáo
thế giới khai mạc vào 25-5-1950 này, để góp mặt với Phật
giáo Quốc tế sáng lập Hội Phật giáo thế giới theo với
chương trình nghị sự của ban tổ chức Hội nghị đã định.
Vả lại, TÍCH LAN là nơi trung tâm điểm của Nam phương Phật
giáo, hơn nữa Phật giáo hiện tại là Quốc giáo của TÍCH
LAN có rất nhiều di tích quan trọng về Phật giáo, cần phải
khảo sát để về làm tài liệu cho nền tín ngưỡng đạo
đức của nứơc nhà. Nếu còn thì giờ lại về DIẾN ĐIỆN
và XIÊM LA cũng không ngoài mục đích khảo sát tình hình Phật
giáo.
Như
vậy thì chúng tôi đi đây chỉ là Phái đoàn Phật giáo Việt
Nam chứ không phải là Phái đoàn Phật giáo do Chính phủ cử
đi, để tránh dị nghị là Phái đoàn Phật giáo đi làm chính
trị, nếu Phái đoàn Phật giáo chúng tôi chỉ đi với những
nhiệm vụ ấy, thì tôi mới dám nhận đi với trách nhiệm
Trưởng Phái đoàn Phật giáo Việt Nam”.
Đến
Ấn độ, Ngài được thỉnh về chùa HỘI ĐẠI BỒ ĐỀ,
chư Tăng trong đó ra đón vào phòng khách, đã có Thượng toạ
JIRANATANA là Thư ký thường trực tiếp đón. Ngài có viết
thư, nguyên văn như sau:
“TRƯỞNG
PHÁI ĐOÀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Kính
gởi Ngài Hội Trưởng Hội MAHA BODDHI –
CALCUTTA
Thưa
Ngài,
Chúng
tôi vốn biết Phật tử bốn bể dù đến đâu cũng đều
coi nhau là con của Đức Từ Phụ THÍCH CA MÂU NI.
Vì
lễ nghi giữa giới Phật tử ở mỗi địa phương một khác,
chúng tôi tới Quý quốc, mặc dầu được Quý hội ưu đãi,
khiến thâm tâm chúng tôi cảm kích vô cùng; nhưng chỉ vì
những điều bỡ ngỡ, nên chúng tôi không tránh khỏi các
sự thất thố đối với Ngài cũng như đối với Quý Hội,
mong Ngài hoan hỷ lượng thứ.
Thưa
Ngài, chúng tôi cũng như dân VIỆT NAM, đều được sống trên
nền tảng luân lý Phật giáo với bầu không khí thần túy.
Cả 18 triệu dân VIỆT NAM theo Phật giáo, rất thành kính tôn
thờ Đức Giáo Chủ THÍCH CA và chư Vị Thánh Tăng của Quý
quốc đã sớm truyền bá Phật giáo sang VIỆT NAM trước đây
gần 2000 năm. Uống nước nhớ nguồn, nên dân VIỆT NAM theo
Phật giáo đều có sẵn mối thiện cảm sâu xa thầm kín đối
với Quý Quốc và Quý Hội.
Để
tỏ lòng kính mến Phật sự của Quý Hội, chúng tôi có 1.000
roupies (4.000$00 Đông Dương) để dâng cúng vào Phật sự của
Quý Hội, xin Ngài nhận cho.
Lại
xin Ngài nhận của Hội Việt Nam Phật Giáo kính biếu Quý
Hội một số kinh sách Phật do tay bút của các Cao Tăng VIỆT
NAM chú giải đã lâu đời, thêm với một số kinh, sách Phật
bằng Việt văn của Hội Việt Nam Phật Giáo chúng tôi xuất
bản.
Ngoài
ra, yêu cầu Ngài cũng như Quý Hội giúp đỡ cho các việc
sau này:
1)
Hội Việt Nam Phật Giáo kính biếu Chính phủ Quý quốc một
hòm kinh Phật và một hòm để kính biếu Hội Nghiên cứu
Phật học cùng ở Quý quốc, dám mong giúp chúng tôi được
thân đến nơi để chuyển giao.
2)
Giúp chúng tôi đi chiêm bái các nơi Phật tích ở Quý quốc.
3)
Giúp cho, thỉnh hoặc mua các kinh sách Phật do Quý quốc xuất
bản, hoặc nơi nào có, xin mách bảo cho chúng tôi thỉnh.
4)
Giúp cho mua những tranh ảnh về lịch sử, mỹ thuật Phật
giáo ở Quý quốc.
5)
Chúng tôi được chụp ảnh các Tôn Tượng và các pháp bảo
ở Chùa Hội quán đây và các nơi Phật tích.
6)
Chúng tôi được biết Quý hội có những cuốn phim về Phật
giáo, nếu có thể được, xin mua giúp.
7)
Giúp chúng tôi mọi phương tiện để đi tới dự Hội nghị
Phật giáo thế giới tại Tích Lan.
8)
Tôi có 10 điều đề nghị với Phật giáo Quốc tế, xin phiền
Ngài chuyển giao đến ban Tổ chức của Hội nghị đó trước
khi chúng tôi đến dự.
9)
Giúp chúng tôi đến New Delhi là Thủ đô mới của Quý quốc
để viếng thăm các Phât tử ở đó và cho được gặp Bác
sĩ Prasad là Tổng Thống của Quý quốc để sẽ dâng biếu
lên Ngài hòm kinh Phật.
TỐ
LIÊN ” |
Một
buổi tối, một vị Đại đức nguyên là Tiến sĩ xuất gia
đến phòng của Thượng tọa nói là sẽ hướng dẫn
phái đoàn Phật giáo đi chiêm bái các nơi Phật tích.
“Đại
Đức hỏi: Việt Nam theo Phật Giáo Nam phương hay Bắc phương?
- Bạch
Đại Đức, nếu theo về địa lý thì Việt Nam chúng tôi theo
Phật Giáo Bắc phương, là vì kinh Phạm tự truyền sang Bắc
phương, mà các kinh Phật ở Việt Nam là theo kinh Tàu, mà kinh
của Tàu đều dịch ở kinh Phạm tự ra cả. Xem thế đủ
thấy Phật Giáo Việt Nam thuộc về Bắc phương Phật giáo.
Theo chỗ tôi nhận xét, thì đem chia Phật giáo Nam phương ra
làm tiểu thừa. Phật giáo Bắc phương làm đại thừa chưa
chắc đã là đúng. Vì Phật giáo vốn có đủ Đại thừa
và Tiểu thừa. Một chứng cớ rõ ràng, là những người mới
vào đạo phải tu hành, về phần tự giác, tự lợi đó là
Tiểu thừa, rồi sẽ đem phần tự giác tự lợi của mình
ra làm mọi việc lợi tha, giác tha, thì là tôn chỉ của Đại
thừa. Còn như Phật giáo ở xứ nào thiên quá về một mặt
là tại quan niệm của người theo Phật giáo ở địa phương
đó.
- Nếu
vậy Phật giáo Việt Nam là do Tàu truyền sang chứ không phải
là do Ấn Độ truyền sang?
- Cuối
thể kỷ thứ 2 có Mâu Bác Cư sĩ, vì tránh nạn mà sang Việt
Nam rồi truyền bá Phật giáo ở xứ chúng tôi, nhưng lúc đó
mới chỉ có ảnh hưởng một phần nào, chứ chưa có sự
tổ chức cụ thể. Đến mãi năm 225, Ngài Khương Tăng Hội
là Cao Tăng của Quý quốc sang Việt Nam, bấy giờ Việt Nam
mới có Tăng chúng, Phật giáo Việt Nam mới có hệ thống,
tổ chức do Tăng già lãnh đạo trách nhiệm truyền giáo. Thế
nên sau Ngài Khương Tăng Hội còn có nhiều các Cao Tăng quý
quốc và VIệt Nam đi lại mật thiết với nhau về việc tu
hành và truyền bá. Phật giáo Việt Nam lấy hệ thống Tăng
Già truyền giáo, nên từ xưa vẫn tôn thờ Ngài Khương Tăng
Hội là Sơ Tổ truyền Phật giáo sang Việt Nam.
- Số
Tăng, Ni ở Việt Nam có được bao nhiêu?
- Đích
số thì tôi chưa biết rõ, nhưng ở Việt Nam rất ít làng
không có chùa, có làng lại có đến hai ba chùa. Mỗi chùa
cả thầy lẫn tiểu, ít nhất cũng tới ba người. Nhiều chùa
có tới vài ba chục vị. Xem thế thì biết số Tăng, Ni ở
Việt Nam không phải là ít.
- Thượng
Toạ bao nhiêu tiểu mới xuất gia, tu ở chùa nào, thuộc về
pháp phái nào?
- Tôi
xuất gia giữa năm 1915, tức là năm lên 13 tuổi, thụ nghiệp
Hòa Thượng tôi tại chùa Hương Tích ở tỉnh Hà Đông thuộc
về pháp phái Lâm Tế.
- Thượng
tọa theo công cuộc chấn hưng Phật giáo đã được bao nhiêu
năm?
- Đầu
năm 1935, tôi đang tu niệm ở chùa La Sơn, bỗng bị Nghiệp
sư bắt ra giúp Hội Việt Nam Phật Giáo vì có một số các
yếu nhân của Hội đó vào tận chùa Hương Tích thỉnh cầu,
nên Hòa Thượng tôi bắt phải ra chùa Quán Sứ để theo đuổi
mục đích chấn hưng Phật giáo, chẳng may tôi bị bệnh phải
xin tạm nghỉ về chùa Côn Sơn thuộc tỉnh Hải Dương điều
trị, nhưng cũng không khỏi, sau lại phải ra bệnh viện Hà
nội mổ giữa năm 1945 chính là năm nước chúng tôi bùng nổ
cuộc cách mạng do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Quốc
gia đã biến cố thì Tôn giáo cũng bị ảnh hưởng, giới
xuất gia chúng tôi lúc đó cũng đã phần nhiều lâm vào tình
thế hết sức lộn xộn rối ren. Giữa lúc đó tôi mới mổ
bao tử được 13 ngày nhận thấy tình thế nguy ngập đến
Thuyền môn, không thể ngồi yên được, đành phải khăn đai
chét bụng ra khỏi bệnh viện cùng với các bậc tu hành đồng
chí tìm phương bổ cứu. Một ban lâm thời tổ chức Phật
giáo thống nhất được thành lập, liền cử ra 7 phái đoàn
chư Tăng theo một chương trình cấp tốc trong 10 ngày đi khắp
13 tỉnh để chiêu tập Tăng già để cùng thảo về vấn đề
thống nhất Phật giáo đoàn kết Tăng già, hết thảy đều
hưởng ứng nhiệt liệt, đã đi đến kết quả một kỳ Đại
hội đồng toàn thể Tăng già và các hội Phật ở Bắc Việt.
Hội nghị này đã duyệt y bản quyết nghị nhằm vào mục
đích điều hòa các Hội Phật giáo, thực hiện tinh thần
thống nhất Phật giáo với một ủy ban Tăng già Bắc Bộ
được cử ra lãnh trách nhiệm đó. Tôi được cử làm Phó
Chủ tịch ủy ban này.
Công
cuộc của Ủy ban Tăng già Bắc Bộ đó đang tiến triển thì
cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, dân chúng và các Phật
tử ở Hà nội chạy loạn hầu hết, còn mấy vị chúng tôi,
tử, sinh phó mặc cho định nghiệp, liều chết ở lại chùa
Quán Sứ, lẽ cố nhiên phải đương đầu với đầy thảm
trạng đau thương, cũng đều trông cậy có Phật lực che chở
cho qua cơn sóng gió hết sức nguy nan khủng khiếp mới còn
đến ngày nay, lại hân hạnh được sang nước Phật đây
để được gặp gỡ các Phật tử thế giới.
- Tình
hình hoạt động hiện tại Phật giáo Việt Nam ra sao?
- Về
giới xuất gia thì ở Bắc Việt và Trung Việt đã có tổ
chức thành Tăng già giáo hội, đều theo một mục đích chỉnh
lý nội bộ tu hành, còn những hội Phật giáo có đủ cả
tăng lẫn tục như Hội Đại Bồ Đề đây thì hiện thời
có ba hội có ảnh hưởng lớn và cùng chung một tôn chỉ
phụng sự Tam bảo, chấn hưng Phật giáo, ngoài ra còn thực
hiện tôn chỉ cứu thế, làm các việc cứu tế xã hội nữa”.
Chư
Tăng và ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề đã sửa soạn
đưa Đoàn đi chiêm bái các nơi Phật tích ngày 10 / 5/1950,
đến Bồ đề tràng là nơi Phật Thích Ca tu thành đạo. Khu
đất Bồ đề tràng rộng rãi, bao la có đến mấy mươi mẫu
đất, Ô tô vừa dừng bánh, một số thổ dân cả già, trẻ,
trai, gái chạy ra, nhưng không phải để đón chào mà là xem
khách lạ, vì Ngài ăn vận phục sức Tăng già Việt Nam, họ
thích nhất là khi được nhìn thấy bộ răng đen của Ngài.
Lúc
đó rõ ràng thấy Ngài có cảm tưởng như nghe thấy lời Phật
dạy rằng:
“Này
Cùng tử con ơi! Ta thương con thì những lời ta dạy bảo con
đây, con cần phải suy nghĩ mà nhớ như chôn vào ruột đấy
nhé. Này con ơi! Cõi trần thế là nơi bể khổ, con còn nhớ
không? Quả đất này con đã có bao kiếp sinh ra cũng gửi ở
đó, khi con chết đi cũng lại về với nó, con còn nhớ không?
Con đã có bao phen ở quả đất này làm loài cỏ cây đến
làm loại cầm thú, côn trùng, cho đến khi làm người, khi
vinh khí nhục, khí đắc, gian lao lận đận với bao nhiêu trần
thế đau khổ, chưa chắc nước bể đã nhiều hơn nước mắt
của con đã vẫy vùng khắp cõi với những đau thương khổ
não. Nếu con đã biết khổ lại cần phải biết dục tâm,
vọng ý của con là cõi rể khổ, con phải tức khắc chém
chặt cho tiệt giống dục tâm, vọng ý đi, như thế là con
cũng được giác ngộ và thoát khổ như Từ phụ của con đây.
Nếu con chỉ than thở thân là khổ, đời là khổ mà không
chịu tinh tiến nhẫn nhục mà tu thân hành đạo, thì con còn
khổ”.
Đến
Trụ sở Chi hội Phật giáo Lộc Uyển cũng thuộc về Hội
Đại Bồ Đề. Hòa thượng trụ trì cho người mời đến
trai đường.
Hòa
thượng trụ trì hỏi:
“Chư
Tăng Việt Nam đều mặc áo như Thượng tọa ư?
- Vâng.
-
Sao không mặc Pháp y luôn ở mình như chúng tôi?
- Chư
Tăng Việt Nam phần nhiều ở nhà quê phải làm việc, nên
không tiện mặc Pháp y, chỉ có lúc lễ Phật, tụng kinh mới
mặc.
- Làm
sao có Pháp y?
- Do
các thầy Giáo sư truyền thụ trong khi thụ giới.
- Pháp
thụ giới ở Việt Nam như thế nào?
- Ở
nơi nào có nhiều chư Tăng tu hành thì phải mời mười vị
giới hạnh cao cả, nơi nào ít thì mời năm vị. Các Thầy
được mời đó sẽ kết đàn làm phép theo luật Phật dạy
mà truyền giới và ban áo Cà sa cho.
- Chư
Tăng Việt Nam có kết hạ an cư không?
- Nhiều
lắm.
`-
Chư Tăng Việt Nam có tu thuyền định không?
- Về
các đời Đinh, Lê, Lý, Trần phần nhiều tu thuyền định,
nhưng hiện thời phép tu thuyền ở Việt Nam đã thất truyền.
- Nếu
vậy thì không có môn tu nào nữa sao?
- Còn
có môn tu Tịnh độ là môn tu niệm Phật, nếu niệm được
nhất tâm thì cũng như tu thuyền.
- Bạch
Hòa thượng - tôi hỏi lại: Ở đây có ruộng không?
- Khu
Lộc Uyển này có vô số ruộng, nhưng để mặc người bản
xứ họ làm họ ăn, mình đi tu để làm Đạo chứ có đi tu
để làm ruộng đâu.
- Không
làm ruộng lấy gì mà ăn?
- Cứ
làm Đạo tự nhiên đủ ăn, không làm Đạo mà chỉ đi làm
ruộng, dù có cũng chưa chắc đã giữ được mà ăn. Tuy chúng
ta ăn chay, nhưng cũng cần phải ăn khỏe mới có đủ lực
lượng mà tranh đấu cho Phật pháp chứ?
-Vâng,
phải đấy, nhưng xin nối lời thêm: Phải tu khỏe nữa mới
đủ tinh thần tranh đấu cho Phật Pháp".
(Hết
kỳ 1)
Huệ
Minh (Theo (lược trích và biên tập))
Phật
Tử Việt Nam
03-29-2007
08:56