Nhớ
Ngài, biết ơn Ngài trong cuộc hội thảo này chúng tôi nghĩ
không gì thiết thực hơn là thực hành những ý tưởng của
Ngài đối với Phật pháp từ cách đây 50 năm. Đã 50 năm
hay 1/2 thế kỷ nhưng những ý tưởng ấy hầu như vẫn còn
rất mới, rất phù hợp, rất khế lý, khế cơ với hiện
tại bây giờ.
Vào
những năm của Thập niên 50; 60 thế kỷ 20 - Đến Lễ Phật
tại Tùng Lâm Quán Sứ Phật tử thường nói đến tên “cụ
Tố” một cách trừu mến và kính cẩn: vào vấn an Cụ Tố,
vào hỏi cụ Tố v.v… “Cụ Tố” đây chính là Thượng
tọa Thích Tố Liên người trụ trì Tùng Lâm Quán Sứ những
năm từ 1945 đến khoảng 1960; một cao tăng uyên thâm Phật
pháp, đạo hạnh sáng ngời vào hàng bậc nhất.
Đã
30 năm vắng bóng Ngài tại chốn Tùng Lâm uy nghi này nhưng
tại đây hôm nay ta vẫn còn mường tượng bóng dáng Ngài,
nâu sồng giản dị của một bần tăng như Ngài tự nhận,
đứng trên hiên nhà Tổ miệng nhai trầu môi đỏ thắm; vẫn
như văng vẳng tiếng Ngài giảng Kinh Pháp, tiếng đáp lễ
thân tình với khách thập phương. Thời gian của những năm
ấy Thượng tọa mới ở độ tuổi 50 vậy mà bằng những
việc thực người thực, ở Ngài đã hiển lộ chân tính của
một bậc cao tăng thạc đức “thâm nhập kinh tạng trí tuệ
như biển”; đúng là một xứ giả của Như Lai.
Ngài
nói được; viết được; thực hành được góp phần gây
tạo nên một lực lượng trụ cột của tăng đoàn thời kỳ
đó như các vị Tổ Vĩnh Nghiêm, Tổ Mật Ứng, Hòa thượng
Trí Hải, Cư sĩ Thiều Chửu, Cư sĩ Tuệ Nhuận v.v … Có thể
nói Ngài sinh ra là để dành cho Đạo Phật, con người của
Ngài là con người của Đạo Phật, cả cuộc đời Ngài đã
lặn lội hiến dâng son sắt thủy chung với Đạo, tôn kính
Đức Phật đến tuyệt đối.
Chúng
ta biết ơn các bậc sinh thành đã sinh ra Ngài và dẫn đưa
Ngài vào con đường Phật pháp. Tùng Lâm Quán Sứ thời kỳ
Ngài trụ trì uy nghi và êm đềm, sâu lắng một tâm linh đạo
pháp; sân chùa giải sỏi lạo sạo bước chân đi trồng nhiều
cây cao bóng mát; chùa có tòa báo Phương Tiện, có máy in,
có trường tư thục Việt Đồng, có lớp Anh văn vào buổi
tối, những năm 1950 – 1952 lại có nuôi cả một số học
sinh nghèo đến tạm trú; các Ngài còn thành lập đội Thanh
niện Phật giáo mặc đồng phục đội mũ vải chóp nâu …
Chúng
tôi đã được nhìn thấy khung cảnh trên và đến bây giờ
sau cả đời nhìn lại chúng tôi mới nhận được ra rằng:
ấy là công lao của chư Tăng hồi đó mà Hòa thượng Thích
Tố Liên là một trong những vị có công đầu; một vị lãnh
trách nhiệm cao nhất trong việc hoằng pháp lợi sinh trong một
hoàn cảnh xã hội khó khăn phức tạp của thời thuộc Pháp
và thời chiến tranh Việt Pháp, chết chóc, ly tán, túng đói
xảy ra hàng ngày.
Trong
vô vàn những kiến thức sâu sa của Phật pháp mà Ngài đã
đạt, hôm nay hội thảo về ngài ta không thể không tán thán
Ngài, học tập Ngài qua những phần sau đây:
I. Lòng Kính
tin Đức Phật chân thành và tuyệt đối.
Như
chúng ta đã biết, với mỗi người con Phật 3 yếu tố Tín,
Hạnh, Nguyện là cứu cánh để đi đến đạt đạo, trong
đó tinh thần tin yêu Phật là hàng đầu. Có tin thì mới có
quyết tâm mới có son sắt thủy chung và từ đấy mới soi
sáng trên con đường hành đạo, soi sáng cho những bước khó
khăn của con đường Tu hành gian khổ – Với Hòa thượng
Thích Tố Liên chúng ta thấy lòng kính yêu Đức Phật Tổ
Như Lai thật sâu sắc vô cùng, hiếm có sự tỏ ngộ như Hòa
thượng. Chúng ta hãy xem Ngài viết trong ký sự đi thăm Ấn
Độ 1950 khi đến chiêm bái bồ Đề đạo tràng là nơi Đức
Phật tu hành và đắc đạo.
“…Đến
trước đài hương tôi cũng như mọi vị đều quỳ Lễ độ
10 phút niệm hồng danh Đức Bản Sư Thích Ca Mô Ni. Quả thực
lúc đó tâm tôi thôn thức, mắt tôi dơm dớm nhìn lên chân
thân Đức Thế Tôn. Tôi không khẩn cầu với Từ Phụ một
điều gì cả. Trái lại chỉ thấy tự hổ mà suy nghĩ rằng
“Xưa Đức Thế Tôn cũng là người, sao Ngài sống với cuộc
đời trong sạch sáng sủa? Nay con cũng là người, mặc dầu
đã theo Ngài xuất gia mà vẫn sống chung với cuộc đời xấu
xa tối tăm và người ta còn đương thi nhau đem cái màn ám
muội che phủ cho mù mịt thêm mãi đi. Ngài cũng là người
tu mà tu đến giác ngộ chân lý vũ trụ nhân sinh, con chỉ
thấy tối như đêm dày như đất. Trăm lạy nghìn lạy Đức
Thế Tôn xin rủ lòng từ điểm hóa cho cọn cùng chúng sinh
được giác ngộ”. Lời khấn Phật Tổ như trên thật không
có lời nào cảm kích hơn.
II. Thâm nhập
kinh tạng trí tuệ như biển
1.
Với Hòa thượng có thể nói Ngài là một pho tự điển sống:
“Phật học thâm đắc, nho học, sử học, văn học đều
thông hoạt, văn phú từ chương điển cố đều tra cứu đến
nơi”.
Như
chúng ta biết thời kỳ mà Hòa thượng trụ thế đó là thời
kỳ mà các phương tiện thông tin đại chúng còn hạn chế,
Kinh sách tam tạng Phật giáo chưa nhiều, lực lượng thầy
tổ dạy dỗ còn ít ỏi. Vậy mà Hòa thượng đã sớm tiếp
thu, sớm đạt đạo, học một biết mười, lầu thông Phật
pháp, với một trí nhớ tuyệt vời. Đúng là do có lòng tin
Phật tuyệt đối nên Ngài đã thâm nhập kinh tạng và đem
trí tuệ đạt được để nhất thiết không ngại cứu độ
chúng sinh.
Khẳng
định đạo Phật là đạo cao cả vào năm 1950 ngay tại trên
nước Ấn độ, Ngài phát biểu trước buổi tọa đàm với
các học giả Ấn Độ Ngài nói: “Ôi Việt Nam chúng tôi có
gần 1000 năm bị ba lần người Tàu đô hộ; giữa thời gian
ấy các triều đại Ấn Độ cũng có các vua anh hùng, thế
mà lịch sử Việt Nam không hề có một trang sử đẫm xương
máu đáng tiếc xẩy ra giữa hai nước Ấn Việt, mà chỉ thấy
chép những trang hai dân tộc Ấn Việt giao lưu buôn bán và
truyền bá văn hóa Phật giáo mà thôi. Các nhà học giả Đông,
Tây ngày nay đều công nhận văn minh Ấn Độ là văn minh tinh
thần chứ không phải văn minh vật chất. Huống hồ với nước
Việt Nam còn được các bậc thánh tăng người Ấn truyền
bá sang nước tôi một nền văn hóa từ bi bình đẳng, một
nền văn hóa triết học cao siêu mang nặng tinh thần đại
từ, đại bi, đại hùng, đại lực …” và “Chính nền
văn hóa Phật giáo đó đã sản xuất ra cho Việt Nam những
vị cao tăng có học thức, có đạo đức để giúp dân giành
lại quyền tự chủ xây dựng cuộc sống an lành như Khuông
Việt Thái Sư, Đỗ Thuận Quốc Sư, Vạn Hạnh Quốc Sư. Đời
Trần còn có các vị vua thâm ngộ Phật pháp, có vua xuất
gia như Trần Nhân Tông …”
Ngài
nói tiếp “Nước Việt Nam có thể gọi là một nước Phật
giáo vì hầu hết mỗi làng đều có chùa chiền thờ Phật,
Tăng, Ni tu hành. Tuy từ hơn 300 năm nay (tính đến 1950) do hoàn
cảnh có chiến tranh ly tán nên Phật giáo Việt Nam đã suy
kém một phần về tinh thần giáo lý, còn lòng tín ngưỡng
của dân chúng thì vẫn như xưa. Vẫn trẩy hội Chùa Hương,
vẫn chiêm bái Yên Tử, mặc dầu hoàn cảnh kinh tế và xã
hội còn rất khó khăn”. Lý giải tại sao dân ta có lòng
tín ngưỡng Phật giáo như vậy Ngài trình bày tiếp: “Sở
dĩ họ có lòng tín ngưỡng bồng bột (hăng hái) vậy vì hầu
như họ đều đã qua một cuộc bom đạn khói lửa, phần lớn
bị cốt nhục ly tán, tài sản tan không … Cái thảm họa
đó đã khiến họ càng hiểu cái chân lý vô thượng của
Phật dạy nên không ai bảo ai đã đi lễ bái, nghe kinh; cầu
đạo hăng say thành tín …”
Thật
ít có những lời khúc triết như trên khi nói về Phật giáo
tại một nước đã sinh ra Đức Phật.
2.
Sau khi đã gửi gắm lòng tin kính tuyệt đối vào Đức Phật
rồi, đến bước tu hành Hòa thượng xác định là Phật tử
phải nhìn cho đúng suy nghĩ cho đúng và hành động cho đúng
tức là một loạt vấn đề trong bát chính đạo. Ngài cho
ra đời trong giai đoạn này các tác phẩm với mục đích hướng
dẫn đồng đạo như tấm gương Tam quy (tái bản 1953). Sự
lý lễ tụng, Nguyên nhân tục đốt vàng mã; Khoa cúng Phật
Tổ.
Các
sách trên được Ngài biên soạn với một tinh thần khoa học
hiếm thấy mà không hề mất đi cốt lõi của đạo Phật.
Không những thế mà còn nâng lên tầm cao siêu của Đạo Phật,
xác định giá trị thực tiễn tối hậu của Đạo Phật trong
việc xây dựng lành mạnh đời sống xã hội con người. Ngài
nhắc nhở và khuyên những người vào đạo trước hết là
không “mê tín huyền hoặc” bởi các điển tích xa vời
không đúng thực tế. Ngài đặt vấn đề một cách rõ ràng
thẳng thắn rằng “Tại sao Đức Phật Tổ Thích Ca bắt đầu
tiếp hóa các đệ tử hữu duyên của ngài bằng pháp tam quy?
Ôi chỉ vì chúng sinh mê mất chân tâm, do nghiệp tà ác nên
cứ phải khúm núm ba đường luân hồi, vòng quanh sáu ngả
khổ não hết đời này sang kiếp khác. Đức đại bi Thế
Tôn thấy chúng sinh bị đau khổ cũng như Ngài đau khổ nên
mới chế ra pháp quy y, để cho chúng sinh muôn đời sau biết
đường quy về đạo chính, tu tỉnh thân tâm, đoạn trừ mê
hoặc, dứt bỏ nghiệp ác, tin có nhân quả luân hồi, tội
phúc báo ứng từ đó giữ gìn ý nghĩ, lời nói việc làm
cho rất mực chân chính để làm cho bản thân mình có đủ
nhân cách.
Một
người làm mười người bắt chước, mười người làm trăm
người bắt chước từ đó sẽ tạo nên một nền phong hóa
chí thiện giữa gia đình, giữa xã hội. Cho nên mỗi người
nên hiểu phép quy y cho rành; làm phép quy y cho đúng; không
những có lợi ích riêng cho mình mà còn lợi ích chung cho cả
gia đình, xã hội nữa. Sống đã tốt như vậy, có mục đích
cao quý như vậy thì lúc chết, đi đâu mà chẳng được giải
thoát”. Rồi Ngài khẳng định một cách chân tình: “…
Nếu các vị làm được như vậy mà không thu lượm được
cái kết quả đại công đức như trên thì bần tăng này sẽ
cam vào địa ngục Bạt thiệt để tự chịu lấy vọng ngữ
vậy”.
Kính
thưa các đại biểu; sinh thời Hòa thượng thường chỉ nhận
mình là một bần tăng. Rất khiêm hạ trong một trí tuệ sâu
rộng !.
Trong
cuốn Tấm gương tam quy Ngài nhắc nhở: “Đã quy y phải bền
lòng giữ gìn phép quy y”. Vì từ trước đến nay rất nhiều
người không gặp được minh sư dạy bảo tường tận trong
phép quy y thành ra đã quy y mà hành động vẫn sai lầm không
khác gì người chưa quy y; như vậy sao được gọi là đệ
tử Phật chân chính của Phật. Vậy tác giả (tức Hòa thượng)
xin chiểu theo các nhời thiết yếu của Phật đã dạy ở
kinh luật lược dịch ra đây để các vị đã quy y Tam bảo
noi theo thực hành cho tròn phận sự.
Đó
là tôn kính Tam bảo: phải coi Pháp như mẹ, phải thực hành
Pháp; những Pháp chưa biết, chưa rõ phải chăm chỉ học hỏi;
chăm chỉ xem nghe, suy nghĩ; luôn tưởng nhớ Pháp như đang
đói mong ăn, đang khát mong uống. Phải chăm chỉ cung kính
cúng dàng các vị chân chính Pháp sư, lo toan giúp đỡ mọi
công việc truyền bá đạo Pháp, luôn luôn đem những lời
hay lẽ phải của Phật dạy để khuyến khích cho mọi người
cũng được biết như mình, phải coi các vị chân tăng như
thày, mỗi khi trông thấy nên kính chào; thấy có bệnh tật
nên lo giúp đỡ thuốc thang, thấy có chí chăm chỉ tu học
nên giúp đỡ đủ phương tiện để các vị đó tu học được
minh kinh đạt đạo để sau này nối gót Phật Tổ cứu độ
chúng sinh …
Còn
đối với những người giả mạo tu hành cũng không nên bài
bác công kích và cũng không nên cung kính cúng dàng vì nếu
cúng dàng các vị đó tức là đã giúp thêm phương tiện vào
việc phá hoại Tam Bảo; cũng không nên vì các vị đó mà
có những hành động và lời nói vô lễ với Tam Bảo tức
là phá mất phép Tam quy và cũng không nên sinh lòng chán nản
lười biếng với Tam bảo vì nếu thế cũng là phá mất phép
tam quy …”. Sau đó Ngài còn hướng dẫn phép thờ cúng lễ
bái sao cho đúng người đúng việc như: “Thờ Tổ Tiên Phụ
Mẫu và các Đấng Quốc Thần là phận sự cố nhiên của
mọi người”. Còn ta phải theo lời Phật dạy mà thờ cúng
cho sự tín ngưỡng được duy nhất mới không sa vào đường
mê tín dị đoan.
Phật
dạy rằng: “Người đã quy y chỉ được thờ cúng lễ bái
Tam bảo thôi; cấm tuyệt thờ cúng lễ bái những hạng tà
thần ma quỷ mặc dù có thiêng liêng cũng không được; không
nên thờ cúng lễ bái các thần thánh của ngoại đạo trừ
khi muốn xem cho biết. Không thờ các thày ngoại đạo làm
thày trừ khi vì sự ngoại giao. Nhưng Phật cho phép các Phật
tử tại gia vì cớ cầu đảo cho gia môn được thịnh vượng
bình yên thì được thờ cúng các đấng thần Phạm Thiên,
Đế Thích hộ Pháp; 12 Đại tướng.v.v… vì các đấng thần
này đã dày công đức ủng hộ Phật Pháp, phù trì nhân dân”.
Cùng
với việc thờ cúng lễ bái cho đúng, Ngài còn nhắc nhở
Phật tử phải “giữ phép tu hành, lợi mình lợi người”
Ngài viết: “Kinh Đề Vị dạy rằng: Người đã quy y phải
rứt bỏ hết thảy mọi điều ác, phải làm hết thảy mọi
điều thiện, phải thương sót hết thảy mọi chúng sinh”.
Luật dạy rằng: “Người đã quy ýit nhất mỗi tháng cũng
phải có 2 ngày sám hối (15 và 30); nên đến trước Tam Bảo
sám hối hết thảy tội lỗi nghiệp chướng cho thân tâm được
trong sạch yên vui”.
Thật
là những lời nhắc nhở cụ thể và tường tận cho Phật
tử chúng ta. Nói và viết được những điều xúc tích trên
ra sách để cống hiến cho mọi người theo đạo chắc hẳn
học lực Phật Pháp và khả năng diễn đạt của ngài phải
uyên thâm thành tín đến mức nào!
3.
Với các hiện tượng thờ cúng mê mờ không có lý sự viên
minh Ngài hết sức đem tâm huyết trí tuệ ra để giáo dục
Phật tử không vấp phải. Ngài đã biên soạn một loạt bài
rất hùng biện để đả phá tục đốt vàng mã có lý có
tình có sử có sách để ai cũng có thể nhận ra cái sai của
sự mê tín. Ngài kết luận thẳng thắn về tục đốt vàng
mã như sau: “ Ai cũng phải công nhận tinh thần của dân tộc
Việt nam ta là đều nhờ Phật giáo và nho giáo đào tạo nên
cả. Xin hỏi giới trí thức Việt Nam là Phật và Nho giáo
dạy về thuyết đốt vàng mã là ở sách nào? nếu các Ngài
tìm thấy, bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu
lấy tội vong hữu. Nếu các Ngài không tìm thấy thì một
lần nữa bần tăng thiết tha yâu cầu các ngài bỏ tục đốt
vàng mã đi… Nay chúng ta cùng nhau triết để bài trừ mê
tín việc đốt vàng mã thì quyết nhiên dân tộc Việt nam
ta dễ dàng đạt đến sự viên thành của sự nghiệp kiến
quốc vậy”.
4.
Đối với việc hành trì chính pháp thì việc Lễ Tụng là
một trợ duyên cho việc học đạo kết quả. Song không những
chỉ là trợ duyên Ngài còn chỉ rõ ý nghĩa sâu xa của Lễ
Tụng là “Chúng ta hàng ngày Lễ Tụng tức là cày cấy ruộng
lòng, cày cấy ruộng lòng nó còn khó gấp vạn lần cày cấy
ruộng đất kia. Vậy phải có nhiều phương pháp màu nhiệm
như Lễ phải hợp nghĩa; Tụng phải hiểu lý …” Thiết
thực hơn nữa Ngài còn mạnh dạn đưa cái tác dụng mới
mẻ nhất vào việc Lễ Tụng là “Ngoài việc gột rửa được
lòng trần, trừ bỏ được thói tà còn lợi ích cho cả ba
môn Đức dục, Trí dục và Thể dục. Riêng về ý nghĩa lễ
tụng là thể dục Ngài dạy: “Tôi trộm nghĩ quy tắc lễ
tụng hàng ngày của Phật tử cũng không khác gì chương trình
tập thể thao nhẹ vì mỗi khi lễ bái lên xuống sẽ làm cho
các bộ phận trong người vận động, tức là thao luyện cho
khí chất cặn bã trong người tự tiêu tan đi, huyết mạch
chạy điều hòa thân thể nhẹ nhàng hô hấp đều đặn …
Đó là về cụ thể con người nếu lại bàn về ý tưởng
thì lúc lễ tụng ấy mắt nhìn tượng Phật, tai nghe tiếng
tán dương công đức, tâm hồn được thưởng thức đạo
vị khoái lạc, đó là lúc đạo tâm và đạo lực nảy nở
ra rất mạnh …”. Những nhận xét kết luận trên về Lễ
Tụng thật đúng với thực tế; nhiều người cũng biết vậy
nhưng chỉ riêng Hòa thượng mới phát kiến ra. Thật là quý
giá.
III. Tinh thần
xây dựng ngôi nhà chung Phật giáo
Với
Hoà thượng Thích Tố Liên đây là một phật sự mà Ngài
trăn trở nhất, mà Ngài cho là thiêng liêng nhất trong cuộc
đời phụng sự đạo pháp của Ngài.
Trong
bài giới thiệu cuốn Tăng già Việt Nam của Pháp sư Trí Quang
có đoạn Ngài viết: “...Cốt làm sống dậy tất cả hình
ảnh oanh liệt của tăng già ở quá khứ. Sau hết Tăng Già
Việt Nam phải thế nào đối với giáo lý giáo chế và giáo
sản để mà chỉnh lý và thống nhất... và với ngần này
việc cũng đủ cho Tăng già Việt Nam tự biết mình là gì
và phải làm gì. Tôi đồng ý với Pháp Sư Trí Quang, muốn
thống nhất và thống nhất một cánh cứu cánh nền Phật
giáo Việt Nam thì phải chỉnh lý Tăng già trước hết. Và
đó là bản chí của bình sinh tôi. Tôi bồi hồi mà lo nghĩ
: Biết ngày nào mà Tăng già Việt Nam biết tự trọng mà thấy
cái địa vị “chúng trung tôn” của mình?! Tôi chắc
Pháp sư Trí Quang cũng đồng mối lo nghĩ ấy khi người biên
tập tập văn này!”
Đây
thật là những lời vàng tâm huyết thẳng thắn, vô cùng cảm
động thốt ra từ miệng của một chính tăng có lòng tôn
kinh Phật tuyệt đối và bảo vệ Phật tuyệt đối. Do có
tư tưởng chư đạo như vậy nên ngày từ những năm của
1930-1945 Ngài đã cùng các chư tăng tinh tấn đường thời
lao vào công cuộc chấn hưng Phật giáo làm nòng cốt thành
lập Hội Phật giáo Bắc Việt rồi đến năm 1947 thành lập
hội Tăng ni chỉnh lý Bắc Phần Việt nam rồi đến năm 1950
đồi thành hội Phật giáo tăng già Bắc Việt. Những việc
trên đều có sự góp công xứng đáng của Ngài. Rồi từ
Bắc phần các Ngài đã không từ nan lập mối quan hệ Phật
giáo ở 2 miền Trung-Nam để thành lập ra Hội Phật giáo Việt
Nam cho cả nước.
Chúng
ta biết bối cảnh xã hội nước ta thời đó là thời kỳ
của chiến tranh chống Pháp. Đất nước chia làm 2 vùng xen
kẽ địch, ta rất khó dung hoà cho Phật sự. Đứng ở bên
này thì bên kia chê, đứng ở bên kia thì bên này bài bác.
Vậy mà các Ngài vẫn kiên trì nhẫn nhục hành đạo. Không
bị chính quyền “tế nhị” lôi kéo, các Ngài chỉ có một
mục đích là khai phá ruộng tâm cho đồng bào để Phật tính
trong mỗi người được hé lộ dù người đó đứng ở vị
trí nào, phe phái nào. Và Ngài thường nói có Phật là có
hết người mà theo Phật là người biết hành xử đúng nhất,
dễ dàng đạt đến chân lý tối hậu của vũ trụ nhân sinh,
của thế giới đại đồng, thế giới Phật giáo đưa đất
nước đến đài vinh quang sanh vai cùng thế giới. Việc thống
nhất Phật giáo trong toàn quốc trong thời gian trụ trì của
Ngài như vậy đã là hoàn thành tuy chưa viên mãn nhưng cũng
đã đánh dâu một bước ngoặt làm cơ sở cho việc thành
lập Giáo Hội P.G.V.N như ngày nay.
Kết luận
Những
thập niên cuối đời, Hoà thượng Thích Tố Liên sống an
nhiên tự tại tại chùa Quán Sứ nơi mà cả quãng đời sôi
nổi nhất dũng tiến nhất của tuổi trẻ Ngài đã không ngừng
dấn thân cho sự đi lên của Phật giáo. Thời này, trí tuệ
Ngài vẫn còn như rất dồi dào tinh tấn, ý trí lục hoà vẫn
như rất sung sức nhưng cánh cửa Phật sự đã khép lại do
thời cuộc và cơ duyên không còn. Kinh vô ngã tướng Đức
Phật dạy:
“Không
phải là ta, không phải là tự ngã của ta
Sinh
đã diệt, phạm hạnh đã thành
Những
việc cần làm đã làm không còn lưu lại một cuộc đời
khác nữa.”
Quãng
đời sau của Hoà thượng đúng là vậy.
Ngài
thực đúng là con của Đức Phật, xứ giả của Như Lai vì
Ngài đã thâm nhập kinh tạng để có trí tụê như biển rồi
truyền lại cho đông đảo Phật tử như ngọn đèn vô tận
ngươi này thắp sáng cho người khác, khơi dạy Phật tính
trong mỗi con người để xã hội dần hết tham sân si, dần
hết tranh giành chiến tranh tàn khốc.
Nhớ
Ngài ta cũng đồng kính cẩn nhớ tới các đạo hữ cao tăng
chí thiết của Ngài trong một thời đã tạo nên lực lượng
hùng hậu, tạo vận hội cho Phật giáo trường tồn... Nhớ
Ngài, biết ơn Ngài trong cuộc hội thảo này chúng tôi nghĩ
không gì thiết thực hơn là thực hành những ý tưởng của
Ngài đối với Phật pháp từ cách đây 50 năm. Đã 50 năm
hay 1/2 thế kỷ nhưng những ý tưởng ấy hầu như vẫn còn
rất mới, rất phù hợp, rất khế lý, khế cơ với hiện
tại bây giờ. Đó là như Ngài nói trong buổi lễ suy tôn Pháp
chủ tháng 4/1951: “ ... Có người cho rằng bây giờ nhằm
đời mạt pháp còn làm sao chấn hưng Phật giáo được nữa”
nhưng ôi Phật pháp không có đời chính pháp, cũng không có
đời mạt pháp, đời nào trong Phật giáo có nhiều tăng ni
minh giới luật, đủ đạo đức là đời chính pháp, nếu
không thế là đời mạt Pháp...” và Ngài viết tiếp: “muốn
không mạt pháp thì cần khuyến khích chư tăng ni tu hành, sau
khi đức Phật đã thi tịch chư tăng ni cần phải thờ trai,
kính giới, minh định chúng tuệ mới gột rửa được đáy
lòng, như gương không bụi, như nước không sóng, tự mình
làm chân thân đức Phật chói lọi khắp thế gian này để
giác ngộ nhân sinh, tức là Phật pháp còn ở thế gian.”
Ý
tưởng thật bình dị mà cao cả. Tứ chúng đều có thể lĩnh
hội song đó cũng là mục tiêu xuyên suốt của lớp lớp đệ
tử Phật trong nước mắt và lâu đài từng từng thế kỷ.
Những con Phật hãy tiếp bước và dấn bước theo Ngài.
Cũng
nhân cuộc hội thảo này chúng tôi xin kiến nghị:
I.
Kính đề nghị: Giáo hội cho tái bản các cuốn:
1.
Ký sự đi thăm Ấn Độ và dự hội nghị Phật giáo thế
giới; Nhà xuất bản Đuốc Tuệ 1951.
2.
Tấm gương tam quy- Nhà xuất bản Đuốc Tuệ 1950
3.
Kỷ yếu suy tôn Pháp chủ – Nhà xuất bản Đuốc Tuệ 1951
II.
Kính đề nghị: Ban Hoằng Pháp Trung Ương Giáo Hội Phật giáo
Việt Nam tổ chức cho Tăng ni và Phật tử học những bài
viết của Hoà thượng trong kỷ yếu suy Tôn Pháp chủ và ký
sự vì đây là những kiến thức tư tưởng rất phong phú
rất thiết thực để mọi người tu học và thực hành.
Nam
mô thường tinh tấn Bồ Tát Ma Ha Tát
Hà
Nội, ngày 15/3/2007 - PL 2550
Phúc
Hải - N.Q.Cừ
Phật
Tử Việt Nam
04-02-2007
04:56:02