Hòa
thượng Thích Tố Liên là một vị danh tăng của Phật giáo
Việt Nam cận đại. Ngài không những có công trong phong trào
chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc, trong việc thành lập tổng
hội Phật giáo Việt nam trên toàn quốc mà còn có công trong
việc thành lập Hội Liên hữu Phật giáo thế giới. 30 năm
đã trôi qua kể từ khi ngài chích lý Tây quy. 30 năm ấy có
không biết bao nhiêu lâu đài ý thức hệ sinh ra rồi bị mất
đi, bị chôn vùi vào lớp bụi quên lãng của thời gian. Nhưng
nhân cách, vĩ nghiệp của ngài thì vẫn toả sáng trong lòng
những người con Phật. Do đó, hôm nay chúng ta có mặt ở
đây để cùng nhau ôn lại cuộc đời của ngài để từ đó
làm hành trang cho con đường hành đạo của chúng ta sau này.
Vì bài viết có hạn, người viết chỉ xin trình bày những
đóng góp của ngài trong quan hệ Phật giáo quốc tế mà cụ
thể là Hội nghị Phật giáo Thế giới tại Tích Lan năm 1950.
Trước
hết, ngài am tường lịch sử Phật giáo của nước mình nên
khi có người hỏi về lịch sử Phật giáo Việt nam, ngài
đã dẫn truyện của Pháp sư Đàm Thiên để trả lời. Qua
đó khẳng định rằng Phật giáo Việt nam được du nhập
trực tiếp từ Ấn độ và phát triển sớm hơn cả Phật
giáo Trung quốc. Hiểu rõ lịch sử Phật giáo nước nhà hết
sức quan trọng trong vấn đề giao tiếp với Phật giáo các
nước. Muốn biết người trước hết phải biết ta. Ngài
am hiểu lịch sử Phật giáo Việt nam nhưng lại mong muốn
tìm hiểu Phật giáo các nước. Đi đến đâu ngài cũng đặt
vấn đề mua kinh sách lên hàng đầu và kế đó là tìm hiểu
lịch sử cũng như tình hình Phật giáo nước sở tại. Tìm
hiểu bằng mắt thấy tai nghe. Có như thế mới thấy được
những điểm tương đồng và dị biệt, những ưu điểm cần
học hỏi và những khuyết điểm cần phải tránh. Có như
thế mới đem lại lợi ích thiết thực trong việc giao lưu
Phật giáo quốc tế.
Kế
đến phải nói đến tính nguyên tắc của ngài. Khi tham dự
Hội nghị Phật giáo Thế giới tại Tích Lan, Hội nghị đã
chỉ định vị chủ toạ và thư ký. Ngài thẳng thắn phản
đối cách làm này. Ngài trình bày quan điểm của mình mà
không sợ mất lòng rằng chủ toạ và thư ký Hội nghị đúng
ra phải để các đại biểu tham dự Hội nghị đề cử chứ
không nên lấy lý do là nước chủ nhà đứng ra tổ chức
nên chỉ định trước như thế. Làm như thế thì không những
không mang tính dân chủ mà cũng không mang tính hòa hợp trong
tăng đoàn của đức Phật. Tăng đoàn của đức Phật là
một đoàn thể hòa hợp từ trong tâm tư, trong hành động.
Muốn thế, tất cả những sự việc hệ trọng của tăng đoàn
phải được mọi thành viên của tăng đoàn tham gia và có
tiếng nói quyết định. Đề nghị của ngài không thay đổi
được cách áp đặt của Hội nghị nhưng ít nhiều các đại
biểu tham dự Hội nghị cũng có sự khâm phục đối với
ngài, với con người có sự hiểu biết và quan trọng hơn
là dám nói lên sự hiểu biết đó.
Cũng
qua Hội nghị này, người ta thấy được mẫu người của
ngài là một nhà thực tiễn chứ không phải là một nhà kinh
viện, lý luận suông. Khi thấy Hội nghị chỉ chú trọng đến
việc đọc các bài diễn văn của các đại biểu, ngài đã
thẳng thắn phê bình rằng cách làm đó không mang lại hiệu
quả thiết thực. Hội nghị chỉ nghe các đại biểu đọc
các bài tham luận thì chỉ tốn công vô ích. Ngài yêu cầu
phải hạn chế các bài tham luận và phải giành thời gian
thích đáng để các đại biểu chất vấn, thảo luận xung
quanh các bài tham luận đó. Có như thế thì mới tìm ra được
chỗ đúng sai của vấn đề và mới có thể đưa những ý
tưởng đó vào trong cuộc sống thực tiễn. Rất tiếc về
điểm này Hội nghị cũng không thực hiện được nhưng có
một điều, do những phát biểu mang tính chất xây dựng như
thế, Hội nghị thấy được tính tổ chức và thực tiễn
nơi ngài nên đã mời ngài vào tiểu ban soạn thảo hiến chương
và điều lệ của Hội. Đây là một tiểu ban quan trọng nhất
trong việc thành lập và quyết định sinh mạng của Hội về
sau này.
Cuối
cùng nhưng lại rất quan trọng đó là tinh thần dân tộc của
ngài. Trong Hội nghị có 26 phái đoàn tham dự thì phái đoàn
Phật giáo Việt nam bị ghép vào với phái đoàn Phật giáo
Lào và Cam Pu Chia, được gọi là phái đoàn Phật giáo liên
bang Đông dương và chỉ được công nhận một đại
biểu vào trong Đại Hội đồng Phật giáo Thế giới. Trong
khi phái đoàn Phật giáo của hai nước Lào và Cam Pu Chia im
lặng, chấp nhận quyết định của Hội nghị thì ngài kịch
liệt phản đối quyết định này và nói rõ rằng Việt nam
là một quốc gia độc lập nên phải có một đại biểu chính
thức trong Đại Hội đồng Phật giáo Thế giới. Lúc đầu
tiếng nói của ngài tuy có được một vài nước ủng hộ
nhưng chỉ là thiểu số, không được Hội nghị thông qua.
Cuối cùng ngài cương quyết tuyên bố rằng nếu Hội nghị
không công nhận Việt nam là một quốc gia độc lập và không
chấp nhận phái đoàn Phật giáo Việt nam có một đại biểu
độc lập trong Đại Hội đồng Phật giáo Thế giới thì
Phái đoàn Phật giáo Việt nam sẽ rút lui, không tham gia Hội
nghị. Khi ngài lên tiếng mạnh mẽ như vậy, Hội nghị lại
thảo luận và cuối cùng đồng ý công nhận Phái đoàn Phật
giáo Việt nam không nằm trong Liên bang Đông dương và được
cử một đại biểu chính thức tham gia vào Đại Hội đồng
Phật giáo Thế giới. Đây có lẽ là sự đấu tranh đầy
cam go của ngài tại Hội nghị. Mục đích không phải là làm
được thành viên chính thức trong Đại Hội đồng Phật giáo
Thế giới nhưng vấn đề quan trọng hơn ở chỗ nhìn nhận
độc lập và chủ quyền của dân tộc. Ngài tham dự Hội
nghị không phải chỉ với tư cách là một người Phật tử
mà còn với tư cách là công dân của một nước, đại diện
cho 18 triệu dân Việt (vào lúc bấy giờ).
Từ
đó, Phật giáo thế giới biết đến Phật giáo Việt nam qua
nhân cách, qua dũng khí của ngài: Một con người không những
am hiểu Phật giáo nước mình mà còn luôn tìm tòi học hỏi
Phật giáo các nước, một con người thông thạo về hành
chánh, tổ chức và đặc biệt là dám nói thẳng thắn trình
bày quan điểm của mình và cuối cùng hết là một người
Phật tử yêu nước, đặt niềm lợi ích của dân tộc lên
trên tất cả, yêu thương và cương quyết bảo vệ uy tín
của đất nước. Đây cũng là bài học cho chúng ta trong quan
hệ Phật giáo quốc tế ngày hôm nay./.
(Ủy
quyền Đại đức Thích Minh Hiền đọc trước Hội thảo)
Vĩnh
Nghiêm ngày 21 tháng 3 năm 2007
04-29-2007
04:56:02