Trong
những năm thập kỷ 20-30 của thế kỷ XX, phong trào chấn
hưng Phật giáo được lan rộng tỏa khắp 3 miền Bắc, Trung,
Nam. Tại Bắc Kỳ, nhiều bậc Thiền gia kỳ túc xuất hiện,
đồng lòng chung sức tất cả vì mục đích “Chấn hưng Phật
giáo, thống lý đại chúng” như Tổ thiền gia Pháp chủ -
Thích Thanh Hanh, Tổ Trung Hậu - Thích Thanh Ất, Tổ Bằng Sở
- Thích Chân Như (Phan Trung Thứ), Tổ Thượng thủ - Tuệ Tạng.
Các ngài như những ngôi sao sáng xuất hiện trên bầu trời
đêm tối. Bên cạnh đó còn có các bậc Thượng tọa nổi
bật xuất chúng là những vị tăng trẻ đầy nhiệt tình cùng
chung tâm nguyện hoài bão với các bậc kỳ túc trưởng lão
bề trên, nổi bật đó là Thượng tọa Tố Liên, Thượng
tọa Trí Hải, v.v...
Năm
2006, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hòa thượng Thích
Trí Hải, Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã kết hợp cùng Phân
viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội tổ chức
Hội thảo khoa học “Sa môn Thích Trí Hải với phong trào
chấn hưng Phật giáo thế kỷ XX”, mục đích của hội thảo
này nhằm tôn vinh và đánh giá đúng chân giá trị công đức
của Ngài đã đóng góp cho đạo pháp và dân tộc. Nếu như
chúng ta tưởng niệm Hòa thượng Thích Trí Hải mà chưa hoặc
không tưởng niệm Hòa thượng Thích Tố Liên - một nhà hoạt
động song hành cho công cuộc xây dựng Phật giáo Việt Nam
và Phật giáo quốc tế thì quả thật là một thiếu sót lớn.
May thay, điều đó không xảy ra. Hôm nay, ngày 30/3/2007 (nhằm
ngày 12/2 Đinh Hợi), nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày lễ húy
nhật của Hòa thượng Thích Tố Liên, tại ngôi chùa Quán
Sứ cổ kính đã từng chứng kiến bao sự kiện trọng đại
của Phật giáo Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam tại Hà Nội, phối hợp với Viện Nghiên cứu Tôn
giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), Tổ đình Hương Tích,
và Tạp chí Văn hóa Phật giáo tổ chức hội thảo khoa học
“Hòa thượng Tố Liên (1903 - 1977) trong sự nghiệp xây dựng
Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới”. Đó là việc
làm hết sức quan trọng trong ý nghĩa “Tri ân, báo ân” của
người Phật tử làm sống dậy hai nhân vật lịch sử Phật
giáo của thế kỷ XX mà đến nay vẫn còn lưu truyền trong
nhân dân và Phật tử câu ca ngợi “Thuyết pháp Tố Liên,
làm tiền Trí Hải”.
Hòa
thượng Thích Tố Liên họ Nguyễn, pháp húy Thanh Lai, sinh năm
Quý Mão (1903), người làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên, tỉnh
Hà Đông, nay thuộc phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội. Ngài sinh ra trong một gia đình Nho giáo kính tín Tam
Bảo, với thiện căn sẵn có từ nhiều đời, nên ngài được
nhập Thiền môn từ khi tuổi mới 13, là đệ tử sư tổ Thích
Trí Tích - đời thứ 9 trụ trì Hương Tích - Thiên Trù. Hòa
thượng được nghiệp sư dạy bảo và cho theo học các tổ
đình Đào Xuyên, Bằng Sở (Hà Nội), Tế Xuyên (Hà Nam), Vĩnh
Nghiêm (Bắc Giang). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của nhân
dân, Phật tử, Ngài đã trụ trì các Tổ đình đại danh thắng
như Côn Sơn, Thanh Mai, Quỳnh Chân. Chính từ những nơi “địa
linh” này đã hun đúc, đào tạo cho Phật giáo “bậc nhân
kiệt” làm tùng lâm thạch trụ sau nhiều năm nghiêm thân
tiến đạo, giới đức trang nghiêm, dùi mài kiến thức Nho
học. Nhận lời thỉnh cầu của Hòa thượng Thích Trí Hải,
Hòa thượng Thích Tố Liên đã giao lại công việc trụ trì
cho đệ tử, trở về Hà Nội kề vai sát cánh cùng Hòa thượng
Thích Trí Hải và các bậc trưởng lão để chấn hưng Phật
giáo. Vì nhận thấy Phật pháp suy vi, giới luật Tăng già
lỏng lẻo, hầu hết chỉ như những thầy cúng chuyên đàn
tràng, lễ lạy để mưu sinh, nam nữ xuất gia không được
học hành, Phật tử không hiểu giáo lý. Với tâm niệm đó,
Ngài muốn canh tân Phật giáo trước nhất phải cải cách
giáo dục trong việc đào tạo tăng tài cũng như xây dựng
mô hình gia đình Phật tử theo đề tài “Phật hóa Phổ”.
Tuy
hằng ngày công việc Phật sự đối nội, đối ngoại rất
đa đoan bề bộn trăm công nghìn việc của một người lãnh
đạo Phật giáo, nhưng lúc nào Ngài cũng dành thời gian cho
việc đào tạo tăng tài với cương vị giáo thọ của trường
Phật học Quán Sứ, Bồ Đề, Vân Hồ... Tác giả Nguyễn Lang
trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận đã nhận xét về
công việc giáo dục tăng ni và hoằng dương chính pháp của
Ngài với những dòng khái quát nổi bật “... từ Côn Sơn
về để cộng tác với hội Bắc kỳ phật giáo, ông đã đóng
góp rất nhiều cho Phật học đường Quán Sứ và cho những
hoạt động xã hội và văn hóa của hội... ông để tâm rất
nhiều đến việc đào tạo tăng tài và thiết lập những
cơ sở văn hóa về giáo dục cho xã hội”.
Riêng
tôi có diễm phúc được thị giả bên Ngài những năm tháng
cuối cùng (các năm 1976, 1977) khi còn là học Tăng của trường
tu học Phật pháp Trung ương. Tuy thời gian không lâu, nhưng
đức hạnh của Ngài đã tác động lớn đến bước đường
tu học và hành đạo của tôi. Ngài là ngôi sao sáng về giới
đức trang nghiêm, là nhà giáo dục mô phạm vì sự nghiệp
hoằng truyền chính pháp, đào tạo tăng tài.
1.
Giới đức trang nghiêm: Các bậc cao tăng đương thời
cũng như các vị xuất gia, hay tại gia khi được theo Ngài
tu học hay chỉ một lần diện kiến đều khởi tâm kính ngưỡng
trước nét mặt uy nghiêm, nhưng hiền từ khả kính toát ra
từ giới đức thanh cao của bậc cao tăng nghiêm trì giới
luật. Mỗi bước đi, lời nói, cử chỉ là một bài học
cho hậu thế. Hình ảnh Thượng tọa Duy Na đại giới đàn
Quán Sứ năm 1939 luôn được Hòa thượng Thích Tâm Tịch,
Hòa thượng Thích Tâm Nguyện ôn lại và sách tấn học tăng
với lời kể đầy kỷ niệm và trân trọng, tán thán: “Giới
đàn năm 1939 là giới đàn lớn và quy mô nhất của Phật
giáo Bắc kỳ, các giới tử chúng tôi tất cả phải tập
trung về chùa Quán Sứ lễ sám hối 21 ngày, mỗi ngày 3 thời.
Tuy công việc Phật sự bề bộn, nào lo tổ chức chuẩn bị
giới đàn, nào lo đón tiếp các bậc danh tăng tổ đức giới
sư của giới đàn từ các tỉnh Bắc Kỳ về, nhưng hòa thượng
Tố Liên vẫn đích thân làm chủ sám các thời khóa, hướng
dẫn các giới tử lễ sám hối. Giảng dạy giới luật căn
bản và những điều cần thiết cho giới tử khi nhập đàn.
Sau khi lễ sám xong, giới tử đến trước Phật điện bốc
thăm để xếp thứ tự trong giới đàn và nhận pháp danh.
Giới đàn trang nghiêm, cẩn trọng lắm”. Vì theo giới luật
giới tử đắc giới cần ba yếu tố: đàn tràng trang nghiêm,
giới sư thanh tịnh, giới tử chí thành. Đó là một trong
những đức hạnh cao cả vì hậu côn của hòa thượng mà
sau này mỗi năm Thành hội Phật giáo Hà Nội tổ chức giới
đàn, chúng tôi cũng noi gương đức hạnh đó, phát tâm dẫn
dắt giới tử lễ sám hối.
Những
năm tháng cuối cùng, tuy tuổi cao sức yếu nhưng Ngài không
sao nhãng việc hành trì lễ tụng thường nhật. Hằng sáng
thiền hành mỗi khi ra khỏi phòng Ngài đều y áo chỉnh tề,
khi qua tổ đường bao giờ cũng cúi đầu và bái tổ. Những
hình ảnh đó vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Một hôm
chúng tôi cùng thầy Quảng Tùng, thầy Thanh Hưng đi qua cửa
phòng, được Hòa thượng gọi vào uống trà, căn dặn giữ
gìn 3 nghiệp thanh tịnh tu tập: “Tăng ni theo Phật lấy việc
giữ giới làm đầu, những uy nghi tế hạnh cũng không bao
giờ được lơ là, người đời nhìn hình ảnh tăng tức là
hình ảnh của Phật giáo, các sư ông nên biết người
tu luôn luôn có tướng khác người lắm, nhất là khuôn mặt
đã đượm màu tương cà, dù ăn mặc thế nào người tu cũng
bị người đời phát hiện, nên không ai được trá hình ra
ngoài phố chơi nhé”. Chúng tôi ngồi đó hầu chuyện, được
nghe Ngài dạy qua các câu chuyện rất chân thành, mộc mạc
mà là cả một bài pháp vi diệu, hữu ích, không biết chán
mỏi mệt đến khi nghe chuông báo giờ niệm Phật mới tạm
biệt.
2.
Một sứ giả của Như Lai trong sự nghiệp đào tạo tăng
tài,
hoằng
pháp lợi sinh
Trong
những năm nửa đầu thế kỷ XX khi mà Nho học còn phổ biến,
Hòa thượng Thích Tố Liên, Hòa thượng Trí Hải đã chủ
trương canh tân giáo dục, Việt hoá kinh điển. Ngài đã biên
soạn nhiều kinh luật luận ra tiếng Việt thay cho lối dạy
cũ tầm chương trích cú, “chi: chưng; bất: chẳng”. Đêm
đêm, dưới ngọn bạch lạp, Hòa thượng soạn giáo án, in
phát cho học tăng học tập. Ngài chăm lo cho tăng chúng nơi
ăn chốn ở, học hành giảng dạy không việc gì không để
tâm.
Bằng
thân giáo, khẩu giáo, ý giáo, học tăng lúc đó rất kính
trọng và hoan hỷ học Ngài. Hòa thượng Thích Thanh Chỉnh
kể: Một năm, tiết trời rất lạnh, mấy ngày tết người
(H.T Thanh Chỉnh) ngủ dậy muộn, người thăm hỏi người thân,
Phật tử không theo nề nếp thiền môn, Hòa thượng Tố Liên
biết, thay vì quát mắng, Ngài chỉ ôn tồn mấy câu: “Thôi
nhé hôm nay vui tết thế là đủ rồi, từ mai lập lại thời
khóa, tu tập như thường nhật, các thầy phải để tâm học
tập, giữ giới luật, nghiêm chỉnh uy nghi”. Chỉ mấy câu
như vậy, mà từ đó không ai dám sao nhãng. Ngài thường lui
tới tăng phòng khuyến tấn tăng chúng mỗi khi có việc bất
hòa hay trễ nải tu tập, thăm hỏi những ai đau yếu và nhắc
nhở vị “khám bệnh” chăm sóc thuốc thang. Thật vĩ đại
thay bậc thầy! Câu chuyện kể trên để lại cho hậu thế
như một công án cho người làm giáo dục.
Hòa
thượng Tố Liên không những chú trọng đào tạo tăng tài
mà còn luôn luôn để tâm đến việc hoằng pháp nhằm phổ
cập giáo lý cho Phật tử. Thời đó, Giáo hội đã thành lập
giảng sư đoàn để cử đến các pháp hội kết hợp cùng
ban nghi lễ: vừa ứng cúng, vừa thuyết pháp. Ngài nhận thấy
thời nay tăng ni Phật tử tụng kinh phần lớn không hiểu
được ý nghĩa lễ Phật tụng kinh vì kinh điển viết toàn
bằng chữ Hán. Ngài đã biên soạn tác phẩm “Sự lý lễ
tụng”. Đó là một trong các tác phẩm dành cho người tu
học hiểu được sự lý viên dung của giáo lý Phật. “Nội
dung trong cuốn Sự lý lễ tụng này, Bần tăng đã cố gắng
tìm những sự lý của Phật tổ dạy về lễ tụng ra mà bàn
góp ở các bài chú thích, mong cống hiến các quý đạo hữu
một phương châm lễ tụng, làm sao cho phù hợp nghi thức đem
tam nghiệp, lục căn cúng dàng Tam Bảo làm cốt tuỷ trong sự
lễ tụng như thế mới gọi là SỰ LỄ TỤNG. Trong khi lễ
tụng mà thấy được đạo cảm ứng giữa tâm mình với Tam
Bảo thì đấy mới đến được LÝ LỄ TỤNG. Hễ mà theo
được đầy đủ phần sự thì phần lý ở ngay phần sự
mà sinh ra, thế gọi là SỰ LÝ VIÊN DUNG. (Trích lời nói đầu
Sự lý lễ tụng).
Tác
giả Nguyễn Lang trong tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận”
đã viết: “Ông để tâm rất nhiều đến việc đào tạo
tăng tài và thiết lập những cơ sở văn hóa về giáo dục
cho xã hội. Ông chuyên viết bài giảng phổ thông về Phật
học để nhà in Đuốc Tuệ ấn hành”.
Cũng
chính xuất phát từ tư tưởng Việt hoá, phổ cập giáo lý,
nên tại chùa Quán Sứ thay vì câu đối đại tự chữ Hán
như các chùa khác, Ngài đã dùng toàn bằng tiếng Việt để
người đọc dễ hiểu, dễ nhớ. Mỗi câu đối như một bài
pháp cho người đến chùa được học.
Ví
dụ: Vừa bước chân vào cổng chùa, chúng ta đã thấy đôi
câu đối khuyên hành giả sớm nhận ra cuộc đời là giả
tạo như giấc mộng chiêm bao, hãy nương vào tam vô lậu học,
đoạn trừ tham sân si để được giải thoát:
Kịch
trần duyên một giấc vàng, giới định tuệ sớm tu nhân thành
Phật
Tranh
thế sự trăm năm bạc, tham sân si sau mang nghiệp vào thân.
Nhưng
tại giảng đường lại khuyên người Phật tử phải tu phúc
và tu tuệ như hai việc làm song song không thể thiếu một
“phúc tuệ song tu”.
Lễ
Phật sám hối tà tâm trừ ác nghiệp, cơ cầu bồi cõi phúc
Nghe
pháp hiểu minh chính nghĩa làm nhân duyên, công đức đóng
bè từ.
Tại
tổ đường, Ngài khuyến tấn tăng ni noi gương tổ đức truyền
trì mạng mạch kế vãng khai lai:
Kế
truyền Phật Tổ gia phong, đấng tiên tiến đã nêu cao gương
giác thế
Chấn
hưng Thánh Hiền sự nghiệp, bậc hậu côn lại khêu tỏ đuốc
độ nhân.
Đó
là một trong hàng trăm câu đối được Ngài biên soạn mà
chúng tôi tâm đắc, phần nào phản ánh tâm tư nguyện vọng
của Hòa thượng Tố Liên trong hoài bão “Hoằng pháp
vi gia vụ, độ sinh vi sự nghiệp” của Ngài. Không
chỉ trên giảng đường hay nơi Pháp tòa, bất cứ chỗ nào
Ngài cũng phổ cập giáo lý phổ thông cho người tu học dễ
hiểu, dễ tu.
Xin
trân trọng trích lục ba đôi câu đối trên thay cho lời kết
của bài viết này.
04-29-2007
04:56:02