THAY
LỜI TỰA
Mẹ
tôi có ba người con : Con trai lớn là Huỳnh lê Tiến,
cô gái út là Huỳnh thị Mỹ Dung, tức văn sĩ Huỳnh Dung,
và chúng tôi là Huỳnh trung Chánh. Trong ba anh em, nếu kể
đến lòng hiếu thảo và thương yêu mãnh liệt có lẽ
tôi không sánh bằng anh em tôi, nhưng tôi là đứa con có
cơ duyên gần gũi với bà, chia sẽ đắng cay với bà
vào những giây phút hiểm nguy trên cuộc đời như lần
đi xuồng chèo trên giòng Cửu Long giữa cơn binh lửa
từ Trà Vinh về Cao Lãnh năm 1945, lần gay go vượt biển
đến trại tị nạn Mã Lai năm1977, và lần cuối cùng
đưa bà rời cõi Ta Bà đầy khổ lụy nầy. Tôi cũng
là đứa con thích cười giỡn với bà, ngắm nhìn bà
và thường lắng nghe bà thổ lộ chuyện ngày xưa. Nhờ
vậy, giờ đây những kỹ niệm thân thương đó mới
có thể tự động tuần tự hiện về, để cô đọng
thành những giòng cảm niệm cho tập sách mỏng manh nầy.
Đối
với người Việt Nam chúng ta, bà mẹ nào cũng là suối
nguồn của tình thương, bao dung chở che con cháu như trời
cao biển rộng, ngọt ngào đậm đà như “chuối ba hương,
như xôi nếp một, như đường mía lau...”
Riêng
tôi, một hôm ngắm nhìn mẹ, tôi bỗng khám phá rằng
mẹ tôi chính thực là một “Quan Thế Âm Bồ Tát”,
người lúc nào cũng thường trực nghe ngóng theo dõi
từng đứa con, đứa cháu cùng bao kẻ thân sơ khác để
sẵn sàng xả thân mình chở che, chăm sóc mọi người.
(Tôi đã viết truyện ngắn hư cấu tựa đề “Quan
Âm tóc rối” dựa vào cảm xúc nầy)
Tóm
lại, với tôi mẹ là tất cả, dẫu có thời giờ tôi
cũng không đủ khả năng, ngôn từ để mô tả tấm lòng
bao la của mẹ, huống vì trong phạm vi ngắn ngủi của phần
Thay Lời Tựa nầy, nên tôi chỉ xin trích sơ lược vài
đặc điểm của bà như dưới đây :
Mẹ
tuân lệnh nghiêm đường lập gia đình năm 19 tuổi, chồng
vĩnh viễn ra đi năm 29 tuổi, ở lứa tuổi nhan sắc
vẫn mặn mà, bao người rấp tâm tán tỉnh, mà mẹ tôi
vẫn tạc lòng tạc dạ, thờ chồng nuôi con. Lòng thủy
chung chân chất của bà lúc nào cũng bền bĩ không phai,
cho dù đến khi tuổi đã gần 90 bà vẫn yêu chồng
tha thiết đậm đà như xưa. Vào tuổi nầy, tuy đầu
óc đã lẫn quên nhiều, nhưng ký ức về thời gian
trẻ thơ, kỹ niệm những ngày chung sống với chồng,
lễ vấn danh, lễ cưới... thì bà vẫn nhớ từng chi
tiết nhỏ. Mắt bà vẫn sáng ngời, tràn ngập hạnh
phúc mỗi khi kể tôi nghe chuỗi ngày xưa ấm êm ấy.
Có lần bà nói nhỏ với tôi : “Má có bài thơ nầy
viết về ba, con nên ghi lại kỹ niệm”. Rồi
bà chậm chậm đọc cho tôi chép trọn bài thơ ba mươi
hai câu. Tôi xin trích ra bốn câu kết như sau :
Anh
hãy chờ em chốn cữu tuyền
Cùng
nhau dìu dắt đến cung thiên
Nơi
miền Tiên cảnh lòng vui thỏa
Đây
chốn nghìn thu giấc ngủ yên.
Bài
thơ thương nhớ chồng mong tái ngộ với chồng ở suối
vàng nầy bà sáng tác vào năm 44 tuổi mà đến khi
88 tuổi bà vẫn còn nhớ rõ, đúng là mối tình chung
thủy vĩnh viễn không phai. (Điều kỳ lạ là bà đã
sáng tác hơn trăm bài thơ, tôi đánh máy in thành tập
để bà tặng thân hữu, nhưng bà quên tuốt luốt không
nhớ bài nào khác, kể cả chuyện in sách nữa.)
Lòng
hiếu thảo của mẹ tôi cũng cao cả hiếm có. Trong thời
chiến tranh, khi hoa lợi ruộng vườn yếu kém, ông bà
ngoại tôi già yếu bệnh hoạn triền miên, cần có đứa
con sớm hôm gần gũi. Chị em không ai đáp ứng được,
nên mẹ tôi quyết định hi sinh về quê báo hiếu mẹ cha
ròng rã hơn mười năm trời. Trong thời gian nầy, mẹ
tôi phải gánh chịu bao nỗi nhọc nhằn gian khổ khi bà
ngoại bị bệnh liệt giường đến ba năm, ông ngoại cũng
nằm một chỗ đến sáu tháng, mà mẹ vẫn không tiếng
thở than trách móc chị em. Ông bà ngoại từ trần, mẹ
tôi hoan hỷ bàn giao tất cả tài sản của ngoại cho người
chị, rồi về Saigon hẩm hiu sống với đám con.
Tôi
không có thời giờ kể lể dài dòng về lòng tận
tụy hi sinh của bà đối với con cháu, chỉ xin nhắc lại
một điều là, với ai, dù thân hay sơ mẹ tôi đều đối
xử ngọt ngào đầy ấp tình thương, đến nỗi sau ba
mươi năm mất liên lạc, mà cô Nguyễn thị Rê người
làm công năm xưa vẫn cảm động rưng rưng nước mắt
khi nhắc về bà, và tôn xưng bà là bậc có hạnh Bồ
Tát.
Năm
sau cùng nầy, sức khỏe của mẹ tôi suy sụp nhanh chóng.
Thú thật là có nhiều lúc, tôi tự cảm thấy xấu
hỗ vì nghĩ mình chưa lo cho mẹ vuông tròn như lòng mong
muốn. Niềm an ủi lớn lao của tôi, là mẹ tôi biết
thành tâm “Niệm Phật”. Mẹ con chúng tôi ước nguyện
sẽ gặp lại nhau ở cõi Phật, nên dù bệnh hoạn yếu
đuối như thế nào, mẹ con chúng tôi cũng cùng Niệm
Phật với nhau. Ngày 18.05.2007, mẹ tôi yếu lắm không
nói nổi lời nào, vậy mà, trong khi ngồi cạnh bà Niệm
Phật, mấy lần tôi lắng nghe được tiếng thì thào
của bà Niệm Phật theo tôi. Hôm sau thì bà lìa trần
nhẹ nhàng ngủ yên trong tư thế ngồi dựa. Sau tám giờ
hộ niệm, theo ni sư Như Phương và nhận xét riêng tôi
thì mặt bà vẫn tươi nhuận, lưỡi bà có phần tươi
hơn, và khi nhà quàn cho bà nằm xuống để chuyển đi,
thân thể vẫn mềm mại bình thường.
Sau
đó, hằng ngày trước bàn thờ bà, tôi vẫn “động
viên” bà : “Má ơi! Giờ nầy dù má đã hay đang về
cõi Phật, xin má thương con tiếp tục Niệm Phật nghen
má. Má Niệm Phật cho má mà cũng Niệm Phật để
ủng hộ con nữa, thì mới mong mẹ con mình cùng sanh về
cõi Phật!”
Trong
khi thỏ thẻ với bà, vào ngày thứ hai sau khi bà lìa
đời, tôi bỗng cảm ứng ra một bài kệ nôm na, mà
bạn đọc có thể đánh giá như là một bài thơ con
cóc ngô nghê. Riêng tôi khi đọc tụng bài kệ nầy, tôi
cảm thấy lòng mình ấm áp, tràn ngập thương yêu và
niềm tin, nên xin ghi lại để cống hiến quý đọc giả
:
Má
thương con thì má Niệm Phật
Con
thương má thì con Niệm Phật
Mẹ
con mình đồng Niệm Phật
Nam
mô A Di Đà Phật
Nam
mô A Di Đà Phật
Nam
mô A Di Đà Phật
Tôi
hy vọng bạn đọc nào có hoàn cảnh tương tợ như tôi
xử dụng bài kệ nầy trao cho thân nhân cũng đón nhận
mối giao cảm sâu xa của người mình thương như tôi vậy.
Mẹ
lìa trần tuy mất mát, nhưng tôi không buồn.Thật ra thì
tôi rất hoan hỷ, hoan hỷ vì tin tưởng rằng mẹ tôi không
bao giờ chết cả, và như hai mẹ con tôi đã ước hẹn
với nhau, chúng tôi sẽ còn gặp lại nhau nơi cõi Phật.
-oOo-
Trên
đây chỉ là vài nét phát họa về mẹ trong tập cảm
niệm. Tập sách nầy gồm bốn bút ký viết rải rác
từ năm 2003 đến nay : Tản mạn về Cần Thơ, Ngày
tháng già nua, Sống bù cho con và Năm tháng cuối đời,
nội dung là những mẩu chuyện chấp nối ghi lại vài
hình ảnh sống thực của mẹ tôi ngày xa xưa cho đến
khi từ giả cõi Ta bà.
Tản
mạn về Cần Thơ 
Sanh
trưởng tại vùng đồng bằng sông ngòi chằn chịt, chưa
bập bẹ “i tờ” đã lặn ngụp tắm sông, mối tình
sông nước đã man man đeo đẳng tôi ra tận xứ người.
Lái xe qua cây cầu nào, tôi cũng rộn ràng ngắm nhìn
thật kỹ giòng sông, để rồi chỉ ngậm ngùi khám phá
rằng sông nước ở đây nó chẳng dính líu gì đến
niềm thương nỗi nhớ của mình. Tôi lại định cư tại
vùng sa mạc khô cằn thuộc tiểu bang Arizona, nơi cũng
có nhiều cây cầu khang trang và dài như cầu Tân An hay
Bến Lức, bờ sông cẩn đá, lòng sông nông cạn nhưng
khá rộng được khéo léo trải từng lớp sỏi to cỡ
trái xoài tượng, gọn gàng, sạch sẽ, và dĩ nhiên chẳng
hề có chút sình non hay rác rến. Chuyện nghịch đời
là con sông đó suốt năm khô khan chỉ mấy ngày mới
có lạch nước nhỏ ri rỉ chảy, sông rạch thiếu nước,
dù tô điểm cách nào nó cũng vô duyên trơ trẻn mà
thôi. Muốn tìm ra một giòng sông đúng nghĩa tôi phải
đi sang tiểu bang khác. Tôi có dịp viếng vài giòng sông
nổi tiếng như American River, Sacramento River tại Bắc Cali,
Mississipi River tại các tiểu bang miền Trung, nhưng chưa có
nơi nào so sánh nổi với giòng Cửu Long mông mênh tình
tứ cả. Nhân một chuyến nghỉ hè tại phố biển Corpus
Christi, Texas, vô tình chúng tôi khám phá bến phà Aransas
Pass đưa sang đảo Padre, bèn đi cho biết. Chiếc phà hùng
vĩ nuốt chửng gần hai mươi chiếc xe, chạy phất phới,
nên tuy khoảng đường biển dài gấp đôi Bắc Vàm Cống,
thời gian di chuyển chỉ độ chừng 30 phút mà thôi. Tôi
đậu xe, ra đứng tại đầu phà, ngắm trời mây bao la,
đón làn gió mát, nhìn chiếc phà rẽ sóng tung toé...
bất chợt tôi có cảm giác như mình đang bồng bềnh
trên giòng Cửu Long ngày nào : thương nhớ vô vàng. Anh
Huy, bạn tôi bỗng cất giọng thảm sầu : “Trời ơi!
cảnh nầy sao quen thuộc quá! nó khiến tôi nhớ Bắc
Cần Thơ điên cuồng, anh ạ!” Tôi nghe ba chữ “Bắc
Cần Thơ” bỗng xúc động lặng người, gắng gượng
lắm tôi mới đáp nho nhỏ qua tiếng thở dài : “Ừa
thì tôi cũng nhớ Cần Thơ tha thiết, chẳng thua anh bao
nhiêu đâu?” Anh bạn chẳng tin tí nào. Tôi đâu phải là
dân Cần Thơ, thì làm sao có thể thương Cần Thơ bằng
anh cho được.
Thân
hữu không mấy người biết, thuở ấu thơ tôi đã có thời
sống tại Cần Thơ hai năm, và cũng không ai ngờ rằng đã
qua bao năm tháng dài, mà tình cảm của tôi đối với Cần
Thơ vẫn thắm thiết đậm đà. Gia đình tôi đã trôi giạt
đến Cần Thơ vào năm 1948, tương tợ như một về lục bình
trôi lang thang theo giòng nước rồi bị xô đẩy tắp vô một
bờ bến lạ vào một đêm tối tăm mù mịt. Chới với, ngỡ
ngàng…
Duyên
cớ nào đã đưa đẩy chúng tôi lạc lõng đến Cần Thơ vào
thời điểm nầy là một chuyện dài, khởi đầu với cảnh
đất nước loạn ly tan tóc… Thật vậy, nếu khói lửa chiến
chinh vào mùa thu năm 1945 không lan dần đến quê hương tôi,
một hòn cù lao nhỏ giữa giòng sông Cổ Chiên, thuộc xã Long
Hòa, tỉnh Trà Vinh, thì có lẽ gia đình tôi vẫn an phận với
nếp sống trầm lặng tại miền thôn dã. Thế nhưng, chiến
cuộc đã cướp mất tôi người cha, và mẹ tôi đành quyết
định bỏ nhà cửa ruộng vườn, gạt lệ dẫn con ra đi. Bà
đưa con tạm lánh về Mỏ Cày, Kiến Hòa, gởi anh tôi cho chị
chồng. Sau đó, cùng với chị bếp trung thành lãnh phần bơi
mũi, bà thuê chiếc xuồng và một người bạn chèo - người
chèo thuê, nhưng mẹ tôi gọi là bạn chèo, đúng không
tôi chẳng rõ - đi ngược giòng sông Tiền, đưa hai đứa
con nhỏ về quê ngoại tại Cao Lãnh nương náo. Lộ trình đi
thập phần nguy hiểm. Tiếng súng ngày đêm vẫn vang rền,
sông Cửu Long mênh mông sóng gió chập chùng, nhưng mẹ tôi
vẫn nhất quyết đưa chiếc thuyền con lầm lì len lỏi
giữa làn súng đạn của hai phe, như là chuyện thường trực
liều lĩnh thách thức với tử thần. Ngày nào, trên giòng
sông cũng có vài mươi xác chết sình chương, mà người ta
gọi là “thằng chổng” trôi dập dìu. Nạn nhân có thể
là kẻ bị Tây nghi ngờ là Việt Minh, nên xử bắn rồi đạp
xác xuống sông, hoặc cũng có thể là kẻ bị kháng chiến
tình nghi là thành phần “Việt gian”, trói bỏ vào bao bố
kèm với viên đá nặng thả xuống sông cho “mò tôm”. Nguy
hiểm hơn nữa, là những nút “kiểm soát” được đặt
đầy dẫy khắp nơi, mà ranh giới không rõ rệt, nếu bị
chận hỏi mà trả lời lợn cợn thì mất mạng như chơi.
Có một lần một dân quân Việt Minh chận xét thấy trong mớ
chỉ thêu của mẹ tôi có rất nhiều màu, trong đó có ba màu
xanh trắng đỏ, mà ba màu nầy hợp lại thành màu cờ nước
Pháp. Thế rồi, anh ta lên án mẹ tôi là Việt gian, tịch thu
chỉ thêu và bắt mẹ tôi dẫn đi trình với cấp trên.
Anh bạn chèo buột miệng : “Điệu nầy bả dám bị cho đi
mò tôm lắm à!”. Em tôi khóc ngất, tôi mới sáu tuổi song
cũng phải đóng vai anh dỗ em, nên không thể khóc. Khi mẹ
tôi được tha, em tôi mừng quá ôm chầm, càng khóc sướt
mướt hơn nữa. Anh bạn chèo, thấy tôi có vẻ vô tâm, sanh
lòng bất mãn phán cho một câu : “Thằng anh coi bộ ngu quá!
Má nó bị bắt nó không lo, má nó được tha nó chẳng mừng
tí nào!”. Cuối cùng rồi thì chúng tôi cũng về tới xã
Hòa An, Cao Lãnh, sống an lành trong vòng tay chở che của ngoại.
Tuy
nhiên, nỗi ưu tư lớn lao của mẹ tôi là tương lai của con,
bà không chấp nhận cảnh dốt nát thất học ở miền quê,
nên ở nhà ngoại chưa giáp năm, mẹ tôi lại dẫn con ra đi,
mong tìm chốn thị tứ có trường ốc cho con cái học hành.
Thế nhưng, với khả năng hạn hẹp của một thiếu phụ vốn
chỉ lúc thúc trong khuê phòng, thì sống chốn nào cũng khó
khăn chật vật, nên gia đình chúng tôi cứ phải thay đổi
chỗ ở liên miên, và do đó chuyện học hành của lũ con cũng
gián đoạn mãi… Một hôm, mẹ tôi nghe một người em họ
tên Nghiệp tán tụng Cần Thơ dễ sống, lại có trường Trung
Học Phan thanh Giản nổi tiếng. (Vào thời điểm nầy,
trọn miền Nam chỉ có Saigon và Cần Thơ là có trung học
công lập mà thôi.) Mặc dầu con cái mới bập bẹ “i
tờ”, mẹ tôi vốn thầm ao ước sẽ có ngày con mình
đặt chân vào ngưỡng cửa trung học, nên chẳng chút đắn
đo, bà hăm hở gom góp mớ vốn liếng cỏn con gồm vài món
nữ trang còn sót lại, một bàn máy may Singer, khuôn bánh kẹp,
khuôn bánh gai… rồi dẫn con đi lập nghiệp. Cậu Nghiệp
hướng dẫn mẹ tôi thuê một căn phố lợp lá, nền đất
tại một hẻm lầy lội thuộc vùng Cái Khế, cậu ở chơi
một tuần, rồi máu lang bạt kỳ hồ nổi dậy, cậu lại
ra đi, bỏ mặc chúng tôi ở lại với nỗi bỡ ngỡ, cô đơn,
lạc lõng ở xứ người. Trong nghề may, mẹ tôi là “tay ngang”
chỉ dám may quần áo cho con cái, nay bà đành bặm gan đi khắp
xóm lãnh may thuê với giá rẻ mạt. Bà cũng có mối lai rai,
khách hàng toàn là dân nghèo, chuộng giá rẻ hơn phẩm chất
nên phần đông dễ dãi, tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có người
sừng sộ chê áo quần hư hỏng, và mẹ tôi phải năn nỉ
xin hoàn lại tiền công để khỏi bị bồi thường. Bà cũng
trổ tài làm bánh kẹp, bánh gai, khuấy kẹo để bán. Tôi
“xung phong” xin mang thùng kẹo rao bán, kiếm ăn được,
ra quân lần đầu gặp một khách tặng cho một cắc,
vui quá đổi là vui. Mẹ tôi thì chẳng vui tí nào, bà
nhìn con quảy thùng kẹo với nỗi buồn hiu hắt, rồi
sau một đêm trằn trọc, bà nhất quyết chẳng cho tôi
tiếp tục theo đuổi “sự nghiệp” nầy nữa. Bà điều
đình với các quán xép trong xóm, và tại các trường
học để bán sỉ cho họ, kiếm lợi được bao nhiêu cũng
hài lòng. Nghề làm bánh kẹo coi bộ không khá, kẹo
dừa giá rẻ mạt lại dễ bị “lợi đường” lỗ vốn,
các loại bánh mắc tiền thì xóm nghèo không mấy ai hưởng
ứng, thành thử buôn bán ế ẩm và ngày qua ngày vốn liếng
của bà cứ mòn mỏi lần…
Căn
phố nhỏ bé nhưng đối với gia đình tôi thì rộng chán,
thừa chỗ cho một cái giường để mẹ con chui rúc với nhau,
cái bếp đặt dưới đất phải ngồi xổm nấu nướng, ngồi
xổm để ăn. Tôi nhớ dường như cửa sau không thông thương
nên dì Tám gánh nước và mấy con gà mẹ tôi nuôi sau nhà…
cũng ra vào bằng cửa trước như chúng tôi. Có mấy con gà
quanh quẩn cũng vui, nhà đất, tôi suốt ngày đi chân không
mà gà thì cũng vậy, có gì khác nhau đâu? Tôi hoàn toàn không
nhớ nổi nhu cầu vệ sinh đã giải quyết như thế nào, có
lẽ, thời đó chuyện nầy đối với đầu óc trẻ thơ thì
nó đơn giản, chớ đâu đòi hỏi phải sạch sẽ, tiện nghi
mà phải quan tâm.
Xóm
giềng mà tôi còn nhớ được là gia đình bác thợ mộc, bà
Hai bánh canh, dì Tám gánh nước mướn…, ai cũng tốt bụng
và dễ thương, nhưng đặc biệt tình nghĩa là gia đình chú
Chín Chỉnh, hành nghề đạp xe lôi ở căn nhà đối diện.
Chú thím Chín cảm thông hoàn cảnh đơn chiếc của mẹ tôi
nên thường giúp đỡ chúng tôi từ chuyện khiêng vác nặng
nhọc cho đến chuyện thiếu muỗng nước mắm, tép hành, tép
tỏi. Chiều chiều chú thường chở đám con trên xe lôi đi
hóng mát, đôi lần chú ngoắc tôi lại cho lên ngồi chung,
tạo cho tôi nguồn vui vô tận. Niềm vui đó, sau nầy dẫu
tôi ngồi trên chiếc xe hơi láng bóng nào cũng không sánh được.
Chú Chín có 4 con: anh Chung, chị Ba, chị Tư, và con bé Sáu
chừng 5 tuổi. Anh Chung lớn hơn tôi ba tuổi nhưng mới học
lớp hai, còn tôi đang học lớp ba trường Nam tiểu học, nhưng
tôi phục anh lắm. Tôi được anh dẫn đi bụi đời, la cà
ở các hàng quán, lượm bao thuốc hút, lượm nút chai… về
làm “tiền”, đôi khi, tôi len lén ngó trước ngó sau
rồi “ực” nhanh một ngụm nước ngọt thừa thãi của
một thực khách hào hoa nào đó, tuy có chút hổ thẹn
trong lòng, nhưng thật tình thì cũng ngon lành lắm. Thích
lêu lỏng mà không có anh, không dám la cà hàng quán, tôi
lang thang vào sân quần vợt mê mang nhìn những đứa bé
trạc tuổi tôi hành nghề lượm banh. Tôi thèm thuồng
cái nghề lượm banh vui nhộn mà lại có tiền quá chừng
hà!
Những
căn nhà sâu trong hẻm tôi không còn nhớ được ai, ngoại
trừ một cô gái mà tôi quên tuốt luốt vóc dáng và quần
áo của chị, nhưng bước chân rón rén tránh sình lầy thì
lại nhớ rất rõ, vì tôi thường chê đi như vậy chẳng vui,
phải lội sình, đá nước tung tóe như tôi mới thú vị. Chị
chưng diện như thế nào mà các bà đa sự trong xóm thường
háy nguýt phê phán là thứ gái lẳng lơ trắc nết, đôi khi
họ còn gọi chị là “con đĩ”, họ cấm con cái chào hỏi
chuyện trò. Tôi được “cố vấn tối cao” là anh Chung giải
nghĩa nên hiểu rõ ngành nghề nầy, nhưng tôi cũng nghe có
người kể rằng chị chu cấp phụng dưỡng mẹ chí hiếu,
nên tôi rất quí trọng chị. Niềm kính trọng đó vẫn tồn
tại mãi trong tôi, nên sau nầy, trong công việc hàng ngày
khi có dịp gần gũi với giới gái mãi dâm, tôi luôn đối
xử với họ như người em, người chị. Khi viết những truyện
ngắn có những nhân vật hành nghề nầy như truyện “Sen
Trắng”, truyện “Người đẹp thoảng hương sen”, tôi viết
về họ với tất cả niềm tôn kính trong lòng.
Ngoại
tôi quá lo lắng cho nếp sống bấp bênh của gia đình tôi,
nên khi tình hình an ninh tại vùng quê Cao Lãnh vừa vãn hồi,
ngoại liền ép buộc mẹ tôi về Hòa An chung sống chăm sóc
ông bà lúc tuổi già, phần con cái thì sẽ gởi tạm cho
thân nhân tại chợ Mỹ Trà để đi học. Lúc đó là mùa bãi
trường, tôi đã chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng theo mẹ
lên đường, nhưng mẹ tôi vẫn bám víu ước mơ có ngày
thằng con sẽ trúng tuyển vào trường trung học Cần
Thơ, nên đôn đáo tìm phương cách cho tôi ở lại. Cuối
cùng bà tìm ra được một người bà con nhơn đức, chịu
cho tôi ăn ở miễn phí một năm. Mẹ mang gởi tôi cho Ông
bà Tư, - Ông Tư là Cao văn Trương, cán sự Ty Địa Chánh,
bà Tư là bà con xa, trẻ tuổi hơn mẹ tôi, nhưng là vai dì
– rồi dẫn em tôi rời Cần Thơ lúc nào tôi chẳng biết.
Chừng sáu tháng sau, mẹ trở lại Cần Thơ thăm tôi, bà
chỉ ở chơi một ngày rồi ra đi. Sáng hôm đó, chú Chín Chỉnh
đến đón mẹ tôi đưa ra Bắc Cần Thơ, thấy tôi đứng xớ
rớ bên cạnh, chú ngoắc tôi cho đi theo. Đến nơi, chú ngừng
xe, mẹ tôi liếc nhìn tôi rồi quay mặt ngay để che dấu giọt
nước mắt vừa lăn tròn nơi khóe. Tôi thấy kịp nhưng gắng
nén lòng, lặng lẽ quan sát bà. Bà luống cuống xuống xe,
rồi hấp tấp bước nhanh xuống phà tránh không ngoảnh mặt
lại.
Ở
nhà Ông bà Tư tôi không còn thú vui bụi đời nữa, nhưng
lại có lắm bạn. Ở trường thì có “trò” Ngôn, ở nhà
thì có anh Đức, cháu Ông Tư, quê Bến Tre được Ông Tư đem
về nuôi cho ăn học. Rồi đến ngày tựu trường trung học,
có các anh Nguyễn lương Tri, Nguyễn lương Năng, Nguyễn nam
Thanh được cha mẹ gởi đến xin ở trọ. Anh Lương Năng kể
lể nỗi nghèo khó của bạn làTô Cang cho Ông bà Tư nghe, thế
là Ông bà lại mở rộng lòng cho anh Cang về ăn ở miễn phí.
Nhà đông rần rần, các bậc đàn anh bàn cãi suốt ngày toàn
chuyện quốc gia đại sự, nhen nhúm lòng yêu nước trong tôi.
Năm đó xảy ra vụ trò Ơn ở Saigon, học sinh Trung Học Cần
Thơ biểu tình rồi bãi khóa. Anh Lương Năng và Tô Cang vô
bưng, anh Lương Tri về Mỹ Tho với gia đình, anh Nam Thanh bị
tống đi du học trời Tây. Căn nhà lại vắng lặng như cũ.
Niên
học trôi qua thật nhanh, lần nầy mẹ con tôi đành dẹp
bỏ ước mơ trung học, bà đem tôi về Cao Lãnh sinh sống.
Tôi rời Cần Thơ trong niềm tiếc nuối, ước mong có ngày
sẽ trở về thăm chốn cũ. Mãi đến chín năm sau, năm 1959,
tôi mới có cơ hội nầy.
Tôi
và 5 đồng nghiệp được Nha Điền Thổ biệt phái về Ty
Bảo Thủ Điền Thổ Cần Thơ một tuần lễ để yểm trợ
chương trình Cải Cách Điền Địa. Trong thời gian nầy, chỉ
có một lần tôi tránh né anh em, xé lẻ đi lang thang tìm về
xóm cũ nhưng vô vọng. Lúc bấy giờ Ông bà Tư đã rời Cần
Thơ, thân thiết tôi chỉ còn gia đình chú Chín. Tôi đón bừa
những chiếc xe lôi ngược xuôi hỏi thăm tên chú, cuối cùng
có người chở tôi tới nhà chú tại một xóm hoàn toàn mới
lạ. Tôi vào nhà thì gặp chị Tư, đang ỳ ạch mang bầu đứa
con thứ nhì, hỏi ra thì anh Hai đang nhập ngũ phương xa, chị
Ba lập gia đình ở riêng, bé Sáu đi học, chú thím Chín về
quê vài ngày,… nên tôi hơi thất vọng.
Tôi
tốt nghiệp đại học rồi về làm việc tại các tỉnh
miền Tây, kề cận Cần Thơ. Nhờ vậy, tôi đã có
rất nhiều dịp tìm về Cần Thơ họp bạn, tiệc tùng.
Chuẩn bị chuyến đi Cần Thơ lần nào tôi cũng háo hức
trông chờ. Cần Thơ thanh lịch mỹ miều, Cần Thơ nhộn
nhịp đủ món ăn chơi hào phóng, nên tôi cũng quay cuồng
nhập cuộc rộn ràng. Có điều là lần nào cũng vậy,
sau khi ra về, tôi lại mang máng buồn, mường tượng như
có gì bất ổn, một mất mát nào đó, mà suy nghĩ
hoài vẫn không hiểu tại sao?... Một hôm vào khoảng năm
1969, tôi đang đa đoan bận bịu công việc, bất ngờ nhận
được thơ của một người bạn học từ năm lớp 9 đang
nằm trong vòng lao lý tại Cần Thơ, nhờ tôi giúp đỡ. Anh
không thuộc nhóm bạn bè thân, 12 năm qua chưa hề liên lạc
nhau, có lẽ vì vậy nên anh đã ngần ngại, lâm nạn khá
lâu mới nghĩ đến tôi. Qua câu chuyện anh kể, tôi nhận
thấy mình chẳng giúp đỡ gì anh được, nên quyết
định không đáp ứng yêu cầu của anh. Tuy vậy chuyện
tù tội của anh cứ ám ảnh tôi, khiến tôi ái nái không
yên, nên sau cùng thì tôi đổi ý. Tôi nghĩ dẫ̃u không
giúp gì nhiều, nhưng chuyến viếng thăm sẽ an ủi được
anh phần nào. Thế rồi, tôi lái xe thật sớm sang Cần Thơ,
vào Phòng Dự Thẩm Tòa Án thăm hỏi hồ sơ của anh để
nghiên cứu. Rất tiếc, hồ sơ đã hoàn tất và gởi lên
Phòng Luận Tội chờ đưa ra Tòa Đại Hình, nên không tham
khảo được. Tôi bèn tìm anh Biện Lý V.M.H., một người
đàn anh thâm tình, vắn tắt kể chuyện người bạn học,
và xin anh cho phép tôi đưa nghi phạm đi chơi một vòng chừng
vài giờ. Anh H. đồng ý dễ dàng, anh điện thoại xuống Trung
Tâm Cải Huấn dặn dò kỹ, nên khi tôi đến nơi trình giấy
phép, thì anh bạn đã sẵn sàng, điểm lạ là trong cảnh
nầy mà anh vẫn hồng hào, sung túc, và ăn mặc rất
chải chuốt. Tôi lái xe chạy lòng vòng, vắn tắt cho anh
biết tình trạng hồ sơ và giải thích anh nghe vài điểm pháp
lý cần thiết, sau đó, tôi mời anh ăn cơm ở bất cứ chỗ
nào mà anh thích. Anh ấp úng hồi lâu rồi cho biết anh đã
được tiếp tế đầy đủ nên không khao khát ăn uống,
anh chỉ thiếu thốn đàn bà mà thôi. Kết luận, anh mong được
đi hoang một chuyến. Tôi trầm ngâm hồi lâu, vì lo ngại
tai tiếng, nhưng thật ra, tôi rất cảm thông nhu cầu của
anh. Cuối cùng tôi cũng đồng ý, nhưng tôi xác định rằng
tôi chỉ mời ăn thôi, còn vụ nầy anh phải tự lo liệu.
Anh nhờ tôi đưa đến một khách sạn sang trọng, tôi ngồi
chờ ở ngoài xe, chừng một giờ sau thì thấy anh tươi tỉnh
trở ra, khoái trá mô tả lại cuộc mua vui, chuyện nham
nhở bình thường nhưng thái độ khinh khi gái mãi dâm
của anh khiến tôi ngầm bất mãn. Trên đường đến tiệm
ăn, anh lại ấp úng lần nữa. Tôi hơi ngạc nhiên và hơi
khó chịu – cái khó chịu về thái độ khinh người
của anh vẫn còn đọng lại -, nên sau một thoáng ngần
ngừ mới đồng ý. Anh viện cớ đã cạn tiền nên xin đưa
đến một địa điểm bình dân trong ngõ hẻm Cái Khế, rồi
anh đi vào căn nhà lầu khang trang đầu hẻm. Chờ đợi sốt
ruột, tôi lang thang đi sâu vào con hẻm. Hẻm hẹp dần, nước
mưa ứ đọng vài nơi và nhà cửa cũng xây bừa bãi tồi tệ
hơn. Thấy một ngách nhỏ, tôi len vào, nhà cửa ở đây chỉ
là thứ lều ọp ẹp kết hợp bằng những miếng tôn tạp
nhạp vá víu. Tôi dán mắt quan sát ba thằng bé con cỡi trần,
đen đúa, tong teo… đang rạng rỡ ngồi giọc nước sình hôi
hám, rồi bỗng nhiên nỗi xúc động vui buồn lẫn lộn xâm
nhập tâm tôi, khiến tôi rỡn ốc cả châu thân. Tôi đã khám
phá được Cần Thơ của tôi rồi. Thì ra, cái Cần Thơ mà
tôi tương tư thương nhớ, không phải là cái thành phố nguy
nga tráng lệ nổi tiếng là Tây đô, mà chính là những hình
ảnh tiều tụy bùn lầy nước đọng như thế nầy, nơi đã
từng chứa chan cả một bầu trời thân thương vào tuổi bé
thơ của tôi.
Tôi
hấp tấp đưa trả anh bạn học về Trung Tâm Cải Huấn, rồi
lái xe ra đi với niềm cảm xúc vẫn còn miên man trong lòng.
Khi tôi dừng xe tại bến Bắc, tôi chợt bàng hoàng thấy
một chiếc xe lôi chở một thiếu phụ trẻ và một thằng
bé con trờ tới. Tôi nhìn theo hai mẹ con, rồi liên tưởng
đến buổi chia tay với mẹ khoảng hai mươi năm về trước
cũng tại chỗ nầy. Tôi mong thằng bé được mẹ dẫn theo,
chớ không bị bỏ lại như tôi ngày trước : bơ vơ và buồn
tủi lắm! Thế rồi, nước mắt tôi bỗng ràn rụa… nước
mắt mà 20 năm trước tôi đã đè nén, giờ đây bỗng tuôn
tràn một cách bất ngờ và cũng rất là vô lý…
Phoenix,
AZ tháng 6.2003
Ngày
tháng già nua
Vào
mỗi mùa Vu Lan, tôi thường viết những truyện ngắn tưởng
tượng về những bà mẹ, còn nhắc về người mẹ thật của
tôi, tôi chỉ viết một lần trong tùy bút Tản mạn về Cần
Thơ, để ghi lại quãng thời ấu thơ hạnh phúc nhất đời,
một năm học duy nhất mà tôi được sống ấm êm trong vòng
tay của mẹ.
Tôi
mất cha khi vừa tròm trèm sáu tuổi. Thuở đó, tình hình an
ninh kém cõi, thương ông bà ngoại tôi sống đơn chiếc, mẹ
tôi dẫn con cô gái út về quê nhà tại Cao Lãnh chăm sóc ông
bà. Phần hai đứa con trai, bà gởi mỗi đứa một nơi - thường
là các bà dì - để ăn nhờ ở đậu đi học. Tôi quen thui
thủi sống môt mình từ lúc mới tập tễnh học lớp một,
mỗi năm chỉ gặp mẹ tối đa hai lần, còn anh em có khi hằng
mấy năm trời vẫn chưa thấy mặt nhau, nhưng càng xa nhau thì
chúng tôi càng thương mẹ, thương anh thương em.
Sau
năm 1975, anh em chúng tôi đùm bọc dắt dìu nhau, đưa mẹ đi
vượt biên. Em gái tôi đã lập gia đình tại Thụy Sĩ
từ lâu, còn hai anh em tôi, tuy đồng định cư tại Hoa Kỳ,
nhưng mỗi đứa lập nghiệp một phương, phương Đông và
Tây cách nhau hàng ngàn dậm khiến cho bà mẹ, sống với đứa
nầy thì nhớ đứa kia, đi qua lại hụt cả hơí!
Mẹ
tôi năm nay đã ngoài 88 tuổi, những năm gần đây chân bà
đã yếu, phải lần vách hay nương gậy mà đi, nhưng may mắn
bà vẫn có thể lo việc vệ sinh và tắm rửa một mình. Được
như vậy, là nhờ anh tôi rất hiếu thảo và chu đáo chăm
sóc. Cả nhà giữ một chế độ ăn uống kiêng cữ đặc biệt
với những thức ăn toàn loại phẩm chất dinh dưỡng khỏe
mạnh, ngoài ra, anh cũng cho bà giữ thời khóa vận động chân
tay nghiêm nhặt. Chương trình vận động tay chân của bà mỗi
ngày 3 lần, mỗi lần gồm có 3 mục : a. tập bốn động tác
khí công cải tiến nhẹ, mỗi động tác 10 lần, b. đi bộ
(lần vách đi) 10 vòng, c. lái xe (nương theo loại khung có hai
bánh xe đẩy đi) 10 vòng. Mẹ tôi vốn dễ dãi và bền bĩ
chịu đựng, nên dù bà mệt mỏi chán ngán vận động lắm,
nhưng vẫn chiều ý con cái gắng sức mà tập, bà chỉ lầm
thầm thở than : “Hồi nhỏ mình tập nó đi, bây giờ nó
bắt mình tập đi, đúng là bị quả báo!” Lòng dạ tôi mềm
yếu, mỗi khi được ủy thác trông chừng bà vận động,
theo dõi bà chừng nửa chương trình, khi thấy chân tay bà lết
bết, hơi thở phì phò, mặt mày buồn hiu, tôi thương quá,
lánh đi nơi khác để cho bà tùy ý muốn làm sao thì làm. Tôi
biết mình yếu ớt như vậy là hơi phụ lòng anh tôi, nhưng
quả thật tôi không thể cố gắng nổi. Mẹ tôi mà sống
với tôi, chắc chắn là tôi sẽ không nỡ ép bà vận động,
và như vậy có lẽ bà đã ngồi liệt một chỗ từ lâu rồi.
Mấy
năm nay, chân yếu không còn đủ sức đi lại chia sẽ thời
gian với các con, mẹ tôi thường trực sống với anh tôi,
và hằng năm tôi đến thăm bà đôi lần, mỗi lần lưu lại
một hoặc hai tháng cho anh tôi thoải mái đi nghỉ hè, và tôi
cũng thoải mái có được những giờ phút riêng tư hủ hỉ
với mẹ. Ông anh tôi tính siêu cẩn thận, lần nào cũng vậy
anh dặn dò nhắc tới nhắc lui hàng trăm lần thời dụng biểu
và những điều cần thiết cho việc săn sóc mẹ, tuy vậy
anh vẫn chưa hài lòng, nên trước khi đi anh còn trao cho chiếc
cẩm nang, để mở ra xem xét lại từng mục kẻo quên.
May
mắn là về phương diện thực đơn thì tôi không bị ràng
buộc quá đáng. Lần nào, bà xã tôi cũng ưu ái chuẩn bị
cho tôi một va li thức ăn đặc biệt, gồm toàn những món
ăn có thể thiếu tiêu chuẩn bổ dưỡng, nhưng rất hợp khẩu
vị của bà : tôm kho tàu, cá kèo kho, mắm chưng... Những món
ăn nầy gợi cho mẹ tôi nhớ lại hình ảnh quê hương xa xưa,
nhất là khoảng thời gian trẻ trung khi mới về nhà chồng.
Lần nào cũng vậy, mẹ tôi, mắt sáng ngời gắp con cá kèo,
giẻ miếng tôm đỏ au hay vít miếng mắm vào chén cơm,
rồi cười cười nhắc nhở : “Ở Cổ Chiên mình, cá kèo
đầy dẫy ở ven sông, người ta chê cá kèo, lòng tong, lục
chốt không ăn, nhưng bây giờ, thì nó là món ăn hiếm có
con há!”..., “Mắm lóc, nội con làm cả lu ăn suốt
năm chẳng hết”, “Ừ! Tôm càng ở Cổ Chiên mình nhiều
lắm! thằng Xê nhảy xuống sông lặn một hơi, trồi lên hai
tay cầm hai con. Còn vào mùa dở chà thì tôm càng nhiều quá
ăn không xuể, mình phải phơi khô, phải kho tàu như vầy nè
để ăn được nhiều ngày...”
Lúc
sau nầy, mẹ tôi lẩm cẩm quên trước quên sau, chỉ có khoảng
thời gian ấu thời và thời gian mới lập gia đình theo chồng
về Cổ Chiên là còn nhớ rất rõ. Tôi biết bà thích chuyện
xa xưa, nên mỗi khi bà nhắc nhở đến Cổ Chiên tôi thường
nói đùa : “Đằng đó, ở Cổ Chiên có cá sấu không...?”
Đây là câu đầu tiên mà mẹ tôi ấp úng hỏi trổng cha tôi
trong ngày lễ coi mắt khoảng 70 năm về trước, tới giờ
nầy mà khi nghe nhắc lại bà vẫn còn sung sướng vừa thẹn
thùng như một thiếu nữ đang xuân. Bà cười hì hì : “Ai
biết gì đâu, nghe xứ Cổ Chiên lạ hoắc, tưởng chỗ cọp
beo, cá sấu gì ở chớ!”
Năm
xưa, nội tôi được người mai mối hướng dẫn đến nhà
ngoại tôi để xin kết nghĩa xuôi gia. Sau khi bàn luận và
cân nhắc tuổi tác các con gái gia chủ, nội bỗng ngỏ ý
chọn mẹ tôi làm dâu, mặc dù trước đó người mai mối
không hề đề cập gì về mẹ tôi cả. Mẹ tôi đang lúi húi
phụ giúp người nhà chuẩn bị bếp núc đãi khách, bỗng
bị bà ngoại ra lệnh cấp tốc chỉnh trang lại y phục, bưng
nước trà mời khách. Mẹ tôi ơ hờ theo lệnh ngoại. Mẹ
vừa trở xuống bếp chừng 10 phút, thì cha mẹ hai bên đã
long trọng tác thành đôi lứa. Khi ngoại thông báo cho mẹ
quyết định nầy, mẹ tôi chưng hửng chẳng biết người
chồng tương lai của mình mặt mũi ra sao nữa, nhưng phận
làm con cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó! mẹ tôi đâu dám hó
hé gì. Sau đó, ngoại mới sắp xếp cho hai đứa nhỏ được
trò chuyện riêng. Mẹ ngồi trước mặt cha tôi, thẹn thùng,
sợ sệt, bối rối ngổn ngang, cúi gầm mặt chẳng dám ngẩng
nhìn, ba hỏi câu nào thì trả lời trổng trổng câu đó. Sau
cùng, bậm gan lắm bà mới hỏi câu đầu tiên mà tôi lập
lại để ghẹo bà ở trên.
Quê
ngoại tôi tại Hòa An, Cao Lãnh thuộc vùng nước ngọt, xóm
làng gần gũi, vườn cây trái xanh um, còn quê nội tôi là
một cù lao nhỏ, nằm ở vàm sông Cổ Chiên, tuy thuộc quận
châu thành tỉnh Trà Vinh, nhưng vị trí sát biển nên nước
lợ mặn quanh năm cây ăn trái hiếm hoi, xóm làng thưa thớt.
Ngoại tôi tin tưởng ông mai, một nhà giáo đứng đắn trong
vùng nên không dò xét kỹ, cứ đinh ninh Cổ Chiên thuộc quận
châu thành phải là chốn thị tứ, chừng đưa con gái về
nhà chồng, thấy cảnh hoang vắng đìu hiu, toàn là ruộng lúa
chen lẫn với rừng dừa nước, ngoại xót thương con gái đã
khóc ròng, trong khi mẹ tôi lại tỏ vẻ bình thản. Có thể
là bà đã phải gắng gượng đè nén tiếng nức nở để
tránh gây khổ đau thêm cho Ông Bà ngoại chăng?
Khi
tôi nghe mẹ kể đến chuyện nầy, tôi thường ghẹo bà :
“Má vừa gặp ba đã thương tức khắc, thương quá xá cỡ
rồi! ba sống ở đâu thì quyết chí theo ở đó, hùm beo cá
sấu còn chẳng sợ huống gì rừng lá! phải không má?” Mẹ
tôi dễ tánh nên tôi mới dám “cà rỡn” với bà, tuy là
lời nói giỡn nhưng nó lại phản ảnh khá chính xác mối
tình yêu tha thiết thâm trọng hy hữu của bà dành cho chồng.
Có lần bà chị họ tôi nghe tôi nói câu nầy, cười hề hề
theo kiểu “biết rồi! khổ lắm! nói mãi!” rồi lên tiếng
: “Còn phải nói gì nữa! Nếu mợ không thương cậu sâu
đậm, thì làm sao chịu nỗi cảnh trung trinh góa bụa thờ
chồng được?” Thật ra, chuyện mà tôi muốn nói ở đây
là tình yêu của mẹ tôi trải qua những năm tháng dài mù
mịt - cha chết khi mẹ mới 29 tuổi, tính ra đã 60 năm
rồi -, mà vẫn còn sâu đậm tha thiết như thời trẻ trung
mới là hy hữu, mới là đặc biệt. Cho nên, dù tuổi đã
kề cận 90, quên trước quên sau, mà khi nhắc đến thời gian
chung sống với chồng tại Cổ Chiên thì bà có thể thuật
linh hoạt hàng trăm thứ chuyện, từ sinh hoạt linh tinh giỗ
Tết cúng kiến, chuyện làm dâu, em chồng, cho đến chuyện
bà con lối xóm, ông câu, ông nói liệu, chuyện lúa thóc, tôm
cua..., chẳng chuyện nào bà quên cả. Mà hể câu chuyện nào
liên quan đến chồng, thì giọng nói của bà lúc đó tức
thời biến đổi thành tha thiết trang trọng, tình nghĩa tràn
đầy. Một hôm bà nói nhỏ với tôi : “Má có bài
thơ nầy viết về ba, con nên ghi lại kỹ niệm”. Rồi
bà chậm chậm đọc cho tôi chép trọn bài thơ ba mươi
hai câu. Tôi xin trích ra bốn câu kết như sau :
Anh
hãy chờ em chốn cữu tuyền
Cùng
nhau dìu dắt đến cung thiên
Nơi
miền Tiên cảnh lòng vui thỏa
Đây
chốn nghìn thu giấc ngủ yên.
Bài
thơ thương nhớ chồng mong tái ngộ với chồng ở suối
vàng nầy bà sáng tác vào năm 44 tuổi mà đến khi
88 tuổi bà vẫn còn nhớ rõ, đúng là mối tình chung
thủy vĩnh viễn không phai. (Điều kỳ lạ là bà đã
sáng tác hơn trăm bài thơ, tôi đánh máy in thành tập
để bà tặng thân hữu, nhưng bà quên tuốt luốt không
nhớ bài nào khác, kể cả chuyện in sách nữa.)
Mấy
ngày qua, mỗi khi tôi rót nước cam cho bà, bà đều tươi cười
nói : “Ở Cổ Chiên mình làm gì có cam, ba con phải mua
cam tận chợ Trà Vinh để vắt nước đó!” Đây là mẩu
chuyện mới nghe lần đầu, nhưng tôi ơ hờ chẳng để ý.
Chừng nghe liên tiếp vài mươi lần, tôi quan sát kỹ thái
độ vui tươi của bà khi nói ra câu đó thì mới hiểu ra.
Ở lứa tuổi mẹ tôi, vợ chồng thương yêu chiều chuộng
nhau là việc phải dấu kín, do đó, bà chẳng hề nhắc nhở
chuyện nầy với ai. Và bây giờ, đợi đến hơn 60 mươi năm
sau bà mới dám thổ lộ cho tôi nghe, mà niềm hạnh phúc được
chồng cưng “mua cam tận chợ Trà Vinh về vắt nước”
vẫn còn miên man trong lòng. (Tôi nghĩ một bà vợ dẫu được
ông chồng đổi cả sự nghiệp để mua hột xoàn dâng tặng,
chưa chắc đã hạnh phúc bằng mẹ tôi được ly nước cam
ngày xưa của ba tôi đâu!)
Mẹ
tôi hay quên, nhưng đầu óc vẫn còn sáng suốt, bà thường
nhìn cái già nua lọm khọm của mình với nụ cười hóm hỉnh.
Bà tự chọc quê sức khỏe yếu ớt mình là “không nghe lời”,
là “sanh tật”, nên thường cười hề hà than : “Cái
tay bữa nay không chịu nghe lời má rồi con ạ!...” hoặc
: “Độ rày, má già nên hay sanh tật quá!”
Mẹ
tôi quả thật có rất nhiều tật, mà đối với tôi thì tật
nào cũng đáng quý và dễ thương vô cùng. Tật lâu đời và
lớn nhất của bà là tật tận tụy hi sinh cho mọi người
mà chẳng hề kể lể thở than. Sau năm 1945, vùng quê Cao Lãnh
kém an ninh, hoa lợi lúa ruộng suy giảm, khả năng thuê mướn
người giúp đỡ khó khăn, trong khi ông bà ngoại lại già
yếu, bệnh hoạn liên miên. Mẹ tôi có bảy chị em gái,
nhưng chẳng ai có điều kiện và thiện chí để về quê chăm
sóc cha mẹ già, nên bà đành hi sinh lãnh nhiệm vụ nầy ròng
rã hàng mười mấy năm trời mà chẳng hề được chị em
nào gánh vác cho một tháng. Trong thời điểm nầy, phải kể
đến những lúc cực kỳ gian khổ, khi bà ngoại bị nằm liệt
hơn 3 năm, ông ngoại cũng không xê dịch trong 6 tháng, một
mình mẹ tôi ngày đêm túi bụi lo cơm nước, lo đút từng
miếng cơm, từng ngụm nước, nài nĩ từng viên thuốc, lo
việc tiêu tiểu, tắm rửa, lại phải bù đầu chăm sóc nhà
cửa ruộng vườn, chắt mót từng nải chuối, buồng cau...
để có thêm hoa lợi. Mẹ tôi cực khổ dường ấy, nhưng
luôn luôn cắn răng chịu đựng, chẳng một lời thở than,
cũng chẳng hề dựa vào công lao của mình để suy bì, hay
trách cứ nặng nhẹ chị em nào cả. Thuở nhỏ, tôi rất ấm
ức “tật” nầy, nên càm ràm : “Má cực khổ phải nói
ra cho mấy dì biết, nếu không, ai cũng tưởng má sung sướng
lắm!”, mẹ tôi cười hỉ xả rồi thôi. Mẹ bền bĩ phụng
dưỡng ngoại, cho đến khi ông bà lần lượt từ trần, thì
mới lặng lẽ về Saigon chung sống với các con, để lại
nhà cửa ruộng vườn của ngoại cho bà chị gánh vác.
Với
anh em chúng tôi cũng vậy, bà trọn đời xả thân tận tụy
phục vụ, thương yêu chăm sóc, mà cũng chẳng bao giờ kể
lể công ơn hay thở than mỏi mệt. Đến khi lũ cháu ra đời,
tánh bà cũng chẳng khác, khi có cơ hội thì bà tức thời
thương yêu chí thiết, chiều chuộng hết mình, chăm sóc nâng
niu từng li từng tí. Các con tôi một mực thương quí nội
và thường nhắc lại những ngày sống chung, được nội thăm
dò nhu cầu từng đứa để lăng xăng phục vụ, hay cặm cụi
làm đủ loại bánh, gọt sẵn đủ loại trái cây để nài
nĩ, dụ dỗ chúng ăn. Thời còn ở Việt Nam, em gái tôi xuất
ngoại giao hai con gái bé bỏng cho ngoại nuôi giữ mấy năm
trời, bà sẵn sàng dang tay đùm bọc, tâng tiu như bảo vật.
Đến khi anh tôi vượt biên còn kẹt lại đứa con gái mới
lên 4 tuổi, cũng yên tâm phú thác cho bà nhận lãnh. Cháu bé
bất ngờ bị đau sốt xuất huyết nặng phải đưa vào bệnh
viện Triều Châu cứu cấp. Thời đó, thuốc Tây khan hiếm,
bác sĩ ngụy chỉ còn mấy móng, dịch sốt xuất huyết hoành
hành dữ dội khiến tỷ lệ trẻ em tử vong rất cao, vì vậy
bệnh viện Triều Châu đông nghẹt bệnh nhân, cháu bé còn
có chỗ nằm, mẹ tôi phải ngồi chầm chập canh chừng cháu
không phải một hai giờ mà là suốt bốn ngày đêm. Lúc đó,
hàng ngày tôi bị buộc phải đi học tập thật chuyên cần,
sáu giờ chiều mới có thể đến thay thế cho bà đôi giờ
để bà tắm rửa tạm nghỉ ngơi lấy sức mà thôi. Sau khi
mạng sống của cháu được cứu vãn thì mẹ tôi cũng gần
hụt hơi. Tôi biết nếu mẹ tôi lơ là một chút thì mạng
sống của cháu khó an toàn. Thời gian sau, tôi đưa mẹ và
cháu đi vượt biên thành công, mẹ tôi bàn giao cháu cho anh
tôi với nụ cười, và tánh nào tật ấy, bà không hề kể
lể những nỗi nhọc nhằn của mình. Anh có nghe chuyện cháu
đau thì bất quá nghĩ rằng đó là chỉ chuyện ấm đầu,
sổ mũi, uống một viên aspirine là xong, chớ đâu tưởng tượng
hoàn cảnh thập tử nhất sanh của cháu ngày đó.
Giờ
đây, tuổi ngày càng cao thì mẹ tôi - theo nguyên văn từ ngữ
bà xử dụng - lại càng sanh tật nhiều thứ lắm. Tật hay
quên, tật chân tay yếu ớt, tật mắt kém đọc viết khó
khăn... Vì sợ bà sanh tật thình lình, nên anh em chúng tôi
thay phiên nhau trông chừng bà ngày đêm, nhất là lúc bà tắm,
sợ bà sanh tật té nên túc trực ở ngoài nghe ngóng. Bà tắm
xong, chúng tôi xấy tóc, gỡ đầu cho bà, kẻo bà sanh tật
cảm lạnh thì nguy. Một hôm sau khi gỡ tóc cho mẹ, sẵn thấy
có đôi vớ, tôi mang cho bà. Tôi bỗng ngẩn người, khi nhìn
thấy móng chân của bà dài ngoằn, có móng như bấu vào thịt.
Thì ra, tuy bà còn có thể tự cắt móng tay, nhưng bà đã “sanh
tật” không thể cúi xuống để cắt móng chân được. Tôi
săn sóc mẹ mà không để ý điều nầy, nên vừa xót xa vừa
xấu hỗ, lên tiếng hỏi bà : “Sao má không bảo tụi con
cắt móng chân cho má?” Bà cười hồn nhiên : “Mấy người
giàu sang, ăn không ngồi rồi, để móng tay móng chân năm nầy
tháng nọ, mà có sao đâu?”
Mấy
hôm trước, tôi túc trực bên ngoài khi bà tắm, nhưng chờ
khá lâu vẫn không nghe xối nước. Việc tắm rửa của bà
kéo dài là chuyện rất bình thường vì lẽ nội cái việc
lụm khụm cỗi đồ ra và bận đồ vào cũng tốn rất nhiều
sức lực và thời giờ rồi. Tôi lên tiếng hỏi dọ vài lần
thì bà trả lời bình thường, mà tiếng nước vẫn im bặt
một cách lạ lùng. Hơn hai giờ sau, bà mới mở cửa bước
ra, mặt hơi giận, lầm bầm : “Bữa nay, sao cái chân sanh
tật cụt ngủn hà! bước vào bồn tắm hoài không được,
nên đâu có tắm!”. Bồn tắm cao, tôi biết mẹ phải
khó khăn mới dở chân lên vừa đủ để bước vào, nhưng
vẫn làm lơ cho bà có cơ hội cố gắng vận động tối đa.
Tôi an ủi : “Chuyện đó dễ mà, để ngày mai con sắp
xếp lại, rồi má sẽ bước vào bồn tắm dễ ợt hà!”
Lâu lắm rồi tôi mới thấy mẹ tôi lộ vẻ buồn, bà than
: “Sao má sống lâu quá vậy? Má đâu muốn sống dai như
vậy, con ạ!”. Tôi an ủi mẹ theo tinh thần đạo Chúa
của bà : “Mình đâu có thể mong muốn chuyện gì được
má! Chúa bảo sống đến đâu thì mình sống đến đó thôi,
phải không má?”. “Ưà!”. Tuy bà “ừa”, nhưng nhận
thấy bà vẫn chưa vui, tôi giả giọng con nít lên tiếng :
“Má nó chết, thì ai nuôi nó! hu hu!”, nhờ vậy mẹ
tôi cười tươi lên. (Nguyên thuở mẹ còn ấu thơ, chừng
năm sáu tuổi, một hôm bà chứng kiến bầy chó vật con gà
mẹ chết. Bà khóc sướt mướt, vỗ mãi không nín và cứ
thắc mắc hỏi ngoại : “Má nó chết thì ai nuôi nó!” Ngoại
bực mình quá nói : “Má nó chết thì mầy nuôi nó!”.
Vậy mà mẹ tôi đồng ý, nín khóc, rồi mỗi ngày đứng ra
“chít chiu” săn sóc đám gà con cho đến khi chúng lớn thành
gà giò. Chuyện nầy là một trong những chuyện hiếm hoi tại
Cao Lãnh mà mẹ tôi kể lại. Một hôm mẹ tôi và dì Năm -
một bà 88, một bà 90 tuổi - được con cháu sắp xếp cho
điện thoại thăm nhau, hai bà đều lẫn lộn, chuyện người
nầy nhớ thì kẻ kia quên, nói năng huyên thuyên mà trớt
qướt chẳng hiểu nhau, thế nhưng vừa nhắc đến vụ “Mẹ
nó chết, ai nuôi nó”, hai bà rộn ràng tranh kể lại cho nhau
nghe và đồng hớn hở vui cười.)
Ngày
hôm sau, tôi nhấc cái ghế đặt sát bồn tắm, bà ngồi trên
ghế dở chân bỏ qua bồn, rồi đứng dậy tắm dễ dàng,
nên mẹ tôi rất hài lòng. Tật “chân cụt” lần nầy thì
giải quyết được, nhưng chắc chắn bà còn sanh tật
dài dài, và đó là điều khiến cho tôi lo lắng triền miên.
Hồi tôi đang học lớp năm, có lần tôi bị nổi dời trên
háng, mẹ tôi bảo tôi cỡi quần ra để bà xức thuốc. Tôi
mắc cỡ còn vùng vằng thì bà nạt đùa : “Tao là má mầy,
tao sanh mầy ra mà mắc cỡ nỗi gì”. Hôm qua, tôi đã
nhắc lại chuyện nầy cho mẹ tôi nghe, để chuẩn bị, có
ngày nào đó, tôi phải săn sóc mẹ, mà mẹ mắc cỡ thì tôi
sẽ lập lại tương tợ như vầy : ‘Con là con của má!
từ bụng má chui ra, mà má mắc cỡ nỗi gì!”
Mấy
năm trước, tôi có viết truyện ngắn tựa đề “Lấy
chồng xa xứ”, theo đó, người con gái sau khi hiểu
được công ơn cha mẹ như trời như biển sức mình không
thể báo đền chữ hiếu, bèn cất tiếng thở than qua điệu
ru em :
Cha
mẹ ơi! sanh con là gái
Biết
chừng nào trả ngãi mẹ cha
Chừng
nào cho cá hóa rồng
Đền
ơn cha mẹ, ẫm bồng thuở xưa.
Thật
ra, tôi đã viết bài nầy cho chính tôi, và đây là tiếng
than của tôi khi nghĩ đến sự hiếu dưỡng nan giải của
mình đối với mẹ. Bạn đọc có thể chế diễu tôi : “Cha
nầy, đàn ông mà mượn giọng đàn bà tâm sự thì yếu quá!
tệ quá!”. Các anh các chị biết không? tôi nghĩ rằng vì
tôi là đàn ông nên sự tình mới trở nên tồi tệ. Giả
dụ tôi là đàn bà, thì tôi có thể chăm sóc mẹ chu đáo
những chuyện thân mật : tắm rửa, thay quần áo... thì tốt
đẹp cho mẹ con tôi biết là bao nhiêu.
Suffolk,
VA mùa Vu Lan 2004
Sống
bù cho con 
Đối
với các bà mẹ già, dẫu con cái mình lớn tuổi bao nhiêu,
nó vẫn là thằng bé con “nhỏ xíu” của mẹ như thuở nào.
Mẹ tôi tíu tít đón mừng tôi, trở lại Virginia chăm sóc
bà trong thời gian anh tôi đi về Việt Nam năm tuần lễ. Bà
trìu mến nhìn tôi thật lâu, vuốt tóc tôi, rồi bỗng buồn
hiu chép miệng hỏi : “Ô kìa! Sao tóc con độ rày bạc nhiều
quá vậy?” Mẹ tôi đã tròm trèm ở tuổi 90, thằng con
của bà cũng đã 67, nhưng chắc bà đinh ninh nó vẫn là đứa
bé con như thuở nào, nên khi chợt khám phá ra mớ tóc bạc
của nó, bà bùi ngùi xót thương. Tôi cà rỡn :
- Má
già, thì con cũng lẻo đẻo già theo má! Rồi ngày nào đó,
má đi theo ông bà ngoại, thì con cũng đâu chịu thua, con theo
bén gót má cho coi!
Mẹ
tôi cười hề hề :
- Thì
ai cũng đi tới đó, sớm hay muộn vậy thôi! Dì Tám con theo
Ông bà rồi đó! kể ra, chết sớm cũng là một điều hay!
- Chêt
sớm thì có gì hay ho đâu má?, tôi thắc mắc.
- Ậy!
Ông bà già xưa mình thường nói : “Thà làm trẻ ma hơn già
lú lẫn! đó mà!”
Tôi
rất ngạc nhiên vì chưa từng nghe qua câu phương ngôn, hàm
ý “chết trẻ được thương tiếc còn chờ đến già yếu
lú lẫn rồi thì chẳng còn ai thương” nầy. Có lẽ má tôi
suy tư nhiều về cảnh có thể bị lú lẫn làm khổ con cháu,
nên câu phương ngôn vốn xâm nhập và nằm yên trong ký ức
của bà từ thời niên thiếu bỗng bật ra như thế. Tôi không
muốn bà bị ám ảnh bởi tư tưởng bi quan nầy nên khỏa
lấp :
- Nhận
định nầy không đúng đâu má! Theo con thì kẻ đã khó ưa
dẫu sống hay chết, già hay trẻ gì thì cũng ưa hổng vô!
còn người dễ thương thì chết sớm trễ gì cũng khiến cho
mình đau lòng thương tiếc cả! phải không má?
- Ừa!
Bà
trầm ngâm một lúc, rồi lẩm bẩm tiếp lời :
- Má
đã già khụm rồi, mà chưa lẫn lộn. Kể ra thì may quá! Ừ!
May thiệt là may!
Mẹ
tôi quả thật tuy hay quên, đôi khi quên những chuyện rất
gần hay quên cả mảng thời gian hằng mươi năm, nhưng bà
vẫn có những suy tư sáng suốt, đối đáp còn bén nhạy.
Mẹ tôi có cái nhìn rất thản nhiên đối với lẽ chết sống
trên đời : Chết là chuyện bình thường chẳng có gì đáng
lo sợ, lúc nào chết thì sẵn sàng chết; còn Sống với
tuổi già lọm khọm sức khỏe suy sụp thì cũng nhẫn nại
hồn nhiên mà vui sống, dù rằng thỉnh thoảng bà cũng buột
miệng cằn nhằn : “Sao má và dì Năm sống dai quá vậy kìa?”
Với dì Năm thì con cái giữ kín các loại tin buồn, nhất
là tin tức liên quan đến thân thích từ trần vì sợ bà xúc
động, còn với mẹ tôi thì chúng tôi chẳng cần phải dấu
diếm gì cả. Bà bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh trong mọi
biến cố xảy ra trên cuộc đời nầy. Hai tuần trước, khi
anh tôi thông báo tin buồn của dì Tám, mẹ tôi đón nhận
tin đó rất bình thản, khiến anh còn ngạc nhiên, chẳng biết
bà có nghe rõ và hiểu rõ không? Nào ngờ, mấy hôm sau khi
thằng cháu vào thăm nội, bà kể cho nó nghe chuyện bà Tám
qua đời tại Việt Nam với lời “phê bình” : “sanh, lão,
bệnh, tử, lẽ đương nhiên mà con! Có ai tránh được đâu!”
Thì ra, mẹ tôi đã hiểu rất rõ, bà bình thản trước tin
buồn vì bà nắm vững lý vô thường, chớ không phải vô
tâm, bằng chứng là dạo nầy bà cứ nhắc đến Ông Bà Ngoại,
nhắc những kỹ niệm bé thơ, kể lể hoàn cảnh và tánh tình
của từng chị em, đã sống hay chết như thế nào? Nói đến
dì Tám thì bao giờ bà cũng cũng nhắc đến tật khóc dai vô
địch của dì khi còn bé, và cơn bệnh trầm kha của dì mấy
năm cuối đời, rồi thở phào nhẹ nhõm nói : “Giờ thì
nó khỏe, không còn khóc, không còn bệnh liệt giường nữa
rồi!...” Nghe mẹ nhắc đến dì Tám, tôi cũng góp lời :
- Từ
khi được tin dì từ trần, mỗi ngày ba thời con đều niệm
chú vãng sanh hồi hướng cho dì! Má ạ!
Mẹ
tôi hăng hái khoe :
- Chú
vãng sanh má cũng thuộc nữa!
- Vậy
thì mẹ con mình đồng niệm chú cầu nguyện cho dì Tám nha
má!
- Ừa!
Mẹ
tôi liền trang nghiêm niệm trôi chảy bảy biến Vãng sanh tịnh
độ đà la ni : “Nam mô A Di Đa bà giạ, đa tha già đa
giạ, đá địa giạ tha. A di rị đô bà tì. A di rị đá, tất
đam bà tì. A di rị đá, tì ca lăng đế. A di rị đá, tì ca
lăng đá. Già di nị, già già na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha”.
Già
ở lứa tuổi 90 mà vẫn tụng đà la ni làu làu đã là việc
hiếm hoi, riêng đối với trường hợp của mẹ tôi, tôi có
thể nói đây là một sự kiện lạ lùng kỳ diệu. Bạn đọc
chắc không đồng ý với tôi về quan niệm nầy, nên có lẽ
tôi nên kể lể dài dòng một chút. Gia đình bên ngoại của
mẹ tôi rất sùng mộ đạo Phật, Ông cố đã hiến đất
và yểm trợ xây dựng ngôi chùa cổ kính Bữu Lâm, tục gọi
là chùa Tổ tại Cái Bèo, Mỹ Xương (Sa Đéc), cả nhà đều
quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới với hòa thượng Hải Huệ
và đều thấm nhuần ít nhiều đạo pháp. Do đó, tuy Ông ngoại
tôi theo nho gia, không thiết tha đến Phật Pháp, vào những
ngày lễ lớn hằng năm bà ngoại vẫn đơn thân dẫn đám
con về chùa Tổ sống trọn vẹn một ngày trong chùa (không
rõ có phải là tu Bát quan trai không?) để thành tâm lễ bái,
mẹ tôi đã học thuộc chú Vãng Sanh từ dạo đó. Sau khi lập
gia đình, vì bên Nội tôi theo đạo thờ Ông bà, theo nghĩa
là thờ cúng tổ tiên, kèm theo những hủ tục mê tín cúng
kiến thánh thần tạp loại để cầu tài, cầu lợi... nên
bà chẳng còn nhớ gì đến chùa chiền và đạo pháp nữa.
Đến khi cha tôi bị lâm nạn, mẹ tôi đôn đáo cầu cứu
khắp nơi : chùa chiền, đồng cốt, bùa chú, xăm quẻ, bói
toán...
Điều
đáng tiếc là mẹ tôi không gặp được bậc chân tu hướng
dẫn, mà chỉ toàn gặp những kẻ giả dối đội lốt tu
hành để lường gạt bốc lột thiện tín : tiền dâng cúng
nhiều thì niềm nỡ vẽ vời lắm trò lễ lộc, tiền eo hẹp
thì bị khinh khi ruồng bỏ. Điều đáng tiếc khác là mẹ
tôi cứ lầm tưởng đồng cốt, xăm bói... tạp nhạp cũng
là “phó sản” của đạo Phật, nên niềm tin của bà đối
với đạo Phật bị sụp đổ toàn vẹn. Trong hoàn cảnh khổ
đau cùng cực, mẹ tôi được các tín hữu đạo Tin Lành tìm
đến, an ủi, vồn vã đưa đi nhà Thờ, kiến tạo cho bà niềm
tin và sức sống. Từ đó, mẹ tôi và em gái tôi trở thành
con chiên ngoan đạo, phần tôi có lúc cũng nghiêng về đạo
Chúa, nhưng nhờ duyên may theo bạn viếng chùa Linh Sơn, mến
đạo và trở thành Phật tử, riêng anh tôi thì chẳng mấy
quan tâm vấn đề tôn giáo.
Sau
khi định cư tại Hoa Kỳ, dầu mẹ tôi sống với ai, chúng
tôi đều đưa bà đi nhà thờ sinh hoạt hàng tuần. Mấy năm
nay, đi đứng khó khăn bà không đi hầu việc Chúa nữa, rồi
lần lần dường như bà đã quên hẳn đạo Chúa, cũng chẳng
nhớ gì lời cầu nguyện “Lạy Cha chúng con ở trên Trời”
nữa, thế nhưng bài chú bà nghe từ thuở ấu thời chìm
sâu trong quên lãng cả bảy tám mươi năm nay, bỗng hiện hành
để mẹ tôi có thể đọc tụng trôi chảy, thì đây chẳng
phải là điều kỳ diệu sao?
Trong
kinh sách ghi chuyện là vào thời Đức Phật Thích Ca còn tại
thế, một hôm có một Ông lão chừng 90 tuổi đến tịnh xá
Kỳ Hoàn xin xuất gia, các vị A la Hán đệ tử sau khi quan
sát nhận thấy trong tám đại vạn kiếp lão chưa từng gieo
trồng căn lành nên từ chối. Đức Phật nghe biết sự việc
trên, Ngài cho ông lão xuất gia, và sau khi được Phật khai
thị, ông liền đắc Sơ quả. Sau đó, Đức Phật mới giải
thích cho các đệ tử hiểu, là xa hơn 80 vạn kiếp về trước,
có lần ông lão là một tiều phu bị cọp dữ rượt phải
trèo lên cây trốn tránh. Tưởng yên thân nào ngờ cọp dữ
quyết cạp cho thân cây gãy để vồ mồi, gả tiều phu trong
cơn sợ hãi bỗng nhớ đến Phật liền niệm lớn “Nam mô
Phật”. Cọp dữ nghe tiếng la bỏ chạy đi, gả tiều phu
thoát nạn rồi tiếp tục kiếp sống buông lung không hề gieo
trồng căn lành nào nữa trong 80 đại kiếp về sau. Bất ngờ,
đến giây phút nầy, căn lành niệm Phật ngày xưa trở nên
thành thục nên lão ta được Phật độ và đắc Sơ quả.
Chỉ niệm Phật một câu thôi, là đã gieo thiện căn rồi,
thì công đức niệm chú của mẹ tôi chắc chắn cũng có ngày
thành thục.
Tụng
chú xong mẹ tôi còn khoe bà còn biết chú “Án ma ni bát
mê hồng” và biết tán hương nữa, bà liền ê a tán hương
như sau :
“Mỗi
nhật thần hôn, nhất chú hương
Tạ
thiên tạ địa tạ quân vương
.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .(*)
Cữu
huyền thất tổ độ gia nương
Phụ
mẫu tại đường tăng long phước thọ
Phụ
mẫu quá khứ trực vãng Tây phương
Sở
cầu xứ xứ hiền hòa thục
Hữu
mạng nhơn nhơn thọ mạng trường
Quốc
hữu trung thần phò xã tắc
Gia
vô nghịch tử não gia nương.
Mam
mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát”
Bài
tán hương xuất phát từ thuở còn quân vương của thế kỷ
thứ 19, tưởng đã chôn vùi biệt tích, nay bỗng nhiên tái
xuất hiện, nên dầu bài tán hương có điểm thiếu sót (*)
và thật ra cũng không mấy đặc sắc, nhưng tôi sẽ trân quí
giữ gìn như một kỹ vật của mẹ, một cổ vật tuy có vết
nứt rạn nhưng hiếm hoi do mẹ tôi khai quật từ hang ổ sâu
thẩm trong tiềm thức của bà.
Nhân
lúc mẹ đang hào hứng, tôi bạo dạn thưa hỏi :
- Khi
má từ trần má có cho phép con tụng chú vãng sanh cho má không?
- Má
chết rồi! Đứa nào muốn làm gì thì làm!
- Con
xin phép má cẩn thận, bởi vì, sau khi chết rồi thì cái hồn
- tôi muốn dùng chữ thần thức nhưng sợ bà không hiểu -
vẫn còn nghe biết rất rõ, nếu má đồng ý thì sau nầy khi
hồn má nghe con tụng niệm má hài lòng mà tụng theo thì rất
tốt, vì con tin tưởng rằng nhờ má hoan hỷ mà má sẽ sanh
vào cõi lành. Ngược lại, nếu lúc đó má không đồng ý
mà con bướng bỉnh tụng niệm, hồn má có thể bất mãn,
sanh giận hờn thì rất nguy hiểm, vì sự giận hờn đó nó
sẽ kéo mình đào thai vào cõi xấu. Vì vậy, con cần hỏi
kỹ má lần nữa, má có thật sự bằng lòng, má có vui không?
- Ừa!
má vui, má hứa đó!
Cứ
vài ngày thì tôi hỏi bà lại lần nữa, rồi hai mẹ con đồng
niệm chú Vãng Sanh. Tôi lập lại mãi, để bà có cơ hội
xác định suy tư của bà về việc nầy, và hi vọng suy sư
đó sẽ lần lượt huân tập vào tàng thức bà, giúp thân
tâm bà an ổn vào những giờ phút lâm chung sau nầy.
Vấn
đề khác biệt tôn giáo trong gia đình là vấn đề gai góc
khó giải quyết. Đã bao lần, mẹ tôi vì quá thương con sợ
con theo một tôn giáo lầm lạc nên đã viện trợ các vị
mục sư cùng các tín hữu thuyết phục tôi “trở về với
Chúa” gây cho tôi bao nỗi phiền toái.
Phần
tôi, là một Phật tử thuần thành dĩ nhiên tôi cũng tha thiết
mong muốn mang ánh sáng Phật Pháp đến với người mẹ thương
yêu của mình, thế nhưng, đã hàng trăm lần tôi ngập ngừng
gợi chuyện rồi đành lặng lẽ chuyển hướng, vì tôi tự
biết mình bất lực : thuyết giáo bất thành, mà tình cảm
mẹ con lại có thể bị thương tổn nữa. Do đó, ngày ngày,
trong những thời công phu, tôi chỉ biết hồi hướng cầu
nguyện cho mẹ “sống khỏe mạnh an vui, chết thì sanh về
cõi Thiên của Chúa”, chớ nào dám cầu mong bà hướng về
Phật đạo. Giờ đây, bất thình lình ánh sáng đạo pháp
bỗng lóe lên trong tâm thức của bà : mẹ tôi tụng chú vãng
sanh, nhờ vậy, tôi mới bạo dạn đề nghị tụng niệm cho
bà khi lâm chung và đã được bà đồng ý. Kể từ nay, tôi
có thể an lòng hồi hướng cho mẹ “sống an vui, chết nhẹ
nhàng và sáng suốt nương theo vãng sanh đà la ni để quy ngưỡng
về cõi tịnh độ phương Tây”. Tôi tin tưởng rằng đây
là một phước duyên, phước duyên hy hữu mà Phật Pháp nhiệm
mầu đã từ bi gia hộ cho mẹ con tôi.
Trách
nhiệm khó khăn khác của tôi trong những ngày gần gũi săn
sóc bà là “công tác” thực hiện thời dụng biểu trị
liệu vận động tay chân cho bà, mỗi ngày ba lần, mỗi lần
khoảng 35 phút, sao cho đúng “chỉ tiêu” mà anh tôi quy hoạch.
Lạ một điều là với anh tôi thì bà lẵng lặng thi hành
vì “nó là dân nhà binh kỷ luật sắt không khiếu nại được”,
còn với tôi thì bà than thở, kỳ kèo, đòi giảm một bớt
hai... có khi bà còn “dọa” không thèm tập nữa. Nếu tôi
năn nỉ bà thì may ra còn có kết quả, chớ còn giải thích
lý luận cách nào bà cũng làm ngơ, vì vậy, bấy lâu nay tôi
cứ phải thỏa hiệp, nhượng bộ ít nhiều để đổi lấy
sự vui vẻ hợp tác của bà. Thế nhưng sức khỏe của bà
ngày càng yếu, việc vận động đối với bà ngày càng cấp
thiết mà cũng nặng nhọc hơn nên lần nầy tôi dặn lòng
phải “gồng mình” cứng rắn để “thuyết phục” bà
tập thể dục nghiêm túc mới được. Tuy thầm quyết định
như vậy, nhưng tôi nghĩ đây là chuyện gian nan khó thực hiện
lắm, vì lòng dạ tôi yếu ớt, dễ dầu gì ép buộc mẹ già.
Sau khi anh tôi rời nhà, vừa chuẩn bị thời khóa thể dục
đầu tiên, tôi chưa kịp mở lời thì bà đã ra vẻ buồn
buồn gạ gẫm:
- Con
ơi! sao hôm nay má làm biếng quá! Nghỉ một bữa nghe con!
- Má
tập không đầy đủ thì chân tay yếu ngay, anh Hai căn dặn
con hằng chục lần là không được bớt động tác nào hết,
má à! Má nhớ không, lần trước anh Hai về kiểm soát xem
má đi như thế nào, má đi lết bết hơn ngày thường khiến
ảnh cằn nhằn con “quá xá cỡ”. Đáng lẽ, má thương con
thì má nên ủng hộ con chớ! má ráng đi ngon lành thì con đâu
bị rầy như vậy!
Bà
cười hì hì :
- Ừa!
Thôi từ nay, “thương con mẹ phải bù đi cho con” vậy! Được
không?
Thật
không ngờ diễn tiến lại tốt đẹp và dễ dàng như thế
nầy, tôi mừng rỡ, cố tình nhảy dựng như đứa con nít
:
- Hay
lắm! Má chịu bù đi thì tập thể dục không được khiếu
nại, không đòi bớt nữa nghen!
- Ừa!
Mẹ
con tôi nhìn nhau cười thật là vui.
(Thuở
nhỏ, mẹ tôi thường kể con cái nghe chuyện một bà mẹ được
ba đứa con trai hiếu thảo luân phiên nhau nuôi dưỡng mỗi
người ba tháng. Để đánh giá lòng hiếu thảo của nhau, trước
khi bàn giao mẹ cho đứa con kế tiếp, đám con kiểm soát sức
khỏe mẹ bằng cách cân lường sức nặng của bà lên hay
xuống. Vì đứa con út nghèo, cơm nước cho mẹ không đầy
đủ, thân thể mẹ gầy gò, nên nó rất lo lắng bị hai anh
quở trách. Bà mẹ thương thằng con nghèo, bèn bao che nó bằng
cách lén dấu trong mình mớ chì cho nặng cân khi bàn giao, vì
vậy mới có câu “thương con mẹ phải bù chì cho con”.
Phần tôi thì lơ là, không hướng dẫn bà thao tập đúng mức
khiến chân bà yếu đi, nên mới rất cần “bù đi” mới
không bị anh la rầy. Mẹ tôi lớn tuổi rồi mà còn minh mẫn
mượn câu chuyện nầy ví von thay chữ bù chì thành bù đi,
khiến tôi kinh ngạc mà cũng vui tột cùng)
Tưởng
mẹ
tôi chỉ đùa cho vui thôi, nào ngờ mẹ thực hiện lời hứa
bù đi rất “oanh liệt”. Kể từ hôm đó về sau, mẹ tôi
nhẫn nại hoàn tất thời khóa, khi mệt quá bà đứng lại
thở hổn hển, vừa cười cười giải thích : “ngưng tập
đi để má tập thở cái đã!”. Nghỉ một chút lấy lại
sức, bà cố gắng tiếp tục chớ chẳng đòi hỏi giảm bớt
một động tác thể dục nào cả. Thấy mẹ thao tác vất vả,
tôi thương đứt ruột, mà chỉ biết hôn hít bà tán thưởng
mỗi khi bà hoàn tất một động tác nặng nhọc. Thuở nhỏ,
tôi chưa bao giờ biết hôn mẹ, bây giờ già rồi, mới tập
hôn mẹ mà vẫn chưa quá trễ để khám phá được nguồn
thương yêu tràn ngập trong lòng. Ngoài ra, chẳng biết đỡ
đần mẹ cách nào, tôi cùng tập theo động tác của bà, nhân
đó, múa men làm hề, hay nói chuyện tầm phào, nói đớt đát
quê mùa, nhái giọng đặc sệt địa phương để bà cười
vui mà quên mệt. (Thuở nhỏ khi học chuyện Ông lão họ Lai,
tuổi đã bảy mươi mà còn mặc áo xanh đỏ, bắt chước
trẻ thơ làm trò cho cha mẹ vui, tôi chưa hiểu được. Giờ
đây, tôi mới khám phá ra là dù mình già đến cỡ nào, ở
bên mẹ, mình cũng chỉ là thằng bé con của ngày xưa, muốn
bày trò vui nhộn gì cho mẹ vui cũng dễ cả.) Mỗi khi
bà bắt đầu chán nãn, ngán ngẩm chuyện thể dục, tôi liền
tìm cách chọc bà cười, chuyện khó chịu bực mình nào cũng
biến thành chuyện tiếu lâm cười cợt được. Đại khái,
như khi bà di chuyển phải cầm cáng đẩy cái khung bánh xe
nặng nề, bà cằn nhằn : “Tập đi mỏi chân thì ít, mà
mỏi tay quá chừng hà!” thì tôi cười cợt chen vào :
- Má
đi đứng mỏi tay cũng bình thường thôi. Con đây, mà nói
chuyện có khi còn mỏi tay nữa kìa!
- Ủa!
Sao kỳ lạ vậy?, mẹ thắc mắc.
- Có
gì lạ đâu! Chỉ vì con nói tiếng Mỹ dở ẹt, phải quơ
tay lia lịa làm dấu, nên mỏi tay vậy thôi.
Mẹ
tôi hiểu ra cười hề hề. Nụ cười rộn rã vui tươi nhất
là vụ cười lén ông anh hiếu thảo và chu đáo của tôi.
Một hôm, sau khi vừa hoàn tất xong chương trình thể dục,
bà đứng thở dốc cười cười, rồi càm ràm :
- Mình
theo nó (tức anh Hai tôi) tập xong đã hụt hơi rồi, vậy mà
nó còn căn dặn “Khi nào má rảnh, má nhớ tập thêm một
mình càng nhiều càng tốt nghen!”
Vụ
căn dặn : “nếu rảnh tập thêm” cũng có ghi trong cẩm nang
của anh để lại, dĩ nhiên tôi làm lơ không áp dụng, vì
tập đầy đủ theo chương trình đã nặng nề, tôi thầm
lo ngại bị mẹ phản đối rồi kêu nài giảm bớt, huống
chi cầu mong bắt bà tập “giờ phụ trội” nữa.
Tuy
vậy tôi cũng thừa dịp bà than vãn, ra giọng diễu cợt nói
lén anh cho vui :
- Xin
lỗi nghe anh Hai, nói thật anh nghe chớ...mẹ con tui làm biếng
lắm, đâu có h...u...ỡ...n và hơi sức đâu mà tập thêm!
a anh Hai!
Mẹ
tôi khoái chí quá cười ngất từng chập :
- Hì!
Hì! Rảnh thì nằm nghỉ chớ ai h...u...ỡ...n đâu mà tập
thêm! Hì!..hì!..
Chuyện
chỉ có vậy thôi, mà mỗi lần nhắc lại thì như là
chuyện mới, mẹ tôi vui vẻ cười rộn rã chẳng bao giờ
nhàm chán.
Năm
tuần lễ sống hủ hỉ ấm áp với mẹ trôi nhanh. Sau khi bàn
giao mẹ cho anh Hai, tôi vào phòng riêng của bà thân mật cười
giỡn, nói chuyện tầm phào, tận dụng những giờ phút thân
thương bên mẹ trước khi từ giả. Mẹ tôi vốn hiền hậu,
không cau có giận hờn nặng nhẹ một ai, những năm sau nầy
mẹ tôi lại càng dễ dãi, không giận, không than, không trách
móc, và lúc nào cũng hài lòng vui tươi với cuộc sống, với
nỗi già nua còm cõi của mình. Do đó, ngoài việc nghe mẹ
kể chuyện xưa cũ, tôi thường ngắm nhìn mẹ thật kỹ, ghi
nhớ từng nét dễ thương vô tận của bà, để biết rằng
mình có diễm phúc được bà mẹ hiền hậu tươi mát, sự
tươi mát mà chính tôi ước mong sau nầy mình có thể học
được nơi mẹ. Trong tình thương ngập tràn, tôi nói với
mẹ :
- Con
không biết sau nầy con có được vui tươi thoải mái như má
không?
Mẹ
tôi cười hề hề, khoát tay :
- Chuyện
dễ mà!
Tôi
giải thích :
- Vui
tươi thoải mái như má không phải là chuyện dễ đâu! Má
biết không? Khi già yếu thân thể bệnh hoạn khó chịu nên
người ta thường sanh tật : rắc rối, giận hờn, cáu kỉnh,
gây phiền nhiễu, gây kinh hoàng cho con cháu! Con sợ vài năm
nữa con sẽ lâm vào cảnh nầy, sanh tật khiến con cháu xa
lánh thì nguy lắm, má ạ!
Dường
như mẹ tôi chẳng để ý gì về lời giải thích nầy, bà
dí dởm mĩm cười ra vẻ bí mật, lên tiếng :
- Con
đâu có già! Má nghĩ như vầy thì thấy các con trẻ hoài hà!
Bớt đi sáu mươi tuổi tuổi, thì anh con tỉ như mới mười
tuổi, con lên bảy, em con lên năm chớ bao nhiêu đâu! Nhỏ
xíu hà!
Hài
lòng với sự so sánh diễu cợt của mình, mẹ tôi thích chí
vang, tôi cũng cười phụ họa, nên bầu không khí rất vui
nhộn. Nhân dịp nầy, tôi mở lời từ giả mẹ :
- Thằng
bé bảy tuổi nhỏng nhẻo với má nè! Má ơi! Mai con trở về
Cali, má ở lại, khi nào rảnh nhớ tập thêm dùm con nhe má!
Nghe
câu nói giỡn hàng ngày, mẹ tôi lại cười tươi lên. Tôi
tỏ vẻ nghiêm trang đính chánh :
- Lần
nầy con không nói giỡn đâu. Con xin má vận động thiệt tình
mà! Má vận động thì má khỏe. Má khỏe thì má sống lâu
với tụi con thêm một chút.
Mẹ
tôi cười cười lặng yên ra vẻ chẳng muốn bận tâm gì
với chuyện sống chết cả. Tôi tiếp lời :
- Ờ!
Thì biết rằng trước sau gì cũng có ngày đó, nhưng má ráng
vận động thêm đi để sống bù cho tụi con một chút vậy
mà!
Suffolk,
VA Xuân Ất Dậu (2005)
Ghi
chú :
*
Bài
tán hương nầy có lẽ thịnh hành vào thời điểm miền Nam
có tục lệ lập trang thờ nho nhỏ trước nhà để thờ “Thiên
Địa”, tục gọi là “bàn thờ Ông Thiên”. Bài tán hương
có vài điểm không ổn, và thiếu ít nhất là một câu, câu
thứ ba tạ ơn Tam Bảo, có thể tương tợ như là : “Thập
phương Tam Bảo thường gia hộ”. Bạn đọc nào hiểu biết
rõ, xin chỉ dẫn để người viết sửa lại cho đúng. Xin
cảm tạ.
Năm
tháng cuối đời
Cuối
tháng sáu năm 2006, vừa nghe tin sức khỏe mẹ nguy kịch
phải nhập viện cứu cấp tôi tức tốc đi Virginia bằng
chuyến bay thâu đêm. Đến nơi, mẹ vừa từ bệnh viện
về, cơn nguy không còn nữa nhưng sức khỏe thì khó có
cơ hồi phục. Phần anh tôi, không ai tiếp tay, một mình
chống chỏi lo cho mẹ mấy ngày đêm nên cũng đã đuối
sức đờ đẫn cả người. Anh cho biết không còn sức
chịu đựng nữa và quyết định đưa bà vào Viện dưỡng
lão. Tôi đã từng đề nghị xin rước mẹ mấy năm qua,
nhưng lần nào anh tôi cũng úp úp mở mở mà chẳng
có câu trả lời dứt khoát, lần nầy, tôi vừa ngỏ
ý lãnh trách nhiệm thì anh vui vẻ tán đồng ngay dù
với chút ngại ngùng vì đã chuyển giao mẹ cho tôi trong
tình trạng bệnh hoạn tệ hại này(1). Anh em thỏa thuận
với nhau là tôi được tròn quyền chăm sóc tinh thần
lẫn vật chất cho mẹ theo ý tôi, nhưng khi mẹ mãn phần
phải chôn cất chớ tuyệt đối không hỏa thiêu. Mẹ tôi
vốn dễ dãi và rất phục tòng anh tôi, nhưng quyết
định thay đổi chỗ ở nầy khá quan trọng nên sau khi
bàn bạc xong hai đứa thưa trình mẹ. Anh tôi lên tiếng
:
- Lần
nầy Chánh lên đây để đưa má về Cali sống với nó,
má chịu không?
Má
tôi hăm hở đáp :
- Má
chịu chớ. Má muốn sống với Chánh mà!
Có
lẽ anh tôi độ chừng mẹ tôi sẽ dùng dằng khó nghĩ,
nên hơi bất ngờ trước thái độ hăng hái của mẹ,
anh tần ngần giây lát, rồi ra vẻ như hỏi khó nhằm
thăm dò lòng bà :
- Nó
theo Phật giáo ăn chay trường, má ăn chay theo nó nổi
không?
- Má
muốn theo đạo Phật và ăn chay với nó nữa!
- Má
chết nó rước “thầy chùa” tụng kinh đó nhen.
- Ờ!
Má muốn được như vậy đó.
Mẹ
tôi có thái độ rõ ràng quyết liệt như vậy khiến
tôi là người bao năm tâm sự với mẹ, theo dõi từng
biến chuyển tâm thức của bà còn ngạc nhiên, huống
gì anh tôi vốn sống vô tư bên cạnh bà. Thật vậy,
vào mùa Xuân năm 2005 mẹ chỉ đồng ý cho tôi niệm chú
Vãng sanh khi từ trần, chớ hai mẹ con tôi chưa hề đề
cập đến chuyện bà theo đạo Phật và tổ chức tang
lễ Phật giáo bao giờ.
Có
lẽ, không mấy tin tưởng lỗ tai của mình, nên hôm sau
anh tôi hỏi mẹ lần nữa, nhưng bà vẫn giữ vững lập
trường của mình.
Sau
thời gian khoảng ba tuần chăm sóc cho bà đỡ suy yếu,
anh em tôi đưa mẹ về Sacramento ngày 19.07.2006.
Kể
từ năm 2005, sức khỏe của mẹ tôi tuột dốc nhanh chóng,
tưởng như mình có thể thấy được mức biến chuyển
diễn ra từng tháng, từng tuần. Mẹ càng yếu thì nhiệm
vụ của tôi càng khó khăn. May là tôi đã liên tục chia
sẽ với anh chăm sóc mẹ trong bảy năm qua, nên tương đối
thạo việc. Tôi lại được nhà tôi và các con ủng hộ
tận tình, bao thầu hết mọi việc trong ngoài thay tôi,
nên dù giờ đây việc chăm sóc bà gay go hơn lúc trước
gắp bội mà tôi vẫn đủ sức lo lắng vuông tròn cho
mẹ sống tươi vui thoải mái. Anh tôi ở lại chơi mấy
ngày, cũng nhận ra điều đó nên đã buột miệng :“Nếu
biết má về đây hạnh phúc như thế nầy thì anh đã
đồng ý đưa má về đây lâu rồi”.
Mấy
năm trước tôi thường lo lắng nghĩ đến những bất
tiện của người con trai khi săn sóc cơ thể mẹ, nhưng
đến lúc cần thì mọi sự đều suông sẻ tốt đẹp.
Khi tắm rửa cho mẹ, đến phần kín đáo anh tôi xối
nước cho mẹ tự lo, nên không sạch lắm. Phần tôi, tôi
tự coi mình là con gái của bà, mà bà cũng chính là
Bồ Tát Quan Âm của tôi, nên tôi an nhiên thay tả, kỳ cọ
rửa ráy cho bà sạch sẽ chẳng “quái ngại” gì cả.
Người ta mỗi năm hành lễ mộc dục tắm Phật chỉ
có một lần, còn tôi được tắm Bồ Tát hà rầm,
kể ra mình có diễm phúc hơn người rồi.
Chúng
tôi chủ trương cho mẹ ăn uống theo sở thích chớ không
kiêng cữ, nên nhà tôi và các con lăng xăng sưu tầm thức
ăn hợp khẩu vị bà. Sợ con cháu cực nhọc, bà thường
nói : “Má ăn cái gì cũng được miễn no thì thôi,
mấy đứa lo lắng làm gì?” Bà cũng đòi chay lạt
theo chúng tôi, để nhà tôi đỡ phần nấu nướng, nhưng
sợ bà mất sức, chúng tôi ép bà tiếp tục ăn thịt
cá bổ dưỡng. Bà chiều ý con cháu ăn uống chớ bà
đâu quan tâm gì cái chuyện yếu sức hay già chết, bà
thường nói “tới đâu hay tới đó, lo gì!”
Lo
lắng sức khỏe và nhu cầu vật chất cho người mẹ
già nua tuy thiết yếu, nhưng với tôi thì nhu cầu tâm
linh của mẹ mới là mối âu lo dai dẵng dằn vật tôi
bao năm trời. Mẹ tôi vốn là người chân chất hiền
lành, có thể nói là rất thánh thiện, tâm bà tràn
ngập tình thương yêu Thiên Chúa, chỉ biết ca ngợi chớ
chẳng hề chê trách người, đối xử với ai, dù là
đứa bé con, một người ăn xin... bao giờ cũng nhỏ nhẹ
ngọt ngào, cũng thắm đượm lòng từ... Chính vì vậy,
mà tôi tin tưởng rằng cứ vào thiện nghiệp nầy khi
từ trần mẹ tôi chắn chắn sẽ sanh về cõi Thiên với
Chúa. Nào ngờ thời thế đổi thay, điều kiện sinh
sống trong nước ngột ngạt, mẹ con tôi phải vượt biên
đến xứ người, bỏ lại trọn vẹn tài sản mà cả
đời tằn tiện gầy dựng. Khi sống xứ người một
thời gian bỗng nhiên mẹ bị lôi cuốn theo phong trào chánh
trị chống Cộng chất ngất hận thù. Bà hào hứng
làm loại thơ gay gắt lên án chửi bới Cộng sản, thơ
được vài tờ báo địa phương ca ngợi đăng tải, nên
lòng hờn căm trong bà càng sôi sục. Bà cũng thích miệt
mài ngày đêm mê say phim bộ, mà nội dung không ngoài
các đề tài yêu đương thù hận chém giết ma quái
lừa đảo. Tôi vô cùng lo lắng cho mẹ. Tôi nghĩ rằng
người mang cận tử nghiệp đang cuốn hút theo thế giới
ảo gian ác của phim bộ và nhất là với hận thù chánh
trị hừng hực, chỉ có thể sanh về cõi người hay
ba đường ác, chớ làm sao về cõi Thiên cho được.
Tôi cố gắng thuyết phục bà giữ lòng thanh thản như
xưa, buông bỏ hận thù và thế giới ảo của phim bộ,
nhưng lời năn nỉ nầy chẳng những vô giá trị mà còn
khiến bà phiền giận tôi. Bất lực, tôi chỉ biết
noi theo người xưa, chân thành Niệm Phật hồi hướng
cho mẹ, cứ yên chí rằng đã có Phật gia bị thì chẳng
có gì phải lo nữa. Nhiều năm trôi qua, tôi khám phá
ra là mẹ tôi hốt nhiên quên hẳn một mảng thời gian
lớn, trong đó có việc tin đạo Chúa và vụ hận thù
chánh trị, ngược lại bà lại nhớ rành rọt thời đi
chùa thuở nhỏ : danh hiệu chư Phật và Bồ Tát, tán
hương, chú Vãng sanh vẫn còn thuộc làu làu(xin xem bút
ký “Sống bù cho con”),
đúng là “bất chiến tự nhiên thành”, tôi đỡ đi
một mối lo tâm huyết.
Giờ
đây mẹ tôi chỉ còn sở thích quay cuồng xem phim bộ
ngày đêm. Tuy không tán thành, nhưng thương mẹ, tôi vẫn
gắng gượng sưu tầm thêm vài bộ mới cho bà tiêu khiển.
Trong thời gian nầy thỉnh thoảng tôi rủ mẹ niệm chú
Vãng sanh, niệm chừng bảy biến thì còn hăng hái, kéo
dài hơn thì bà ngao ngán, nhấp nha nhấm nhỏm liếc nhìn
máy chiếu phim. Tôi hướng dẫn bà Niệm Phật, rồi
mang các mẩu chuyện đạo hấp dẫn của thầy Thiện
Hoa, của sư bà Thể Quán đọc cho bà nghe, hi vọng bà
phát tâm bồ đề, nhưng bà cũng lơ là nên đành bỏ
cuộc. Mẹ đam mê phim bộ, thế giới ảo của nó trám
đầy ấp tâm tư bà rồi, không còn khoảng trống để
chứa giữ cái gì khác, dù là câu Niệm Phật. Tôi
muốn dẹp bỏ phim bộ mà không nỡ vì nghĩ rằng bà
đã gắn bó với nó hơn hai mươi năm trời rồi, nó
là nguồn vui lớn của bà lúc tuổi già, thiếu nó
chắc bà sẽ buồn khôn nguôi. Tôi bất lực chẳng tìm
ra giải pháp nào tốt đẹp cả.
Vào
một đêm giữa tháng 9, như thường lệ tôi vào phòng
đỡ mẹ dậy đưa đi tiểu. Sau khi bà nắm vững walker
(khung gậy 4 chân, 2 chân trước có bánh xe, để vừa
nương vừa đẩy đi tới) tự đi hai bước, tôi yên tâm
loay quay chỉnh đốn lại mớ mền gối, vừa nhìn trở
lại bỗng thấy bà chân bước đi mà đầu ngoảnh lại
nhìn truyền hình. Tôi hoảng hốt nhưng chưa kịp phản
ứng gì cả, thì đã thấy bước chân bà loạng choạng,
rồi bà té ngã đập đầu vào truyền hình u một
cục khá to (u nầy mất cả tháng mới hết bầm). Tôi
vất vả đỡ mẹ dậy, thương đứt ruột, trong khi mẹ
tôi sợ con lo lắng, ráng thều thào nói “má không đau
con à!”. Tôi giận mình đã hơ hỏng nên mẹ mới lâm
cảnh té thảm thương nầy. Tôi đẩy truyền hình vô một
góc thật khuất để bà không cách nào đụng chạm tới
được, rồi hai ngày sau tôi năn nỉ bà cho dẹp bỏ việc
xem phim bộ, bà đồng ý chẳng chút đắn đo. Tánh bà
rất dứt khoát, đồng ý rồi thì chẳng bao giờ nhắc
tới phim bộ nữa. Không ngờ chính cái rủi đã mở
rộng cho mẹ con tôi cả bầu trời may mắn sau nầy.
Từ
đó, mẹ tôi bắt đầu chịu Niệm Phật, mỗi ngày ba
đến bốn thời, tôi niệm chung với bà một lúc rồi
bà tiếp tục niệm một mình sáu chữ “Nam mô A Di Đà
Phật” nương theo máy Niệm Phật. Thỉnh thoảng tôi cũng
bàn chuyện đạo giản dị(2) với bà, nhưng chánh yếu
vẫn là câu Niệm Phật mà thôi. Nhận thấy mẹ chưa
hăng hái lắm, một hôm nhân lúc mẹ vui, tôi thưa: “Má
ơi nếu mẹ con mình cùng hết lòng Niệm Phật và đều
về cõi Phật thì mẹ con mới gặp lại nhau, còn nếu
Niệm Phật “lè phè” khi chết đào thai lung tung biết
đâu mà tìm, làm sao gặp lại nhau. Vậy hai mẹ con mình
hứa cùng hết lòng Niệm Phật để cùng được về
cõi Phật, rồi gặp tại đó nghen má!” Mẹ có vẻ
thích thú vụ ước hẹn gặp lại nhau nầy lắm, bà
mạnh dạn cất tiếng “Ừa!” Kể từ khi hai mẹ con
nhất trí hẹn gặp lại nhau ở cõi Phật, mỗi khi thấy
bà giãi đãi, tôi chỉ nhắc lời giao ước nầy, thì
bà cố gắng ngay.
Thời
gian nầy mẹ tương đối khỏe và vui, nhưng vui thì đòi
Niệm Phật thêm, chớ dường như bà chán ngán sự đời,
rủ bà lên xe lăn đẩy đi công viên chơi hay đi dạo quanh
xóm nhìn trời mây thì bà viện đủ mọi lý do từ
chối. Có lần bà chỉ cái áo đang mặc có in hình
trời mây... lên tiếng : “Trong áo nầy trăng sao đầy
đủ hết, đâu cần đi đâu tìm nữa!” Sư cô Hạnh Giác
từ thiền viện Viên Chiếu, Việt Nam sang ghé thăm, khen
bà tuổi cao mà vẫn minh mẫn sáng suốt, nói năng tự
nhiên mà bất ngờ dường như hàm ẩn hương vị thiền.
Khi nghe sư cô thố lộ rằng đang phân vân chẳng biết
nên sang Úc châu tu hay trở về Việt Nam tu, bà góp ý
tức khắc:
- Tu
thì ở đâu cũng tu. Tu ở Việt Nam cũng được, cần
gì sang Úc!
Sư
cô thấy bà đi walker lụm khụm lựa lời khai thị :
- Có
thân khổ quá hén chị Sáu?
- Khổ
gì mà khổ, nó đau thì biết nó đau, nó khỏe thì
biết nó khỏe vậy thôi!
- Chị
nói sao nghe thiền vị quá?
- Ai
biết thiền vị gì đâu, nghĩ sao nói vậy thôi hà!
Đối
đáp lanh lẹ như một thiền gia đắc đạo ngon lành như
vậy mà khi nhắc đến lời trăn trối sau cùng của mẹ
sư cô : “Vú muốn sống hoài để lo cho các con, mà
không được nữa rồi...” Chuyện xảy ra chắc khoảng
trên bốn mươi lăm năm về trước, mà nay kể lại mẹ
tôi bỗng ứa nước mắt nghẹn ngào đứt khoảng. Vụ
xúc động bất ngờ nầy khiến tôi lo lắng vô cùng.
Giờ chót mà bà “đắm nhiễm con cháu” như thế nầy
thì làm sao vãng sanh cho được. Khi chỉ còn hai mẹ con
hủ hỉ bên nhau, tôi bèn gợi chuyện :
- Má
ạ! Mình Niệm Phật nguyện sanh về cõi Phật, khi từ
trần được Phật rước nhớ theo liền, đừng chần
chờ nghen má!
Bà
cười cười không trả lời. Chẳng biết bà nghĩ sao?
Bà không tin tưởng vụ Phật rước hay bà tự biết
lòng mình quấn quít con cháu chẳng rời không nỡ bỏ
đi một mình? Tôi mới dong dài nhắc nhở chuyện xưa
:
- Má
nhớ không? Hồi mình khổ sở trong trại tị nạn, hai
mẹ con cùng xin đi Mỹ, nhưng má được Mỹ nhận trước
rồi đưa má đi ngay, vài tháng sau tới phiên con cũng
được đi Mỹ, cuối cùng mình cũng gặp nhau. Nếu lúc
đó, má ngần ngừ không chịu đi trước thì nguy lắm
vì hồ sơ có thể bị dẹp bỏ, xin lại không dễ, rồi
tương lai mẹ con mình chẳng biết ra sao nữa. Bởi vậy,
lúc nào Phật rước thì má nhớ theo liền, đừng chần
chờ quyến luyến đứa con nào mà gặp nguy hiểm rắc
rối, nghen má!
- Ừa!
má hiểu rồi, má sẽ theo Phật liền mà!
Vụ
mẹ tôi ngưng xem phim bộ bằng ngõ ngách nào đã đến
tai anh tôi. Tuy anh đã hứa cho tôi trọn quyền lo cho mẹ
cách nào cũng được, nhưng theo quan niệm của anh, phim
bộ là nguồn vui tối cần thiết, không có nó bà buồn
khổ và điên loạn... Tôi giải thích rằng bà không khổ
và điên chút nào mà ngược lại rất vui vì tôi dành
nhiều thời giờ kề cận chuyện trò, nhưng anh không
tin tôi. Thấy thuyết phục mà tôi cứ loanh quanh không trả
lời dứt khoát, anh gợi ý tôi cho mẹ nghe đài truyền
hình tiếng Việt phát sóng từ Nam Cali trong hệ thống
cable, dĩ nhiên tôi cũng lơ là. Anh cứ áp lực tôi mãi
chẳng buông tha nên cuối cùng tôi đành kêu gọi anh tôn
trọng quyền tự do lo cho mẹ, mà anh em đã giao kết với
nhau. Anh giận, gác điện thoại và kể từ đó tình
anh em sứt mẻ khó lòng hàn gắn. Tôi rất thông cảm
anh tôi, anh rất thương mẹ và mong mỏi tôi sẽ cung ứng
các loại giải trí mà anh tin là “thần diệu”, nhưng
tôi lơ là nên bất mãn cũng là chuyện thường tình.
Phần tôi thì cũng vì thương mẹ sợ rằng trong thời
gian cận tử mà tâm bị nhiễm độc bởi bầu không
khí yêu ghét thù hận ác độc lừa đảo... của các
loại giải trí tạp nhạp thì khó thoát khỏi đọa lạc
vào ác đạo. Mẹ tôi biết bụng dạ của hai đứa con
trai, nên mới tâm sự với sư cô Hạnh Giác rằng “về
già may mà có hai đứa con trai săn sóc, nhưng mỗi đứa
thương một cách...” Đúng như vậy đó, tôi thương mẹ
theo cách của tôi chớ biết phải làm sao bây giờ?
Thật
ra, chỉ nội cái việc có người thỉnh thoảng điện
thoại cho mẹ gợi những chuyện bực mình cũ xì làm
xao động tâm bà cũng khiến tôi mất ngũ rồi. Có lần
ai đó đã phóng đại và bi thảm hóa chuyện nhà cửa
ruộng vườn của Ông ngoại rằng “thằng đó - người
anh bạn dì của tôi – nó phá tan hoang hết rồi, nó
đốn cây bừa bãi bán đổ bán tháo, gạch đá cạy
đem bán, đất vườn nó cũng cắt xẻ ra bán tuốt...”
Ngôi nhà và thửa vườn nầy chứa chan bao kỳ niệm
của mẹ, nên bà đau khổ ngẩn ngơ, lâu lâu lại áo não
chép miệng than: “ngôi vườn của ngoại con tan hoang cả
rồi!”. Tôi cố gắng giải độc: “Mình vượt
biên thì nhà cửa mất hết, nếu anh ấy cũng vượt
biên như mình thì thửa vườn của ngoại thành của thiên
hạ. Nhờ ảnh ở lại giữ vườn nên nó mới còn, mình
phải cám ơn ảnh mới phải, ảnh có công giữ thì có
quyền buôn bán, chớ trách móc nỗi gì?” Thoạt nghe
qua bà có vẻ đồng ý, nhưng phải cần đến hai ngày
bà mới quên hẳn chuyện nầy.
Chính
vì vậy cho nên tôi tránh né giao du, thân hữu muốn thăm
mẹ, cực chẳng đã không có cách nào từ chối tôi
mới buộc lòng tiếp xúc. Vì vậy, cũng có người
không hiểu nguyên do đã phàn nàn tôi về chuyện nầy.
Nhân đây tôi xin chân thành xin lỗi quý thân hữu có lòng
tốt muốn viếng thăm mẹ mà vì lý do khó giải thích
đã ngăn trở họ toại nguyện.
Mùa
đông năm nay giá lạnh quá, dịch cảm cúm tràn lan khắp
miền Bắc Cali. Trừ tôi ra, cả nhà đều bị cúm, bệnh
nặng nhất là nhà tôi, phần mẹ thì tương đối nhẹ,
uống thuốc cảm hai ngày đã có vẻ sắp hết, chỉ
còn chảy mũi sơ sài. Sinh hoạt của mẹ ngày 04.01.07 vẫn
diễn tiến bình thường cho đến 04.00 giờ chiều, khi
chuẩn bị cho bà ăn buổi lỡ (bữa ăn bổ túc giữa
trưa và chiều), thì mới khám phá hơi thở của bà
khò khè mệt nhọc. Dù được cả nhà xúm xích tận
tình săn sóc, nhịp độ khó thở lại gia tăng, nên chúng
tôi quyết định gọi xe cứu thương khẩn cấp đưa vào
bệnh viện Sutter điều trị. Mẹ bị viêm phổi (pneumonia)
cấp tính nặng nên ngộp thở, nguyên nhân vì hệ thống
nuốt hoạt động không bình thường, thức ăn uống đi
lạc vào cuốn phổi mà sinh ra chứng viêm. Sau một tuần
điều trị, bệnh viêm phổi hầu như chấm dứt, nhưng
do phản ứng công phạt của trụ sinh, sức lực mẹ bị
kiệt quệ không đi đứng được. Ngày 12.01.07 nhà thương
chuyển mẹ sang trung tâm an dưỡng nhằm phục hồi khả
năng đi đứng, và theo dõi hệ thống nuốt vẫn chưa
hoạt động tốt, cần tuân theo chế độ ăn uống toàn
chất sền sệt và xay thật nhuyển. Mẹ ngày càng yếu
không hồi phục nổi, trung tâm an dưỡng không giúp ích
gì về phương diện trị liệu, nhưng họ cung cấp được
tấm nệm đặc biệt xoay chuyển tự động, và toán
trợ tá giúp mẹ thay đổi độ nằm, tránh tình trạng
lở lưng và mông vì nằm bất động.
Thời
gian nầy tuy phải nằm một chỗ nhưng mẹ chỉ khó thở
hai ngày đầu nhập viện, ngoài ra, tuy sức khỏe từ
từ khô kiệt như ngọn đèn cạn dầu, nhưng trí óc vẫn
linh hoạt, vẫn vui tươi và “tếu” rất đúng lúc,
và đặc biệt Niệm Phật tinh tấn và thiết tha hơn
trước nhiều.
Khi
đứa cháu hỏi :
- Con
có mập không nội?, bà “tếu” liền :
-
Mập gì đâu! Chỉ có thịt bọc xương thôi hà!
Một
người bạn của tôi viếng thăm, mời bà ăn bánh :
-
Mời bác ăn một cái bánh cho vui!
Bà
cười dí dởm đáp :
-
Ăn mười cái mới vui, chớ ăn một cái chưa đủ vui
đâu?