Lời nói
đầu
Trên
bước đường lánh nạn cơn chiến chinh khốc liệt năm 1945,
từ Trà Vinh về Cao Lãnh bằng xuồng chèo trên giòng sông Cửu
Long, hằng ngày tôi đã phải ngắm nhìn vài mươi xác người
sình chương trôi lềnh bềnh trên giòng nước. Hình ảnh ghê
rợn đó đã ám ảnh tôi suốt quãng đời thơ ấu. Tôi hằng
khoắc khoải về thân phận bé bỏng của con người, và ước
mong tìm ra giải đáp về lẽ sống chết qua tôn giáo. Do đó,
tôi đã không ngần ngại viếng các ngôi thánh đường công
giáo, Tin Lành và Cơ Đốc Phục Lâm để tìm hiểu. Thánh đường
nào cũng đồ sộ nguy nga, quý vị linh mục và mục sư hùng
biện, chương trình nghi lễ tươm tất, tổ chức thanh thiếu
niên vui tươi, hợp với ban ca thánh điêu luyện…, nên đúng
ra phải có sức lôi cuốn tuổi trẻ rất mạnh. Thế nhưng,
dẫu cố gắng hết sức, tôi vẫn thấy mình xa lạ ngàn trùng
với tôn giáo nầy. Nỗi niềm xa lạ đó, không phát sinh từ
lý luận đúng sai, mà thật ra chỉ dựa vào một thứ trực
giác mơ hồ khó giải thích. Tôi có cảm giác rằng, vĩnh viễn
mình chỉ là người khách đứng bên ngoài chớ không thể
nhập cuộc thành một con chiên ngoan ngoản được.
Mãi
đến năm mười tám tuổi tôi mới đặt chân đến cổng chùa.
Lần đó, tôi theo người bạn thân tên Trịnh hưng Vận đến
chùa Linh Sơn, chợ Cầu Muối, Saigon do hòa thượng Thích Tắc
Thuận trụ trì, để dự lễ sám hối. So với thánh đường,
ngôi chùa tiều tụy nghèo nàn, tổ chức lượm thượm, không
có ban ca nhạc, không phần thuyết giảng, không có ban “làm
chứng đạo” nồng nhiệt chiêu dụ. Có lẽ nhờ vậy mà
tôi dễ cảm thấy tự nhiên thoải mái. Tôi chiêm ngưỡng
tượng Phật từ bi, tôi lặng nhìn thầy trụ trì hiền hòa
từ ái, tôi lắng nghe tiếng chuông thanh thoát, tôi hòa hợp
với niềm vui mộc mạc của những cụ bà Phật tử quê mùa…
Và tôi bỗng khám phá rằng dường như tất cả những gì
ở chốn nầy đều thân thương đều quen thuộc với tôi tự
kiếp nào. Tôi lễ Phật trong niềm vui lạ lùng của một đứa
con hoang đàng lạc lõng bất ngờ được quay về ngôi nhà
xưa ấm êm. Dù chưa hiểu chút giáo lý, chỉ trong một thời
gian ngắn, tôi xin thọ tam quy ngũ giới và được thầy ban
pháp danh Thiện Tâm, về sau, tôi chọn cho mình pháp hiệu Hư
Thân. Hư thân vừa mang nghĩa là thân hư huyễn, vừa ngầm
gợi lại hình ảnh đứa con hoang đàng hư hỏng về nhà, tâm
trạng của tôi khi vừa “trở về” chùa.
Tôi
bắt đầu tự tìm hiểu Phật giáo qua bộ Phật Học Phổ
Thông của thầy Thiện Hoa. Khi nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm,
đến đoạn Đức Phật dạy vua Ba Tư Nặc : “Nầy Đại Vương!
Thân thể mặt mày ông tuy già, mà cái thấy vẫn không già.
Cái nào già thì cái ấy sẽ bị biến đổi sanh diệt; còn
cái nào không già, thì không biến đổi sanh diệt! Nó đã
không sanh diệt, thì làm sao bị luân hồi sanh tử được…”bất
chợt lòng tôi rung động, một niềm vui mênh mang tràn ngập
thân tâm tôi và đã kéo dài hàng tháng. Từ đó tôi vững
tin rằng tôi vốn đã không sanh và cũng sẽ không bao giờ
diệt. Tôi thường tìm đến chùa Aán Quang xin gặp thầy Thiện
Hoa thỉnh thầy chỉ dạy những điều chưa thông suốt. Pháp
nhủ thầy giản dị, dễ hiểu và có lẽ đã đi thẳng vào
tâm tôi, nên bao năm tháng trôi qua, mà lời dạy của người
vẫn hiển hiện sáng ngời trong tâm khảm. Tôi luôn luôn kính
thầy là bậc ân sư đã khai mở cho tôi phát tâm bồ đề.
Điểm tâm đắc mà tôi đón nhận nơi ân sư là tinh thần
hài hòa dung hợp tông phái : thầy tu tịnh độ, nhưng trong
tịnh lại tràn ngập thiền, giáo, mật. Về sau, có lúc tôi
dành rất nhiều thời giờ để học hỏi và thực tập thiền.
Thế nhưng, càng nghiên cứu thiền, thì niềm tin của tôi đối
với pháp môn tịnh độ càng tăng thêm phần kiên cố.
Sau
năm 1963, tôi lại có duyên học Phật tại Viện Cao Đẳng
Phật Học (tiền thân của Phân Khoa Phật Học, Viện Đại
Học Vạn Hạnh). Tôi được quý thầy Nhất Hạnh, Thanh Từ,
Minh Châu, Thiên ân, Thanh Kiểm… cùng các vị cư sĩ như cụ
Mai thọ Truyền, Nguyễn đăng Thục, Phan Khoang… giảng dạy.
Đối với tôi, vị thầy đặc sắc nhất mà tôi học hỏi
và chịu ảnh hưởng sâu đậm là thầy Nhất Hạnh. Tôi mang
ứng dụng những điều thầy dạy vào cuộc sống hàng ngày
và nhận thấy đã gặt hái rất nhiều lợi lạc.
Tôi
ghi lại vài giòng vắn tắt về bước đầu học Phật, để
nhân dịp nầy nói lên lòng thành kính và biết ơn sâu xa của
tôi đối với bổn sư, ân sư Thiện Hoa, quý thầy, quý bạn
đã dạy dỗ và hướng dẫn tôi tìm về suối nguồn Phật
Pháp.
Phật
Giáo đã là niềm tin, lẽ sống của tôi bao năm qua. Nhờ chỗ
dựa tinh thần nầy mà khi giòng đời trắc trở, tôi không
đến nỗi bị cái thắng thua, vinh nhục… làm xao xuyến, và
vẫn có thể tìm được những giây phút thanh thản nhẹ nhàng.
Từ khi lưu lạc xứ người, nghĩ đến thâm ân Tam Bảo, tôi
hằng ước nguyện sẽ làm điều gì để góp phần nào vào
công cuộc hoằng dương đạo pháp. Nhân duyên tình cờ đưa
đến khi quý thầy kêu gọi tôi viết bài cho một tập san
Phật giáo. Tôi đắn đo định viết bài khảo cứu, nhưng
cuối cùng tôi thử chọn thể truyện ngắn phảng phất chút
hương vị đạo, và cứ thế mà tiếp tục sản xuất cho đến
ngày nay. Với tôi, viết truyện đạo là một phương cách
biểu lộ niềm tin sâu xa vào Phật Pháp, vừa có cơ hội nhìn
lại chính mình để tu dưỡng thân tâm. Khuyết diểm của
truyện ngắn là, do nhu cầu câu chuyện, phần giáo lý không
thể trình bày đầy đủ, rõ ràng và có thứ lớp, do đó,
bạn đọc nên thận trọng, tránh tiếp thu một cách dễ dãi.
Qua những mẩu chuyện đạo, tác giả chỉ ước mong gởi đến
người đọc chút hương đạo nhẹ nhàng và nếu may mắn,
có vị nào nhân đọc truyện mà hứng thú tìm hiểu sâu rộng
Phật Pháp, thì hân hạnh cho tác giả biết bao. Ngoài ra, tác
giả cũng xin lưu ý bạn đọc là một truyện ngắn, dù đã
được dựa vào sử liệu và nhân vật có thật, thì tình
tiết cũng bị thêm bớt và nhồi nắn lại nên phải được
coi là một sản phẩm tưởng tượng.
Nhân
đây, tác giả xin có lời cảm tạ quý thầy, quý thân hữu
và bạn đọc đã hướng dẫn, khuyến khích, cung cấp tài
liệu và giúp đỡ tác giả hoàn thành các tập truyện.
Tác
giả đặc biệt xin chân thành tri ân hòa thượng Đức Niệm,
vị thầy đã hết lòng khuyến khích nâng đỡ tác giả sáng
tác. Không có sự yểm trợ của hòa thượng, chắc chắn tác
giả đã ngưng viết từ lâu.
Trân
trọng.
Tháng
7.1998
Hư
Thân Huỳnh trung Chánh