NGƯỠNG
CỬA của THƯƠNG YÊU
Kính
dâng thiền sư Nhất Hạnh,
Vị
thầy đã dạy con biết dừng lại và nhìn sâu
để
biết hiểu và biết thương.
Tiếng
chén đũa nồi niêu khua rổn rảng hòa nhịp với những lời
càu nhàu vô nghĩa của vợ trong bếp, tựa như một thứ vũ
khí bén nhọn liên tục châm chích đâm thọc Bảo, khiến cơn
giận điên cuồng mà chàng đang cố gắng đè nén bỗng sôi
sục trở lại. Bảo "ức sức" muốn vào bếp, túm tóc vợ
đập cho một trận "tơi bời hoa lá" thì mới hả cơn. Thoáng
nghĩ vậy thôi, chớ Bảo đâu phải là kẻ vũ phu lỗ mãng
đánh đập vợ; đôi khi, giận "cái mụ" lắm mồm hỗn hào,
chàng tức tối đập chén dĩa, đá bàn, đá ghế... là tột
cùng rồi. Lần nầy, để đối phó lại, Bảo rầm rầm dẫn
chiếc xe đạp ra cửa. Trước khi phóng lên xe, chàng còn ngoái
cổ lại dò xem phản ứng mụ vợ có thay đổi gì không? nào
ngờ, cái mặt "mâm" của vợ vẫn chầm vầm lạnh nhạt chẳng
thèm lưu tâm đến sự giận dỗi của chồng, khiến Bảo vừa
tức vừa thẹn, phóng xe đi một nước.
Bảo
điên tiết lái xe bừa bãi loạn cuồng, suýt tông vào những
chiếc xe xuôi ngược, bị thiên hạ chửi bới bóp còi inh
ỏi, mà vẫn dửng dưng chẳng hay biết. Những chuyện giận
hờn xưa cũ, từng cử chỉ, từng lời nói chanh chua, nặng
nhẹ... của vợ cứ thi đua nhau múa may quay cuồng trong đầu,
khiến cho cơn sân hận của chàng lại càng tăng ngùn ngụt.
Tình cờ, Bảo đạp xe qua cầu Hoàng Diệu, chàng ngẩn ngơ
nhìn ngôi trường Thoại Ngọc Hầu, nơi đã ghi bao kỷ niệm
ấm êm của cặp tình nhân thuở còn son trẻ. Chàng lắc đầu
xua đuổi hình bóng năm xưa, thẩn thờ đạp xe về hướng
bệnh viện, rồi lần về công viên Nguyễn Du. Công viên ngày
xưa là nơi hò hẹ lý tưởng nhất của cặp tình nhân, chỉ
cần nhìn nhau, chỉ cần nắm tay nhau... là hạnh phúc đã ngất
ngây đầy ấp. Những ngày thơ mộng đó, công viên tràn ngập
những cánh bông móng ngựa rực rỡ, với giòng sông Cửu Long
bao la trời nước, thấp thoáng bên kia là cù lao Ông Hổ xanh
tươi, được tô điểm đây đó bằng vài chiếc xuồng chèo
xuôi ngược. Công viên giờ đây hắt hiu tàn tạ, lối đi
loang lổ xình lầy, cỏ cây xơ xác, bờ sông cẩn đá đã
bị soi mòn sụp đổ. Có lẽ, chỉ có đài vi ba cô đơn bên
Ty Bưu Điện, tuy cũng bị thời gian soi mòn rỉ sét, mà vẫn
còn gắng gượng giữ nét hào hùng cao ngất như xưa. Bảo
thở dài tự nhủ: "Ôi! Dẫu mình cố sức bám víu cái hào
quang xưa cũ thế nào thì cũng không che giấu nỗi chuỗi ngày
sự nghiệp xuống dốc tan hoang được. Mình đã mất hết,
mình đã te tua rách nát gầy còm, nên mụ vợ mới khinh lờn
hỗn láo, từ những chuyện cỏn con chẳng ra gì mà cũng càu
nhàu, gây gổ hành hạ chồng!...". Bảo ngắm nhìn giòng nước
phù sa cuồn cuộn để tìm quên, nhưng hình ảnh vụ cãi vã
nóng sốt cứ hiển hiện rõ ràng từng chi tiết nhỏ, không
cách gì trốn tránh được. Mới hôm qua đây, trong khi Ngọc
đi chợ, Bảo buồn tình lang thang ngoài phố, tình cờ gặp
lại người bạn thân xa xưa. Hai người kéo vào quán tỉ tê
tâm sự, quên mất ngày giờ. Về nhà trễ bữa cơm trưa, thấy
mặt Ngọc bùng thụng, lẽ ra Bảo giã lã đôi lời thì yên
xuôi, thế nhưng khi sáng thấy vợ lúi húi soạn mớ thuốc
tây cho bà nhạc, chàng hơi bực bội nên lơ là chẳng mở
lời. Bữa cơm chiều ăn uống lơ là trong bầu không khí giận
dỗi vu vơ, chợt Bảo lỡ lời chê món canh nêm hơi lạt. Thế
là Ngọc đùng đùng nổi giận hét vang: "Muốn ăn uống cho
vừa ý, sao không lăn vào bếp nấu nướng! Hứ! suốt ngày
mài miệt rong chơi chẳng ra trò trống gì! Tất cả mọi việc
đều đổ lên đầu con mọi cái nầy, vậy mà còn bày đặt
khen với chê!". Bảo nạt một tiếng đàn áp cho vợ câm mồm,
ngờ đâu, Ngọc lại ong óng đốp chát chẳng kiêng nể tí
nào. Thế rồi nàng bù lu bù loa khóc lóc, kể lể hàng trăm
thứ chuyện, lên án Bảo hàng trăm thứ tội, đoạn chỉa
mũi dùi sang gia đình chồng, chỉ trích oán trách không sót
một người. Kể về chuyện nhớ dai, thù vặt, đặt điều
thêm bớt... thì Ngọc thuộc vào hàng cao thủ thượng thặng,
như vậy làm sao một thằng đàn ông "tâm hơ tâm hất" như
Bảo có thể ngang tài giao đấu. Bảo thua sát ván, không vạch
được lỗi gì của vợ để đối phó, cuối cùng tức quá,
chàng đành móc ngoéo đến bà già vợ khó ưa, phóng cho mấy
chiêu hiểm độc để khóa miệng Ngọc. Trận khẩu chiến
nhờ vậy tạm ngưng, nhưng tình trạng căng thẳng ngấm ngầm
lại có nguy cơ tác hại mãnh liệt. Vợ chồng Bảo nhìn nhau
toé lửa như hai con thú dữ sẵn sàng phung nọc độc và cấu
xé nhau bằng những lời lẽ hiểm hóc cay chua.
Nghĩ
cho cùng, mầm mống tình trạng gia đình khủng hoảng quả
đã phát xuất từ bà nhạc mẫu đoản hậu của chàng. Nhạc
mẫu Bảo nguyên là một nhà thầu khai thác đá tại vùng núi
Sập. Bảo là Phó Ty Công Chánh Pleiku, tuy không trực tiếp
nâng đỡ mẹ vợ, nhưng bà cũng dựa được vào uy thế con
rể, để tiến hành thuận lợi cho dịch vụ cung cấp đá
trải đường cho các Ty Công Chánh miền Tây. Do đó, tuy là
phận rể con, mà Bảo lại được bà tôn quý, vồn vã đón
rước, trọng vọng tiếp đãi một cách khác thường, đến
nỗi chính chàng cũng cảm thấy ái náy ngại ngùng. Thế nhưng,
sau khi thời cuộc đổi thay, Bảo tiêu tan sự nghiệp phải
đưa gia đình về An Giang nương náu, thì thái độ của bà
đã xoay chiều nhanh chóng. Bà lơ là, tránh né con rể. Thời
gian ngắn sau đó, bà ra mặt công khai ruồng rẫy kẻ thất
thời: xua đuổi Bảo, coi rể như thứ cùi hủi, gần gũi sẽ
bị lây bệnh "ngụy" nan y. Thậm chí, bà còn gợi ý khuyên
con gái bỏ chồng ngụy, chọn chồng mới làm cán bộ cho sung
sướng tấm thân. Bảo không kế sinh nhai, phải hành nghề
thợ mộc, và bất cứ mọi thứ công việc nặng nhọc nào,
miễn là có được chút đỉnh tiền gắng gượng nuôi gia
đình bữa đói bữa no. Đói rách thì chịu, Bảo thề độc
rằng thà chết, chớ trọn đời tuyệt đối sẽ không nhờ
vả mẹ vợ. Tuy đã thề độc, vậy mà vì thương con, cần
tiền lo cho hai đứa con vượt biên sang Hoa Kỳ sống với bên
nội, vợ chồng Bảo đã phải lóc cóc dẫn nhau đến nhà
mẹ vợ khóc than, năn nỉ mượn bốn lượng vàng, hứa sẽ
bán ngay căn nhà trả nợ. Bà mẹ đã thẳng thừng từ chối
mà vợ chồng Bảo cứ lải nhải van xin, bực quá, bà dọa
tố cáo nội vụ cho công an khiến vợ chồng Bảo hoảng hốt
gạt nước mắt lủi thủi ra về tức khắc. Trong hoàn cảnh
tuyệt vọng đó, Bảo bất ngờ nhận được tiền tiếp tế
và thơ của thân nhân tại Hoa Kỳ. "Có lúa mới vay được
gạo", Bảo cầm cái thơ chứng minh nguồn tiếp tế của mình,
ghé thăm vài thân hữu là vay được ngay số tiền cần thiết.
Mẹ vợ Bảo tuy gắt gao tiền bạc với rể nhưng lại dễ
dãi với thằng con trai út. Chẳng biết cậu út òn ỉ cách
nào, mà bà cứ mở hồ bao, "lòn" ra từ mươi lượng vàng
nầy đến mươi lượng khác, để hắn kinh doanh. Thua keo nầy,
cậu út bày keo khác, cứ thế mà rút rỉa tiền bạc bà già
cho đến lúc cạn queo. Bấy giờ, thì cô con dâu mới trở
mặt hất hủi bà, khiến chuỗi ngày còn lại của bà cũng
trăm cay ngàn đắng. Phần Bảo nhờ được thân nhân tại
Hoa Kỳ thỉnh thoảng tiếp tế nên bắt đầu đỡ vất vả,
sau đó, hai đứa con hiếu thảo lớn lên, lại gởi tiền về
chu cấp đều đặn, nhờ vậy, nếp sống ngày càng trở nên
sung túc phong lưu. Thừa tiền, Bảo rộng rãi chia xẻ cho mọi
người, kể cả những kẻ hoàn toàn xa lạ, nhưng riêng đối
với mẹ vợ, mối hận năm xưa chưa phai, nên Bảo vẫn lăm
lăm tìm đủ mọi phương cách kềm kẹp, ngăn chận Ngọc phụng
dưỡng bà. Mỗi lần nghi ngờ Ngọc lén lút mang thuốc men
tiền bạc chu cấp mẹ, tuy chàng ngại mang tiếng là nhỏ mọn,
không mở lời trách thẳng nhưng mối bực bội cứ canh cánh
bên lòng, chờ cơ hội móc ngoéo sang chuyện khác, nên sớm
muộn gì thì gia đình chàng cũng có chuyện "gấu ó" giận
hờn.
Bảo
lơ đãng nhìn giòng sông An Giang cuồn cuộn, chàng chợt nghĩ
nếu thân xác mình được chìm sâu dưới giòng nước kia thì
bao nhiêu chuyện rắc rối phiền hà: thương yêu, thù hận...
đều tan biến mất, và mình sẽ khỏe khoắn biết bao nhiêu!
Bảo lắc đầu xua đuổi ý nghĩ chết chóc lởn vởn trong
đầu, rồi chẳng biết do động lực nào thúc đẩy, chàng
lừng khừng dắt xe đạp xuống đò ngang đi qua cồn Mỹ Hòa
Hưng. Chàng đi để mà đi, chớ thật ra thâm tâm lờ mờ chẳng
biết sẽ đến đâu và làm gì? Mãi đến khi thuyền cặp bến,
Bảo mới sực nhớ đến người bạn cũ cư ngụ gần bến
đò, liền phóng xe đến nhà bạn. Thuận là người bạn thân
thiết thuở thiếu thời, khi cả hai còn là huynh trưởng Gia
Đình Phật Tử Chánh Nghĩa, chùa Quảng Đức. Lớn lên hai
người vẫn thường gặp nhau tâm sự chuyện đời, chuyện
đạo, nhưng từ khi cô con gái duy nhất đột ngột xuất gia,
vợ chồng Thuận dứt khoát bỏ nghề dạy học, bán căn nhà
ở chợ để lui về quê nhà tại xã Mỹ Hòa Hưng sinh sống
với nghề rẫy bái, thì việc qua lại thưa dần.
Bảo
vừa dựng chiếc xe đạp dưới gốc cây vú sữa trước sân,
khóa kỹ lại, thì lại đã nghe mẩu đối thoại vui tươi
của cặp vợ chồng Thuận và Thảo ra ngoài:
- Ối
chà! Người đẹp của anh lại cưng chồng, lại thết đại
tiệc nữa rồi!
- Anh
kỳ quá hà! Em già khù xấu hoắc rồi, mà cứ giỡn chơi gọi
người đẹp hoài, rủi ai nghe được, người ta cười thúi
đầu đó!
- Hì!
Hì! Nè! Lúc trẻ thì em đẹp theo trẻ, về già đẹp theo tuổi
già! Anh thấy sao nói vậy, ai cười anh cứ cười, việc gì
anh mắc cỡ!
- Anh
cứ trăng nói cuội hoài! Em đã già cả hom hem, da nhăn tóc
bạc rồi thì còn đẹp nỗi gì!
- Ậy!
Em có nhớ câu kệ "mỗi khi dùng đến lại thành mới tinh"
(1) của sơ tổ Trúc Lâm không? Đây là anh học theo cách nhìn
của tổ: "Mỗi lần nhìn vợ, mỗi lần thấy đẹp ra"! Hì!
Hì!
Là
chỗ bạn thâm giao, Bảo chẳng cần báo trước, ngang nhiên
xô cửa bước vào, cắt đứt câu chuyện thân mật của vợ
chồng gia chủ, rồi cười vang lên tiếng:
- Hai
ông bà nầy, già mà còn "mùi tận mạng" đa!
- A
chào Bảo! Lâu quá không gặp nhau! Anh đến chơi thật bất
ngờ! Làm vợ chồng tôi mừng quá! ủa! Chị Ngọc đâu? sao
không đi với anh?
Bảo
ngập ngừng một lúc, rồi bịa chuyện cho qua:
- Bà
nhạc đau nên bả về đằng đó chăm sóc! Chớ lức đầu
đã định cùng đi với tôi rồi!
Điều
bất ngờ là vợ chồng gia chủ lại tỏ vẻ quan tâm đặc
biệt đến sức khỏe bà cụ, họ thay phiên nhau hỏi han rối
rít:
- Tội
cho bà cụ quá! bà đau bệng gì? Lâu chưa? Nặng không anh?
Bác sĩ cho biết bệnh tình như thế nào vậy anh?...
Bảo
vốn "kuot; mẹ vợ, mỗi khi nghe tin bà gặp việc chẳng
lành, tuy bề ngoài tỏ vẻ thương hại, nhưng thật ra rất
khoái trá trong lòng, không mở miệng mắng thầm "cho đáng
đời!" là tốt lắm rồi. Lời thăm hỏi bệnh tình chân thành
của gia chủ khiến Bảo nhột nhạt, lúng túng mấy giây mới
ngập ngừng đáp:
- Bệnh
già mà anh chị! Bà chỉ yếu tổng quát chớ đâu có gì quan
trọng!
Rồi
để tránh khỏi phải trả lời dông dài về một đề tài
khó ưa, Bảo giả vờ ngắm thích thú bức tranh treo trên vách,
lên tiếng:
- Anh
chị có bức tranh đẹp quá! Ô! Mà lại có điểm thêm hai
câu thơ Kiều nữa!
"Bây
giờ rõ mặt đôi ta!
Biết
đâu rồi nữa, chẳng là chiêm bao!" (2)
Ối
chà! Chàng và nàng tình quá, bỏ thị thành để đi xây dựng
"một mái tranh hai quả tim vàng" ngâm thơ vịnh nguyệt đây
nầy!
Thuận
cười hệch hạc:
- Ơ!
tụi nầy thỉnh thoảng cũng đọc thơ Kiều, nhưng không đọc
với tâm trạng chìm đắm theo đoạn đời khổ đau sầu muộn
của Kiều, mà chỉ nhằm khám phá đạo vị trong thơ Nguyễn
Du, để nương vào đó tu sửa thân tâm anh ạ!
- Nói
như vậy! thì hai câu thơ nầy có đạo vị, nhưng đạo vị
ở chỗ nào, anh có thể giải thích tôi nghe được không?
- Tranh
nầy bắt nguồn từ suy tư của bà xã tôi, tôi chỉ ghi lại
bằng nét vẽ. Suy tư của bả, chắc tôi phải nhờ bả trình
bày thì mới đầy đủ.
- Ơ!
em...
- Thôi
mà! Ngại ngùng gì em! anh Bảo là bạn đạo lâu đời của
mình! Em cứ trình bày suy tư của em, nghĩ sao nói vậy, có
trật ảnh cũng không cười mà!
Thảo
trầm ngâm nhớ lại chuyện xưa, rồi chậm rãi mở lời:
- Tôi
là đàn bà, nếu tôi có "cà kê dê ngỗng" dài dòng văn tự
xin anh thông cảm nghen. Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi. Ngày
đó, anh Thuận vừa được trả tự do, sau khi bị giam giữ
hai tháng, vì đã tham dự buổi hội họp "bị coi là khả nghi"
của Gia Đình Phật Tử tại Saion. Vui mừng đoạn tụ mà tôi
vẫn ngay ngáy lo lắng an nguy cho ảnh sau nầy, nên tôi cô lập
hóa không để ảnh liên lạc với bạn bè, và thường xuyên
gây gổ lằng nhằng ảnh về cái tính tào lao lo chuyện bao
đồng tự chuốc khổ vào thân, mà còn làm khổ lây đến
vợ con nữa. Một hôm ngủ trưa, trong chiêm bao tôi thấy ảnh
chết trong tù. Tôi đau đớn rụng rời khóc ngất thì tỉnh
dậy. Mắt đẵm lệ, chân quính quíu, tôi nhớn nhác tìm ảnh.
Ảnh đứng lặng yên bên khung cửa sổ, gầy gò tiều tụy.
Tôi thấy ảnh "rõ ràng trước mặt còn ngờ chiêm bao"(3).
Tôi dụi mắt véo tai mấy lần để được yên tâm, rồi tôi
chợt nghĩ nếu chiêm bao là thật thì mình mất tất cả rồi,
mình đâu có cơ hội nào nhìn chồng nữa. Khi đó, lòng tôi
không còn tha thiết điều nào khác, tôi buông bỏ hết mọi
sự mọi việc, để tập trung tất cả vào chồng, ngắm nhìn
từng chi tiết nhỏ: một sợi tóc bạc, một vết nhăn...,
thấy được nỗi ưu tư hoài bảo, thấu suốt cả tấm lòng
vị tha suốt đời tận tụy hi sinh cho vợ con, cho đạo pháp
của chồng. Cảm nhận được điều đó, tôi xúc động thân
tâm, hạnh phúc ngập tràn. Tôi khám phá rằng sống với chồng
bao năm mà chưa lần nào tôi nhìn chồng suông mà hạnh phúc
như lần nầy. Có thể trước đây, ngoài việc sống bên nhau
tôi luôn đòi hỏi phải chờ hội đủ thêm hàng trăm điều
kiện khác về công danh sự nghiệp, gia đình, xã hội... thì
mới có hạnh phúc, nên hạnh phúc lúc nào cũng ở ngoài tầm
tay, không với tới được. Tôi lại luôn luôn bận bịu đầy
ấp chuyện vui buồn, hờn giận, hơn thua..., nên lúc nào cũng
qua loa hời hợt, chỉ biết vòi vĩnh, nhăn nhó, càm ràm...
thì làm sao thấy được hạnh phúc tràn đầy bên cạnh người
mình thương. Tôi nghĩ dẫu chồng tôi không chết trong tù,
thì ngày nào đó hai vợ chồng già cũng có người gãy gánh.
Ai biết chắc ngày đó là ngày nào? Ngày nay kề cận bên nhau,
tại sao mình lại không thể nhìn nhau, thương nhau, chăm sóc
nhau, tận hưởng cho hết hạnh phúc bên nhau liền bây giờ,
kẻo chờ đến ngày mai sẽ không còn kịp nữa. Trong chiều
hướng suy tư đó, tôi đã chọn hai câu thơ Kiều:
Bây
giờ rõ mặt đôi ta
Biết
đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao!
để
làm phương tiện nhắc nhở tôi biết tận dụng những giờ
phút bên nhau, bởi vì biết đâu ngày mai sẽ như mộng mị
chiêm bao và không bao giờ có thực!
Nghe
chuyện người, ngẫm phận mình Bảo xót xa thầm nghĩ: "Mình
lỡ dại chết đi, mụ vợ mình chắc sẽ khoái chí vật heo
ăn mừng, chớ làm gì có chuyện khóc với thương!". Chàng
ta buồn hiu, nhưng gắng gượng nhếch môi nửa cười nửa
mếu lên tiếng:
- Hì!
Hì!... Chị là một người đàn bà yêu thương chồng tột
bực! Yêu đến độ phải làm tranh, đề thơ để nhắc nhở
phải yêu nhiều, yêu lập tức, yêu dài dài... quả là việc
thế gian hy hữu, khó tin mà có thật...
Tránh
cho vợ đỡ ngượng nghịu trước lời nói bỡn cợt của
Bảo, Thuận giải thích:
- Ơ!
thật ra, chữ "đôi ta" phải hiểu rộng ra là ta và đối tượng
đang hiện hữu, "đôi ta" có thể là ta và em bé, ta và tách
trà, hay ta và giòng sông...; và trong giây phút hiện tại nầy,
"đôi ta" chính là anh và vợ chồng tôi, chúng mình phải biết
tỉnh thức để tận hưởng buổi hội ngộ nầy, "nếu không
rồi nữa chẳng là chiêm bao!".
Thảo
bổ túc:
- Đúng
vậy anh ạ! Theo tinh thần đó vợ chồng tôi rất hoan hỉ
tiếp đón anh và mong sao buổi gặp mặt đặc biệt nầy tràn
đầy vui tươi và lợi lạc!
- Cám
ơn anh chị! Tôi đã cảm nhận được điều đó! sự ân cần
thành thực của anh chị giúp tôi vô cùng thoải mái, điều
mà tôi không bao giờ có được khi nói chuyện với người
khác!
- Anh
Bảo ăn cơm trưa với vợ chồng tôi nhé! Cơm nước xong mình
sẽ tiếp tục câu chuyện, kẻo thức ăn nguội lạnh hết!
Vốn
quen nếp sống rượu thịt phong lưu, Bảo nhìn mâm cơm đạm
bạc chỉ gồm có chén nước tương, một dĩa đọt rau lang,
bông điên điển, một dĩa rau càng cua trộn dấm, cùng với
hai miếng đậu hủ muối xả... mà chán ngán trong lòng, nhưng
nếu từ chối lại ngại người bạn nghèo tủi thân, nên
đành sốt sắng cầm đũa.
Tuy
nhiên, có lẽ nhờ đang cơn đói bụng, lại gặp món ăn đồng
nội quê mùa lạ miệng, Bảo "tự nhiên quá trớn" tấn công
tới tấp, khiến Thảo phải tíu tít chạy ra sau vườn hái
thêm rau tiếp tế.
- Chị
nấu ăn ngon tuyệt vời! Thảo nào khi tôi vừa tới cửa đã
nghe ảnh tán tụng là được cho ăn đại tiệc!
- Hì!
Hì! Đối với tôi, thức ăn nào vợ nấu nướng chẳng là
đại tiệc!
Thảo
nghe chồng tán tỉnh thẹn thùng trách chồng::
- Anh
đùa như vậy không sợ anh Bảo cười trẹo quai hàm sao?
Rồi
quay sang Bảo, Thảo ấp úng phân bua:
- Cảm
tạ anh quá khen! Thức ăn toàn là rau luộc thì ai làm chẳng
được! Sở dĩ anh Thuận dùng chữ "đại tiệc" chỉ vì hôm
nay có đậu hủ mà thôi! Số là hoa lợi của mấy giồng khoai
và nửa công ớt của anh Thuận trồng chỉ đủ đổi gạo
và vài vật dụng cần thiết, nên thông thường mâm cơm toàn
là "cây nhà lá vườn" miễn phí, lâu lâu tôi mới dám xài
sang, mua đậu hủ để có thêm chất đạm.
Nghe
rõ nếp sống bẩn chật của gia chủ, Bảo động lòng trầm
ngâm nghĩ ngợi mông lung: "Họ nghèo rớt mồng tơi, thiếu
trước hụt sao, ngụ trong gian nhà lá trống trải, phục sức
đơn sơ, ăn uống đạm bạc, một miếng đậu hủ rẽ rề
mà cũng phải dè xẻn ăn tiêu... tội nghiệp quá! Mình tội
nghiệp họ, nhưng dường như chính họ chẳng cảm thấy khổ
sở tí nào! Họ bình thản với cái nghèo, sống hồn nhiên,
vui tươi an lạc kia mà? Hạnh phúc đến với họ xem ra dễ
dàng quá: họ nhìn nhau, họ âu yếm đối thoại, họ nâng
niu săn sóc nhau... là đủ, họ không ước mơ, không đòi hỏi
điều gì khác, dù là loại của cải quý giá hay thứ "phép
lạ nhiệm mầu nào". Còn mình thì sao? Mình tuy chưa hoàn toàn
phục hồi được thời vàng son, nhưng đời sống vật chất
mình quá ư đầy đủ: nhà cao cửa rộng, tiền bạc thừa
thãi, áo quần tươm tất, mâm cơm thịt cá ê hề..., mà mình
có hạnh phúc tí nào đâu? Vợ chồng tranh cãi nhau dài dài,
ai cũng lăm le rình cơ hội đối thủ sơ hở để nặng nhẹ
chửi bới, thì nhìn mặt nhau đã là việc khó huống chi nghĩ
đến việc thương yêu chăm sóc nhau". Thế rồi Bảo thở dài
lên tiếng:
- Tôi
đang có chuyện nhức đầu, vậy mà tiếp xúc với anh chị
trong bầu không khí vui tươi an lành nầy tôi cũng cảm thấy
nhẹ nhàng! Anh chị có nếp sống thanh cao đầy đạo vị tôi
rất khâm phục! Thành thực mà nói, người làm tôi ngạc nhiên
và phục nhất chính là chị. Tôi đâu có lạ lùng gì về
tính nết của anh Thuận nữa! Nhưng làm sao tôi ngờ được
một cô gái con nhà giàu sang xuất thân trường đầm, lại
có thể từ bỏ những thú vui cùng tiện nghi của thành thị,
kể cả nhà cửa, danh vọng, bạc tiền để chui về chốn
quê mùa heo hút nầy, thanh thản sống giản dị, đạm bạc,
lấy việc cưng chồng, chiều chồng làm vui!
- Cám
ơn anh quá khen! Thật ra, là đàn bà thì tôi cũng thích chưng
điện, ăn sung mặc sướng, ở nhà rộng rãi thênh thang, thèm
danh vọng, địa vị, bạc tiền, nên trước đây, cứ mè nheo,
lằng nhằng anh Thuận, để đòi hỏi thúc đẩy ảnh phải
bươn chảy xoay sở gầy dựng sự nghiệp công danh sao cho bằng
người khác. Sau biến cố năm 1975, tiền bạc eo hẹp, sanh
hoạt khó khăn khiến tôi khổ đau cùng cực, tôi oán trách
đời, tôi giận chồng đã chậm chạp không chịu đi tản
ra nước ngoài..., tóm lại tôi sống trong tâm trạng bất mãn
thường trực, và trăm điều tội lỗi đều đổ lên đầu
chồng, làm khổ chồng dài dài... Cho đến một hôm, anh Thuận
mang thông điệp hiểu biết và thương yêu về cho cả nhà
tu tập, từ đó tính nết tôi thay đổi dần. Tôi hiểu biết
chồng, thương chồng nhiều hơn, lần lần hòa hợp với tâm
tư chồng, và cuối cùng đã thực sự tìm thấy được suối
nguồn an lạc qua nếp sống đạm bạc, giản dị tại chồn
nầy.
- Thông
điệp hiểu biết thương yêu như thế nào mà hiệu nghiệm
như thế? Ai truyền cho anh vậy Thuận?
- Thông
điệp hiểu biết thương yêu tạo thành một luồng sinh khí
mới cho gia đình chúng tôi thực tập, đã phát xuất từ một
chuyện thật tình cờ vào khoảng chín năm về trước. Năm
đó, nước sông Cửu Long dâng cao gây nạn lụt trầm trọng.
Một tổ chức Phật giáo người Việt nước ngoài gởi về
một số quà cứu trợ. Mỗi phần quà gồm hai hộp phó mát,
một hộp bơ, ba lon sữa đặc, một ký đường, hai cục xà
bông thơm, một khăn lông... và một ít tiền mặt đủ để
sinh sống trong vòng một tháng. Tôi được anh em giao trách
vụ cứu trợ đồng bào vùng Tri Tôn và Hồng Ngự, một vùng
đông đảo đồng bào Việt gốc Miên. Nhìn gói quà, tôi bỗng
nhớ thầy tôi từng dạy "nếu gặp người không biết ăn
trái sầu riêng, mà mình ép buộc người ta phải ăn, thì hành
động thương yêu đó chỉ gây khổ cho người ta mà thôi.
Thương như vậy, là không biết đem hiểu biết soi sáng cho
tình thương, do đó, tình thương trở nên què quặt, gây tổn
hại cho người". Tôi nghĩ trường hợp phó mát và bơ, cũng
tương tợ như vậy. Nó có thể là món ăn xa xỉ quý giá đối
với vài giới sang trọng ở thành thị, nhưng hoàn toàn vô
dụng đối với dân quê. Mang tặng họ có khi chỉ làm họ
khó chịu mà thôi. Do đó, trong buổi họp trước khi xuất
phát, tôi đề nghị nên thay thế hai thứ đó bằng loại thực
phẩm hữu dụng khác. Ban tổ chức không tán đồng ý kiến
của tôi, vì họ chủ trương rằng quà tuy không thích hợp
lắm, nhưng nếu đổi thành thứ khác chắc chắn sẽ nảy
sanh lắm chuyện hiểu lầm, rồi bị xuyên tạc mang tay tiếng
vô ích. Không thuyết phục được kẻ khác, tôi cương quyết
thực hiện ý định một mình, bất chấp mọi hậu quả có
thể xảy ra. Tôi tự động đem bốn thứ: phó mát, bơ, khăn
lông và xà bông thơm, ra chợ trời bán để đổi thành hai
mươi ký gạo, một cái mền, hai khăn rằn, ba ký lô xà bông
đá và ba tỉnh nước mắm. Đối với đồng bào Miên, thì
nước mắm được thay bằng mắm bò hóc cho hợp với nhu cầu
và sở thích của họ. Nhờ vậy, gói quà, đã tăng giá trị
thực dụng lên hàng bốn, năm lần, và rất hợp với nhu cầu
của nạn nhân bão lụt, nên đã được hân hoan đón nhận.
Công tác hoàn mãn, trên đường trở về nhà, lòng tôi rộn
ràng tràn ngập niềm vui. Tôi sung sướng vì nhận thấy nhờ
nắm vững được thông điệp hiểu biết thương yêu, mà tôi
đã mang được lợi ích thiết thực cho nạn nhân bão lụt.
Tôi chợt nghĩ tại sao mình không mang thông điệp nầy thực
hành trong gia đình để nắm vững được hạnh phúc kìa. Thế
rồi, với tinh thần hiểu biết, tôi tự đặt mình trong tư
thế bà xã, để có thể cảm thông với bả. Tôi bèn nhớ
lại, trước đây, sau chuyến công tác xã hội mệt nhoài,
về nhà thấy vợ kém vui, tôi sanh ra bực mình nên cũng lầm
lì, thành thử không khí hờn hờn giận giận kéo dài đến
mấy ngày mới trở nên bình thường. Giờ đây, đem sự hiểu
biết vào soi sáng, tôi mới nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn
mà vợ tôi phải cô đơn gánh vác: bả điên đầu với đường
lối dạy học thay đổi, phải hội họp liên miên ở trường,
ở xóm, phải đảm trách thêm lớp bổ túc văn hóa, phải
tham gia công tác thủy lợi, phải xếp hàng, phải chạy gạo
từng bữa, phải chăm sóc dạy dỗ con, đã vậy, lại còn
phải lo lắng an nguy cho người chồng đi biền biệt chẳng
có tin tức gởi về. Thì ra, từ trước đến nay tôi chỉ
nghĩ đến cá nhân mình, cho công tác của mình là cao quí nên
đã đui mù không thấy được lòng hi sinh cao cả và nỗi khổ
vô biên của vợ ở nhà. Suy tư đó giúp tôi thông cảm với
vẻ mặt bùng thụng của vợ khi tôi bước vào nhà. Tôi âu
yếm: "Em lo lắng lắm phải không? tội nghiệp em quá! anh bỏ
bê để em phải chịu khổ sở trăm bề một mình! Thương
quá là thương!". Chỉ nói chừng đó mà vợ tôi đã rưng rưng
nước mắt. Tôi lại vỗ về: "Sao em lại khóc? Mình phải
cười vui, mừng hội ngộ chớ!". Sau đó, tôi từ từ tường
thuật vụ cứu trợ, mô tả từng thảm cảnh bi đát của
nạn nhân, nhờ vậy, vợ hiểu chồng hơn, đồng thời cũng
sung sướng thấy sự hi sinh để chồng đi cứu trợ là xứng
đáng. Chưa bao giờ, vợ chồng tôi hiểu nhau và hạnh phúc
như lần nầy. Do đó, chúng tôi quyết định nuôi dưỡng thông
điệp hiểu biết và thương yêu thường trực hiện diện
trong nhà bằng phương pháp đặt tên cửa trước là cửa hiểu
biết, cửa sau là cửa thương yêu. Từ bên ngoài vào nhà liền
được nhắc nhớ rằng mình phải bước qua ngưỡng cửa hiểu
biết thì mới đạt đến ngưỡng cửa yêu thương tròn đầy
chân thực. Từ sau ra trước, được nhắc nhớ phải khơi
mở tình thương tràn đầy để mở rộng cánh cửa hiểu biết
hầu cảm thông với mọi loài, mọi người. Gia đình chúng
tôi, cứ thế mà thực tập và ngày càng cảm thấy an vui hạnh
phúc.
- Phương
pháp nầy hay quá! nhưng liệu gia đình khác có thể áp dụng
được không anh?
- Theo
tôi, việc áp dụng được hay không cũng tùy gia đình, tùy
hoàn cảnh. Kinh nghiệm nghề nông dạy tôi rằng nếu hội
đủ ba yếu tố đất, nước, ánh sáng mặt trời thì hạt
giống nào cũng nẩy mầm, nhưng muốn cây bụ bẫm sinh hoa
quả lại cần phải gia công nỗ lực săn sóc dài lâu thì
mới thành công được!
- Kinh
nghiệm trồng cây của anh hay thật! chắc tôi phải ra thăm
vườn để học nghề tay trái nầy mới được!
Thế
rồi, theo sự hướng dẫn của Thuận, Bảo viếng thăm sở
vườn nhỏ bé, ngăn nắp và xanh um cây trái của bạn. Bảo
ái ngại lên tiếng:
- Chắc
anh phải cực khổ với sở vườn nhiều lắm?
- Cuốc
đất, tưới cây, bón phân... tương đối cũng nhọc mệt,
nhưng khổ thì không. Trái lại, tôi còn tìm được những
giờ phút thoải mái, thảnh thơi với sở vườn, rút tỉa
học hỏi với cỏ cây nhiều điều bổ ích!
- A!
như vậy! thì chắc anh đã đạt được cái nhìn: "Trúc biếc
hoa vàng đâu cảnh khác! Trăng trong mây bạc lộ toàn chân".
(4)
- Tôi
đâu tu cao đến mức độ nhìn hoa lá thấy đạo như các bậc
tổ sư! Tôi chỉ rút tỉa những bài học rất tầm thường
từ cây cỏ mà thôi! Thí dụ như có lần tôi nhận thấy sau
trận mưa to rau cải và cỏ hoang đều phát triển mạnh, nếu
tôi lơ là không nhổ cỏ dại, thì cỏ dại sẽ lan tràn mau
chóng lấn áp cây khác. Rồi tôi nghĩ, những biến cố lớn
trong cuộc đời, vui hay buồn, có lẽ cũng giống như trận
mưa to, giúp cho những hạt giống tốt lẫn xấu sinh sôi nảy
nở. Nếu mình lơ là, thì cỏ dại tham sân si sẽ thao túng
mảnh vườn tâm, ngược lại, nếu biết chăm sóc, thì những
hạt giống lành từ bi hỷ xả sẽ phát triển xinh tươi. Lần
khác, khi săn sóc khóm cúc, khóm vạn thọ... tôi nhận thấy
cây nào mình cắt tỉa, vô phân, tưới nước chu đáo thì
nó sẽ bụ bẫm, hoa sẽ tươi thắm hơn. Tôi nghĩ con người
cũng vậy, vợ con, thân nhân, xóm giềng mình, nếu được
mình nâng niu chăm sóc bằng tình thương ngọt ngào, thì chắc
chắn họ sẽ xinh xắn, dễ thương hơn...
- Hì!
Hì! Tóm lại, bằng phương nầy thế kia, mục đích anh chẳng
qua để tán thán thuyết "thờ vợ, kính vợ" phải không?
Thuận
mĩm cười lảng tránh qua chuyện khác:
- Anh
Bảo, anh xem giây bí tơ nầy, nó mới lên được ba lá mà
đã thả cái vòi nhỏ xíu bám lên dàn rồi đây nầy. Vùng
Long Xuyên mình có câu hát ru em ví von về giây bí rất dễ
thương, có lẽ anh đã nghe qua:
"Bí
lên ba lá, trách ba với má, không chịu làm dàn
Để
bí bò lang, vô dang(5) bạc phận...
"Duyên
nợ ở gần, chẳng đặng xứng đôi..."
Thuở
nhỏ, khi nghe câu ru em nầy tôi rất hờ hững, còn bây giờ
làm vườn ngắm nghía giây bí mỗi ngày, tôi nhận thấy câu
hát mộc mạc nầy tình ý thâm trầm vô cùng. Giây bí lên
ba lá đã thả vòi tìm dàn mà leo tương tợ như cô gái đến
tuổi cặp kê tìm chồng để nương tựa. Gái có chồng không
xứng đôi, giống như giây bí phải bò lang dưới đất, thật
là tội nghiệp. Ngày xưa mình từng tự hào là thứ dàn khá
vững cho giây bí nương thân, nhưng giông tố đổi đời xô
ngã cài dàn sụp sát mặt đất, mà giây bí vẫn cam chịu
cái phận hẩm hiu với cái dàn thất thời, không bỏ vòi tìm
dàn khác, thật là tình nghĩa, thật là "đáng nể đáng kính"
phải không Bảo?
Bảo
nghĩ "vụ gì vợ mình tệ, chớ trung trinh với chồng, thì
bả có thua ai đâu", nên anh ta gật gật đầu tỏ ý tán thành.
Thuận lại bàn tiếp:
- Thật
ra, trường hợp dàn cũ sụp đổ, rồi giây bí có bỏ vòi
sang ngang tìm dàn khác, việc đó cũng thường tình, nên suy
cho cùng, "giây bí" nào cũng đáng thương, đáng trọng phải
không anh Bảo?
Thảo
đang ngồi rửa chén sau nhà, bỗng góp ý:
- Anh
nói mới nghe qua thật là chi lý, chừng bàn thêm chút nữa,
suy nghĩ kỹ lại thì thấy nó "ba phải" quá chừng hà!
- Trước
kia nếu tôi nghe ảnh lý luận kiểu nầy chắc tôi phải cãi
đến cùng! Giờ thì tôi hiểu ảnh rồi chị ạ! Nếu mình
biết đem trí hiểu biết để soi sáng cho mọi người, mọi
việc... thì chỉ có tình thương tràn ngập, đâu còn chỗ
đứng của lòng thù hận sân si nữa! Ảnh "ba phải" do tình
thương, chớ không ba phải vì cù lần đâu chị!
*
* *
Chỉ
sau vài giờ hàn huyên tâm sự với bạn, Bảo cảm thấy nỗi
hờn giận sầu đau vơi dần... Ngồi trên đò, trở về tỉnh
lBảo nghĩ "Bi và trí tức hiểu biết và thương yêu đâu
phải là vấn đề xa lạ. Mình đã thuộc nằm lòng là trong
bi có trí, trong trí có bi, mà không bao giờ biết đem áp dụng
điều đó vào đời sống thực tiễn, thảo nào gia đình mình
chẳng xào xáo. Mạnh vợ vợ nói, mạnh chồng chồng làm,
không ai chịu hiểu ai, nên thương mà cứ chống đối nhau,
ép buộc nhau, và do đó, càng thương nhau lắm, lại càng cắn
nhau đau". Thế rồi Bảo dừng tâm lại, gạt bỏ mọi thành
kiến, cố chấp, thành khẩn tự suy xét mình và cũng để
tìm hiểu vợ sâu sắc hơn. Trong suy tư bỗng Bảo khám phá
ra rằng khi chàng còn phải hành nghề mộc cực khổ, vợ chồng
thương yêu nhau "hạt muối cắn làm đôi", mãi đến khi được
con cái cung cấp tiền bạc phủ phê thì tình nghĩa phu thê
mới bắt đầu rạn nứt. Không bận tâm sinh kế, lại thừa
tiền Bảo giao du vui chơi với bè bạn suốt ngày, lơ là giờ
giấc, không quan tâm đến người vợ ở nhà cực khổ nấu
nướng, dọn sẵn mâm cơm tươm tất đợi chờ chồng. Đã
bao ngày Ngọc phải sống thui thủi buồn tênh: con ở xa, chồng
suốt ngày vắng mặt... thảo nào nàng chẳng "sanh tật" mặt
mày bùng thụng, bực bội vu vơ... Chuyện nầy trùng hợp với
việc Ngọc tới lui về nhà mẹ, thì mình lại nghi ngờ đề
quyết là trăm chuyện lộn xộn lớn nhỏ đều do mẹ vợ
xúi biểu mà ra. Chàng lại nghĩ, bà mẹ vợ mình tuy từng
xử tệ với mình, nhưng vợ mình là con, nếu bả hiếu dưỡng
mẹ cha đó là chuyện đáng khuyến khích, sao mình lại nhẫn
tâm cản ngăn kềm kẹp! Ai cản ngăn, xúi giục con mình bất
hiếu mình có khổ sở không? Thật ra, xét kỹ thì mẹ vợ
mình cũng không có hành động gì tệ hại lắm! Bà xót xa
trước cảnh con nghèo khổ nên xúi con lấy chồng khác cho
sung sướng tấm thân. Bà có thức ngon bổ dưỡng nào liền
nhắn con gái về nhà cho được, buộc con gái ăn tại chỗ,
chỉ sợ con gái chia bớt cho chồng con. Ngày xưa, những lần
Ngọc được mẹ tẩm bổ, về nhà thấy chồng con thiếu thốn,
đứng ngoài cửa khóc rưng rức, Bảo biết chuyện căm hận
bà vô tả. Giờ đây, Bảo thông cảm bà, nghĩ rằng chỉ vì
bà mù quáng thương con mà thiếu hiểu biết, vô tình gây thương
tổng cho người khác mà thôi!
Chìm
đắm trong suy tư, Bảo đạp xe thong thả nên khi về đến
nhà thì trời đã bắt đầu tối. Chàng hé cửa bước vào
thấy vợ đang ngồi ủ rũ trước bàn cơm chờ đợi. Mắt
nàng vụt sáng mừng rỡ, rồi xụ xuống ngay như chẳng thèm
để ý đến sự hiện diện của chàng. Nhìn mâm cơm dọn
sẵn, thấy có món mực dồn thịt, một thức ăn chàng vốn
ưa thích, Bảo cảm thấy tội nghiệp nàng vô cùng, té ra,
dù giận chồng như thế nào, Ngọc vẫn thương chồng, săn
sóc chồng chu đáo.
- Anh
về trễ khiến em phải chờ cơm! Thương quá!
Lần
đầu tiên nghe chồng ngọt ngào, Ngọc trố mắt ngạc nhiên,
nhưng vẫn lầm lì không lên tiếng.
Bảo
lẳng lặng xơi cơm cho vợ, - một việc mà trước kia chàng
cho đó là nhiệm vụ của đàn bà nên chẳng muốn đụng tay-,
rồi mời mọc:
- Ăn
đi em, kẻo thức ăn nguội hết!
Đúng
ra thì thức ăn đã lạnh tanh, tuy nhiên lần đầu tiên trong
đời, Bảo nghiệm thấy được tình yêu của vợ đã gói
ghém tràn đầy trong việc tỉ mỉ chăm sóc bữa cơm cho chồng,
nên thức ăn nguội lạnh mà tình lại nóng sốt nồng nàn.
Bảo chợt hiểu thâm ý của Thuận qua lời tán tỉnh vợ "thức
ăn nào vợ nấu cũng ngon như đại tiệc cả". Thì ra, nếu
biết cách thưởng thức mình có thể nếm được hương vị
thương yêu trong thức ăn, biến thức ăn tầm thường thành
đại tiệc.
- Em
làm thức ăn vừa ý anh quá! chưa bao giờ anh ăn ngon như vậy!
Ngọc
được chồng khen, sung sướng thấy rõ, nhưng chưa từng gặp
trường hợp chồng thay đổi thái độ đột ngột "đầy âm
mưu" như thế nầy, nên vẫn giữ thái độ yên lặng đề
phòng.
- Em
à! hồi nảy, anh đến nhà anh Thuận bên Mỹ Hòa Hưng chơi,
thấy cảnh vợ chồng ảnh sống hạnh phúc, nên mới nghĩ
lại chuyện vợ chồng mình. Vợ chồng mình bây giờ đã già
rồi! liệu mình còn chung sống với nhau bao năm nữa? Tại
sao mình cứ tạo chuyện gây khổ cho nhau mãi, để rồi đến
ngày nào đó, khi một đứa đi vào lòng đất, đứa còn lại
mới hối tiếc khóc than rằng đã không còn cơ hội nào để
yêu thương săn sóc nhau nữa!
- Dạ!
Nghe
vợ lên tiếng, Bảo biết lời hòa giải mình đã có kết
quả phần nào, nên vội vã "tấn công":
- Nè
em! Lâu nay anh lơ là không thăm viếng má quả là có lỗi!
Vì vậy, anh định ngày mai, hai vợ chồng mình đi ra chợ mua
mớ trái cây làm quà cho má!
Bảo
làm lơ như không để ý đến nét mặt ngạc nhiên sửng sốt
của vợ, tiếp tục nói:
- Sẵn
dịp anh cũng muốn mua một mâm hoa quả về làm lễ tạ ơn.
- Ủa!
Sắp nhỏ viết thơ về kể chuyện lễ Thanhsgiving nhằm cuối
tháng mười một, đã qua lâu rồi mà!
- Mình
đâu phải là người Hoa Kỳ mà vật gà lôi làm lễ Thanksgiving!
Họ nội anh theo truyền thống chi phái Phật giáo "Tứ Ân Hiếu
Nghĩa", theo đó người con Phật phải làm lễ tạ ơn mỗi
ngày để tưởng nhớ bốn ơn lớn:
- Ơn
Phật và thầy tổ
- Ơn
cha mẹ tổ tiên
- Ơn
quốc gia xã hội, và
- Ơn
nhân loại. (6)
Tạ
ơn là một phương thức nhắc nhở mình bằng lòng với cái
hiện có, để khám phá được nguồn hạnh phúc ngay "bây giờ
và ở đây" trong tầm tay của mình. Anh bằng lòng với cái
nhà, với tiện nghi hiện có và anh hạnh phúc, anh không đòi
hỏi, không mong ước phải có nhà khang trang hơn, tiện nghi
nhiều hơn để có hạnh phúc! Anh bằng lòng với hai đứa
con hiếu thảo và anh hạnh phúc tức thời chớ không cần
chờ đợi hay đòi hỏi một số điều kiện khác về chúng
như cấp bằng, địa vị... thì mới hạnh phúc. Cũng như thế
đó, anh tạ bốn ơn lớn, đã ban cho anh hạnh phúc có được
người vợ dễ thương như em...
Ngọc
mềm nhủn người ra, nức nở:
- Em!
em cũng cảm tạ Trời Phật đã ban cho em người chồng... người
chồng đáng yêu, đáng kính như anh...
Tháng
12.1995
Ghi
chú:
1.
Vua Trần Nhân Tông, xuất gia tại núi Yên Tử, với tự hiệu
là Hương Vân đại đầu đà. Ngài là vị tổ đã sáng lập
phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ngài lưu lại rất nhiều tác
phẩm:
- Thiền
Lâm Thiết Chủy ngữ lục
-
Đại Hương Hải ấn thi tập
-
Tăng già Toái sự
-
Thạch thất mị ngữ
Pháp
ngữ trong truyện ngắn đã được trích dẫn từ lời vấn
đáp sau đây:
Một
vị tăng hỏi đạo tổ Trúc Lâm:
- Thế
nào là việc hướng thượng?
Sư
đáp:
- Khiên
nhật nguyệt trên đầu gậy.
Hỏi
tiếp:
- Dùng
công án cũ mà làm gì?
Sư
đáp:
- Mỗi
khi dùng đến, lại thành mới tinh...
2.
Truyện Kiều câu 443, 444
3.
Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
(truyện
Kiều câu 3013, 3014)
4.
vô dang: vô duyên
5.
Nguyên văn:
Túy
trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh
Bạch
vân minh nguyệt hiện toàn chân
(kệ
của Thuyền Lão thiền sư)
Dịch
nghĩa:
Trúc
biết hoa vàng đâu cảnh khác
Trăng
trong mây bạc, hiện toàn chân
(bản
dịch của T.T. Mật Thể)
6.
Theo truyền thống Phật giáo, tứ trọng ân gồm có:
- Ân
quốc vương
-
Ân tam bảo
-
Ân cha mẹ, và
-
Ân chúng sanh
Chi
phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa hình thành bởi những phần tử yêu
nước chống Pháp và chống chế độ quân chủ hèn yếu chủ
bại, nên đã chủ trương cải tiến ơn quốc vương thành
ơn quốc gia xã hội. Ngoài ra, nhằm mục đích để giới tân
học dễ chấp nhận, ơn chúng sinh cũng được sửa đổi thành
ơn nhân loại.