Ngây
ngất nằm trong vòng tay người yêu hưởng thụ những giây
phút tràn đầy hoan lạc, mà lòng Hồng Hạnh vẫn vương vấn
chút xíu bất an. Nàng cảm giác như vừa linh cảm có gì điều
gì bất tường, có mối hiểm nguy đang đe dọa hạnh phúc
của mình. Nàng bỗng sợ hãi ôm chầm người yêu khóc nức
nở, rồi thỏ thẻ:
-
Ba mà biết chắc ổng giết em chết anh ơi!
Tân
âu yếm vuốt tóc người yêu vỗ về:
- Tầm
bậy nà! Chỉ còn có sáu tháng nữa thì mình sẽ chánh thức
kết hôn, trước sau thì cũng vậy thôi, nếu rủi ro ổng biết
tụi mình lỡ dại “cầm lòng hổng đậu” chắc ổng cũng
thông cảm với tụi mình mà!
- Mờ
sao anh không xin làm việc ở Mỹ Tho? Ði làm chi ở Saigon, xa
xôi quá chừng chừng hà!
- Hề!
Hề! Mình mới đậu bằng thành chung, nạp đơn xin việc, được
ở đâu thì làm ở chỗ đó, chớ đâu có quyền chê khen chọn
lựa gì được. Aäy! Ðược làm thông phán sở Kho Bạc Saigon
như anh, bạn bè thèm thuồng lắm đó!
- Saigon
to lớn, đẹp đẽ, giàu sang lắm lắm phải không anh?
- Dĩ
nhiên rồi! Người ta ví Saigon là hòn ngọc Viễn Ðông kia
mà! Ðể bữa nào anh xin phép ba má đưa em đi Saigon một chuyến,
để xem dinh thự lầu đài cao ngất, xem đường xá mênh mông,
ngựa xe dập dìu... Ừ! Cái Kho Bạc nơi anh làm việc vĩ đại
không tưởng tượng được.
- Anh
Tân à! Bấy lâu, sống kề cận nhau, giờ nghĩ đến lúc xa
nhau em xốn xang quá anh Tân ạ! Anh nhớ về thăm em hằng tuần
nghen anh!
- Dĩ
nhiên là anh về hằng tuần. Bộ em tưởng anh không nhớ em
sao? Anh trông đợi từng giờ từng phút để họp mặt kia
mà! Thôi ráng chờ sáu tháng nữa, đám cưới xong mình sẽ
công khai chung sống bên nhau, anh đâu em đó thì mới thỏa
tình của chúng mình!
- Sáu
tháng dài dằng dặc anh Tân à! Rủi có chuyện gì thì sao?
Ơ! Người ta nói con gái Saigon đẹp lắm phải không anh?
- Aäy!
Ðẹp là nhờ tô son trét phấn, chớ đẹp sao bằng gái Mỹ
Tho duyên dáng mặn mà.
- Mờ!
sao em sợ con gái Saigon bắt cóc anh quá! Em mà mất anh, chắc
em chỉ có nước cắn răng tự tử, chớ sống mà không có
anh làm sao em chịu đựng cho nỗi!
- Em
xinh đẹp duyên dáng, gia đình giàu sang nề nếp, cả khối
người ngắm nghía, anh phước đức lắm mới chiếm được
em. Anh sơ sẩy thì mất em như chơi? Vậy về phần em thì có
gì đáng sợ đâu? Phần anh mới đáng lo đây nè! Thật tình
mà nói, mỗi khi nghĩ đến chuyện đưa em về Saigon chung sống,
là anh phập phòng ăn ngủ không yên chỉ vì sợ mất em. Em
biết không? Biết bao nhiêu người vợ trẻ vì không phân biệt
được cái đẹp, cái sang giàu giả dối bên ngoài mà người
ta ví von là ánh đèn màu nên đã bị cái bề ngoài hào nháng
của Saigon quyến rủ đến nỗi đãø phản bội chồng, khiến
cho người chồng uất ức tự kết liễu đời mình. Vì vậy
nên mới có câu ca dao như thế nầy:
Ðèn
Saigon ngọn xanh ngọn đỏ
Em
xem không rõ, em tơ tưởng đèn màu
Rút
gươm đâm họng máu trào
Ðể
em ở lại, kiếm được thằng nào hơn anh!(1)
- Anh
yên tâm đi! Em thề yêu anh suốt đời mà!
Thế
rồi, hằng tuần Hồng Hạnh háo hức chờ đến trưa thứ
bảy, thấp thỏm đứng dưới bóng cây da râm mát tại sân
ga xe lửa, trông ngóng đón Tân. Thấy chàng, Hồng Hạnh
muốn rú lên, nhảy phóc tới ôm chặt thì mới hả, nhưng
nàng là gái con nhà gia giáo đứng đón chồng tương lai như
vầy là quá bạo rồi, nàng đâu có thể biểu lộ tình cảm
dạt dào lộ liễu ngay chỗ đông người. Vì vậy, nàng chỉ
e lệ lấy nón che mặt, cúi đầu nhìn xuống cườøi chúm
chím, mắt chớp chớp long lanh tí lệ cảm động, rồi rón
rén bước theo người yêu giữ khoảng cách nửa bước chớ
chẳng dám bước ngang hàng. Theo thường lệ, Tân dìu nàng
lên chiếc xích lô, ra lịnh chạy lanh quanh qua các đường
phố khu Toà hành chánh tỉnh, vòng khu nhà lồng chợ, rồi
mới hướng về ngôi nhà nàng bên kia cầu quay. Lần nào thì
Tân cũng ở lại nhà vợ chơi cho đến tối mịt mới ra về.
Nàng có hai anh em, người anh đã lập gia đình và ra riêng,
nên ngôi nhà rộng rãi nguy nga rất vắng vẻ. Cha nàng là vị
cựu hương chủ làng Ðiều Hòa, đầu óc khá tiến bộ, rất
thông cảm với tuổi trẻ, nhờ vậy đôi tình nhân mặc tình
quấn quít bên nhau, trửng giỡn tâm tình chẳng có gì phải
úy kị... và nếu may mắn, hai ông bà đưa nhau đi ăn giỗ,
cúng đình... thì đôi tình nhân trẻ cũng hân hoan yến tiệc.
Thỉnh thoảng, đôi tình nhân cũng đưa nhau đi dọc theo bờ
sông Cửu Long đến bến bắc Rạch Miễu cho dâu tương lai
thăm viếng cha mẹ chồng theo đúng đạo lễ, nhưng ngôi nhà
bên chồng nhỏ bé, sạp trái cây chật chội, kẻ vào người
ra nườm nượp, nên cả hai chỉ đứng xớ rớ giây phút,
rồi từ tạ đi ngay. Lật bật đến ngày cưới, đôi trẻ
sung sướng tung tăng dẫn nhau sắm áo cưới, còn mọi chuyện
đã có ông bà hương chủ gánh vác. Ðám cưới tổ chức vô
cùng sang trọng: nhà cửa trang hoàng lộng lẫy, xe hoa bóng
láng, đoàn múa lân kèn trống hùng hậu, pháo nổ tưng bừng
xác ngập đỏ cả mặt đường, với hàng trăm thực khách
tham dự... Bao bọc chi tiền đám cưới, ông hương chủ còn
bỏ tiền mua căn phố lầu, cạnh rạp chớp bóng Moderne, đường
D’Espagne, Saigon, trang bị đầy đủ vâït dụng đắt giá
cho con gái làm của hồi môn, đó là chưa kể vòng vàng, hột
xoàn cả rổ và số tiền lì xì kếch sù góp nhặt trong tiệc
cưới. Cuộc sống lứa đôi tại Saigon hứa hẹn tràn đầy
hoan lạc hạnh phúc.
Tân
vốn là con nhà nghèo, thông phán tập sự lương bổng eo hẹp,
nhưng nhờ dựa vào danh tiếng gia đình vợ, chàng có thể
tập tễnh làm sang giao thiệp với giai cấp quyền quí; cạy
cục mãi, Tân được công tử Mỹ Tho Phước George thu nhận
làm đàn em. Công tử George là tay ăn chơi phong lưu nổi danh
nhứt nước, nên theo đuôi công tử thì Tân cũng phải tiêu
tiền như nước, cũng vào ra cao lâu vũ trường, ăn chơi nhậu
nhẹt, kết duyên với ả phù dung, buông thả theo đám gái
chơi hạng sang Ba Trà, Tư Nhị... Hết tiền thì móc túi vợ,
cạn tiền thì nàng chỉ cần về thăm Mỹ Tho một chuyến,
trở về thì tiền bạc lại rủng rỉnh ngay. Chớp được
tiền thì Tân lại ăn chơi, bỏ mặc người vợ trẻ chờ
đợi mỏi mòn cơm canh nguội lạnh, vợ thắc mắc thì Tân
có trăm lý do ngọt ngào giải thích, nàng tiếp tục nhăn nhó
thì Tân làm nư bỏ đi biền biệt, khiến nàng đau khổ vô
cùng màchỉ đành lặng lẽ ôm gối khóc thầm qua đêm. Thấy
con cứ bòn rúc tiền bạc mãi ông bà hương chủ sanh nghi,
ông bà cho người dò la nếp sống chàng rể, khi biết sự
thật tệ hại, ông bà quyết định chấm dứt chuyện đùm
bọc, trừ phi Tân xin thuyên chuyển về Mỹ Tho chung sống với
cha mẹ vợ. Thế nhưng, lúc bấy giờ Tân đang say mê cô Năm
Tú Lệ, em nuôi cô Ba Trà, đã thề thốt với người đẹp
là sẽ bỏ vợ để xây tổ uyên ương, nhưng thiếu tiền
nên ráng ẩn nhẫn chờ thời. Do đó, một mặt Tân vâng
dạ xin lỗi cha mẹ vợ, hứa sẽ tu tỉnh làm ăn, thay đổi
nếp sống phong lưu cũ. Mặt khác, Tân bỗng cưng chiều săn
sóc vợ, mua sắm trang phục, phấn son cho vợ, chàng lại ra
vẻ lo lắng cho tương lai sự nghiệp, và mong ước có cơ hội
trổ tài kinh doanh làm giàu nhanh chóng cho vợ được nở mặt
nở mày. Một hôm Tân đưa một người lạ mặt về nhà giới
thiệu là tay xuất nhập cảng đang trúng một lô hàng tơ lụa
vốn một lời ba. Khách về, thì Tân liền gạ gẫm vợ, nên
chụp lấy cơ hội bằng vàng nầy bằng cách bán căn nhà đường
D’Espagne lấy tiền hùn hạp làm ăn. Tin chồng, nàng đồng
ý bán nhà, hai vợ chồng dọn vào khách sạn Ðông Pháp lữ
quán ở tạm. Tân lại than thở hàng hóa đã vào kho rồi,
công ty cần mớ tiền trả sở phí khuân vác và kho hàng, nên
òn ỉ vợ cho mượn đỡ mớ vòng vàng hột xoàn để tạm
cầm thế lấy tiền mặt chi dụng trong vài ngày trong khi chờ
đợi hốt bạc. Sau khi vét sạch nhẵn tài sản vợ, Tân trốn
biệt dạng bỏ vợ trơ trọi tại khách sạn, vừa sợ, vừa
đói khát chẳng dám đi ăn uống một mình. Nàng nghĩ Tân buôn
bán thất bại mất tiền nên đâm ra tự ái không dám về
nhà, nên lò dò tìm đến sở Kho Bạc đón chồng, thỏ thẻ:
- Khách
sạn toàn dân gì đâu ghê quá hà! Sao anh nỡ bỏ em chèo queo
như vậy?
- Tui
với cô sống với nhau không hạp! Thôi từ nay đường ai nấy
đi! Cô đừng kiếm tôi mất công!, Tân lạnh lùng đáp.
- Thua
keo nầy bày keo khác. Anh thua lỗ chút đỉnh đâu có sao! Em
có trách móc gì đâu. Hay là mình về Mỹ Tho sống với ba
má anh nhé!
- Tui
đã có vợ khác rồi! Tui chán ngán cái bản mặt nhà quê của
cô lắm! Tốt hơn, cô nên về ở với ông bà già, rồi muốn
xin phá hôn thú làm gì thì làm.
Dứt
lời, Tân bỏ đi một nước, chẳng cho nàng thỏ thẻ thêm
một lời nào nữa. Hồng Hạnh chết lặng, nước mắt tuôn
tràn mờ mịt, nàng phải đứng dựa vào vách mới không té
xỉu. Hồi lâu, nàng thều thào một mình:
- Hởi
ơi! Anh thường lên án bọn đàn bà con gái trắc nết mê ánh
đèn màu giả trá chốn thị thành phản bội chồng con, ngờ
đâu người bị quyến rủ lại là anh. Anh ơi! Anh đang tâm
phụ bạc thì em đành chịu, chớ thân phận đàn bà thì em
chỉ nguyện một lòng, một dạ sắt son chờ chồng.
Nàng
ngậm ngùi ngâm nga nho nhỏ theo điệu hát ru em:
“Ðèn
Saigon ngọn xanh ngọn đỏ,
Ðèn
Mỹ Tho, ngọn tỏ ngọn lu!
Chia
tay chàng, em nguyện giữ một chữ nhu
Chín
năm em cũng đợi, mà mười thu em cũng chờ...”(2)
Hồng
Hạnh lủi thủi về Mỹ Tho khóc than với ông bà hương chủ,
nàng cũng tỉ tê cầu cứu cha mẹ chồng. Cha mẹ chồng viện
dẫn lý do xa xôi không biết gì về hành động của con, nên
chẳng muốn can dự vào chuyện lủng củng của họ. Phần
ông bà hương chủ, tuy quá chán ghét Tân, nhưng thương con
gái, ông bà cố gắng lên Saigon tìm hắn chửi mắng một trận,
rồi mềm mỏng khuyên lơn dạy dỗ, phân giải tình lý, đoạn
úp mở dùng tiền của làm mồi dụ dỗ hắn quay về với
vợ. Nghe lợi lộc hắn cũng ham, hắn hứa hẹn lung tung, nhưng
sau cùng thì đâu cũng vào đó. Hắn đã quá lặm cô Năm Tú
Lệ, đã lún sâu xuống bùn đen, không còn phương cách nào
rút chân ra được nữa. Thất vọng, ông bà hương chủ ép
buộc con gái nạp đơn ly dị, nhưng nàng vẫn thiết tha thương
chồng, nhứt quyết chờ đợi ngày chàng hồi tâm.
Hồng
Hạnh rầu rĩ biếng ăn biếng ngủ, ngày đêm vò võ mong tin
chồng, nhưng hình bóng chàng vẫn biệt tăm. Một hôm, trong
khi nàng đang tơ tưởng chồng, đứng ngồi không yên, thì
bà mẹ chồng bỗng hớt hải chạy đến, khẩn thiết lôi
nàng đi Saigon tức khắc để gặp mặt Tân. Nhìn thái độ
vừa nghiêm trọng, vừa ảo não của mẹ chồng,ï Hồng Hạnh
suy đoán có lẽ Tân đã bị rắc rối vì cảnh nợ nần “tứ
giăng”, nên đành phải cầu viện đến nàng. Hồng Hạnh
thoáng khó chịu, nhưng thương chồng nàng cũng thuê bao ngay
chiếc xe, đưa mẹ chồng cùng đi Saigon. Lạ quá! Chẳng hiểu
lý do gì bà già lại bảo tài xế lái xe đến bệnh viện
Chợ Rẫy, rồi hấp tấp nắm tay nàng lôi một mạch vào phòng
hồi sinh. Hồng Hạnh đến đúng lúc, để chỉ kịp vuốt
mắt Tân, trước giờ phút lâm chung. Hỏi ra mới biết rằng
chỉ võn vẹn 6 tháng cung phụng tiền bạc cho tình nhân ăn
chơi bài bạc Tân đã cạn “hầu bao”, hắn không còn phương
pháp nào xoay xở khác hơn ngoài cách thâm lạm công quỷ một
số tiền to, khi nội vụ bị đổ bể sắp rơi vào vòng lao
lý, cô Năm Tú Lệ không những chẳng hề lộ chút đoái thương
mà còn xỉ vả hắn một trận tơi bời rồi cuốn gói đi
mất, khiến Tân đau khổ cùng cực, đành mượn thuốc phiện
giấm thanh tự kết liễu đời mình. Bà mẹ chồng không gánh
vác nỗi chuyện chôn cất con, nên cố tình lôi kéo Hồng Hạnh
lên bệnh viện trong giây phút cuối cùng để lãnh của nợ
về an táng mà thôi. Hồng Hạnh ôm thây chồng khóc ngất,
nàng khóc cho chồng mà cũng khóc cho số phận nghiệt ngã của
chính mình. Dầu vậy, sau khi hoàn tất tang ma chồng, nàng chợt
khám phá ra rằng mối tình chồng vợ yêu thương mù quáng
da diết tưởng chừng như sẽ bền chặt như sắt đá đó,
bỗng dưng tan biến không còn chút dấu vết. Nàng cảm thấy
lòng mình nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng lớn, một
cục nợ oan khiên.
Người
con gái nhút nhát thùy mị năm xưa đã sớm biến thành nàng
góa phụ duyên dáng, dạn dĩ, khéo trang điểm, khiến bao nhiêu
trái tim chàng trai Mỹ Tho phải rộn ràng. Bao thanh niên tuấn
tú tranh nhau cậy mai mối xin hỏi cưới nàng, nhưng vết thương
đau bởi người chồng trẻ tuổi, tánh tình hời hợt bốc
đồng mãi ám ảnh nàng, nên Hồng Hạnh nhất quyết chọn
Thái, một người đàn ông góa vợ lớn hơn nàng đến 14 tuổi,
đang giữ chức vụ lục sự tại Tòa án tỉnh nhà. Nàng tin
tưởng rằng Thái là hạng người từng trải, tính tình chững
chạc, chàng đã có địa vị và sự nghiệp vững vàng, nên
chắc chắn sẽ thừa sức mang lại nguồn hạnh phúc lứa đôi
mà nàng hằng mơ ước. Thái đưa nàng đi hưởng tuần trăng
mật tại Ðà Lạt, ngụ tại khách sạn nguy nga, sống phong
lưu theo bậc vương giả. Về Mỹ Tho, sống huy hoàng trong ngôi
biệt thự cất theo kiến trúc Tây phương, hàng tuần chàng
lại lái chiếc xe Traction 15 đưa nhau lên Saigon “hóng mát”
tại cột cờ Thủ Ngữ, thưởng thức cao lương mỹ vị tại
chốn cao lâu, xem cải lương, chớp bóng hoặc dìu nhau theo
điệu nhạc du dương chốn vũ trường. So với Tân thì Thái
là người chồng tuyệt vời. Ðối ngoại, chàng là bậc hào
hoa phong nhã, lịch lãm, giao du chốn nào cũng được mọi giới
tôn trọng khiến nàng rất ư hãnh diện. Với vợ, thì chàng
luôn ngọt ngào tâng tiu chiều chuộng khiến nàng ngây ngất
đắm say. Ðã vậy, Thái lại sành sõi chuyện gối chăn, từng
bước từng bước hướng dẫn đã dìu nàng lên tận đỉnh
hoan lạc tận cùng. Do đó, có thể nói sống với Thái nàng
được tận hưởng liên tục những phút giây sung sướng tuyệt
vời nhất trên trần đời.
Cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới lan dần đến Ðông Dương.
Vào năm 1933 giá một tạ lúa chỉ võn vẹn còn có 9 cắc(3),
lúa chất đống đầy bồ không bán được, ruộng đồng vì
vậy bị bỏ hoang phế và giới đại điền chủ bị tổn
thất nặng nề. Ðau lòng vì gia sản ngày càng lụn bại, ông
hương chủ lâm trọng bệnh rồi từ trần, bà hương chủ
vốn đã yếu đau triền miên đành phải về nương náu với
vợ chồng đứa con trai trưởng. Ðể an ủi người vợ bé
bỏng, Thái thường tổ chức tiệc tùng vui nhộn cho vợ khuây
khỏa nỗi khổ sầu. Một hôm, nhân tiệc sinh nhật thứ hai
mươi ba của vợ, tổ chức tại nhà hàng Ðại La Thiên, mặt
ửng hồng ngà ngà say, Thái đứng dậy, tay nâng ly rượu Mai
quế lộ mời bạn bè cùng nốc cạn để chúc mừng vợ, bỗng
nhiên, chàng lảo đảo buông rơi ly rượu, rồi ngã vật xuống
bất tỉnh. Hồng Hạnh chết điếng lăn lộn ôm chồng khóc
nức nở, bối rối chẳng biết phải quyết định như thế
nào? May sao trong đám bạn bè có người bình tỉnh khẩn cấp
chở Thái đến bệnh viện Grall cứu chữa. Sáng hôm sau Thái
lần lần hồi tỉnh, mạng sống tuy được bảo toàn, song
tai biến mạch máu não sẽ khiến chàng bị bán thân bất toại
suốt đời. Chồng vĩnh viễn tàn phế không khiến Hồng Hạnh
tuyệt vọng, trong tình yêu thiết tha cao ngất của nàng, nàng
chỉ cầu xin cho chồng vẫn còn sống để kề cận, chăm lo
là hạnh phúc đã ngập tràn rồi. Hai tuần sau Hồng Hạnh
đưa chồng về Mỹ Tho, ngày ngày tận tụy phục dịch người
chồng bệnh hoạn. Nàng đích thân chăm sóc chồng từng li
từng tí, để tâm nghe ngóng, theo dõi từng biến chuyển của
cơ thể, tìm hiểu ước muốn khó bày tỏ của chồng để
đỡ đần “quạt nồng ấp lạnh”, tẩn mẩn nấu những
thức ăn hạp khẩu nâng niu đút mớm..., ngày nầy qua ngày
khác, tháng nầy sang tháng khác, nàng bền bĩ chăm sóc chồng,
nhọc nhằn gian khổ không kể xiết mà chẳng hề than van,
chẳng một tiếng thở dài... Ðến năm thứ ba thì Hồng Hạnh
bắt đầu cảm thấy uể oải, đôi khi nàng thấy tình nghĩa
vợ chồng vẫn đậm đà khôn xiết, nhưng thỉnh thoảng nàng
lại bị những cơn khủng hoảng hành hạ, nàng chán nãn cho
số kiếp hẩm hiu mù mịt, chẳng biết đến bao giờ mới
thoát khỏi con nợ nghiệt ngã bám víu đây? Ðến năm thứ
sáu thì người chồng yêu dấu năm xưa đã chuyển biến thành
một khổ dịch hành hạ đày ải nàng, phải cố gắng hết
sức nàng mới đè nén nỗi những cơn hậm hực bất
thần cứ chực bùng nổ lên đổ tràn trên đầu con bệnh
trầm kha. Thật là điều mâu thuẩn! thật là chuyện oái oăm!
Giá như chàng chết trong vòng một hai năm thì tuy khổ đau
nàng cũng hả dạ trong lòng sau một thời gian tận tụy chăm
sóc chồng, ngoài ra, nàng lại có thể giữ trọn vẹn hình
ảnh người chồng hào hoa yêu dấu mãi mãi trong tâm khảm
làm nguồn an ủi cho suốt cuộc đời còn lại của mình. Còn
sống thoi thóp kéo dài dai dẳng như thế nầy thì tất cả
đều thay đổi: chẳng những cả khối ân tình tan vở thành
manh mún, mà thời gian cũng hủy hoại sức chịu đựng của
nàng, rút rỉa sức sống của nàng, cướp mất nhân tính của
nàng, và hởi ôi! hình ảnh người chồng hào hoa phong nhã
lý tưởng năm xưa, đã biến thành một thứ chùm gởi cục
mịch lỳ lợm, bám sâu như đĩa đói... để dày xéo, hành
hạ nàng triền miên, không một phút giây ngưng nghỉ. Nỗi
khổ nầy một mình nàng phải cắn răng chịu đựng chớ chẳng
thể thổ lộ cùng ai! Vì mấy ai thấu hiểu được nỗi khổ
đêm ngày chồng chất, chán nãn cùng cực mà phải gắng sức
đè nén những tiếng nấc nghẹn, những cơn điên cứ chợt
bùng nổ, để gượng gạo chăm lo cho chồng lầm lì như người
máy vô tri. Lâm vào hoàn cảnh nầy nàng mới cảm thông và
thương anh chị. Mẹ nàng đau yếu dai dẳng và chắc anh chị
phải gánh chịu lắm nỗi nhọc nhằn khi phụng dưỡng bà,
thế mà nàng nào chịu hiểu. Thỉnh thoảng viếng thăm mẹ
vài giờ ngắn ngủi, chu cấp chút tiền, sâm thang quí giá,
thức ăn bổ dưỡng... là đã vội hiu hiu tự đắc, tự cho
rằng mình là đứa con chí hiếu, có quyền xoi bói, hoạnh
họe anh chị. Giờ đây, nàng mới hiểu ra rằng cung cấp tiền
bạc bao nhiêu cũng không thể so sánh nỗi với sự gian khổ
liên tục mà anh chị đã tận tụy chăm sóc mẹ già trong những
năm tháng dài.
Tình
trạng khan hiếm âu dược trong thế chiến thứ II đã ảnh
hưởng nặng nề đến sức khỏe Thái, chàng vốn chống chỏi
lâu dài là nhờ được tiếp tế loại nước biển bổ dưỡng.
Thiếu nước biển Thái suy nhược nhanh chóng, và như ngọn
đèn cạn dầu cứ yếu ớt lu mờ lần, cuối cùng đến tháng
chạp năm 1945, tức là sau bảy năm thoi thóp trên giường bệnh,
chàng mới chịu trút mớ hơi tàn vĩnh viễn ra đi. Tình nghĩa
phu thê tưởng đã khô cạn tự bao giờ, bỗng bùng dậy trở
lại khi nắp quan tài vừa đóng chặt. Nàng khóc ngất, khóc
mãnh liệt như chưa bao giờ được khóc, khóc cho nỗi buồn
vui lẫn lộn của món nợ ân tình oan khiên.
Người
đàn bà lứa tuổi 30 thật ra vẫn còn son trẻ, nhưng sau hai
lần hôn nhân đầm đìa giọt lệ, Hồng Hạnh đã chán ngán
cuộc sống lứa đôi, nên thầm nghĩ sẽ không bao giờ bước
thêm bước nữa. Tuy nhiên, trong những đêm dài lẻ bóng trong
căn nhà rộng rãi mênh mông, đôi khi nàng lại cảm thấy thiếu
thốn nôn nao. Sáng hôm đó, chị bếp vừa xách giỏ đi chợ,
nàng đang bâng khuâng nhìn áng mây bên cửa sổ, bỗng thấy
thầy y tá Thịnh lấp ló trước cửa. Thịnh thật ra chỉ
là một y công ở lứa tuổi hai mươi, học chích tại bệnh
viện tỉnh chừng hai tháng, và sống bằng nghề “chích thuốc
dạo” theo toa bác sĩ. Trước đây, theo thường lệ, hằng
tuần anh ta vẫn đến nhà tiêm mấy mũi thuốc cho Thái. Thịnh
thường lộ vẻ thẹn thùng trước ánh mắt thân mật của
nàng, lần nầy hắn cũng bối rối ấp úng hồi lâu mới lên
tiếng:
- Thưa
cô! Tuần trước chị bếp có dặn “khi nào rảnh đến tiêm
cho cô mũi thuốc khỏe”, em quên bẵng đi! Nay mới nhớ!
Hồng
Hạnh cười dễ dãi:
- Ờ!
Thì mớ thuốc khỏe của ổng còn dư, bỏ cũng tiếc, nên
tôi tính xài cho hết vậy thôi! Chuyện chẳng có gì gấp gáp
cả... Vậy, để khi khác nghe chú, vì hôm nay... ơ...ơ... chỉ
có mình tôi ở nhà hà!...
Hắn
ngập ngừng như định kèo nài, mắt chớp chớp, mặt đỏ
bừng, rồi bỗng tiu nghỉu dợm bước lui. Thấy nét thất
vọng hiện trên vẻ mặt thơ ngây của Thịnh, chẳng biết
nghĩ sao Hồng Hạnh cảm thấy tội nghiệp quá, nàng đổi
ý:
- Ơ!
Nếu chú muốn chích hôm nay cũng được! Chú đâu phải là
người lạ mà phải ngại! Mời chú vào!
Hắn
ké né bước vào nhà. Hồng Hạnh bước vào buồng ngủ, đang
mở tủ tìm hộp thuốc, chợt nghe tiếng động, không nhìn
lại nàng cũng cảm giác bước chân của hắn đã kề sát,
hơi thở hắn dồn dập phì phà trên cổ nàng khiến nàng rùng
mình rởn gai ốc. Nàng chưa kịp lên tiếng, thì hắn đã ôm
chầm nàng, hun hít rối rít, rồi bồng nàng đặt trên giường
ngủ. Nàng quính quíu cả tay chân, đầu óc tê liệt chẳng
biết nên dùng lời lẽ gì để ngăn cản, nên ú ớ rồi lặng
yên, buông xuôi để mặc hắn muốn làm gì thì làm. Trong cơn
mê nàng chỉ biết thầm tự an ủi: “Chuyện đã dĩ lỡ rồi,
đâu còn cứu vãn gì được nữa! Mặc kệ hắn, mặc kệ
cuộc đời! Chuyện tới đâu hay đến đó, lo lắng chi cho
mệt!”. Sau khi Thịnh ra về, nàng mới hoàn hồn nghĩ lại
và thấy có nhiều điều không ổn: Chồng vừa nằm xuống
chưa đầy ba tháng mà đã mở cửa đón trai thì dị hợm quá,
huống chi, nếu cần đàn ông thì chắc chắn nàng có thể
chọn những người tương đối có học thức và khá giả,
chớ còn dốt nát và nghèo kiết như Thịnh thì chẳng xứng
đáng với nàng chút nào cả. Do đó, nàng quyết định từ
đây sẽ chặt dạ không để hắn lần khân nữa. Tuy đã dặn
lòng cẩn thận, nhưng đến sáng hôm sau, khi bà bếp vừa ra
khỏi nhà thì hắn đã mon men tới cửa. Vừa nhìn thấy thân
thể cường tráng của hắn, chẳng biết tại sao nàng không
còn tự chủ được nữa, nàng cuống quít mở bét cửa, rộn
ràng nới rộng vòng tay. Hắn ra về thì nàng lại ăn năn toan
tính chấm dứt liên lạc, hắn đến thì nàng vồn vã đón
rước, điệp khúc nầy cứ lập lại mãi cho đến lúc hắn
công khai mang túi quần áo đến sống chung. Nàng bèn cho chị
bếp nghỉ việc để không còn ai dòm ngó, nhưng thị xã Mỹ
Tho nhỏ xíu, che dấu cách nào thì chuyện vụng trộm cũng
đổ bể tùm lum để biến thành thứ tin thời sự nóng hổi
và cực kỳ hấp dẫn cho thiên hạ bàn ngang tán dọc. Ðến
nông nỗi nầy thì nàng chỉ có nước lỳ lợm tuyên bố:
“Thời buổi nhiễu nhương sống nay chết mai nầy có gì đâu
mà sợ miệng lưỡi thiên hạ. Ai rảnh rang chịu khó đàm
tiếu thì mặc xác họ!...”
Tuy
tài sản của Thái vốn đồ sộ, nhưng sau bao năm phải trang
trải chi phí thuốc thang đắt giá, đến khi chồng lìa trần,
thì của nổi dành dụm cơ hồ đã cạn, Hồng Hạnh chỉ còn
làm chủ ngôi biệt thự và mớ tư trang sính lễ ngày xưa
mà thôi. Không thể kéo dài tình trạng ăn không ngồi rồi
với anh chồng vô nghề nghiệp, Hồng Hạnh quyết định bán
ngôi biệt thự Mỹ Tho, mang tiền lên Saigon, tìm phương cách
sinh nhai. Ở Saigon thì “thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ”,
nàng thỏa thích yêu cuồng sống vội với người chồng trẻ,
khỏi phải ngay ngáy lo sợ bà con chòm xóm đa sự “trề”,
“nhún”, khinh khỉnh nữa. Hồng Hạnh mua ngay một căn phố
ở mặt tiền đường vùng Phú Thọ, do vị trí căn phố thuận
tiện cho dự trù mở tiệm buôn nhỏ sau nầy, ngoài ra, nàng
cũng ưng ý về căn phòng ngủ ấm cúng và cái nhà bếp khoảng
khoát nhìn ra khoảnh đất nhỏ, đã sẵn có cội mít già,
mấy khóm rau thơm và một chuồng gà sập xệ... Thế nhưng,
tự thuở giờ Hồng Hạnh chỉ lẩn quẩn trong nhà, nấu nướng
giặt giũ còn có kẻ ăn người làm lo lắng, nên suy tìm hoài
cả năm trời, nàng chẳng tìm ra được ngành nghề gì hợp
với khả năng cả, trong khi đó thì tiền bạc thì cứ rỉ
rả hao mòn khiến nàng xốn xang tấc dạ. Phần Thịnh, hắn
được nàng “thần phục” nuông chiều, nên cứ nhởn nhơ
lối sống vô trách nhiệm, phó mặc cho nàng gánh vác mọi
chuyện, kể cả hành vi cúc cung phục vụ hắn, điều đó
cũng là lẽ đương nhiên dễ hiểu. Thật ra thì hắn không
hề có ý “lắt hầu bao” hay trấn lột nàng quá đáng. Hắn
chỉ đòi sắm cho được chiếc xe đạp nhôm hảo hạng hiệu
Alcyon chùi láng bóng, lận theo chút ít tiền cà phê, rồi
nhong nhong cỡi xe đi chơi suốt ngày, miễn là khi về nhà có
đủ hai bữa cơm thịt cá ê hề, kèm với chai la ve nhậu lai
rai là vui vẻ rồi. Cơm nước không tươm tất thì hắn nổi
sùng văng tục ngay, nhịn thì tốt, còn dám hó hé lời qua
tiếng lại thì hắn thẳng tay đánh đập chẳng chút xót thương.
Sau bao ngày suy tính thiệt hơn, Hồng Hạnh liều mạng mở
tiệm bán hàng vải, loại hàng hóa nhẹ và sạch sẽ, tương
đối phù hợp với nếp sống nhung lụa ngày xưa của nàng.
Thế nhưng khu phố Phú Thọ quá bình dân, vải vóc là loại
nhu cầu xa xí, thành thử cửa hàng lâm cảnh ế ẩm dài dài.
Sau hai năm chịu đựng, nghiên cứu lại thị trường nàng
quyết định bán đổ bán tháo mớ vải vóc, rồi xoay ra buôn
bán chạp phô. Tiệm chạp phô đông khách, đồ đạc linh tinh
đủ loại, có thứ nặng cần khiêng vác, mà không có chồng
đỡ đần nên nàng phải thuê người phụ giúp. Buôn bán lẻ
tiền lời lắt nhắt, thuê mướn người thì hao hớt, nên
cơ sở buôn bán của nàng cứ lụn bại lần, cuối cùng đành
phải đóng cửa. Bà con lối xóm xầm xì rằng toàn dãy phố
nầy đã được xây cất trên miếng đất của ngôi chùa hoang
phế xa xưa, các “vong” nghiệp nặng còn lẩn khuất đâu
đây ám chướng, nên chẳng mấy ai khá giả cả. Nghe lời
đồn đãi nầy, Hồng Hạnh lo lắng muốn dọn nhà đi chốn
khác, nhưng vốn liếng đã khô cạn, thay đổi chẳng phải
là chuyện dễ dàng. Trong hoàn cảnh bi đát nầy, nàng quơ
đại mấy con gà nuôi sau nhà làm thịt, cầu may mở quán cháo
và bất ngờ món ăn nầy được thực khách chiếu cố, nhờ
vậy, nàng thừa tiền sống qua ngày và lúc nào cũng có cặp
đùi gà vàng hực sẵn sàng dâng cho ông chồng lai rai ba sợi.
Từ khi phải cơ cực vật lộn với cuộc sống mới, “cô
Ba Cháo Gà” Hồng Hạnh, cằn cỗi mau chóng, nhưng ngoài
những lúc phải đón nhận cơn thịnh nộ bất chợt của chồng,
Hồng Hạnh vẫn cảm thấy hài lòng và hạnh phúc với người
chồng trẻ.
Một
hôm hắn đi không về khiến nàng phập phòng lo sợ, vì trong
sáu năm qua dẫu say sưa với bè bạn thế nào hắn vẫn lết
về nhà ngủ. Hôm sau hắn lững thững về nhà, tỉnh
tuồng như chuyện bình thường, nàng vừa thắc mắc hỏi han
thì hắn sừng sộ, đành êm ru nhẫn nhịn. Hắn bắt đầu
vắng nhà thường xuyên, tuy sợ chồng nhưng ghen tức ấm ức
không nhẫn nhịn được, thỉnh thoảng nàng cũng càm ràm trách
móc, dù mỗi lần cãi vã là mỗi lần bị đánh đập tàn
nhẫn. Cuối cùng thì hắn đi luôn chẳng trở về. Ghen tuông
lồng lộng, nàng đóng cửa quán cháo gà, đi khắp nơi han
hỏi sục tìm hắn. Một bà hàng xóm cho tin rằng hắn “lấy”
con Tám, bạn hàng cá chợ Cầu Ông Lãnh từ lâu, con nhỏ đã
mang bầu sắp sanh rồi. Nghe chỉ điểm nàng giận run, lận
theo con dao phay, đón xe đi chợ Cầu Ông Lãnh tức khắc. Nàng
rình rập thấy hắn đang kề cận thân mật với tình nhân,
tiếp tay con “ngựa cái” thè lè bụng chửa làm cá. Tuy sợ
chồng khủng khiếp và tuy thấy con đó đang cầm con dao lạng
vảy cá bén ngót, nàng vẫn điên tiết phóng tới điểm mặt
hét: “Ðồ con đĩ thúi giựt chồng...” Nàng chưa hét hết
câu thì đã bị Thịnh nắm cổ lôi đi xềnh xệch. Sức hắn
mạnh như voi, nàng lại sợ hắn như cọp dữ, nên đành câm
họng ríu ríu đi theo hắn đến chỗ giữ xe đạp. Hắn bảo
nàng ngồi lên yên sau, đèo nhau về nhà. Nàng mừng mừng tủi
tủi thầm nghĩ : “Chồng chịu về nhà là thắng lợi lớn
rồi!”. Chừng bước xuống xe, nhìn bản mặt hung tợn của
hắn, nàng mới hốt hoảng van lạy lia lịa. Lạnh lùng chẳng
nhếch môi, hắn nắm đầu nàng lôi vào nhà, đóng kín cửa,
cột tóc nàng vào chân giường, rồi mới nghiến răng kèn
kẹt gằng từng tiếng: “Tao đập cho mầy bỏ cái tật ghen
tuông! Nghe chưa?” Dứt lời, hắn bắt đầu đánh đá nàng
tơi bời, mặc cho những tiếng rên khóc thảm thiết và những
lời van xin năn nỉ của nàng. Khi thấy nàng ngất xỉu nằm
im lìm, hắn mới dừng tay định bỏ đi, nhưng cơn giận chưa
nguôi nên hắn vừa bước tới cửa bỗng quay trở lại, lấy
kéo xởn hết tóc nàng, rồi ung dung cỡi xe đạp ra đi. Hồng
Hạnh lần lần hồi tỉnh khi trời vừa sụp tối. Toàn thân
đau đớn rã rời, nhưng cái đau thể xác đó chẳng thấm
tháp gì cả nếu so với nỗi chán chường khổ não chất ngất
trong lòng. Nàng đã đánh đổi tất cả chỉ vì hắn để
cuối cùng lãnh lấy kết quả phũ phàng tàn nhẫn ngày hôm
nay. Tuyệt vọng, không lối thoát, nàng quyết tâm tìm cái
chết. Nàng lê lết lục tìm được sợi giây khá chắc làm
thòng lọng, mang ra sau vườn nhắc ghế máng lên cành cây mít,
đút đầu vào, rồi hất chiếc ghế ngã nghiêng, buông tay
treo tòn ten...
Hồng
Hạnh cảm thấy ngộp thở, rồi thân người nàng chao đảo,
đoạn lao vùn vụt xuống một hố thẩm đen ngòm, đang rơi,
bỗng nhiên nàng nghe tiếng gọi: “Thí chủ! Thí chủ! Biển
khổ mênh mông, mà hể biết quay đầu thì sẽ thấy bến bờ!”,
thì bị hất văng trở lại. Nàng nhỏm dậy chợt thấy có
vị vấn y vàng đứng trước mặt, vội quì xuống lạy liên
hồi:
-
Kính lạy Bồ Tát Quan Âm. Con xin cảm tạ Ngài đã cứu vớt
con.
Người
mặc y vàng từ tốn:
- Ta
chẳng phải là Bồ Tát Quan Âm và cũng chẳng phải là người
đã cứu thí chủ. Ta chỉ là một phàm tăng, đã từng là
pháp đệ của thí chủ từ kiếp trước, theo duyên nghiệp
đến đây gặp thí chủ để nhắc nhở chuyện xưa.
- Thân
con như vầy mà đã từng làm huynh đệ với Sư sao? Chuyện
lạ quá, con không thể tin hiểu được?
- Cuộc
đời huyễn hóa nầy thật khó ước lường, nhưng tất cả
diễn biến đều do nghiệp duyên chằng chịt lôi kéo mà hiện
hành, ngay như tên Hồng Hạnh của thí chủ cũng là tiền duyên.
Kiếp trước chúng ta là đệ tử của thiền sư Như Hóa, trụ
trì chùa Ðại Giác, tỉnh Biên Hòa, thí chủ mang pháp danh
Hồng Hạnh, và ta là Hồng Huệ, tính theo kệ truyền phái
của tổ Ðạo Mân, thì chúng ta là hậu duệ đời thứ 39
dòng Lâm Tế(4). Trong khi chúng ta cùng tu học tại Giác Lâm,
ta mãi say đắm Pháp Bảo Ðàn kinh, mà không am hiểu đến
nơi đến chốn nên sanh tâm cuồng ngạo, lúc nào cũng ngông
nghênh sánh mình là bậc thượng căn thượng trí trực chỉ
nhân tâm kiến tánh thành Phật. Lúc đó pháp huynh thương tình
nhắc nhở ta: “Ðệ tự coi mình ngang hàng với Phật, với
Tổ, nhưng Ông Phật Hồng Huệ có khi nào thường trực quán
sát tâm mình, thử coi mỗi ngày tâm mình thanh tịnh được
mấy phút chăng?” Ta giựt mình nhìn lại con người thật
của mình, và càng nhìn lại, ta càng thấy rõ tâm ta loạn
động liên miên, sơ hở một chút là dun rủi theo tham
sân si chẳng dừng lại được. Ta biết ta hư đốn khó chữa
trị, bèn lui về nương với sư phụ ngày đêm sáu thời lễ
bái sám hối và niệm Phật A Di Ðà cầu vãng sanh Cực Lạc.
Ta may mắn được vãng sanh và nhờ vậy mà hôm nay có thể
nương theo hồng lực của Ðức Phật A Di Ðà gặp thí chủ
để nhắc nhở đôi điều.
- Sư
cho biết kiếp trước con cũng là tu sĩ như sư. Tại sao sư
tu đắc đạo còn con thì ra nông nỗi như thế nầy? Chuyện
mù mịt khó hiểu quá sư ạ?
- Kiếp
trước, thí chủ chính thực là một tăng sĩ tài hoa nổi danh
một thời nên sớm được cung thỉnh về trụ trì ngôi chùa
cổ tại chốn nầy. Thí chủ hãy quay trở về với dĩ vãng,
nhìn lại hành hoạt của mình tại chốn nầy để hiểu biết
nghiệp duyên của mình thì sẽ rõ hơn. Thí chủ nhớ ra chưa?
Sau khi nhận lãnh ngôi chùa, thí chủ sửa sang chỉnh đốn
tất cả, và ở ngay địa điểm nầy đây, thí chủ đã đích
thân trồng cây mít nầy! nó được gần gũi với cửa Phật,
có linh tánh(5), đối với thí chủ ân tình vẫn đậm đà
nên đã chẳng nỡ chứng kiến cảnh thí chủ lìa trần...
Hốt
nhiên một cảnh chùa bỗng lần lượt hiện ra rõ ràng nước
mắt, Hồng Hạnh thấy mình trong tư cách một nhà sư uy nghi
đang phát họa kế hoạch tái thiết ngôi chùa tầm thường
sở tại thành một ngôi giàlam nguy nga vĩ đại. Sư đăng đường
thuyết pháp, hướng dẫn Phật tử tu tập, uy danh lan rộng
lần, rồi bắt đầu vận động quần chúng đóng góp tài
vật cho công tác Phật sự. Ðệ tử tề tựu về quy y với
sư khá đông, giới xuất gia có bảy vị đứng đầu là sư
chú Nhựt Tân, các sa di Nhựt Thái và Nhựt Thịnh, phần tại
gia cư sĩ có đến hàng ngàn người. Bận bịu với kế hoạch
phát triển sư chưa có thời giờ lưu tâm đến việc dạy
dỗ đệ tử về nội điển, sư chỉ tạm hướng dẫn vài
phương pháp xã giao cần thiết để xử dụng nhất thời khi
tiếp xúc với thiện tín mà thôi. Tuy vậy, sư khéo léo xử
dụng đệ tử theo khả năng nên rất được họ phục tùng.
Nhựt Thịnh dốt nát, hiểu biết hời hợt, kinh điển chẳng
thông, nói năng lại thô tháo, nhưng thuộc loại vai u thịt
bắp nên sư khuyến dụ chú lãnh canh tác thửa ruộng 5 mẫu
thuộc quyền sở hữu của chùa tại Phú Lâm, sư dự trù Nhựt
Thịnh sẽ đóng góp công sức không nhỏ khi sư khởi công
tái thiết ngôi tự viện. Nhựt Tân lanh lợi, tụng kinh lưu
loát, giao tiếp thiện tín khéo léo, nên sư cử làm trị sự,
quản trị ngôi chùa theo sự sắp xếp của sư. Nhận thấy
Nhựt Tân có khả năng và có ý hướng muốn lập chùa riêng,
trong khi sư bận việc thường đi vắng rất cần một viên
trị sự giỏi, sư vội hứa hẹn sẽ cử đệ tử nầy kế
thế trụ trì, và cho biết sư sẽ sớm ẩn dật tịnh tu sau
khi hoàn thành công tác tái thiết chùa. Sa di Nhựt Thái là
thị giả trung thành, thương kính thầy và tận tụy hầu hạ
thầy vô cùng chu đáo, nên cũng được thầy yêu thương nhất.
Nhựt Thái chỉ có khuyết điểm là tuy quyết chí xuất gia
nhưng vẫn còn thích nuôi sáo nhồng, có lần Nhựt Thái kiếm
đâu được một sáo con lén dấu kín trong phòng, bất ngờ
chú có việc phải về thăm nhà, rồi bị bà mẹ cưng lôi
kéo mãi, cả tuần mới trở về chùa được thì con chim đói
rét nằm rũ liệt, bị bầy kiến bu đen nghịt cắn xé đang
thoi thóp chờ chết. Tuy sư cũng biết rõ nội vụ nhưng cưng
người đệ tử thân thiết, sư lơ làbỏ qua không răn dạy
một lời.
Công
cuộc vận động tài chánh tiến triển rất khả quan, sư
đang chuẩn bị lạc quyên đợt chót trước khi khởi công,
thì một duyên may đã đưa đẩy bà góa phụ triệu phú họ
Trần đến viếng chùa. Cảm phục đạo đức và lòng nhiệt
thành vì đạo pháp của sư, bà triệu phú hứa hẹn sẽ cúng
dường sư một số tịnh tài vĩ đại. Quí trọng vị đại
thí chủ, sư thường xuyên viếng thăm, săn sóc, tán thán...
nên tình thầy trò ngày càng thêm khắng khít. Một buổi chiều
hè, sư ghé nhà bà triệu phú hàn huyên, trời bỗng đổ mưa,
mưa ồ ạt và kéo dài mãi không dứt, khiến sư đành ở lại
nhà nữ thí chủ ngủ đêm. Ðêm đó mắc chứng gì, mà sư
bị trúng gió nhảy mũi liên hồi, nữ thí chủ hoảng hốt
đích thân thuốc thang chăm sóc, bà lại cạo gió cho sư, và
ngồi cạnh canh chừng suốt đêm. Sáng hôm sau, thân thể khoẻ
hẳn lại, trong giây phút cảm động dạt dào không kềm chế
được, sư nắm tay người nữ thí chủ để bày tỏ lòng
biết ơn sâu xa. Người thí chủ đã đáp lại bằng tất cả
nhiệt tình, thế rồi!... thế rồi... sư bị lôi cuốn mờ
mịt, chẳng còn chống chỏi gì được nữa...
Sau
giây phút yếu lòng, sư Hồng Hạnh ăn năn tìm cách lẫn tránh
bà triệu phú. Sư giao chùa cho sư chú Nhựt Tân, dự định
sẽ hành hóa vùng Thất Sơn một thời gian dài. Trong cơn bận
rộn nầy, thị giả Nhựt Thái lại bỗng từ trần, sau một
cơn bệnh ngắn. Sư phải ở lại lo tang ma cho đệ tử, và
nhân nỗi đau buồn nầy, sư tuyên bố tịnh tu, chỉ lẩn quẩn
trong liêu chẳng tiếp xúc với bất cứ Phật tử nào cả.
“Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”, sư tưởng trốn
trong liêu thì yên thân, ngờ đâu bà triệu phú mỗi ngày đều
tìm đến. Mấy ngày đầu bà còn dè dặt thăm hỏi, đến
ngày thứ ba thì bà ngang bướng lục lạo khắp nơi, rồi xông
thẳng vào trong liêu bất chấp mọi ngăn cản. Gặp sư, bà
thí chủ khóc lóc bù lu bù loa, kể lể nỗi niềm thương nhớ
chẳng úy kỵ gì cả, sư sợ có người nghe được thì lâm
nguy nên phải xuống nước năn nỉ bà im lặng, hứa hẹn sẽ
tìm gặp bà ngay. Sư đến thăm bà thí chủ thì bị kéo lôi,
và “bổn cũ soạn lại” càng ngày sư càng đắm chìm trong
biển tình không cách gì cựa quậy được. Cuối cùng sư Hồng
Hạnh chọn giải pháp hoàn tục, nhưng sư vốn là người khôn
ngoan, sư chuẩn bị chuyến ra đi rất chu đáo: sư gom góp tiền
bạc đã lạc quyên, sư cũng bán luôn sở ruộng chùa tại
Phú Lâm, mang về giao cho tình nhân cất giữ. Ðêm đó, sau
khi dệt mộng sẽ đưa nhau đến một tỉnh miền duyên hải
sống an nhàn trọn đời, hai người tổ chức liên hoan, đang
cơn hứng chí bỗng nhiên sư bị trúng gió trên mình ngựa
ngã lăn chết tức thời.
Tin
tức động trời đó bay về chùa khiến đám đệ tử ngơ
ngác rụng rời. Ðau lòng nhứt là chú Nhựt Thịnh, chú hăm
hở làm lụng vô cùng cực khổ, chắc mót từng đồng dâng
lên cho sư phụ xây chùa, ngờ đâu sư phụ đem xây tổ uyên
ương. Chú chửi thề ỏm tỏi, rồi bỏ về nhà một nước,
thề trọn đời chẳng bước đến một ngôi chùa nào nữa.
Sư chú Nhựt Tân hi vọng sẽ tiếp nhận trụ trì một ngôi
chùa khang trang tài sản dồi dào, ngờ đâu, giờ đây phải
kế nghiệp ngôi chùa đổ nát, tài sản bị vét sạch gọn
ghẽ, nên cũng đau lòng không kém. Tuy vậy, sư chú vẫn ẩn
nhẫn tiếp tục chăm sóc ngôi chùa, với hoài bảo khôi phục
uy thế ngôi chùa như xưa. Thế nhưng hành vi tác tệ của sư
phụ Hồng Hạnh quá tai hại, Phật tử chẳng một ai tin tưởng,
họ rủ nhau tránh xa thành thử ngôi chùa ngày càng vắng vẻ
và kiệt quệ, sư chú Nhựt Tân thua buồn hoàn tục bỏ ngôi
chùa hoang phế theo thời gian...
Tiền
duyên nghiệp chướng như cuộn phim ảnh hiện rõ ràng trước
mắt, càng nhìn Hồng Hạnh càng bồn chồn lo lắng, nàng bật
tiếng than: “Ôi! Thì ra ba đời chồng là ba con nợ nghiệt
oan! Hởi ôi! Còn nợ nần bốn tên đệ tử nhỏ, còn
nợ nần vô số thí chủ nữa thì mình phải trả cách nào
đây?”. Hồng Hạnh buông tiếng thở dài thườn thượt, nỗi
kinh hoàng bất thình lình xâm chiếm khiến nàng run rẩy toàn
thân. Nàng vận dụng hết sức mình để chống trả cơn run,
thì chợt mở choàng mắt dậy. Trong giây phút chập chờn mê
tỉnh, nàng khắc khoải tự hỏi mình thực sự là ai: cô gái
ngây thơ Hồng Hạnh? cô Ba Cháo Gà Hồng Hạnh? hay nhà sư
Hồng Hạnh? Chừng định thần lại, thấy mình đang nằm co
rúm lạnh buốt da bên cành cây mít gãy, với sợi giây thòng
lọng còn quấn ngang cổ, thì nàng mới nhận thức được
giờ nầy mình là ai. Trời vừa hừng sáng, tiếng gió lao xao
lá mít như điệu nhạc chào mừng, và mấy con gà giò đang
nhốt trong chuồng – đáng lẽ đã phanh thây trong nồi cháo,
mà thoát nạn – bỗng cất tiếng gáy vang.
Thì
ra, khi Hồng Hạnh vừa ngộp hơi thì cành cây chịu đựng
không nỗi sức nặng đã gãy lìa, nàng rơi xuống đất, khí
trời lạnh ban mai đã giúp nàng lần lần hồi tỉnh. Còn những
điều đã phát hiện như chuyện hoang đường trong cơn mê,
thực hư thế nào, chính Hồng Hạnh vẫn mơ mơ màng màng phân
vân chẳng có câu giải đáp. “?”. “?”.”?”.
Tháng 8.2002
Lời
cuối truyện:
Trước
năm 1975, tác giả có đọc tập sách: “Cô Ba cháo gà nói
chuyện âm phủ”, trong đó, sư cô Huệ Hiền tục danh Cô
Ba Cháo Gà kể chuyện cô chết xuống địa ngục mới được
biết kiếp trước cô là một vị hòa thượng trụ trì tại
một tổ đình tại vùng Phú Thọ, đã phạm giới thông dâm
với gái tơ và lấy của thường trụ nuôi gái. Kiếp nầy
cô Ba Cháo Gà đã phải khổ sở phục dịch bảy đời chồng,
là bảy đệ tử kiếp trước đã ra công phục vụ cho sư
phụ, mà không được sư phụ dạy dỗ đạo pháp... Tác giả
xin miễn phê bình về tính chất thực hư, đúng sai của câu
chuyện. Tác giả chỉ xin nhắc lại phần ghi trên, phần đã
gợi ý tác giả phóng tác thành chuyện Hồng Hạnh nầy.
Ghi
chú:
1.
Câu ca dao nầy có lẽ đã xuất hiện rất sớm, sau khi người
Pháp xâm chiếm miền Nam, bọn chạy theo thực dân đã dùng
cái quyền lực, cái sang giàu, cái hào nháng bên ngoài (đèn
đỏ đèn xanh) để quyến dụ đàn bà con gái nhẹ dạ, khiến
có những gia đình phải chịu cảnh tan nát.
2.
Câu ca dao nầy xuất hiện sau câu trên, vào thời điểm mà
thực dân đã biến thành phố Saigon thành chốn ăn chơi: cờ
bạc, hút xách, đĩ điếm... để làm bạc nhược tinh thần
yêu nước của dân Việt. Câu hát nầy thể hiện nỗi lòng
của một nàng con gái Việt ngoan hiền đã nhắc nhở anh chồng
rằng: Gái Saigon chú trọng đến hào nháng lòe loẹt bên ngoài
(đèn xanh đèn đỏ); gái Mỹ Tho chú trọng đạo đức bên
trong (ngọn tỏ, ngọn lu); dẫu bị chồng bỏ rơi, nàng vẫn
nhu mì; chín, mười năm vẫn đợi chờ chồng.
3.
Cắc: 10 xu
4.
Dòng kệ truyền pháp của tổ Ðạo Mân như sau:
Ðạo
Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh
Như Hồng Nhựt Lệ Trung Thiên
Linh
Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu
Thế Chơn Ðăng Vạn Cổ Truyền.
Tính
ra thì chữ Ðạo thuộc thế hệ thứ 31 phái Lâm Tế, chữ
Như thế hệ thứ 39, chữ Hồng thế hệ 40, chữ Nhựt thế
hệ 41.
5.
Cây mít: là loại cây ăn trái mà gỗ thường được dùng
để tạc tượng Phật tại các ngôi chùa xưa nên rất gần
gũi với cửa Phật ở Việt Nam. Theo Chu quang Trứ (trong Sáng
Giá Chùa Xưa), cây mít được người Thiên Trúc gọi là Paramita,
âm Hán Việt là Ba la Mật nghĩa là đáo bỉ ngạn, nên ngày
nay ở Huế có người vẫn gọi mít là cây Ba la Mật. Chư
tổ sư thích trồng cây mít trong khuôn viên chùa, để mỗi
khi nhìn thấy cây thì liên tưởng ngay đến thuật ngữ Ba
la Mật để thúc liễm thân tâm tu hành. Theo truyền tụng
dân gian thì cây mít trồng trong chùa thường có linh tánh,
đặc biệt là tình nghĩa với chư hòa thượng, mỗi khi quý
Ôn (hòa thượng) từ trần người ta vẫn cho cây mít để
tang Ôn, nếu không cây mít sẽ tủi thân mà chết.