CÂY
KHÔ TRỔ BÔNG
Từ
Kim Lăng, Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Đức Tướng đã lội suối
băng rừng chịu đựng bao gian khổ mới đến được vùng
núi Nhạn Đãng, thuộc huyện Lạc Thanh, thị xã Oân Châu,
tỉnh Triết Giang, hi vọng tìm được một đạo tràng thanh
tịnh nương náo tu tập. Thế nhưng, tuy đến tự viện nào
chàng cũng cần mẫn chấp tác, rồi mới thành khẩn thiết
tha đạo đạt nguyện vọng của mình, nhưng Đức Tướng vẫn
chẳng được tự viện nào cho nhập chúng. Thất vọng não
nề chàng thẫn thờ xuống núi, bâng khuâng chẳng biết thân
phận của mình sẽ phải nổi trôi ở chốn nào?
Đức
Tướng tục danh Lý sĩ Tú, là con của một gia đình nho gia
thanh bần tại Kim Lăng. Cha mất sớm, bà mẹ Tú tảo tần
mua bán, tuy tiền bạc thiếu hụt vẫn hi sinh chắt mót từng
đồng gởi con đến chùa Báo Aân học hành, hi vọng đứa
con sẽ đỗ đạt làm quan rạng rỡ tông môn. Vào triều đại
nhà Minh, các ngôi chùa lớn như Báo Aân, được cải biến
thành những trung tâm giáo dục đặt dưới sự kiểm soát
của triều đình, để dạy dỗ chung tam giáo : Nho, Phật và
Đạo. Môn sinh dành phần lớn thời giờ trao dồi văn chương
thi phú của Nho gia, đồng thời, cũng phải nghiền ngẫm thông
suốt giáo lý Phật đà và nghi lễ của Đạo gia, vì đề
thi gồm cả những câu hỏi về Phật và Đạo. Tuy quyết tâm
theo đuổi mộng ước quan trường để chiều lòng mẹ, nhưng
Tú rất say mê học Phật, nhất là triết lý Bát Nhã và tu
tập thiền quán, do đó, chàng thường tham dự các thời khóa
tụng niệm và hành thiền tại chùa. Chàng học trò nghèo,
hiếu học và có đạo tâm, sớm được hòa thượng Tây Lâm,
trụ trì Chùa Báo Aân chú ý. Hòa thượng thương yêu miễn
cho chàng học phí, bù lại, chàng cũng tình nguyện gánh vác
công quả cực nhọc tại khu nhà trù. Ngày thi cử chưa đến,
ước mơ của mẹ chưa thực hiện, thì bất ngờ bà mẹ bị
lâm trọng bệnh rồi qua đời. Khổ đau mất mẹ khiến Tú
nhận chân rõ rệt lý vô thường vô ngã trên cuộc đời,
nên ngay sau khi hoàn tất lễ thất tuần cho mẹ, Tú liền quì
lạy hòa thượng Tây Lâm thỉnh cầu xuất gia. Hòa thượng
hoan hỷ chấp nhận cho chàng tu tập sự, làm lễ thí phát
và cho chàng thọ giới sa di với pháp danh Đức Tướng, đoạn
ủy thác chàng cho thầy giáo thọ đặc trách dạy dỗ. Chùa
Báo Aân tu tập theo truyền thống thiền tông hệ phái Quy Ngưỡng,
chuyên chú đặc biệt vào Kinh Kim Cang để tham cứu tu tập,
chớ không đặt nặng việc xử dụng công án như phái Lâm
Tế. Chủ trương nầy dựa trên truyền thuyết theo đó lục
tổ Huệ Năng, trong khi còn là cư sĩ đang gánh củi đã nghe
Kinh Kim Cang mà phát tâm, về sau, khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh
Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, liền
đại ngộ và được Ngũ tổ trao truyền y bát. Hòa thường
Tây Lâm, tuổi đã ngoài bảy mươi lăm, hàng ngày vẫn nghiêm
túc hành thiền và trì tụng Kinh Kim Cương Bát Nhã chẳng chút
xao lãng. Hòa thượng thường vân du chiêm bái các đại tùng
tâm “hang ổ” của chư tổ sư thiền ngày xưa như chùa Nam
Hoa của Lục tổ, chùa Mật Aán, tổ đình Quy Ngưỡng, chùa
Nam Đài tổ Thạch Đầu, chùa Lâm Tế tại Thạch gia Trang...
Mùa thu năm Gia Tĩnh thứ 43 (1564), Ngài hướng dẫn phái đoàn
đệ tử trong đó có Đức Tướng chiêm bái Ngũ Đài sơn đảnh
lễ Bồ Tát Văn Thù. Đầu xuân năm sau, đang khi vẫn còn mạnh
khỏe, hòa thượng bỗng khẩn cấp họp chúng từ giã, rồi
long trọng nhắc nhở : “Theo lý vô thường thì chùa Báo Aân
sẽ có lúc bị hủy hoại và các con sẽ gặp khó khăn. Dù
trong hoàn cảnh nào, thầy mong sao các con vẫn tiếp tục
kiên trì tu tập, giữ giới luật như giữ đôi tròng mắt
của mình”. Kế đến, hòa thượng dặn dò riêng từng đệ
tử lớn, rồi cuối cùng, Ngài ngoắc Đức Tướng đến phán
dạy : “Rất tiếc là ta chỉ có nhân duyên chỉ cho con cánh
cửa, con đường tu tập gian nan còn lại phải do con chọn
lựa và tự khám phá mà bước vào. Ta chỉ nhắc con một điều
là Đức Tướng tức là Không, mà Không cũng tức là Đức
Tướng. Con nên tâm niệm điều đó để làm yếu chỉ mà
hội nhập thiền môn”. Sau khi phú chúc xong hậu sự, hòa
thượng chấp tay lầm thầm đọc tụng trọn bộ Kinh
Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, rồi lặng lẽ nhập diệt. Sự ra
đi tự tại của hòa thượng khiến cho tứ chúng vừa hân
hoan vừa thương cảm, ai ai cũng thệ nguyện tinh tấn tu tập
để khỏi phụ lòng tin yêu của thầy. Đúng theo lời tiên
đoán của hòa thượng, chỉ hơn một năm sau thì ngôi tự
viện nguy nga bị sét đánh gây hỏa hoạn cháy rụi. Chùa Báo
Aân được coi là tài sản quốc gia nên chánh quyền có trách
nhiệm liền tức tốc mở cuộc điều tra : thầy trụ trì
và 17 tăng sĩ phụ trách điều hành tự viện bị dẫn
giải về huyện đường chấp cung rồi bị giam giữ. Chùa
Báo Aân tuy tấp nập thiện tín lễ bái, nhưng theo tinh thần
tu tập đạm bạc của hòa thượng Tây Lâm, chùa không thừa
tiền bạc để biết “lễ nghĩa”, nên giới chức điều
tra không chấp nhận thuyết thiên tai và nhất quyết cho rằng
hỏa hoạn do phá hoại, do đó, cuộc điều tra ngày càng trở
nên gay gắt, số phận của chư tăng đang bị câu lưu rất
mờ mịt. Nhóm tu sĩ trẻ còn lại như rắn không đầu, đói
rách, không mái lá che nắng mưa, lại nơm nớp lo sợ bị liên
lụy, nên lần lần tản mác đến các tự viện khác nương
thân. Đức Tướng là một trong số ít tu sĩ gắng gượng
ở lại, hằng ngày thay phiên nhau cơm nước thăm nuôi chư
tăng tù tội. Cuộc điều tra bỗng chuyển hướng sang nhóm
phụ trách khu nhà trù, nơi xuất phát ngọn lửa. Từ ngục
thất, thầy trụ trì nhắn tin khuyên bảo nhóm nhà trù nên
lánh mặt thật xa để tránh nguy cơ bị lùng bắt, tra tấn,
tù đày. Thế là Đức Tướng đành gạt nước mắt hấp tấp
lủi trốn khỏi thành phố Nam Kinh. Chàng chỉ kịp mang theo
chút lương khô và bản kinh Kim Cang làm của tùy thân. Đức
Tướng lo lắng đi liên tục ngày đêm chẳng dám nghỉ ngơi,
mệt lắm thì chàng chui vào lùm cây kín đáo xa xa đường
lộ nằm chợp mắt, vừa tỉnh dậy đã vội vã lên đường.
Mãi đến khi đã vượt sang địa phận tỉnh Triết Giang, mối
hiểm nguy giảm thiểu, chàng mới thư thả ngắm cảnh và chiêm
bái các ngôi chùa gần xa. Thật ra, lúc bấy giờ lương khô
mang theo đã cạn, Đức Tướng rất cần tìm đến các ngôi
chùa địa phương để xin bữa cơm chay, và sau đó, nếu thấy
ngôi chùa hợp ý, thì sẽ khẩn khoản xin được nương náo
tu tập. Chùa nào cũng vui vẻ bố thí cho chàng bữa ăn, nhưng
việc xin lưu trú thì chẳng có dấu hiệu gì sáng sủa. Có
nơi khéo léo từ chối viện lẽ luật lệ triều đình khó
khăn đã ngăn cấm họ chứa chấp kẻ xa lạ, có nơi lạnh
lùng xua đuổi chẳng một lời giải thích. Trong cảnh nhục
nhã bẽ bàng nào Đức Tướng cũng chẳng sanh tâm sân hận,
chàng tự biết mình tuy cạo đầu nhưng chỉ là một sa di,
chưa có tăng tịch, không giấy giới thiệu của bổn sư, dáng
điệu bệ rạc, quần áo xốc xếch, nên nếu họ nghi ngờ
chàng là kẻ lưu manh giả dạng tu sĩ cũng là chuyện bình
thường. Từ nơi nầy lang thang đến nơi khác, Đức Tướng
vô tình lần mò đến dãy núi Nhạn Đãng, thuộc huyện Lạc
Thanh, thị xã Oân Châu. Nhạn Đãng sơn là một dãy núi thanh
tú có trên trăm ngọn, rừng cây sầm uất, hang động thâm
u, thác nước hồ suối mỹ miều và cũng có hằng hai mươi
ngôi chùa rải rác khắp nơi. Đức Tướng trèo lên Nhạn Hồ
Cương, Linh Nham, Đại Long Thu, Ỷ Thiên đỉnh... chiêm bái
hơn 10 ngôi tự viện mà vẫn chẳng thấy có chút tia hi vọng
về chốn dung thân. Tình trạng tỏ vẻ khả quan hơn tại chùa
Hiển Thánh. Sau khi nghe Đức Tướng tha thiết đạo đạt nguyện
vọng, và giải đáp suôn sẻ vài vấn nạn về thiền, hòa
thượng trụ trì tỏ vẻ hoan hỷ như sẽ thu nhận chàng. Đức
Tướng đang khấp khởi mừng thầm, bỗng nghe Ngài gạn hỏi
lý do rời chùa, rời thầy. Tuy hiểu rằng nếu trả lời thành
thật chắc chắn sẽ gặp khó khăn, nhưng Đức Tướng đã
nguyện giữ giới cẩn trọng như giữ đôi tròng mắt, nên
chẳng cần suy nghĩ dông dài, chàng trình bày rõ rệt cội
nguồn. Dầu tin tưởng chàng vô tội và ái ngại cho thân phận
của chàng, hòa thượng cũng buộc lòng từ chối. Đức Tướng
lại lặn lội sang ngọn Linh Phong, chiêm bái chùa Linh Phong
và Quan Aâm động. Chàng trèo lên tầng điện thứ 10, đảnh
lễ Bồ Tát Quán Thế Aâm rồi lặng lẽ ra đi. Chàng nghĩ
thỉnh cầu nhập chúng chỉ chuốc thêm một lần đau thương
nhục nhã chớ chẳng ích lợi gì, huống chi, chùa nầy chuyên
tu Tịnh Độ, chẳng khế hợp với căn cơ thiền của chàng.
Chàng lủi thủi xuống núi, dừng chân bên quán nước ọp
ẹp nằm sát đường mòn, gọi chén trà nóng rồi lơ đãng
nhìn về chốn xa xôi mù mịt, quên mất thời gian, quên cả
tách trà. Bà chủ quán hiền hậu thương hại nhìn chàng, bà
ngập ngừng mấy lần rồi mới khơi chuyện :
- Chú
uống trà kẻo nguội. Trông chú có vẻ là người từ phương
xa đến đây hành hương. Chẳng hay chú đã tham bái khắp các
đỉnh núi chưa?
Đức
Tướng sực tỉnh cơn mộng mơ, hớp miếng trà, cất tiếng
thở dài rồi bùi ngùi đáp :
-
Thưa bà! Con từ Kim Lăng đến đây mong tìm một ngôi tự viện
để xin tu tập, chớ thật ra, không nhằm mục đích hành hương.
-
Quý hóa lắm! Thế chú đã chọn ngôi chùa nào vậy?
-
Con nào dám chọn lựa. Con khẩn cầu khắp nơi, mong tìm một
chốn an ổn tu tập mà chẳng chùa nào chấp nhận cả!
-
Sao kỳ vậy kìa?
-
Con vốn là sa di chùa Báo Aân. Chùa cháy, thầy trụ trì và
17 tăng sĩ phụ tá bị câu lưu để điều tra. Thầy trụ trì
khuyên con trốn đi để khỏi liên lụy. Khi thỉnh cầu nhập
chúng, con sợ phạm giới vọng ngữ không dám dấu diếm điều
nầy, mà khai thật thì chẳng chùa nào chịu chứa chấp cả!
Oâi! trời đất mênh mông, nhưng tìm được một chỗ dung
thân thì gian nan khôn xiết!
-
Tội chú quá! sao chú không tự mình chọn một địa điểm
vắng vẻ trên non cao, cất cái thảo am, tự sống tự tu, thì
ai ngăn cấm chú được?
-
Con đã nghĩ đến điều đó rồi bà ạ! Tu một mình thì ngoài
việc dựng thảo am mình lại cần phát hoang một khoảnh đất
trồng tỉa để tự túc. Mà dựng thảo am hay phát hoang
đều đòi hỏi phải có chút đỉnh tiền mua vật liệu, dụng
cụ, hạt giống... cùng phần thực phẩm dự trữ tối thiểu
để tạm sống trong thời gian chờ đợi gặt hái hoa mầu.
Ở đây xứ lạ, làm sao con có thể tìm ra vị thí chủ giúp
đỡ con bước đầu cho được?
-
Tưởng chuyện gì khó chớ chuyện nầy thì già có thể làm
được. Nếu chú tha thiết tu tập thì già sẽ giúp chú dựng
thảo am và hằng ngày sẽ mang cơm nước cúng dường chú,
chú chỉ cần dụng công tu mà thôi, và chẳng phải bận tâm
điều gì khác nữa!
Thế
rồi bà lão thuê dân làng đưa chàng trở lên ngọn Linh Phong,
vượt khỏi động Quan Aâm một khoảng ngắn, thì khám phá
ra được một địa điểm thanh vắng, thuận tiện cho việc
dựng ngôi tịnh thất để chàng tạm trú mà hạ thủ công
phu. Tịnh thất mái tranh vách lá sơ sài, bé nhỏ xinh xinh,
ẩn dưới bóng đại thụ râm mát, có tầm nhìn toàn cảnh
Nhạn Đãng sơn hùng vĩ. Đáng tiếc là khoảnh đất nầy tương
đối hẹp, chỉ vừa đủ cho Đức Tướng trồng vài cụm
hoa trang trí, chớ chẳng canh tác được. May mắn là chàng
không phải bận tâm chuyện ẩm thực, vì lão bà luôn luôn
giữ vẹn lời hứa là mỗi ngày mang cơm nước lên một lần
trước giờ ngọ. Đức Tướng bắt đầu lập thời khóa tu
tương tợ theo sinh hoạt của chùa Báo Aân, theo đó, ngoài
các thời tọa thiền, chàng cũng giữ hai thời công phu khuya
và tối, đặc biệt với phần trì tụng Kinh Kim Cang. Thoạt
đầu, Đức Tướng tu tập rất dõng mãnh, nhưng chỉ sau một
thời gian ngắn, chàng bắt đầu cảm thấy uể oải buồn
chán và đôi khi còn bị khủng hoảng đến nỗi muốn hoàn
tục. Nguyên Đức Tướng âm thầm mang tự ti mặc cảm là
sa di, cộng với nỗi ám ảnh về lời răn dạy của chư cổ
đức rằng tăng mà sớm lìa chúng thì nguy hiểm như con hỗ
xa rừng “hỗ ly sơn hỗ bại, tăng ly chúng tăng tàn”, nên
cứ phập phòng sợ gặp ma chướng và vì vậy đôi khi mất
tự tin nên sanh tâm giãi đãi. Ngoài ra, chàng vốn quen thuộc
cái không khí rộn rịp của ngôi chùa thị thành đông đảo
Phật tử ra vào, nay lại phải sống thui thủi một mình, không
thầy không bạn, nên cảm thấy cô đơn chán nãn cùng cực.
Cũng may là những cơn khủng hoảng hành hạ chàng chỉ kéo
dài cho đến giờ ngọ, khi Đức Tướng nhác thấy bóng dáng
lão bà mang cơm nước lên núi thì nó liền tan biến. Sự kiện
trùng hợp nầy thật khó hiểu. Có lẽ, khi thấy bà chàng
vừa ấm lòng, vừa cảm thấy xấu hỗ nên tâm tinh tấn phát
sanh chăng? Hoặc giả, chính thái độ thành khẩn cúng dường
của bà đã tạo cho chàng niềm hứng khởi chăng? Thật ra,
Đức Tướng chẳng thể suy tìm ra nguyên nhân nào rõ rệt.
Chàng chỉ cảm nhận rằng mỗi khi thấy bà thì chàng đón
nhận được nguồn tươi mát an vui, rồi bỗng nhiên phục
hồi được niềm tin và nghị lực để tu tập. Vô tình mà
lão bà biến thành điểm tựa tinh thần cho chàng trong thời
gian khó khăn lúc ban đầu.
Năm
năm, mười năm, rồi hai mươi năm trôi qua. Đức Tướng vẫn
kiên trì tọa thiền. Thân tâm chàng biến thành một khối
rắn chắc như kim cương, thách đố cái lạnh mùa đông, cái
oi ả mùa hè, và tâm chàng thì rỗng không chẳng có chỗ để
cho ngũ trần - thanh hương vị xúc pháp - chen vào khuấy phá
nhiễm ô.
Vào
một buổi trưa mùa đông, khác hơn thường lệ, một cô gái
tuổi chừng đôi mươi xinh đẹp đã mang cơm lên tịnh thất
thay cho lão bà. “Sắc bất dị không, nhan sắc khuynh thành
đó chẳng khiến ta động tâm”, chành bình thản tự hào.
Cô gái bỗng ngọt ngào lên tiếng :
-
Mẹ con đau, nên con thay thế bà mang cơm nước cúng dường
sư!
Ââm
thanh là không nên lời nói nhu mì dễ nghe đó chẳng ảnh hưởng
đến chàng chút xíu gì cả, nó chỉ khiến chàng khó chịu
vì mất sự yên tĩnh. Lão bà lẵng lặng mang cơm đến, rồi
lẵng lặng đi, đâu có nói năng phiền hà như thế nầy. Trong
khi chàng vẫn an nhiên bất động thì cô gái bỗng run rẩy
lập cập, rồi ấp úng :
-
Nơi nầy có ngọn gió luồn lạnh quá! Sư ơi! Con lỡ quên
mang theo áo ấm, con lạnh chịu không nỗi! sư làm ơn ôm con
vào lòng một chút cho ấm lại, kẻo con chết mất!
Đức
Tướng cười nhạt, khoát tay bỏ đi, rồi lạnh lùng ngâm
nga :
Ta
tợ cây khô dựa đá lạnh
Chẳng
còn sinh khí đã ba đông.(1)
(Khô
mộc ỷ hàn nham
Tam
đông vô noãn khí)
Hốt
nhiên Đức Tướng thấy lão bà đứng trước cửa tự lúc
nào. Có lẽ, bà đã xuất hiện đúng lúc để chứng kiến
được mẩu đối thoại “hào hùng” của chàng. Lạ quá!
sao lão bà chẳng lộ vẻ khâm phục vậy kìa? Đức Tướng
đang chờ đợi bà lão cất lời tán thán, nào ngờ bà chợt
lắc đầu, rồi với giọng nói hiền hòa bình thường, bà
chậm rãi lên tiếng :
-
Thật là uổng cho công của già bấy lâu nay! Già đã lầm
lẫn cúng dường cho thứ “cây khô” vô tri giác như ngươi!
Oâi! tiếc quá! đáng tiếc quá!
Đức
Tướng không tin tưởng lỗ tai của mình. Chàng còn phân vân
tự hỏi chẳng biết bà nói thật hay đùa cợt, thì bỗng
thấy bà lão, trong tay cầm sẵn mồi lửa từ lúc nào, ung
dung dí lửa vào vách lá khiến ngôi tịnh thất bùng cháy tan
tành. Thế rồi, bà quay lưng bước đi chẳng thèm nói với
Đức Tướng một lời nào nữa.
Biến
cố đột ngột khiến Đức Tướng choáng váng lặng người.
Chàng tu đến mức độ không bị thanh sắc lung lạc những
tưởng được người người bái phục, ngờ đâu, chính lão
bà thí chủ trong hai mươi năm trời lại bày tỏ thái độ
bất mãn, phũ phàng đốt tịnh thất xua đuổi chàng. Đức
Tướng suy nghĩ điên cả đầu mà vẫn không hiểu nỗi hành
động quái lạ của lão bà, chàng chua xót nhìn lại mớ tro
tàn, rồi uể oải bước đi, mà chẳng biết đi đâu và làm
cái gì? Chàng đi lang thang lạc lõng trong rừng cây thưa đến
khi trời tối đen không lui tới được mới ngồi bệt xuống,
mà đầu óc vẫn nặng trĩu với bao câu hỏi quay cuồng. “Có
thật mình đã biến thành thứ cây khô vô tri giác chăng? Giới
tu hành thường nhắc nhở nhau rằng tụng kinh Kim Cang dễ bị
biến tánh trở thành khô khan nóng nảy. Điều nầy có đúng
không và mình đã lâm vào trạng huống nầy sao? Sư phụ Tây
Lâm cũng tu thiền theo Kinh Kim Cang mà sư phụ dào dạt từ
bi, đâu có khô khan tình cảm như ta?”. Vừa nghĩ đến thầy,
Đức Tướng liền hồi tưởng lại thời gian tung tăng theo
thầy chiêm bái Ngũ Đài sơn. Ngày đó, đang khi tham quan chùa
Hiển Thông, sắp bước vào điện Văn Thù, bỗng sư phụ khoát
tay bảo chàng dừng lại, chỉ hai câu đối trước cửa rồi
bảo :
-
Con đọc to hai câu đối nầy cho thầy nghe .
-
Thưa : “Đức tướng phi không phi hữu, ứng tùy cơ dĩ hằng
chu” và “Pháp thân vô khứ vô lai, trụ tịch quang nhi bất
động”.(2)
-
Ta đã đặt pháp danh con là Đức Tướng là muốn con thâm
cứu huyền nghĩa của vế đối nầy. Con đã hiểu rõ Ngài
Văn Thù là tượng trưng của Bát Nhã trí, là Pháp thân tịch
quang thường trụ mà đức tướng vẫn luôn luôn hằng khởi
chu biến để tùy cơ cứu độ chúng sanh. Và tuy cứu độ
vô lượng vô biên chúng sanh mà Bồ Tát vẫn chẳng thấy có
chúng sanh nào được cứu độ, bởi vì Bồ Tát nào có phân
biệt tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ mạng...
Lời
dạy của thầy bỗng bùng nổ như tiếng sấm sét vang lừng,
khiến thân tâm chàng cực kỳ giao động. Chàng chợt khám
phá được điểm sai lầm của mình. Chàng đã đi tìm cái
“không” trong chấp ngã, bị điên đảo vì mãi thấy “tướng
người tướng chúng sanh tướng thọ mạng”, vì vậy nên
cái “không” chỉ là thứ không trong tự ngã khô khan cằn
cỗi. Thảo nào thầy đã căn dặn mình phải thấy tướng
của đức là không, không còn tướng phân biệt ta, người,
thì mình mới mong thâm nhập vào Trí Bát Nhã, trải tâm trùm
khắp pháp giới chúng sanh mà phát tâm đại bi. Khi tâm từ
bi không phân biệt rộng mở, thì thân tâm sẽ tươi mát như
hoa lá xum xuê chớ đâu khô héo cằn cỗi nữa. Tình thương
dạt dào nhắc nhớ chàng đến ân tình của thí chủ, rồi
chàng bỗng buột miệng than thầm : “Oâi! hai mươi năm qua,
bà lão đã bền bĩ lo lắng cho mình không nề hà nắng mưa
giá lạnh mà mình cứ coi đó là bổn phận, mình là người
xứng đáng thụ hưởng cúng dường, và vì tất cả là “không”
nên chẳng mảy may nảy sanh lòng cảm khích. Từ nay, mình nguyện
chỉ thọ dụng cúng dường với tâm hoan hỷ là sẽ kết duyên
đạo với thí chủ, ý thức rõ rệt rằng mình nguyện sẽ
theo họ khắp các nẽo luân hồi để cứu độ, chớ không
thọ nhận một cách ơ hờ như xưa nữa”. Đức Tướng bèn
hồi tưởng lại câu chuyện buổi trưa để quán sát lại
tâm mình : Khi thấy cô gái mang cơm đến thì mình sanh tâm
tự hào là không nhiễm sắc, chớ chẳng mảy may thấu hiểu
lòng hi sinh, nỗi khổ nhọc của người thí chủ đã lặn
lội đường xa trong giá lạnh để phục vụ mình. Khi nghe
cô gái thỏ thẻ ngọt ngào thì mình chống trả lại bằng
niệm khó chịu. Thì ra, mình tưởng mình chẳng động tâm
nhưng niềm tự hào, niệm khó chịu là gì? Đến khi nghe báo
tin bà lão đau, thấy cô gái run rẩy vì lạnh mà mình vẫn
dửng dưng chẳng chút xót thương, mình quả là thứ cây khô
vô tri vô giác mà. Oâi! lão bà chính thực là bậc cao nhân
đã thấy rõ nhược điểm của mình, nên mới đốt tịnh
thất để cảnh tỉnh mình, có thể nói lão bà đã tạt cho
mình một gáo nước lạnh buốt, mà nhờ vậy cây khô nay mới
bắt đầu trổ hoa.
Niềm
vui mang mang tràn ngập, Đức Tướng tìm đường quay lại chốn
cũ để mong gặp lại lão bà cảm tạ thâm ân. Chàng lặn
lội khắp ngọn Linh Phong, nhưng lạ lùng làm sao, chàng lên
xuống núi nhiều lần, hỏi thăm nhiều người, mà vẫn hoài
công. Chàng chẳng tìm được dấu vết gì của quán nước
dưới chân núi lẫn địa điểm ngôi tịnh cốc mà chàng đã
ẩn tu bao năm trường. Chàng đứng tần ngần trước Quan Aâm
động, tại chốn linh thiêng nầy 20 năm trước, chàng đã
đảnh lễ khẩn khoản Bồ Tát cứu khổ cứu nạn và hộ
trì chàng tu tập, sau đó duyên phúc đã đến với chàng. Thế
rồi, bỗng nhiên chàng thấu hiểu ngọn nguồn. Thì ra, diễn
biến trong hai mươi năm qua có lẽ chỉ là hóa hiện của Bồ
Tát Quán Thế Âm, và vị lão bà Bồ Tát đó đã hằng gia
bị cho chàng, đã từng ban cho chàng nguồn an lạc và niềm
tin vô bờ để tu tập. Trong niềm xúc động vô biên, Đức
Tướng chân thành đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Aâm và thệ
nguyện đời đời kiếp kiếp sẽ nương theo Ngài mà hành
hạnh nguyệïn lắng nghe tiếng đau thương của chúng sanh để
cứu khổ cứu nạn.
Sau
nhiều năm ẩn tu, râu tóc mọc dài như cư sĩ nên Đức Tướng
quyết định tạm giữ nguyên hình dạng nầy để đi lại
dễ dàng mong tìm ra việc làm, sống chung đụng với kẻ thế
tục hầu có cơ hội tùy nghi thực hành hạnh cứu khổ. Vừa
xuống núi, gặp nông trại đầu tiên Đức Tướng liền dừng
lại, ghé vào xin việc và may mắn được gia chủ thu nạp,
tạm giao cho đàn bò hai mươi con để chăn giữ. Trong đàn
có ba con bò cồ sừng sõ hung dữ thường chém lộn nhau và
hay cắn phá ruộng lúa người, đám mục đồng trẻ coi sóc
không xuể nên chủ nhân mới quyết định chọn một người
lớn tuổi chăn giữ. Đức Tướng vốn đã phát lồ tình thương
không phân biệt, chàng quan niệm bò cũng là mình, mà mình
cũng là bò, chàng tận tụy thương yêu chăm sóc bò như chăm
sóc bầy con của mình. Chàng nâng niu vỗ về từng con, lựa
cỏ non cho chúng ăn nước trong cho chúng uống, để ý từng
vết trầy, từng mục ghẻ, lau rửa sạch sẽ ghèn ráy, xua
đuổi ruồi nhặng bu chúng... Chàng cũng nô đùa, ngọt ngào
trò chuyện, chăm chú lắng nghe chúng, nên lần lần hiểu tính
nết từng đứa, bù lại, chúng cũng mến chàng, răm rắp vâng
lời chàng. Chỉ trong một thời gian ngắn, đàn bò của chàng
mập mạnh ra, chúng đi đứng trật tự theo hàng lối, không
đâm chém nhau, không chạy hoang phá phách ruộng người, nên
chủ nhân rất hài lòng. Chăn bò nổi tiếng, chàng được
chuyển sang nghề chăn ngựa, và nhờ tình thương không biên
giới, nhờ biết lắng nghe từng con vật nên chàng lại thành
công dễ dàng. Những bậc danh gia vọng tộc quí trọng ngựa
đổ xô tìm đến, tranh nhau mua chuộc chàng về săn sóc tàu
ngựa quí. Lần lần, có người khám phá ra thằng chăn ngựa
lại có biệt tài văn chương, nên đề bạt chàng làm thơ
ký, rồi thăng lần đến chức quản gia. Ở địa vị nghề
nghiệp nào, Đức Tướng cũng cần mẫn làm việc mà vẫn
có thừa thãi thời giờ tu tập và thực hành hạnh nguyện
ban vui cứu khổ. Tiền công thấp hay cao chẳng phải là điều
đáng quan tâm vì có bao nhiêu tiền thì chàng cũng đều đem
phân phát cho những kẻ nghèo khó. Chàng cũng dành nhiều thời
giờ chăm sóc kẻ bệnh hoạn già yếu, gánh vác công việc
nặng nhọc dơ bẩn cho chúng bạn tôi tớ, dạy dỗ trẻ con,
cứu người té sông, khuyên lơn kẻ hư đốn say sưa bài bạc...,
thậm chí, nhỏ nhặt như chuyện dắt kẻ mù lòa, người già
yếu băng qua đường, giúp xỏ mũi kim, đắp vá ổ gà, dời
tảng đá vào lề đường... chàng cũng vui vẻ hành trì. Tình
thương của chàng cũng tràn trề đối với loài vật : cứu
thương con mèo hoang, săn sóc chim non lạc mẹ, sưởi ấm con
chó nhỏ... Tóm lại, lúc nào chàng cũng tỉnh thức lắng nghe
tiếng kêu thương của chúng sanh để giúp đỡ, không từ
nan việc nhỏ, không quản ngại việc lớn, dẫu mình có thể
bị nguy hiểm đến tánh mạng cũng không sờn lòng.
Sau
mười năm nhập thế, lưu lạc từ nơi nầy đến chốn khác,
Đức Tướng nhận thấy đã đến lúc nên dừng lại. Chàng
dự định hành hương Phổ Đà sơn, chiêm bái thánh địa của
Bồ Tát Quán Thế Aâm, rồi sau đó sẽ tùy duyên xin vào chùa
nhập chúng nghiêm trì tu tập. Lúc bấy giờ, chàng đang giữ
chức vụ quản lý cho tiệm thuốc Hoa Đà Đại Dược Phòng
tại thị xã Hàng Châu, tương đối rất tiện đường viếng
Phổ Đà sơn. Chàng chỉ cần thuê xe ngựa trực chỉ một
ngày đến bến Ninh Ba, từ đó sẽ mua vé tàu đò vượt biển
đến Phổ Đà. Sau khi dành dụm được số tiền cần thiết
đủ cho sở phí di chuyển và lưu trú tự túc độ chừng một
năm tại thánh địa, chàng van nài chủ nhân cho nghỉ việc.
Mới xuất hành được nửa ngày, chàng bỗng chứng kiến cảnh
hỏa hoạn khiến ba căn nhà lá cất san sát bên nhau bị thiêu
hủy tan tành. Tai nạn không chết người, nhưng chứng kiến
cảnh nheo nhóc kêu gào khóc than thảm thiết của nạn nhân,
ai chẳng động lòng trắc ẩn. Đức Tướng nhận thấy nếu
phải dời ngày đi hành hương lại thì cũng chả sao, do đó,
chàng phân chia tiền cho các nạn nhân rồi lên xe trở về.
Chàng xin chủ nhân cho làm việc lại và sau mười hai tháng
dành dụm chàng đã hội đủ số tiền cần thiết để lên
đường. Đức Tướng đến bến Ninh Ba, đang lay quay dọ hỏi
chuyến đi thì vô tình nghe kể một hoàn cảnh cực kỳ thương
tâm xảy ra tại địa phương nầy. Năm ngày trước, trời
trong biển lặng, bỗng có đám mây đen tràn về bao phủ, rồi
một cơn giông nhỏ kéo đến. Lúc đó có ba cha con hành nghề
thả lưới giăng câu đang trúng một mẻ cá to, nên tiếp tục
say mê làm việc bất chấp cuồng phong. Tuy chỉ là cơn giông
nhỏ, nhưng vì thuyền đầy khẳm cá, nên chỉ sau vài lượn
sóng dập vùi, chiếc thuyền mất thăng bằng lật úp. Người
con trai lớn may mắn ôm được miếng ván nhỏ chịu đựng
qua cơn sóng gió nhưng cha và em đã chết. Nay hai xác chết
được vớt lên, gia đình khốn khổ đó lại không tiền chôn
cất, nên hoàn cảnh thêm phần bi đát. Đức Tướng vội vã
hỏi thăm đường tìm đến nhà nạn nhân an ủi và trao tất
cả số tiền mang theo cho họ. Ở xứ lạ tìm gấp việc làm
rất khó khăn. Thời may, có kẻ biết chàng là người tốt
bụng nên giới thiệu chàng làm nghề khâu vá lưới sống
qua ngày. Lần nầy, Đức Tướng dự trù chỉ gắng sức làm
việc vừa đủ tiền mua vé tàu đò thì đi ngay, còn chuyện
sinh sống tại Phổ Đà sẽ định liệu sau. Sau một tháng
dè sẻn từng xu, Đức Tướng gom đủ tiền mua vé, ung dung
lên tàu và yên tâm chờ đợi. Tàu vừa mở giây chuẩn bị
tách bến, thì có chàng thanh niên hấp tấp dẫn bà già chạy
đến, kêu réo tàu chờ đợi. Chàng thanh niên lí nhí năn nỉ
chủ tàu, dúi cho ông ta nắm tiền lẻ, rồi dợm dẫn bà già
bước lên tàu. Chủ tàu giơ tay chận lại, kiểm điểm
tiền rồi nhăn mặt nạt lớn :
- Hừ!
tiền nầy chỉ đủ cho một vé. Chỉ một người được lên
tàu mà thôi!
-
Con chỉ có chừng đó tiền, xin ông chủ thông cảm dùm!
-
Thông cảm cái khỉ mốc! Ai cũng xin thông cảm kiểu đó thì
chết cha tao rồi!
-
Con lạy ông chủ! Mẹ con suốt đời ước mơ hành hương thánh
địa một lần. Xin ông chủ làm ơn làm phước cho bà đi chuyến
nầy!
-
Vậy thì mẹ mầy lên tàu, còn mầy ở lại.
-
Mẹ con đau yếu rề rề hà! con cần đi theo để săn sóc bả
ông chủ à!
-
Nè! đừng có nói nhây mãi! Tao đã nói không là không, nghe
chưa?
Không
thể chần chờ thêm được nữa, Đức Tướng bước xuống
tàu, trao cho thanh niên vé đò, rồi ôn tồn lên tiếng :
-
Tôi xin biếu chú vé tàu để hai mẹ con chú cùng đi. Chú em
có hiếu đáng khen lắm! Chúc mẹ con chú đi hành hương chuyến
nầy được nhiều lợi lạc.
Đức
Tướng thanh thản ra đi. Chàng thầm nghĩ mình chưa có duyên
chiêm bái thánh địa chuyến nầy, thì sẽ còn bao dịp khác,
lo gì. Trời sắp tối, chàng đi bộ về khu phố chợ Ninh Ba,
hỏi thăm đường mong tìm đến ngôi chùa gần nhất xin tá
túc qua đêm. Đường xa, chàng lại nhởn nhơ không hối hả,
nên khi đến nơi thì cửa chùa đã đóng kín. Chàng ngắm nhìn
cỗng tam quan nguy nga, và hân hoan khám phá ngôi chùa mang danh
hiệu A Dục Vương(3). Ngôi cổ tự nầy nổi tiếng lâu đời,
với truyền thuyết về sự xuất hiện nhiệm mầu của bảo
tháp ngọc Xá Lợi. Chàng chưa từng dám ước mơ mà nay vô
tình chàng đã có duyên tìm đến. Chàng lóng ngóng nhìn vào
chùa chẳng thấy bóng ai, nên dự định tìm chỗ khuất ngồi
dầm sương suốt đêm chờ sáng, rồi sẽ vào chùa xin phép
đảnh lễ Xá Lợi. Chàng lại nghĩ nếu mình may mắn được
đón nhận vào ngôi chùa nổi tiếng nầy tu tập thì phước
đức vô cùng. Thình lình cánh cửa hông chùa bỗng mở toang,
rồi một vị sư già hấp tấp bước ra ngoài. Đức Tướng
mừng rỡ ấp úng vái chào :
-
Kính bạch hòa thượng!
-
Con đi đâu mà giờ nầy mới đến?
-
Thưa con ra bến tàu dự định hành hương Phổ Đà sơn, nhưng
giờ chót con đã đổi ý. Con nghĩ con chưa có duyên chiêm bái
Bồ Tát tại thánh địa nên đành tìm đường đến chùa lễ
bái Bồ Tát vậy!
-
Con lầm rồi ! Phải nói là con có đại nhân duyên với Bồ
Tát mới đúng, nếu không, tại sao Bồ Tát lại báo mộng
dạy ta đón nhận con vào chùa tu tập...
Đức
Tướng xúc động nghẹn ngào, ú ớ :
-
Dạ ! dạ !
-
Con ạ ! - hòa thượng ôn tồn tiếp lời - hành hương chỉ
là chuyện hình thức. Biết bao người đã đến thánh địa
mà chẳng thấy biết, chẳng gần gũi, cảm thông với Bồ
Tát. Ngược lại, những kẻ biết nương theo hạnh nguyện
của Ngài tu tập, chân thành lắng nghe tiếng kêu than của
chúng sanh trong thế gian để cứu khổ cứu nạn, thì tuy chưa
từng đến thánh địa, mà đích thực đã chiêm bái thánh
địa, và diện kiến Bồ Tát tự bao giờ.
Tháng
6.2001
Ghi
chú :
1.
Đây là mẩu chuyện thiền đã gợi hứng tác giả dựng truyện
ngắn nầy :
Xưa
kia có một bà lão nhiều đạo tâm, cất một ngôi tịnh am,
và lo lắng đầy đủ tứ sự cúng dường để ủng hộ một
vị thiền sư tu tập. Qua hai mươi năm ròng rã, vị sư tu hành
tinh tấn, giữ giới hạnh nghiêm túc, đạo đức cao siêu.
Lão
bà có một người con gái đến tuổi thanh xuân, nhan sắc mặn
mà gợi cảm. Một hôm. muốn thử lòng nhà sư, lão bà dặn
con gái : “Trưa nay, khi đem cơm nước đến cho sư thọ trai,
con hãy thừa lúc bất ngờ ôm chặt lấy nhà sư mà hỏi :
“Thế nào, những lúc cô đơn lạnh lẽo như thế nầy, có
khi nào thầy thấy lòng trống trải, thiếu thốn gì chăng?”.
Sư trả lời ra sao, con về thuật lại cho mẹ rõ.”
Cô
gái vâng lời mẹ dạy, ôm sư vuốt ve, rồi thỏ thẻ lời
đường mật.
Sư
đáp : “Khô mộc ỷ hàn nham
Tam đông vô noản khí”
(cây khô bám vào tảng đá lạnh,
trải qua ba năm chẳng còn sinh khí gì nữa)
Cô
gái thuật tự sự cho mẹ. Bà lão lộ vẻ không vui, than thở
: “Thật là uổng phí công ta nuôi dưỡng suốt 20 năm trường,
không ngờ ủng hộ nhằm kẻ phàm phu!”. Nói xong bà lão ra
lệnh đuổi nhà sư ra khỏi cửa, rồi châm lửa đốt thảo
am cho mất tích.
2.
Đức tướng phi không phi hữu, ứng tùy cơ dĩ hằng chu : Tướng
công đức (tướng do công đức kết thành) không phải không,
không phải có, ứng theo căn cơ chúng sanh mà hằng chu biến
ra.
Pháp thân vô khứ vô lai, trụ tịch quang nhi bất động : Thân
là bản thể pháp (Bồ Tát Văn Thù là tượng cho bản thể
tánh, là pháp thân, là bát nhã trí...) không đi không đến
trụ ở cõi tịch quang (ánh sáng tịch tĩnh) mà không động.
3.
A Dục Vương Quảng Lợi thiền tự tọa lạc tại Ninh Ba, tỉnh
Triết Giang, gồm có các điện Thiên Vương, Bảo Hùng,
Xá Lợi và Pháp Đường. Điện Xá Lợi cao 15.3 thước, bên
trong có tháp Xá Lợi bằng đá đựng một tháp gỗ khảm thất
bảo chứa tháp Phật Đảnh Xá Lợi. Theo truyền thuyết thì
vua A Dục đã cho mang tháp Xá Lợi chôn dấu khắp nơi, đợi
đúng cơ duyên thì Xá Lợi sẽ ứng hiện cho Phật tử chiêm
bái. Vào năm 282 thời Tây Tấn, ẩn sĩ Lưu thái Hà mộng thấy
vị Phạn tăng chỉ dẫn địa điểm có xá lợi bảo tháp.
Lưu thái Hà tìm đến Lưu sơn, nghe dưới đất có tiếng chuông
khánh, Ngài thành tâm cầu nguyện, và đào đất khám phá được
Bảo tháp, bên trong có chiếc chung vàng chứa Phật Đảnh Xá
Lợi. Để bảo tồn thánh vật, một ngôi chùa đã được
xây dựng để tàng trử và thờ phượng vào đời nhà Tống
(năm 425), đến năm 522, Vua Lương Vũ Đế cho xây thêm
điện đường và ban danh hiệu A Dục Dương tự. Xá Lợi chùa
A Dục Vương nổi tiếng rất linh thiêng. Chư tổ sư như Tỉnh
Am, Hư Vân đã từng lưu lại chùa nầy để đảnh lễ và
chiêm bái.
SÁCH
CÙNG MỘT TÁC GIẢ
1.
Trở Về, Nguồn sống xuất bản năm 1988 (hết)
2.
Vết nhạn lưng trời, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản
năm 1990
3.
Cửa Thiền dính bụi, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản
năm 1991
4.
Như thế mà trôi, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm
1994
5.
Con đường vô tận, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm
1998