Phần
2
Bát
báu Của A Tu La
Bà
Chúa Xứ
Ði
Trắng Về Ðen
Khi
Người Ðẹp Trả Thù
Chim
Cú Mèo
Người
Trong Mộng
Nắm
Tay Không
Lợi
Danh
Tình
Nghĩa
Vậy
Sao ???
Cầu
Ðược Ước Thấy
Người
Bốc Vác
Cô
Lái Ðò
Kiếm
Khách Lừng Danh
Ông
Phật Mũi Ðen
Sư
Ðệ
Thiền
Trong Mọi Phút
Ryonen
Dòng
Suối Trường Xuân
Ảo
Ảnh
Bát
Báu Của A Tu La
Tương
truyền rằng A Tu La là một loài chúng sanh ở khoảng giữa
loài người và loài trời. Nam A Tu La thì hung bạo, xấu
xí, còn nữ A Tu La thì trái lại cực kỳ xinh đẹp.
Các
tôn giả A Tu La cũng có phước báu như chư thiên, nghĩa là
không phải lao động vất vả như chúng ta mà vẫn có cơm
ăn. Mỗi A Tu La đều có một chiếc bát báu, màu sắc
và hương vị khác nhau, không ai có thể ăn ké của ai được
hết.
Ðiểm
đặc biệt của dân chúng A Tu La là họ rất dễ nỗi giận.
Vì vậy mà hầu hết đàn ông con trai A Tu La đều dùng thì
giờ rảnh rỗi để đánh lộn với chư thiên thay vì trồng
trọt mua bán như loài người. Phụ nữ A Tu La thì không
bận nấu nướng giặt giũ, tề gia nội trợ như phụ nữ
của loài người nên rất ư là diễm lệ...
Nhưng
mà... ấy chứ! Xin các tôn giả loài người chớ nghe
nói thế mà vội vã phát nguyện sinh về thế giới của A
Tu La. Cũng theo tương truyền rằng chiếc bát báu của
loài A Tu La là một vật dụng kỳ dị. Nghĩa là trong
giờ ăn khi các tôn giả A Tu La đang xực phàn một cách ngon
ơ thì bỗng dưng thức ăn của họ bỗng biến thành đồ bất
tịnh, đầy dẫy những bùn đất dòi bọ... Vì thế mà
các A Tu La cảm thấy nhàm chán, thống khổ kịch liệt khi
phám phá ra mình đang ngậm và nhai những của quỷ ấy!
Như
thế loài A Tu La chỉ được ăn có nửa bát mà thôi... Nếu
kẻ nào húp hết cạn tàu ráo máng thì không sao tránh khỏi
tình trạng trên.
Em
thân mến!
Truyền
thuyết trên đây hư thực thế nào chúng ta chưa rõ được
nhưng em có nhận thấy loài người chúng ta chỉ hưởng được
có phân nửa hạnh phúc trần gian, hệt chiếc bát báu của
loài A Tu La chăng!
Từ
lúc chúng ta chào đời thân bằng quyến thuộc đầy đủ,
nhà cửa sung túc, cầu được ước thấy. Ðó chính là nửa
bát trên và nếu phần trên ngon ngọt dễ chịu bao nhiêu thì
phần dưới lại đắng cay ê chề bấy nhiêu. Ðó chính là
lúc chúng ta vật vã khóc than chôn cất hết người thân này
đến người thân khác, phải đối diện với cái già, cái
chết, những tai biến thình lình xảy đến. Cũng giống
hệt như loài A Tu La, chúng ta không biết phải nên dùng đũa
nào để khỏi ăn nhằm đồ bất tịnh.
Mỗi
lần vớ được ngũ dục là chúng ta hưởng thụ một cách
mê ly cho đến bao giờ bị chúng làm cho đau khổ khốc liệt,
nuốt không xong mà nhả chẳng ra... đợi đến lúc ấy chúng
ta mới chịu dừng đủa thì ôi thôi... quá muộn rồi!
Các
thứ tình đời, tình bạn, tình yêu... đều là những món
nhấm khó chịu như thế cả. Em có thấy vậy không?
Hãy
thử nhìn các cặp tình nhân mới yêu nhau thì biết, khoé mắt,
làn môi, giọng cười tiếng nói của họ đều biểu lộ một
niềm hỷ lạc, hạnh phúc sung mãn tràn trề. Ðó là nửa bát
trên. Và sau em hãy cố gắng nhìn tiếp, khi họ bắt đầu
hằn học tru tréo, chửu rủa, đánh đập... tìm đủ các hành
hạ nhau cho thỏa tức. Ðó là nữa bát dưới.
Ðiều
oái oăm nhất là loài người chúng ta cũng như loài A Tu La,
không ai tìm được ranh giới phân chia giữa khoái lạc và
đau khổ để có thể dừng lại kịp thời. Trong lúc
đang hưởng hạnh phúc nếu có ai ngăn cản, bắt chúng ta dừng
lại đương sự sẽ đòi... uống thuốc chuột tự vận ngay...
và thật là tội nghiệp khi người ta đang phản đối ầm
ĩ, tìm đủ trăm phương nghìn kế để được tiếp tục hưởng
món ăn ngon thì... đùng một cái thức ăn hóa thành độc dược...
Nhận
chân được điều đó Ðức Phật khuyên chúng ta rằng:
“Thọ là khổ,” nghĩa là cảm giác nào cũng khổ hết, kể
cả các cảm giác gây khoái lạc vì bản chất của chúng là
sinh diệt vô thường. Và Ngài cũng dạy chúng ta rằng
nên thọ dụng những nhu cầu cần thiết sao cho diệt được
thọ khổ mà đừng nảy sinh thọ lạc... nghĩa là nên dừng
lại ở nơi đâu nhỉ?
-
Thưa, ở nơi mà chúng ta thấy có đắm trước, trìu mến,
lưu luyến thì phải một, hai, ba ngưng ngay lập tức... nguyên
tắc thì như thế đó, nhưng khi thực dụng thì còn tùy theo
sự không ngoan, mê hay tỉnh của từng người...
Nhưng
mà có nhiều chúng sanh đã tình nguyện rằng: “Thà sống
bên nhau (để được gây gổ, đánh đập hoài hoài) còn hơn
là cô đơn gối lẻ,” nghĩa là họ tình nguyện nốc
chén của mình cho đến giọt cuối cùng đó em ơi!
Bà
Chúa Xứ
Thuở
xưa có một anh chành xấu xí kia, con nhà nghèo, thất học
phải sinh sống bằng nghề khuân vác mướn ngoài chợ.
Người ta gọi anh là thằng Bu.
Bu
làm việc siêng năng giỏi giắn nên cuộc sống của anh không
lấy gì làm chật vật cho lắm. Có điều anh rất buồn
khi chung quanh chẳng có ai coi trọng nể vì anh hết. Cũng
như hầu hết mọi người, anh thèm thuồng được quyền uy,
lòng ái mộ khát ngưỡng của đồng loại. Mặt mũi anh
đã không thuộc loại đẹp trai, anh lại không có một làn
hơi thiên phú để ca vọng cổ hay tân nhạc, nên anh không
thể tiến thân bằng con đường văn nghệ. Anh lại tứ
cố vô thân không tiền của nên khó mà mua danh vọng chức
tước, chữ nghĩa lại chẳng bằng ai... Vậy thì phải làm
cách nào cho thiên hạ ngán mình đây? Suy nghĩ suốt một
đêm chàng Bu nảy ra một sáng kiến.
Một
hôm, sau vài ly ba xị đế, Bu đến ngồi trước miễu Bà Chúa
Xứ, một vị thần không được thiêng cho lắm, nên nhang tàn
khói lạnh, mỗi năm chỉ được người ta cúng cho một lần.
Bu đến trước cửa miếu, ngồi lắc lư ợ ngáp liên hồi...
Ban đầu chỉ có bọn trẻ con tụ tập chung quanh anh sau đó
là các bà vô công rỗi nghề, rồi dần dần có đến cả
hội đồng bô lão của làng nữa. Người ta nhìn nhau
thì thầm:
-
Bà về! Bà về!
Vài
mụ đàn bà góp ý:
-
Khoảng nửa tháng nay đêm nào tôi cũng thấy có cục lửa
to xẹt lên xuống ngang chòm cây này. Tui sinh nghi trong
bụng mà không dám nói ra chớ.
Mỗi
người góp một ý, vàng hương hoa quả được mang đến và
chàng Bu nghiễm nhiên thành cái xác của Bà Chúa Xứ.
Từ
đó, Bu không còn phải đi khuân thuê vác mướn nữa, người
gọi anh bằng “Bà,” bằng “Ngài,” xúm xít cười vả
lả, đón rước những lời nũng nịu, õng ẹo thốt ra từ
đôi môi xám xịt của Bu. Anh mặc áo lụa quần sa ten
trắng, đi hài cườm, thoa son phấn và đeo đồ trang sức.
Một
tháng sau, Bu đã có vô số người ái mộ, những kẻ trước
kia dòm Bu chỉ bằng nửa con mắt bây giờ lại kính cẩn lễ
bái đón nhận từng mệnh lệnh của anh. Người ta đến
xin bùa phép của anh để mua may bán đắt, để được sinh
con trai, con gái, đánh đề, đánh bạc, đua ngựa, đá gà v.v...
Bởi vì chư Phật và Bồ Tát thường ít khi chịu khó chìu
lòng những tham vọng ấy của chúng sanh, thánh thần thì bận
thưởng thiện phạt ác, ma quỷ thì đòi ăn hối lộ.
Duy có anh Bu không đòi hỏi gì cả, ngoài việc ước mong được
thiên hạ chìu chuộng, tâng bốc vuốt ve lòng tự ái của
mình.
Ba
tháng trôi qua, những cuộc lên đồng cầu đảo bất kể đêm
ngày đã khiến Bu xuống sắc rõ rệt. Lớp son phấn dày
cộm không che khuất đôi mắt đầy quầng đen. Càng đông
người tín mộ, anh càng phải lên đồng thật xuất sắc...
Anh không còn đủ thì giờ để ăn uống ngủ nghĩ...
Những lúc mệt quá, anh cũng muốn nghĩ ngơi “thăng” đồng
để trở lại đời sống bình thường của anh... nhưng những
lúc ấy anh phải trở lại chấp nhận cái bản thân bình thường
thấp kém của anh Bu khuân vác muớn, một điều mà anh muốn
chối bỏ, anh phải chịu đựng những ánh mắt lạnh nhạt
khinh bỉ của người chung quanh. Người ta sẽ gọi anh
bằng “thằng,” bằng “mày.” Vì thế, dù mệt
mỏi anh vẫn phải đồng hóa mình với Bà Chúa Xứ, một nhân
vật do cư dân trong vùng lập ra và tôn thờ, chỉ ăn hương,
uống hoa, sống bằng giọng đàn, tiếng địch cùng lời xưng
tụng của người chung quanh.
Em
thân mến!
Số
phần của anh chàng Bu này sẽ ra sao? Ðiều này tùy thuộc
vào anh. Nếu Bu khám phá ra rằng chính mình là nạn nhân
của trò chơi lên đồng ấy, rằng sau những lúc trà nghiêng
rượu nhạt... anh cũng phải trở về đối mặt với con người
thật của anh: một anh Bu tầm thường, vô danh tiểu tốt.
Nếu anh nhận thấy rằng anh đang bày trò điên loạn và trong
cảnh giới cuồng điên đó anh đã được sự tung hô tán
tụng của những người điên khác. Và nhất là những
danh vọng hão huyền đó cũng chẳng thú vị gì cho lắm.
Tại sao anh không trở về với anh Bu khuân vác thường ngày
dù không được sự nể vì kính trọng của bàng dân thiên
hạ nhưng ít ra anh cũng còn có cái thế giới tỉnh táo chân
thật của con người tầm thường và bình thường.
Mặt
khác nếu anh không thể nào chấp nhận con người chân thật
của mình, thì anh cứ tiếp tục bám vào cái vỏ Bà Chúa Xứ
bôi son trét phấn, hò hét ban phúc giáng họa cho được đông
người ái mộ. Tín đồ càng đông thì “Bà” càng phải
thiêng. Và nếu Bà Chúa Xứ không còn hợp thời trang
nữa thì anh có thể đổi danh hiệu thành Bà Ngũ Hành, Cửu
thiên huyền Nữ, hay là cô... cậu... nào đó.
Nước
đời lắm nỗi, chúng ta chỉ có thể đoan chắc một điều
là... giữa lớp danh vọng hư huyễn phù hoa đó, anh chàng Bu
sẽ chết lần chết mòn. Thể xác mệt mỏi tinh thần
điên đảo... Nếu trò chơi cứ tiếp tục thì chung cuộc anh
sẽ vào nhà thương dành cho bệnh tâm thần.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên đây tôi đã đau xót viết cho riêng mình, nói
với em cũng có nghĩa là tôi độc thoại một mình. Vì
tôi không tin tưởng rằng có một cuộc đối thoại thực
sự cảm thông khi chúng ta mỗi người còn đang ngóng về một
hướng, mải miết đuổi bắt những lý tưởng tận đâu đâu...
Tôi chỉ muốn hỏi em đã có lúc nào em thấy mình giống hệt
anh Bu trên đây không?
Riêng
tôi, tôi còn nhớ rất rõ ràng thuở bé tôi rất là hồn nhiên,
không nhớ mình là trai hay gái, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo,
giỏi hay dở gì hết. Tôi sống thoải mái và vô tư như
một chú gà con thì bỗng nhiên, dần dần tôi nghe người chung
quanh nhận xét rằng tôi không đẹp bằng chị tôi, không giàu
bằng nhà hàng xóm, không giỏi bằng bạn bè chung quanh... và
cũng dần dần từ đó, tôi bắt đầu cảm thấy thống khổ
kịch liệt khi thấy sao mà mình tầm thường quá đỗi...
Không có một sở trường gì để tự “lăng xê” mình, làm
nổi bật mình lên trước bàng dân thiên hạ. Rất nhiều
đêm tôi niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cầu mong
sao cho mình được đẹp, được sang, được giỏi hơn thiên
hạ. Mặt khác tôi cố gắng thức khuya dậy sớm bỏ
ngủ quên ăn để học cho bằng bạn bè, những người hơn
tôi cả tài lẫn sắc... để ít ra mình cũng chứng tỏ được
cái khả năng của mình, rằng mình không phải là con số 0.
Em
ạ!
Ðó
chỉ là một thí dụ, một phần rất nhỏ trong cuộc đời
đa thủ phức tạp của chúng ta. Ðiều khổ tâm nhất của
chúng ta hằng ngày không phải là chuyện sanh, già, bệnh, chết,
vì đó là một lý đương nhiên, không ai tránh khỏi, chúng
ta thường khốn khổ, bứt rứt vì cái bản ngã của mình,
sao mà mình nhỏ nhoi tầm thường quá, không có tí ti nào khả
ái, khá kính dưới mắt ta và người chung quanh hết.
Những lúc đối mặt với chính mình, ta phải cay đắng mà
nhận chân rằng ta chỉ là một nhân vật quá mức tầm thường,
một con số 0 to tướng. Thế là anh chàng Bu trong ta bắt
đầu tham gia vào trò “lên đồng.” Từ con số 0 tùy
theo cơ hội, hoàn cảnh và nhu cầu của người ái mộ chung
quanh mà chúng ta sẽ thành một cái gì đó... Mỗi người
đội một danh hiệu khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một
điểm là - chối bỏ con người tầm thường chân thật của
mình để sống dưới lớp áo của những nhân vật rất mực
phù hoa và giả dối... và em ơi! Một điều kỳ thú là
chỗ chúng ta lẫn trốn sợ hãi, lại chính là chỗ mà các
thiền sư đại ngộ. Lục Tổ há chẳng xác định một
cách hùng hồn rằng: “Bản lai vô nhất vật” đó sao?
Dưới bất cứ lớp áo nào và nhãn hiệu nào, em và tôi đều
phải công nhận rằng, trong những giây phút chiếu soi nhìn
lại mình, ta thấy mình quả là “vô nhất vật”, nghĩa là
“ta không là gì cả, ta không phải là Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ
Hành, cô cậu... gì hết. Không là gì hết... nhưng ta
vẫn thấy nghe hiểu biết rất rõ ràng, cái khả năng “kiến
văn giác tri” ấy chúng ta đều bình đẳng như nhau. Ðây
chính là Lục Tổ nói: “Ðâu ngờ tánh mình bản lai
thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ cả v.v...
đó em!”
Khi
anh chàng Bu không còn lên đồng nữa, không còn là ông kia
bà nọ thì không phải là anh ta chết, anh ta chỉ mất - mất
hết những cái gì giả dối không phải là mình thôi.
Nếu
em thấy rằng “bà đồng” của mình hãy còn thiêng lắm,
và thà rằng em đội lốt, mang mặt nạ, chìu theo thị hiếu
của bàng dân thiên hạ, để được thờ phụng tung hô...
và được vô vàn quyền lợi phụ tùng khác, thì em cứ tiếp
tục. Không có ai, sẽ không có ai dám lên án, chỉ trích
hay cười cợt em đâu... Vì lên án Bà Ðồng cũng có nghĩa
là lên án luôn đám quần chúng đang ái mộ, và ai mà dại
gì đứng ra chọc giận thiên hạ nhiều như thế. Em có
thể yên tâm mà tiếp tục...
Nhưng...
nếu như có hôm nào, quá mệt mỏi với cái trò chơi xốc
nổi ấy, mặt nhìn tận mặt, soi lại lòng mình giữa cảnh
hoang tàn của trà ôi, rượu nhạt, hoa héo, hương phai, nhìn
thấy người chung quanh cũng chán chường mệt mỏi không kém
mình... thì, em hãy thử một lần, làm sống lại con người
năm xưa của chính mình, của anh chàng Bu khuân vác thử xem.
Ðiều này đòi hỏi nơi em rất nhiều can đảm và hy sinh,
vì em sẽ mất hết uy danh, quyền lợi, mất hết những người
ái mộ cung nghinh, em sẽ bị xem thường, khinh rẽ... Em phải
hy sinh hết vàng son, phấn sáp, danh lợi cùng uy quyền để
đi may thuê cuốc mướn, phải đổ mồ hôi nước mắt mới
có miếng ăn.
Thế
nhân thường đi tìm sự thực, nhưng sự thực lại quá ư
phũ phàng không giống như ta hằng mơ tưởng... nên... thà
rằng, cứ nhắm tít mắt lại để còn có một thế giới
hoa mộng, huyền ảo, mê ly.
Câu
chuyện này xin dừng lại nơi đây, vì tôi bất chợt nhận
ra rằng, dường như tôi đang lên một cơn đồng xuất sắc
hơn, hợp thời trang hơn... bà đồng thường, đôi khi ta ngỡ
rằng mình đã thức dậy, đi ra khỏi cơn mơ, nhưng sau đó
thật lâu, ta mới vỡ lẽ ra rằng mình chỉ thay đổi tình
tiết của giấc mơ mà thôi và điều mà ta thấy mình đang
lên đồng thật xuất sắc là... khi có một hành động nào
đó của ta được nhiều người vỗ tay tán tụng, khi mà từ
cái Không, ta trở thành Có, và cái Có này, ngày càng bành
trướng nảy nở ra. Chính những tràng pháo tay đã báo
hại chúng ta không ít, nó xui ta cứ tiếp tục... chiêm bao,
để được khen hoài khen mãi, em có thấy như vậy không?
Hèn chi mà trong kinh Duy Ma Cật, Bồ Tát khuyên ta cứ làm đi,
làm mọi việc để lợi mình và lợi người, nhưng phải làm
sao để cả “Tam luân” đều không tịch, nghĩa là không
thấy có mình, có người và có pháp nữa, chỉ đem thân huyễn
làm việc huyễn(dĩ huyễn thân tác huyễn sự) mà thôi.
Các Ngài khôn quá phải không?
Ði
Trắng Về Ðen
Xưa,
có anh chàng thanh niên, đến nhà bạn chơi, lúc về gặp trời
mưa ướt hết quần áo, chàng phải mượn y phục của bạn
mặc rồi ra về.
Thấy
chủ về con chó đã không mừng mà còn chạy ra cắn sủa ầm
ỉ. Chàng trai tức giận cầm gậy định đánh chó, thời
cha anh ta can:
-
Ấy chớ! Không phải lỗi của nó đâu. Nếu con
chó nhà ta đi đâu về màu lông trắng hóa thành đen thì con
có đánh đuổi nó không đả?
Em
thân mến!
Chỉ
trách người thay đổi mà không thấy sự thay đổi của mình
là một trong những chuyện thường xảy ra ở cái trần gian
điên đảo này. Có lẽ vì vậy mà cổ nhân đã để
lại cho ta một lời khuyên thật khôn ngoan:
“Trách
người một trách ta mười
Bởi
ta tệ trước nên người bạc sau.”
Khi
Người Ðẹp Trả Thù
Mạn
La Hoa là cô gái đẹp nhất của kinh thành U Du. Vừa đẹp
đẽ lại vừa giàu sang thuộc dòng danh giá vọng tộc nên
cô được không biết bao nhiêu Vương tôn công tử gấm ghé
cầu hôn. Cha mẹ cô thuộc dòng dõi danh giá vọng tộc
và rất giỏi nghề tướng số. Như bao nhiêu đấng sanh
thành khác, song thân của Mạn La Hoa rất lấy làm hãnh diện
về cô con gái cưng của mình. Họ nhất định phải chọn
cho được chàng trai nào có đầy đủ 32 tướng tốt, bất
kể giàu nghèo để gả con gái cho.
Khi
ấy đức Thế Tôn của ta mới ngoài 30 tuổi. Trên đường
hoằng pháp Ngài đi ngang qua kinh thành U Da. Nhác trông
thấy từ dung của Ðức Ðạo Sư, thân phụ cô Mạn La Hoa
đã giật mình sửng sốt. Ðây quả là chàng rể đông sàng
mà ông bà thầm ao ước. Nhìn tới ngắm lui thấy Ngài
quả thật hết chỗ chê, ông Bà la môn thân phụ của Mạn
La Hoa liền bước tới ngõ lời:
-
Này cậu sa môn! Không nói giấu gì cậu, già đây cũng
là người có chút đỉnh danh vọng ở vùng này, già hiếm
hoi chỉ được một gái, tuổi vừa đôi tám, bộ dạng cũng
huê mỹ mặn mà... không biết bao nhiêu người đã gấm ghé
cầu hôn mà già đây chưa nhận lời. Bữa nay chợt gặp
cậu đây, già liền sanh lòng yêu mến. Vậy, cậu hãy
chịu khó đứng đây, già về dắt má bày trẻ đến bàn chuyện..
và đem quần áo tốt cho cậu thay đổi rồi về gia trang của
già.
Ðức
Thế Tôn làm thinh không đáp.
Ông
Bà la môn hối hả chạy về nhà, gọi vợ:
-
Này má nó ơi! Hỷ tín! Chàng rể nhà ta đã đến
rồi.
Bà
vợ tất tả chạy ra, ông liền thuật lại tự sự rồi dắt
vợ đi tìm Ðức Thế Tôn.
Lúc
bấy giờ Ðức Thế Tôn đang ngồi thọ thực dưới bóng mát
của một tàng cây. Ông lão sốt ruột lẩm bẩm:
-
Ủa! Ðâu rồi cà... Rõ ràng là tôi dặn y đứng chờ, y làm
thinh có mòi chịu lắm mà!
-
Hồi nãy, ba nó gặp ở chỗ nào?
-
Thì ngay đây nè! Ðó... dấu chân y còn in rõ nơi đây... má
nó thấy không? Bàn chân này có một không hai trên đời
này...
-
Ông à! Sao tui thấy dấu chân này lạ quá...
-
Thì tui đã nói với bà rồi, còn lạ lùng gì nữa... Y đẹp
trai số dzách, tướng hảo vô song, xứng đôi vừa lứa với
con Hoa nhà mình lắm.
-
Ông à... tui thấy không ổn rồi...
-
Sao? Bà thấy cái giống gì mà không ổn?
-
Cái dấu chân này có vần thiên luân... chứng tỏ người này
đã dứt lòng dục nhiễm rồi.. Hạng này không chịu lập
gia đình đâu ông.
-
Thôi đi bà ở đó mà tướng với số. Y đã bằng lòng
rồi mà. Kia kìa! Y đang ngồi dưới tàng cây kia.
Hai
ông bà liền đến gặp Phật nhắc lại chuyện trăm năm. Ðức
Thế Tôn liền tùy cơ nói pháp, sau thời pháp cả hai ông bà
đều đắc quả Tu Ðà Hoàn, xin quy y làm đệ tử tục gia
của Phật.
Trong
khi ấy, Mạn La Hoa ở nhà trang điễm kỹ lưỡng theo lời
cha mẹ dặn dò, hồi hộp chờ đợi vị hôn phu thì con hầu
gái đã tất tả chạy về mách lẻo trước.
-
Tiểu thơ ơi! Tiểu thơ.
-
Cái gì?
-
Dạ... dạ hỏng rồi!
-
Cái gì hỏng? Cá khô hay là cơm khét?
-
Dạ... hỏng phải chuyện đó...
-
Chứ chuyện gì?
-
Dạ... chuyện trăm năm của tiểu thơ đó...
-
A! Con bé này láo thật, mi dám xen vào chuyện của chủ
nhân à?
Cô
hầu gái, bị rầy, tiu nghỉu:
-
Xin tiểu thơ tha lỗi cho... từ rày về sao con không dám thế
nữa...
-
Ðược rồi lần đầu cô tha cho... lần sao thì phải đòn
đấy. Mà này, em biết gì... nói cô nghe thử...
-
Dạ... dạ cái ông sa môn đó, tuy có đẹp trai thật nhưng
mà khinh người số một. Con núp đàng sau cội cây nghe
ổng đối đáp với lão gia rõ mồn một... ổng chê rằng...
nhưng ... con không dám nói đâu...
-
Em cứ nói, cô cho phép...
-
Thưa tiểu thư, ổng bảo rằng thân thể của tiểu thư bẩn
thỉu, hôi thíu lắm...
Mạn
La Hoa tái mặt, lần đầu tiên cô mới nghe một lời phẩm
bình về cô quá khó nghe như thế. Con hầu gái vẫn thản
nhiên nói:
-
Ổng nói là: Cô con gái của hai ông bà chỉ có thể mê hoặc
những tên đàn ông ngu ngốc thôi... ổng nói là... cơ thể
của cô ngày đêm rỉ chảy đủ thứ đồ ô uế như đàm
dãi, phân tiểu... Là lúc ổng tu hành ở trong rừng, mấy bà
tiên ở trên trời xuống đòi làm hầu thiếp mà ổng còn
hỏng thèm... Là, cái thể xác của tiểu thư, cho ổng đụng
tới bằng ngón chân, ổng cũng không thèm là...
Quá
sức chịu đựng, Mạn La Hoa ném ngay lọ hoa xuống đất, hét:
-
Im ngay! Im ngay! Ta cấm mi không được lập lại những
lời này với một kẻ thứ hai nào hết... Nếu trái lời,
đừng trách ta độc ác... Nghe rõ chưa?
-
Dạ rõ!
Thấy
nữ chủ nổi trận lôi đình, con hầu gái vội vàng lẩn mất.
Mạn La Hoa nằm vật xuống giường òa lên khóc nức nỡ.
Hồi
lâu, cô hậm hực nhìn về phía Ðức Thế Tôn đang ngự, chỉ
tay gằn giọng:
-
Này ông sa môn ngạo mạn kia hãy mở con mắt chống lỗ tai
lên mà xem Mạn La Hoa này, ông phải trả giá cho những lời
nói hỗn xược của ông... Làm như ta đây là thứ ế ẩm
để dành bán sol... không bằng.
Với
chủ tâm trả thù Phật, ngày hôm sau Mạn La Hoa cho bắn tin
với đại vương thành U Du rằng cô đã bằng lòng. Một
tuần sau cô trở thành hoàng phi của vua U Du, đệ nhất phu
nhân của vùng Kosambi.
Nhiều
năm trôi qua, ngày mà hoàng phi Mạn La Hoa chờ đợi đã đến,
đức Phật cùng A Nan du hóa qua vùng Kosambi. Những tay
chửi lộn mướn chua ngoa nhất của kinh thành đều được
tu tập lại... để đón chào đấng Ðạo Sư. Ngài điềm
nhiên đi qua những con đường vang rền các âm thanh thô tục
như không có chuyện gì xảy ra. Riêng tôn giả A Nan, tối
mặt tối mũi trước những âm thanh kỳ quái ấy, bèn bạch
Phật:
-
Bạch Thế Tôn... chúng ta đi về thôi...
-
Về đâu? Hỡi A Nan...
-
Thưa... đi đến một thành phố khác như thành Ðề Xá chẳng
hạn.
-
Nhỡ nơi ấy cư dân lại đón tiếp thầy trò y hệt nơi đây
thì ông tính sao?
-
Thưa, chúng ta sẽ đi qua thành Hoa Thị...
-
Và nếu tình trạng của thành Hoa Thị lại tương tự như
đây thì ông tính sao?
-
Bạch Thế Tôn... chúng ta sẽ đi và sẽ đến những nơi nào
mà người ta không bạc đãi mình như thành Vương Xá, thành
Tỳ Xá Ly chẳng hạn.
-
Này A Nan! Tại sao cư dân các thành phố đó lại ưu ái
và ân cần với thầy trò mình?
-
Thưa... vì họ đã nghe pháp, hiểu pháp, đã có trí huệ để
biết đâu là hành động lành, đâu là hành động dữ... nên
rất khát khao được chiêm ngưỡng Ðức Thế Tôn.
-
Và này A Nan! Còn cư dân vùng này tại sao lại đón tiếp
thầy trò mình kiểu này?
-
Bạch Thế Tôn, vì họ chưa hề biết đến Phật pháp, chưa
phân biệt rõ đâu là nghiệp lành hay nghiệp dữ nên họ mới
hành động như thế.
-
Này A Nan! Ví như có một vị đại lương y tài giỏi,
thương bệnh nhân như con đẻ. Vị lương y này có bao
giờ dán bố cáo trước cổng rằng:
“Nơi
đây bổn hiệu chỉ nhận chữa bệnh cho người lành mạnh
hoặc ít bệnh. Còn ai đau nặng thì xin miễn tiếp”
hay không?
-
Bạch Thế Tôn! Không bao giờ, vì thấy thuốc hay cần
cho người bệnh nặng chứ không phải dành riêng cho người
khoẻ mạnh.
-
Này A Nan, cũng thế, Như Lai ra đời là vì lợi ích cho những
chúng sanh si ám chưa phân biệt rõ thiện và ác, chuyên tạo
nghiệp dữ để chiêu vời những quả khổ trong ba đường
ác. Những người bệnh nặng cần lương y như thế nào
thì cư dân nơi đây cũng cần đến sự hiện diện của Như
Lai như thế đó. Cư dân của các thành Tỳ Xá Ly cùng
Vương Xá giống như những người khoẻ mạnh hay ít bệnh,
các đệ tử Như Lai hiện diện nơi đó cũng đủ rồi, còn
nơi đây nếu Như Lai không đích thân giáo hóa thì còn ai dám
đến nữa hở A Nan?
-
Nhưng bạch Thế Tôn ở đây có ai thèm nghe Thế Tôn nói Thế
pháp đâu? Họ đã đón tiếp Thế Tôn bằng những gì
thối tha bẩn thỉu nhất. Những người bệnh nặng cả
mà không cần thầy thuốc thì dù lương y có sẵn lòng từ
tâm cũng chỉ luống công vô ích mà thôi.
-
Này A Nan! Một người bị bệnh nặng, thân lẫn tâm bị
xúc não, thống khổ... không thể nào có những tâm niệm,
ngôn ngữ và hành vi như một người bình thường được.
Vị lương y phải tận tâm hành nghề không xao xuyến vì lời
nói và cử chỉ bất nhã của bệnh nhân, cho đến bao giờ,
thấy rằng cư dân vùng này thật sự không còn cần đến
Như Lai nữa, Như Lai sẽ đi ngay.
Ngay
lúc ấy tên chúa trùm du đãng, thủ lãnh các tay anh chị chửi
lộn mướn, liền bước ra nói:
-
Thưa sa môn Cồ Ðàm! Con xin đại diện cho cư dân vùng
này nói chung, và toàn thể anh chị em chửi lộn mướn chuyên
nghiệp hoặc nghiệp dư nói riêng, xin được ngỏ lời xin
lỗi Ngài cùng ông thầy đây. Qua câu chuyện đối đáp
giữa thầy trò của Ngài chúng con vô cùng hối hận... Vậy
xin Ngài Cồ Ðàm đừng giận, mà hãy ở lại đây để dạy
dỗ chúng con, những bệnh nhân đang hấp hối.
Một
tuần lễ sau dân chúng thành U Du lại cư xử với đấng đạo
sư hệt như cư dân thành Vương Xá, thành Tỳ Xá Ly.
Ngày
đức đạo sư cùng tôn giả A Nan lên đường đi du hóa nơi
khác dân chúng lũ lượt kéo nhau đi tiễn đưa, rải hoa và
khóc than rất là bi thiết.
Tất
cả những sự kiện ấy đều đến tai hoảng phi Mạn
La Hoa, bà hoàng này không biết làm gì hơn là trút cơn giận
vào những thái giám và thị nữ dưới tay mình.
Em
thân mến!
Tất
cả mọi chúng sanh đều có Phật tánh, đầy đủ trí huệ
như Phật không khác... nhưng có lẽ điểm khác nhau rõ rệt
giữa Ngài và chúng ta là:: Ðức Thế Tôn chuyển nghịch
thành thuận không nề gian khổ trong chuyện độ sanh... còn
chúng ta hàng đệ tử Phật – thì gặp phải nghịch cảnh
thì vừa chạy vừa khóc, thối thất tâm bồ đề.
Có
lần Ðức Thế Tôn đã dạy Sa di La Hầu La như thế này:
“Nếu con đòi rằng, mỗi lần đi đến đâu chúng sanh phải
trải chiếu bông để đón chân con, để con khỏi dẫm lên
gai góc... thì điều đó thật là khó thực hiện... Vì làm
sao người ta có thể tìm ra đủ số chiếu để làm vừa lòng
con? Chi bằng hãy mang một đôi giày vào chân thì tha hồ
mà xông bờ lướt bụi.”
Ðôi
giày này tức là đức nhẫn nhục đó em ơi! Bọn mình
có thể thêu câu này vào chiếc khăn tay (thường được dùng
để quẹt nước mắt và hỉ mũi) hay không, hở nhỏ?
Chim
Cú Mèo
Xưa
có con chim Cú mèo làm tổ chung trên một cây với chim Gáy.
Một
hôm Cú mèo đến từ giã chim Gáy để dọn đi nơi khác, Gáy
ngạc nhiên hỏi:
-
Bác đi đâu thế?
-
Tôi dời nhà sang phương Tây.
-
Sao thế? Có việc gì làm trở ngại cho bác? Tôi
trông nơi đây sinh sống dễ dàng, mát mẻ, sao bác lại bỏ
đi?
Cú
mèo buồn rầu đáp:
-
Dân cư vùng này không ưa tôi.
Chim
Gáy dịu dàng bảo:
-
Này bác ạ! Chỗ thân tình với nhau tôi nói cho bác nghe...
sở dĩ người ta không ưa bác là vì tiếng kêu của bác.
Nếu sang phương Tây bác cũng kêu như thế thì người ta cũng
ghét bác thôi... Chi bằng bác đổi tiếng kêu thì đông tây
gì cũng tốt như nhau, chẳng ai ghét bác nữa đâu mà sợ.
Cú
mèo nghe nói, giận dữ bỏ đi đến miền Tây ở. Ðúng
như lời tiên đoán của chim Gáy, dân chúng miền Tây cũng
ghét bỏ nó, Cú mèo đâm ra hận đời, nhất định đi vào
thâm sơn cùng cốc, lánh xa loài người, loài vật, mặt trời,
mặt trăng...
Em
thân mến!
Ðổi
chỗ ở bao giờ cũng dễ dàng hơn sửa đổi một số tật
của mình, phản ứng nhất thời của chúng ta mỗi khi gặp
trở ngại, bị bạc đãi là giận dữ bỏ đi. Ta chỉ
muốn giữ lại mối tương giao nào mà cái huyễn ngã của
chúng ta được ái mộ chìu chuộng vuốt ve, những hành động
của ta được tung hô vạn tuế... Bằng ngược lại,
ta hờn, ta dỗi, ta hận đời đen bạc, than rằng sao người
ta không hiểu mình, rằng sao mà mình cô đơn quá v.v...
Vậy
thì nên đổi cảnh hay đổi tâm đây? Em có để ý rằng
chư vị Bồ Tát dù ở địa ngục mà vẫn hỷ lạc như cảnh
trời đệ tam thiền, còn chúng ta ở giữa cảnh đời này
trăng thanh gió mát, hoa thắm lá xanh, bụng no thân ấm mà vẫn
muộn phiền khôn nguôi chăng?
Và
có lẽ cứ mang cái mạng mộc của mình đi lang thang từ nơi
này sang nơi khác, dù gặp được những chốn thong dong như
cõi Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà đi nữa, chúng ta cũng
chỉ tự làm phiền mình và các chúng sanh lân cận mà thôi.
Em nghĩ sao?
Người
Trong Mộng
Xưa,
có một anh chàng họa sĩ tài ba đẹp trai nhưng phải cái tội
nghèo.
Một
hôm thừa hứng, chàng họa nên một bức tranh giai nhân tuyệt
đẹp. Chàng họa sĩ say sưa ngắm nhìn người trong tranh,
tô lục chuốt hồng vào, càng nhìn càng thêm ngơ ngẩn...
Nhìn
tới ngắm lui, lâu ngày chày tháng họa sĩ đâm ra si tình người
trong tranh... Suốt ngày chàng chỉ lẩn quẩn bên tranh để
tỏ tình, quên cả ăn ngủ và làm việc để kiếm tiền mua
gạo.
Tình
trạng càng ngày càng bế tắc, sợ chàng họa sĩ chết mòn
vì đói, song thân chàng tìm cách cho chàng một người vợ,
nhưng khốn nỗi... Làm sao tìm cho được người trong mộng
cho chàng họa sĩ tài ba này đây?
PC:
Xin hỏi nhỏ: Khi chúng ta cảm thấy yêu (hay ghét) một
người nào, là chúng ta yêu ngay đương sự hay là vớ nhằm
một cái bóng do chính mình họa nên về nhân vật đó.
Thưa chư hiền hữu!
Và
trong tình trạng này thì phải “làm sao để giết được
người trong mộng đây?”
Nắm
Tay Không
Bé
Xí rất khoái ăn bánh kẹo.
Một
hôm, má đi chợ vắng, hũ bánh lại ở ngay tầm tay còn gì
bằng, Xí thò tay bốc ngay một nắm thật to. Nhưng eo
ôi! Sao hũ bánh níu chặt lấy tay bé... dùng hết sức
bình sanh mà bé lôi bánh ra cũng không được... cả con nô
cũng bó tay. Xí đành khóc đợi mẹ về.
Lúc
mẹ về, mẹ chỉ cần bảo: “Con thả nắm bánh ra.”
Cái tay không có nắm bánh nào, chui ra khỏi hũ một cách dễ
ợt! Sao lạ vậy?
Hèn
chi có người làm thơ rằng: “Thà không nắm bắt còn hơn
buộc ràng.” Nhưng ai buộc ai đây?
Lợi
Danh
Lão
tử tuy nghèo khổ, có khi phải đói khát nhưng lại là một
bậc hiền nhân của nước Trịnh. Vua Trịnh sai người
chở đến cho Liệt Tử mấy chục xe thóc, ông chắp tay bái
dài không nhận. Bà vợ Liệt Tử đấm ngực than, ông
bảo:
-
Vua mà thương ta không do chỗ thâm tình mà nhờ người mách
lẻo. Vì thế mà ta không nhận lộc. Vả chăng nếu
chịu bổng lộc của người gặp lúc người hoạn nạn mà
mình không liều chết để giúp kẻ vô đạo thì thuộc loại
bất nhân. Vì vậy mà ta không nhận. Thôi! Má
bầy trẻ đừng có làm phiền ta nữa. Lời bàn
Kiếm
được chút đỉnh lợi danh không phải là chuyện dễ.
Ðược lợi thì mất danh, có danh thì hết lợi.
Tình
Nghĩa
Xưa,
nước Tề đem quân đi đánh nước Lỗ. Vừa đến biên
giới, quân Tề thấy một người đàn bà nước Lỗ tay bồng
tay dắt hai đứa bé đi lánh nạn.
Tướng
quân giặc kéo đến, người thiếu phụ vội bỏ đứa bé
đang bồng trên tay xuống, bế đứa kia chạy trốn. Ðứa
bé bị bỏ rơi chạy theo kêu khóc, người thiếu phụ vẫn
không ngoảnh lại.
Tướng
quân nước Tề cho bắt người thiếu phụ lại hỏi:
-
Ðứa bé chị đang bế là con ai? Ðứa chạy theo là con
ai?
Thiếu
phụ thưa:
-
Ðứa tôi bế là con người anh tôi, đứa tôi bỏ lại là
con ruột tôi. Sức tôi không thể nào bảo toàn cả hai
đứa nên đành bỏ nó lại.
Tướng
giặc ngạc nhiên hỏi:
-
Phụ tử tình thâm, sao chị nỡ bỏ con mình để giữ lấy
con của người?
Thiếu
phụ đáp:
-
Con tôi là tình riêng, con anh tôi là nghĩa công... Bỏ con đẻ
tuy đau lòng quặn ruột thật, nhưng tôi không thể “bất
nghĩa” mà sống được... Và con tôi, có lẽ cũng không muốn
có một người mẹ vô nghĩa như thế.
Tướng
quân nước Tề bèn tâu với vua xin bãi binh. Vì một người
đàn bà ở vùng biên địa còn giữ gìn được như thế huống
là các hàng sĩ phu. Vua Tề đồng ý.
Vua
nước Lỗ biết chuyện, thưởng cho thiếu phụ 100 tấm lụa
và phong cho hai chữ: “Nghĩa Cô”
Vậy
Sao???
Thiền
sư Hakuin là một tăng sĩ được cư dân quanh vùng ca tụng
và kính trọng như một ông Phật sống.
Gần
tịnh thất của sư có một thiếu nữ rất đẹp. Một
hôm cha mẹ mỹ nhân chợt khám phá ra con mình có mang.
Qua
biết bao là phiền phức, mỹ nhân thú thật rằng: thiền
sư chính là người tình vụng trộm của mình. Bao nhiêu
danh thơm tiếng tốt của sư đều đổ xuống bùn nhơ cả.
Bà mẹ dẫn cô gái đến gặp thiền sư. Ðáp lại trận
mưa ngôn ngữ thịnh nộ của khách, sư chỉ mở mắt hỏi:
-
Vậy sao?
Khi
đứa bé chào đời, nó được bà ngoại mang đến tịnh thất
với những lời sỉ vả cay đắng kèm theo. Từ dạo đó
cư dân thường thấy thiền sư đi trì bình với một đứa
bé trên tay. Sư nuôi nấng đứa bé rất tử tế... Chú
bé lớn lên rất bụ bẫm... chú tập bò, đứng và đi lẫm
dẫm chung quanh chiếc thiền sàng của sư. Chỉ khi nào
chú bé ngủ say, sư mới đi tọa thiền được.
Hơn
một năm sau, mỹ nhân thú thật rằng: cha chú bé không phải
thiền sư Hakuin.
Sau
bao nhiêu lời sám hối dài dòng và phiền toái, thiền sư trao
chú bé lại cho bà ngoại chú, cũng với hai tiếng “Vậy sao?”
Ngôi
tịnh thất im lìm trở lại, vắng bặt tiếng u ơ của trẻ
thơ và thiền sư khi đi trì bình chỉ còn vỏn vẹn cái bình
bát.
Cư
dân lại ca tụng và kính trọng sư như một ông Phật sống.
Lời
bàn:
Có
muốn bắt chước theo... cũng khó.
Cầu
Ðược Ước Thấy
Xưa,
có một chúng sanh đang chịu quả khổ ở địa ngục.
Trong cơn đau tận mạng y niệm Phật luôn miệng, van:
“Xin
Ngài cứu con thoát khỏi cái chảo dầu sôi này. Làm thân
ngạ quỷ cho đỡ khổ hơn...”
Bụt
và Diêm vương nghe van mủi lòng, bèn cho y được như nguyện.
Làm
ngạ quỷ được vài hôm, y lại kỳ kèo:
“Xin
Ngài làm phúc cho con được làm thân súc sanh, một con chó...
cũng được, chứ làm ngạ quỷ... khổ quá trời ơi!
Y liền
được mang thân một con chó tên là Nô. Nô lại than van:
“Hỡi
ơi! Thân chó nào có sướng ức gì... ước chi con được
thân người... Gâu... gâu... gâu!
Nô
liền được như nguyện... mang thân một chị đàn bà xấu
xí, bán ve chai sống qua ngày. Chị ve chai lại rên rỉ:
“Trời
Phật ơi! Khổ thân tôi xấu xí thế này sống chi thêm
cho nhục... ước chi tôi dễ coi một chút để kiếm một ông
chồng mà nương tấm thân liễu yếu. Hu, hu!
Chị
ve chai lại biến thành một thiếu nữ khá mặn mà... Và có
vô số anh hùng rấp ranh bắn sẻ. Sau mấy năm kén cá
chọn canh, treo cao giá ngọc, chị lên xe hoa với một người
trong mộng. Mười năm sau chị lại than thở:
“Trời
ơi, chồng với con ước gì tôi được như thời con gái, không
có cả đống phụ tùng rắc rối, tui sẽ cạo đầu vô chùa
tu quách. Ư hự!
Cầu
được ước thấy, chị thành một tu sĩ.
Người
ta lại nghe sư cô này than van:
-
Ư hự! Phải chi mình được “sinh phùng trung quốc, hội
ngộ minh sư” (sinh ra gặp chốn may mắn, gặp thầy sáng suốt
dẫn dắt) thì tu mới không ngán, đàng này không ai chỉ dạy
tu gì mà chỉ thấy phiền với não.
Sở
cầu hợp pháp này được chuẩn y lập tức. Sư cô được
gởi vào một Phật học ni viện, lần này các ni sinh bạn
cô lại nghe kể lể:
“Học
chi mà lắm thế. Học mà không tu thì như mang dãi sách,
đói ăn mà không no... ước chi tôi được gặp một thiền
sư, ở trong một thiền viện để vừa tu vừa học, tri thành
hợp nhất... hi... hi...
Bụt
liền giúp cô trở thành một thiền sinh trong một thiền viện
“Bất tác bất thực.” Thiền sinh này thường chống
cuốc than thở:
“Chèn
ơi! Quanh năm chỉ thấy cào bới với cuốc cày. Làm mãi
không có thì giờ để tu. Ước gì tôi được nhập thất
để giải quyết sinh tử, nhất đao đại hoạn, hừ hừ!
Bụt
lại ra tay, một cái thất được dựng lên cấp tốc, một,
hai, ba, bốn thí chủ hùn tiền giúp cô an tu. Ngồi bó
rọ trong thất đương sự loay hoay tính toán:
-
Phải chi có ai tu giùm, mình ké vô để thành Phật thì
sướng biết mấy. Sư chưa kịp ao ước thì bỗng bắt
được cái điện tín của Diêm vương gởi qua cái răng sâu...
và cả tiếng thì thầm của bọn quỷ sứ dưới âm phủ:
-
Tâu Diêm chúa, chảo dầu này hai đứa con chụm sắp sôi rồi,
chừng nào Diêm chúa lôi cái tên đa sự đó về đây?
PC:
Xin hãy đọc câu chuyện này giống như đọc một cuốn sách
thuộc loại “khoa học giả tưởng.”
Trân
trọng!
Người
Bốc Vác
Xưa,
có hai thiền sinh có việc phải hạ sơn. Trên đường
đi đôi bạn gặp một thiếu nữ xinh xắn ngồi buồn rầu
bên vệ đường.
Chả
là cô ta muốn đi ăn cỗ cho sáng sủa, mà lại bị một vũng
bùn to ngang đường chẹn mất lối đi.
Vị
thiền sinh trẻ tuổi nhất liền giúp cô ta qua đường.
Sau lời cảm ơn đường ai nấy đi.
Buổi
chiều vừa về đến cổng tu viện, vị thiền sinh lớn tuổi
đã khều tay bạn hỏi một cách bực dọc:
-
Này chú, tại sao hồi sáng chú dám cả gan bế một thiếu
nữ xinh đẹp thế kia qua vũng bùn mà không sợ ô nhiễm đến
giới thể ư?
Vị
thiền sinh trẻ tuổi ngạc nhiên:
-
Ơ hay! Em đã đặt cô nàng xuống bên kia vệ đường
rồi cơ mà! Sao sư huynh còn cõng cô ta về tận nơi đây?
PC:
Vác một cô nàng như thế từ sớm đến chiều thì kể cũng
nặng thật.
Cô
Lái Ðò
Xưa,
có một thiền sinh có việc phải sang sông. Ngồi trên
đò, sư cũng hơi kinh ngạc vì nhan sắc dễ coi của cô gái
miền quê.
Ðến
lúc lên đò, hành khách mỗi người phải trả một quan.
Sư cũng định thế, không ngờ cô gái hóm hỉnh bảo:
-
Xin thầy trả cho tôi hai quan.
Sư
còn đang ngạc nhiên thì cô gái đã tiếp:
-
Một quan tiền đi đò và một quan cho về khoản nhìn người
lái.
Vốn
không ưa tranh cãi lôi thôi, sư liền trả cô hai quan tiền
nhưng trong bụng hơi tấm tức. Bận về sư cứ dí mũi
xuống sàn thuyền không dám nhìn lên. Nào ngờ lần này
cô lái bảo:
-
Xin thầy cho em 5 quan.
Không
nhịn được nữa, nhà sư cãi:
-
Nhưng tôi có nhìn cô đâu nào?
Cô
gái cười mĩm:
-
Ðồng ý là thầy không nhìn tôi bằng mắt, nhưng thầy lại
nhìn bằng tâm... Vì thế mà tôi tăng giá gấp đôi lên cơ
chứ!
PC:
Nếu mỗi móng tâm động niệm của chúng ta đều phải trả
tiền kiểu này thì có lẽ chỉ còn nước đi ở đợ mới
thanh toán nổi!
Kiếm
Khách Lừng Danh
Xưa,
có một chàng trai, con của một kiếm sư lừng danh. Dưới
sự đào tạo của ông cha vô số kiếm khách đại tài xuất
hiện. Nhưng điều lạ lùng là kiếm sư từ chối không
truyền nghề cho con. Ðiều này khiến chàng trai rất buồn
và cảm thấy lòng tự ái bị tổn thương.
Một
hôm chàng bỏ nhà ra đi, tìm một kiếm sư lừng danh khác xin
thọ giáo. Kiếm sư này lại từ chối y hệt như ông
thân sinh của chàng:
-
Chú không đủ tiêu chuẩn để học nghệ thuật này đâu!
Chàng
trai đau khổ khẩn khoản:
-
Kính bạch tôn sư... nhưng nếu con cố gắng chuyên cần nhất
mực, thì sẽ mất bao nhiêu lâu mới đủ tiêu chuẩn để
thành một kiếm khách?
-
Cả cuộc đời còn lại của chú.
-
Nhưng bạch tôn sư... con không chờ đợi lâu như vậy... con
còn cho mẹ già phải phụng dưỡng. Con sẽ hiến thân
làm một người giúp việc cho tôn sư và con không từ nan bất
cứ một việc khó khăn nào... thì con phải mất bao lâu mới
thành tài?
-
Có lẽ khoảng 10 năm...
-
Bạch tôn sư... thời gian ấy vẫn quá dài đối với con...
Nếu chuyên cần hơn nữa, thì phải mất bao nhiêu lâu?
-
Có lẽ... 30 năm.
-
Bạch tôn sư! Người muốn đùa con chăng? Sao trước
Ngài bảo con 10 năm, bây giờ lại tăng lên 30 năm? Con
tha thiết học và sẽ không từ nan bất cứ trở ngại nào...
Con xin tôn sư chiếu cố đến tấm chân tình của con... thâu
bớt thời gian lại.
-
Thôi được! Mi nóng nảy, bộp chộp quá. Ta giảm
xuống 3 năm... Mi phải ở đây tối thiểu là 7 năm.
Chàng
trai chợt hiểu ra khuyết điểm của mình là thiếu kiên nhẫn.
Chàng vội vã kêu lên:
-
Con đội ơn tôn sư vô cùng...
Từ
đó chàng trai ở lại bên thầy, tận tụy lo cơm nước, rửa
chén, quét nhà, làm vườn, đi chợ v.v...
Ba
năm cực khổ trôi qua, kiếm sư vẫn chưa truyền cho chàng
một bí quyết nào và chàng cũng không được sờ đến thanh
kiếm. Một hôm, đang nấu cơm, thình lình chàng bị vị
kiếm sư rón rén đến sau lưng và tặng cho một nhát kiếm
gỗ vào mạng sườn đau điếng. Và từ đó lúc nào chàng
cũng lưu ý đề phòng những cú đánh lén của thầy... dù
là đang gánh nước, bửa củi, cuốc đất hay ngủ nghỉ.
Chẳng bao lâu chàng trai trở thành một tay kiếm lừng danh,
tên chàng là Matajuro.
PC:
Nghệ thuật học thiền cũng học y như vậy đó. Người
thiền sinh cũng phải làm những chuyện xem ra chẳng dính dáng
gì đến thiền hết như nấu cơm, cuốc ruộng, trồng rau,
tỉa lúa chẳng hạn...
Và
cuộc đời là một ông thầy vô cùng tận tâm lúc nào cũng
sẵn sàng đâm lén chúng ta bằng những thanh (kiếm gỗ) bát
phong trí mạng. Hỡi ơi! Kiếm gỗ còn có thể đón
được chứ bát phong thì dễ có mấy ai?
Ông
Phật Mũi Ðen
Xưa,
có một sư cô trên đường tìm giác ngộ sư cô có một tượng
Phật bằng vàng y rất quý... đi đâu cũng mang theo bên mình,
và đốt hương cúng hoa mỗi ngày.
Một
hôm trên đường hành cước, sư phải tá túc chung với một
hội chúng đông đảo. Và ông Phật vàng cũng phải ở
chung với một đại chúng Phật đá, Phật đồng v.v...
Sư
cô chỉ muốn xông hương trầm cho một mình ông Phật vàng
thôi. Sau nhiều đêm suy nghĩ sư tìm ra một cách khiến
hương trầm chỉ bay thẳng vào mũi ông Phật vàng, các ông
Phật khác khó mà ngửi ké được.
Nửa
tháng trôi qua... chiếc mũi được xông trầm hương của ông
Phật vàng bỗng đen thui thủi!
PC:
Ðược chúng sanh ái mộ chưa chắc là điều dễ thở...!
Sư
Ðệ
Thiền
sư Bankei có rất nhiều đệ tử đoanh vây để học pháp.
Trong số đó có một chú đệ tử nhỏ thường hay ăn cắp
vặt và đã bị bắt quả tang nhiều lần.
Thấy
thiền sư cứ bỏ qua không đá động gì đến tội phạm,
các sư huynh của chú tiểu phạm tội liền họp nhau làm một
tờ đơn thỉnh nguyện, dâng lên sư phụ, dọa rằng họ sẽ
bỏ ra đi tất cả nếu thiền sư còn làm ngơ không xử tội
tên ăn cắp.
Ðọc
xong tờ khiếu nại, thiền sư bèn họp chúng tuyên bố:
-
Tốt lắm, cứ theo tờ thỉnh nguyện thư này thì các con đều
là những người thông minh phân biệt rành rẽ về thiện và
ác... các con có thể đi bất cứ nơi nào cũng xuôi chèo mát
mái cả... Và thầy cũng không có gì để lo ngại. Duy
có thằng đệ tử đáng thương này là chưa biện rõ tà chánh...
Thầy có bổn phận phải dạy dỗ nó. Các con cứ lên
đường, nó phải ở lại đây với thầy. Chú tiểu ăn
cắp òa lên khóc... Và từ đó chú không bao giờ tái phạm
lỗi cũ. Tất cả môn đồ đều xin ở lại, và họ sống
bên thiền sư cho đến ngày khi người viên tịch.
PC:
Tìm được một bậc thầy như thiền sư Bankei không phải
là chuyện khó. Khó nhất là tìm người đệ tử biết
hối cải như chú tiểu trên đây.
Thiền
Trong Mọi Phút
Teno
là một thiền sư vừa hạ sơn, sau 10 năm khổ luyện công
phu, sư đến yết kiến thiền sư Nanin, một đại thiền sư
nổi danh thời ấy.
Vừa
gặp mặt Nanin đã hỏi:
-
Lúc nãy nhà thầy bỏ chiếc dù bên phải hay bên trái đôi
guốc trước khi vào thiền thất của ta?
Teno
bối rối thú nhận rằng đã không nhớ rõ và đành ở lại
xin thụ giáo với sư Nanin. Một lần khác Nanin lại hỏi:
-
Khi nãy thầy bỏ dép trước khi vào thất thầy đã bỏ dép
ở chân nào trước?
Teno
cũng không thể trả lời được. Nhiều năm trôi qua Nanin
vẫn không dạy dỗ gì thêm ngoài chuyện dù dép. Cho đến
một hôm tự thấy mình đã hoàn toàn hành thiền được trong
bốn oai nghi. Teno đến từ giã thầy ra đi. Nhưng
lại thêm một lần rủi ro nữa. Thầy mở cửa hơi mạnh
tay khiến nó vang lên một tiếng động nhỏ... điều này chứng
tỏ thầy đã dụng một sức lực quá mức cần thiết... Teno
lại phải ở bên thầy thêm vài năm để học về cách đóng
cửa... Và sau 6 năm ở với Nanin, sư trở thành một thiền
sư lừng danh của nước Nhật.
PC:
Rốt cuộc cũng chỉ là chuyện dù với dép, tay với chân...
Sao không là chuyện có chút gì là cao siêu huyền bí hết?
Vậy mà Teno đã dám bỏ ra 6 năm dài để học những chuyện
vặt vãnh ấy. Muốn bắt chước Teno còn khó hơn là bắt
chước Tây Thi nhăn mặt nữa... Hỡi ai! Những điều
mà chúng ta bỏ qua và khinh thường luôn luôn là những điều
cổ nhân lưu ý nhất.
Ryonen
Ryonen
là một thiếu nữ xuất thân từ một gia đình vương giả.
Nàng được gia đình cho phép xuất gia vào năm 25 tuổi và
hãy còn rất đẹp.
Sắc
đẹp của Ryonen gây ra nhiều rắt rối không một thiền sư
nào dám nhận nàng vào tu viện vì một lý do duy nhất là dung
nhan của Ryonen sẽ gây xáo trộn cho đồ chúng họ.
Ryonen
liền lấy cái bàn ủi nóng xóa đi cái chướng ngại cuối
cùng ấy. Nàng đã viết lên tấm gương soi những dòng
chữ đánh dấu sự thành công của mình:
“Ngày
xưa ta đốt hương trầm
Ướp
xông những chiếc quần hồng áo sa
Muốn
làm khất sĩ ta bà
Chính
tay ta đốt mặt hoa của mình.”
Về
sau, Ryonen trở thành một thiền sư đắc đạo.
Sư
tịch vào năm 66 tuổi.
PC:
Có vô số thiền sư ni, khỏi đốt mặt cũng không gây rắc
rối cho ai ngoài chính mình.
Dòng
Suối Trường Xuân
Xưa,
có hai vợ chồng già yếu, hiền lương nhưng không có con cháu
cấp dưỡng nên vẫn phải làm việc lam lũ.
Một
hôm sau khi cuốc đất ông cụ than thở:
-
Ước chi mình được khoẻ mạnh như thời trai tráng thì dù
có vất vả mấy cũng không ngán... đàng này...
Nghe
lời cụ than thở, bụt hiện ra bảo:
-
Ta có thể giúp con thực hiện lời mong ước giản dị đó.
Cách đây 5 dặm về hướng Ðông, có một dòng suối nhỏ.
Ngày mai con xuống đó tắm sẽ cải lão hoàn đồng trở lại..
như ý con muốn.
Ông
cụ mừng rỡ ra về, giữ kín chuyện và sáng hôm sau tất
tả đi tìm dòng suối mầu nhiệm nọ. Quả nhiên là kỳ
diệu. Vừa ngâm mình vào làn nước, cụ đã cảm thấy
trong người dâng lên một sức sống kỳ diệu... Cụ thấy
số tuổi mình giảm dần... từ 60 xuống đến 50 rồi 40...
30 cho đến lúc vừa trở thành một thanh niên 25 tuổi thì
cụ già... (í quên)... chàng thanh niên chứ, bước lên bờ
tự nhũ:
-
Bây giờ mình đã đủ sức cầm một chiếc rìu rồi... phải
về nhà báo tin cho bà nó mới được.
Lại
đến lượt cụ bà tất tả chống gậy ra đi... giòng suối
vẫn còn đó và sự mầu nhiệm lại tái diễn...
Từ
số 70, bà cụ dần dần thục lui đến 60, 50, 40, 30 rồi 25.
Ðáng lẽ phải bước ngay lên bờ như lời đấng phu quân
căn dặn.. bà cụ... (í quên)... cô nàng lại ngẫm nghĩ:
-
Dễ gì dịp may trở lại hai lần... mình là đàn bà thế nào
cũng mau già hơn đàn ông... phải tắm thêm chút nữa đã.
Dòng suối vẫn còn mầu nhiệm một cách vô hình, người thiếu
phụ bước sang tuổi 20, rồi 19, 18, 17...
Buổi
chiều chàng trai đợi mãi không thấy vợ về... nóng ruột...
đi tìm, đến bờ suối chàng gặp phải một bé gái... và
chỉ còn biết thở dài bế nó về nhà.
PC:
Lo ra, lo xa và nhanh nhảu đoản là một trong những sở trường
của phe ta ấy mà!
Ảo
Ảnh
Thuở
xưa có một vị hoàng tử chào đời trong niềm vui mừng của
nhà vua, hoàng hậu và thần dân cả nước. Nhưng không
may cho cậu bé, hoàng hậu mất đi rất sớm, bà mẹ kế muốn
dành ngai vàng cho con trai mình nên âm mưu cho bộ hạ mang hoàng
tử vào rừng giết đi.
Vị
thái giám mang chú bé vào rừng nhưng không nỡ xuống tay, đành
giao đứa bé ngây thơ lại cho một bọn thợ săn sống nơi
triền núi. Chú bé lớn lên vô tư như một cây xanh dưới
nắng và gió... hoàn toàn không hay biết gì đến nguồn gốc
vương giả của mình.
Thời
gian trôi qua, chẳng bao lâu chú bé trở thành một thanh niên
cường tráng... Chàng trai vẫn vô tư sống giữa đoàn thợ
săn như một cội tùng non xanh tâm tư hoàn toàn thoải mái
như thú rừng. Chàng không hề biết đến những ai khổ
lụy của những con người phố thị. Cho đến một hôm
người trưởng đoàn thợ săn cho phép chàng theo ông ta xuống
núi.
Những
bước chân vô tư của chàng hoàng tử có cội nguồn vương
giả này thản nhiên đặt chân trên những nẽo đường của
đế đô nơi mà trước kia dân chúng đã đặt hương án chào
mừng ngày sinh của chàng.
Chàng
trai vô cùng kinh ngạc về sự xa xỉ của dân phố thị, chàng
không hiểu tại sao thế nhân lại có thể chìm đắm cười
khóc theo những trò đời, mà theo chàng nhận xét có vẻ ấu
trĩ và điên rồ khôn tả.
Sau
hai tháng rong chơi ở thành phố, thấy mãn nhãn những màu
sắc vinh hoa phú quý của trần đời, chàng theo người trưởng
đoàn trở về, lòng không vương một hạt bụi nhỏ, rừng
núi gió trăng và kiếp sống hạc nội mây ngàn tưởng chừng
là một thế giới riêng biệt thân yêu nhất của chàng.
Trên đường về hai thầy trò dừng chân bên một bờ suối
vốc nước uống... khi bất chợt ngẩng mặt lên chàng trai
trẻ sửng sờ kinh ngạc, chưa bao giờ chàng trông thấy một
thiếu nữ quyến rũ như thế. Trong khoảnh khắc, núi
rừng trở nên âm u tẻ nhạc... một cái gì chợt thức dậy
trong lòng chàng... một sức sống mãnh liệt bừng dậy khắp
mọi nơi, chàng trai tưởng chừng như mình mới mở mắt lần
đầu tiên... dường như chàng mới thức dậy sau giấc ngủ
nghìn năm mê mệt... Trời xanh hơn, mây trắng bồng bềnh,
cây cỏ lá hoa đều đậm đà màu sắc một cách kỳ diệu.
Thần ái tình đã bắn mũi tên định mạng. Người trưởng
đoàn đã thấy niềm xao xuyến của chàng tuổi trẻ... Ông
bồi hồi nhớ lại thời thanh xuân của mình và bất giác
rùng mình, cánh chim đại bàng vương giả sắp đến ngày ra
ràng... những hốc đá hoang vu của ông không đủ rộng cho
đại bàng giăng cánh, ông chỉ thấy lòng đau xót lẫn đắng
cay. Có phải đây là đoạn đường mà ai cũng phải một
lần hăm hở bước qua? Và mấy ai qua đó mà không thân
bại danh liệt, nước mắt tràn mặt mày?
Vì
thế khi chàng trai trẻ lúng túng ngỏ ý xin rời đoàn ít lâu,
ông chỉ im lặng nhìn chàng... Và sau cái nhìn lặng lẽ của
ông, con chim đại bàng liền tung cánh.
Người
thiếu nữ đã đánh thức giấc ngủ bình an của chàng thanh
niên quả là một nhan sắc hiếm có, và cũng giống hệt như
bao nhiêu mỹ nhân khác nàng rất tự kiêu về mình. Chàng
trai đã bao lần quỳ gối trước mặt nàng xin suốt đời
làm kẻ nô lệ nhưng nàng vẫn lạnh lùng. Song thân cô
gái khám phá ra nơi kẻ si tình có một sức mạnh vô địch
và họ không bỏ qua điều đó. Ðể lấy lòng ông bà
nhạc tương lai và nhất là người đẹp, chàng trẻ tuổi
đã làm quần quật suốt ngày, phá rừng vỡ núi... chàng không
từ nan một trở ngại nào miễn sao được thấy mặt nàng
là đủ... Chàng cũng mơ hồ cảm thấy mình đã đặt mối
đam mê vào một khoảng trống... nhưng hệt như tất cả kẻ
si tình khờ dại khác, chàng trai mới lớn này đã hăng say
lao đầu vào bể khổ với tất cả sự vụng dại lẫn thật
thà. Niềm hy vọng của chàng sống leo lét cho đến một
ngày kia nhà vua mở cuộc đi săn... qua vùng đất Hứa và như
một định luật thiên nhiên, cô gái đẹp nhất vùng đã tìm
đến đấng quân vương trẻ tuổi.
Mọi
người đã không khám phá ra tài thiện xạ của chàng trai
miền núi... mãi đến khi nhà vua trẻ tuổi của họ ngã gục
dưới mũi tên của kẻ tình địch thì chàng trai đã nhanh
chân chạy mất, lẹ như một con cheo. Chàng chạy trốn
như một tên điên, toàn thân ướt đẫm mồ hôi và vết cào
xướt của cây rừng... cho đến lúc kiệt sức, ngã gục bên
bờ suối, chàng mới chợt thấy mình đang ở bước đường
cùng... Cuộc đời chàng há không đã chấm dứt rồi sao?
Hình bóng mỹ nhân như một mũi tên cắm sâu vào lồng ngực.
Ðó là một nỗi niềm đau nhức mới lạ và khó chịu... số
ngôn từ ít ỏi và chất phác của chàng không đủ để diễn
tả nỗi u uất sầu khổ, chàng chỉ có cảm giác như một
con thú rừng bị trúng tên độc và đang thoi thóp thở những
hơi cuối cùng... Chưa đến một năm mà chàng đã đi đến
cuối đoạn đường, chàng trai trẻ hồn nhiên vô tư của
rừng núi đã ngã gục bên kia bờ suối... Con đại bàng vương
giả vừa giăng cánh đã gục chết trên cây.
Khi
chàng trai tình dậy chàng không biết mình ở đâu, mê hay tỉnh.
Chàng đang nằm trên một đệm rơm, và bên bục đá là một
vị sư đang ngồi tĩnh tọa. Gương mặt của người dường
như phảng phất một nụ cười. Ðôi mày của nhà sư
bạc trắng như một cách hạc nhưng màu da lại hồng hào.
Khuôn mặt ấy có một cái gì vừa hồn nhiên vừa ngây thơ
như trẻ nít. Chàng đưa mắt quan sát vẻ đơn sơ của
một nơi ẩn dật và bắt gặp một rổ khoai nấu chín còn
âm ấm, nằm trong tầm tay với của mình.
Mãi
đến chiều hôm sau nhà sư mới xuất định. Người nhìn
chàng trẻ tuổi với ánh mắt của một người thân, chàng
trai đọc được niềm thương hại lẫn chế nhạo trong nụ
cười của nhà tu. Chàng kính cẩn dâng nước cho ông
như một chú tiểu sơ cơ vào đạo. Hai thầy trò không
nói với nhau một lời. Trò không dám mở miệng trước
và thầy sau khi uống một ngụm nước đã đi nhập định
trở lại.
Nhìn
gương mặt bình an của nhà tu, chàng trai thấy dường như
nỗi thống khổ cay đắng của mình chỉ là một trò chơi
trẻ dại. Chàng nhớ lại những ngày thơ ấu cùng bọn
mục tử chơi đùa, trò chơi thường kết thúc bằng tiếng
cãi vã, gây gổ, lắm khi lại đem đến những màn ấu đả
phải nhờ đến sự can thiệp của người lớn mới chấm
dứt được.
Thuở
ấy chàng đã nhiều lần tự hỏi không hiểu tại sao mình
đã để những quy luật ăn thua giả tạo của trò chơi gây
buồn phiền uất hận. Khi từ giã đoàn mục tử để
đeo đuổi mỹ nhân, chàng há đã không hăng say lao đầu vào
một cuộc chơi mới đó sao? Trò chơi vẫn chưa kết thúc...
Và chàng thì đã mất hết sức sống.
Thế
giới của nhà tu bình an như một mặt nước, có phải nhờ
họ bỏ cuộc chơi hay đã nắm vững trò đùa không bị nao
núng bởi những qui ước giả tạo của thế gian?
Bảy
ngày trôi qua, nhà sư ngoài những lời tĩnh tọa vẫn im lặng
như một tảng đá. Chàng trẻ tuổi không thể nào chịu
nổi nữa... Một hôm chờ lúc nhà tu vừa xả thiền, chàng
tấn công ngay, bằng cách kể lại câu chuyện mình cùng những
nỗi u uất, chán chường đang rút mòn sinh khí của chàng.
Nhà sư im lặng lắng nghe và khi chàng trai đòi hỏi một câu
nói, sư chỉ thốt lên hai tiếng “ảo ảnh”. Chàng
trai thất vọng nhiều hơn là tức giận. Chàng những
tưởng đã tìm đâu đó một lối thoát qua phong cách thoát
tục của nhà tu, nào ngờ sư chỉ buông hai tiếng nhẹ như
một làn gió. Chàng gằn giọng:
-
Sao có thể là huyễn hóa được?
Nhà
sư bật cười, với tay lấy bình nước trao cho chàng trẻ
tuổi:
-
Ta khát quá, không thể nói nhiều được, con cho ta một ít
nước suối mát.
Chàng
trai ôm bình ra suối múc nước. Ðến lúc ngẩng mặt
lên, ô kìa! Chàng có mơ chăng? Mỹ nhân đang đứng
ở bên kia, mắt dáo dác như muốn tìm ai. Nhác trong thấy
chàng, nàng đã nhanh như một con sóc, chạy đến quỳ ôm hôn
chàng khóc tức tưởi...
Chàng
trai mềm lòng... Chàng còn được biết thêm rằng sau khi nhà
vua băng hà, quan thái giám tiết lộ tông tích của chàng và
quần thần đang chờ tôn chàng lên ngôi cửu ngũ.
Và
hệt như một chuyện đời xưa, chàng trai được rước về
lên ngôi vua, mỹ nhân làm hoàng hậu. Họ sinh ra những
đứa con kháo khỉnh và đẹp như tiên đồng ngọc nữ.
Mười lăm năm trôi qua. Sau một trận chiến bại, đức
vua bị quân giặc bắt giam vào ngục đá với bà hoàng gào
khóc phát điên và bầy con chết nằm la liệt chung quanh...
Nhà
vua thấy tim mình như vỡ ra từng mãnh... những sợ dây mắt
xích, bà vợ điên, đám con chết nằm đoanh vây, tất cả
đè nặng lên con tim già nua của ông.
Ngay
lúc đó ông bỗng nghe tiếng nói nhẹ nhàng của thiền sư:
-
Chỉ múc có một bình nước mà đã nửa giờ hơn... sao lâu
vậy chú?
Chàng
trai mở bừng mắt, chàng thấy mình còn đang đứng bên bờ
suối, tay ôm bình nước... và tóc hãy còn xanh.
Nhà
tu mĩm cười:
-
Ảo ảnh là thế đó chú ạ!
Từ
đó chàng trai không bao giờ rời núi nên không ai biết chàng
tịch lúc nào và ở đâu!
PC:
Ảo ảnh là như vậy đó em ơi!