Phần
8
Những
Con Ngựa Dữ
Chú
Ðỉa Vô Tội
Thế
Nào Là Thượng Tọa
Người
Ðược Ca Ngợi
Bài
Thơ Của Phật
Người
Học Trò Hư Nhất
Sự
Khiêm Tốn Của Một Thiên Tài
Danh
Và Thực
Tướng
Tự Tâm Sinh
Ý
Kiến Thống Nhất
Ba
Con Búp Bê
Cái
Chết Của Chim Ưng
Chim
Sẻ Mái
Dê
Hóa Chó
Lòng
Mẹ
Tại
Ai
Ðười
Ươi
Tri
Âm
Kiếm
Sư Munenori
Ðôi
Mắt Người Giác Ngộ
Những
Con Ngựa Dữ
Phật
ví những người hung dữ trong môn đệ Ngài giống như những
con ngựa dữ khó điều phục. Ðó là:
Hạng
người khi được bạn bè chỉ lỗi lầm cứ chối bai bải
bảo: “Tôi không nhớ, tôi không nhớ.” Giống
hệt con ngựa dữ bị tra hàm thiếc và quất roi da vào mông,
mà vẫn còn hục hặc không chịu đi.
Hạng
thứ hai, khi được chỉ lỗi, bèn đứng làm thinh không nhận
cũng không chối, giống như con ngựa dữ đứng dựa gọng
xe không chịu đi.
Hạng
thứ ba là vị tu sĩ khi bị chỉ lỗi, liền hỏi lại người
chỉ lỗi mình: “Huynh cũng phạm lỗi như tôi, sao dám chỉ
lỗi tôi,” giống như con ngựa dữ ngã nhào xuống đất,
trầy đầu gối, gãy gọng xe.
Hạng
thứ tư là loại người phản ứng bằng cách quạt lại người
chỉ lỗi mình: “Ðồ ngu! Phận huynh còn phải nhờ người
chỉ bảo, sao dám lên mặt dạy tôi,” giống như con ngựa
dữ cứ thụt lui không chịu bước tới.
Hạng
thứ năm là kẻ hay nói trớ sang chuyện khác, đem lòng thù
hiềm, oán hận người nhắc nhở mình. Như con ngựa dữ
chạy bừa vào đường hiểm, làm cho xe bể bánh, gãy trục.
Hạng
thứ sáu, là kẻ không sợ tội lỗi, không ngán chúng tăng,
không cho ai chỉ lỗi, lấy đồ bỏ đi. Giống như con
ngựa dữ bất kể nài và roi, ngậm hàm thiếc chạy càng vô
phương kềm chế.
Hạng
thứ bảy phản ứng bằng cách lộn ngược y, đứng giữa
hội chúng, khoa tay nói lớn: “Ai cho phép mấy người dạy
khôn tui?” như con ngựa dữ, dựng ngược hai chân và
sùi bọt mép.
Hạng
thứ tám, thuộc loại dữ dằn nhất, nói ong óng: “Mấy người
có cho tôi y bát, tọa cụ, thuốc men không mà dám sửa sai
tui?” Nói xong chưa hả giận còn xả giới, lột y vứt
bên đường nghênh mặt hỏi chúng tăng: “Tôi đã hoàn tục
rồi, mấy người vừa lòng hả hạ chưa?” Hạng người này,
giống như con ngựa dữ nằm bẹp giữa đường.
Kể
xong về tám loại người hung dữ trên, đức Phật khuyên hàng
môn đệ của Ngài nên dễ dạy, bình tĩnh khi nghe người ta
nhắc nhở mình dù lời chỉ dạy đó đúng hay sai, đều nên
giữ lòng bình thản và chân thật. Riêng người chỉ
lỗi cho bạn phải biết đúng thời đúng lúc, nói năng dịu
dàng nhỏ nhẹ và nhất là thật tâm yêu thương muốn giúp
đỡ bạn bè chứ không vì ganh tỵ, ghét bỏ.
Xong
Phật kết luận:
“Này
các tỳ kheo, ta đã nói đầy đủ, đằng kia là các cội cây,
các hang trống. Các ông nên đến đó mà tọa thiền,
chớ có buông lung mà về sau hối tiếc không kịp. Ðây
chính là lời nhắn nhũ của ta với các ông.”
Chú
Ðỉa Vô Tội
Một
cô gái phố thị về thôn quê chơi, rong bờ ruổi bụi thế
nào mà chiều đến, cô mang cổ chân ra hỏi người em trai:
-
Nơi chân chị có gì đen đen trong thật lạ?
Cậu
em cười to bảo:
-
Ðỉa đó! Chị chưa thấy nó bao giờ sao?
Nghe
chưa dứt câu, cô gái đã té xỉu vì kinh hãi.
Em
thân mến!
Công
bình mà nói chú đĩa hoàn toàn vô tội trong việc gây kinh
hãi cho cô gái, vì nếu chú là tác nhân duy nhất thì ngay khi
bị chú đeo, lúc vừa nom thấy chú, chưa biết tên và lai lịch
của chú đỉa, thì cô đã phải ngất xỉu liền. Ðằng
này, cô ung dung mang chú về nhà, đem giới thiệu với cậu
em một cách rất bình tĩnh thoải mái. Cho đến lúc nghe
tên con vật là đỉa, cô gái mới chịu ngất xỉu thì quả…
đúng là – tác nhân chính làm cô sợ hãi chính là sự tưởng
tượng phong phú, vốn liếng kinh nghiệm của cô về chú đỉa,
hơn là chính bản thân “hiền lành” của chú. Có phải
thế không nào? Cũng thế khi chúng ta nghe những danh từ,
tự thân của chúng – không có danh từ tốt hay xấu mà chính
chúng ta, người sử dụng gán cho nó những ý nghĩa tốt hay
xấu mà thôi. Do đó, với những âm thanh đồng một tính
chất hư huyền mà có danh từ làm chúng ta vui tươi phấn khởi,
có danh từ làm chúng ta mệt mỏi chán nản. Như danh từ
“vô học” có nghĩa chê trách đối với thế gian nhưng lại
có nghĩa tán thán đối với Phật học. Thấu đáo rõ
được điều này để có thể tùy thuận chúng duyên mà vẫn
“vô quái ngại,” bình thản gỡ chú đỉa đang đeo trên
chân mình mà không bị… ngất xỉu, tức là hành đạo đó,
em ạ!
Thế
thì, tôi có thể đặt tên cho bài này là “Chú đỉa vô tội”
rồi chứ?
Thế
Nào Là Thượng Tọa
Thuở
ấy, đức đạo sư đang ngự tại tinh xá Kỳ Viên. Mai
sớm, có 30 vị tỳ kheo từ Câu Thi Na đến yết kiến Ngài.
Lúc mới vào tinh xá, nhóm sa môn này gặp một chú tiểu ra
vái chào họ. Sau khi đảnh lễ đức đạo sư, đoàn sa
môn lui ngồi một bên. Phật hỏi họ:
-
Sáng giờ, các thầy có gặp một vị Thượng tọa vừa rời
khỏi nơi đây không?
Các
thầy sa môn đồng thưa:
-
Bạch Thế Tôn, không ạ!
-
Các thầy không gặp ai cả sao?
-
Thưa, chúng con có gặp một chú tiểu chưa đến 20 tuổi….
-
Này tỳ kheo! Vị ấy không phải là một chú tiểu.
Ðó chính là bậc Thượng tọa mà ta muốn nói.
-
Nhưng… chú ấy còn quá trẻ, thưa Thế Tôn.
-
Này tỳ kheo! Ta không gọi ai là Thượng tọa vì tuổi tác,
vì họ được ăn trên ngồi trước hay đã xuất thân từ
dòng dõi danh gia vọng tộc. Chỉ có người nào thấu
đạt chánh pháp, cư xử tốt với mọi người, ta mới gọi
vị ấy là Thượng tọa.
Dù
tuổi cao mày bạc
Không
tịnh hạnh tu trì
Tôn
xưng là Hòa thượng
Danh
suông chớ ích chi?
(PC 260)
Những
ai thấu chánh pháp
Tự
điều phục thân tâm
Thanh
tịnh không não hại
Mới
đáng gọi thượng nhơn
(PC 261)
Người
Ðược Ca Ngợi
Thời
Phật còn tại thế, có một vị lão tăng ẩn cư trong rừng
sâu, người ta gọi ngài là Hòa thượng Nhất Cú vì ngài chỉ
biết độc nhất có một câu kệ. Ðó là câu:
“Sa
môn nào với tư tưởng thanh cao, tinh tấn luyện mình trong
sự yên lặng thì vị ấy sẽ được an tịnh, thông suốt
và không còn phiền não.”
Vào
những ngày Bố tát, vị lão tăng chỉ đọc câu kệ ấy và
được chư thiên trong vùng tán thán bằng những tràng pháo
tay vang rền.
Một
hôm, cũng vào ngày Bố tát, có hai vị tỳ kheo thông suốt
tam tạng cùng đi với một hội chúng đông đảo đến khu
rừng ẩn cư. Hòa thượng Nhất Cú vui vẻ tiếp họ và
cầu thỉnh:
-
Các tôn giả đến đây thật quý hóa! Xin quý vị đọc
luật cho tôi và chư vị nơi đây cùng nghe!
Các
vị khách ngạc nhiên:
-
Nhưng ngoài thầy ra, khu rừng này còn có thêm ai nữa đâu?
-
Có chứ! Vào những ngày tuyên giới, khu rừng này vang
dội tiếng vỗ tay của chư thiên.
Sau
khi phân tòa, một vị tỳ kheo bắt đầu đọc luật và vị
kia giảng rộng ra, nhưng chẳng có ông trời nào chịu vỗ
tay cả. Các tỳ kheo khách đều ngạc nhiên:
-
Thế này là thế nào?
Lão
tăng cũng thắc mắc:
-
Mấy bữa trước họ đều vỗ tay, sao hôm nay lạ vậy cà?
Ðược rồi, thưa các tôn giả, để tôi đọc thử coi!
Tôn
giả Nhất Cú bèn đọc câu kinh thường nhật và chư thiên
lại vỗ tay vang rền.
Nghe
vậy, hai tỳ kheo khách cùng toàn thể đồ chúng tùy tùng rất
bất bình.
-
Chư thiên ở vùng này quả là có lòng thiên vị. Khi người
ta giảng suốt về giáo pháp thì họ im lặng, không một tiếng
tán dương. Vậy mà khi vị lão tăng này chỉ đọc có
một câu thì họ lại hoan hô ầm ĩ.
Các
tỳ kheo trở về bạch Phật tự sự. Nghe xong, đức đạo
sư dạy:
-
Này các tỳ kheo! Ta không gọi ai là người thông suốt
giáo pháp chỉ vì họ biết hoặc đã đọc nhiều kinh điển.
Nhưng kẻ nào, dù chỉ biết một câu, hiểu rõ như thật,
theo đó hành trì, ta mới gọi kẻ ấy là người thông suốt
kinh điển.
Nói
nhiều lời hư vọng
Thêm
huyễn hoặc cuồng si
Học
ít nhưng tâm đắc
Mới
là bậc hộ trì.
(PC 259)
Bài
Thơ Của Phật
Thời
Phật tại thế, ở kinh thành Xá Vệ có một vị Bà La Môn
giàu có. Gia sản của ông gồm bốn thằng con trai và
8000 đồng tiền vàng. Khi các con ông khôn lớn, vị Bà
La Môn thành lập gia thất cho chúng và chia phần mỗi đứa
1000 đồng tiền vàng để làm vốn sinh nhai. Khi bà vợ
ông từ trần, đám con bây giờ đã ra riêng, họp nhau lại
bàn tán:
-
Nếu cha mình cưới vợ khác, gia tài còn lại chắc chắn sẽ
rơi vào tay mấy thằng con trai giòng thứ, chi bằng chúng ta
luân phiên chăm sóc cha để hưởng trọn số gia sản.
Bàn
tính xong, bốn thằng con cắt nhau hầu hạ ông cụ rất mực
chu đáo. Ðám con dâu cũng tranh nhau dâng món ngon vật
lạ, thay đổi y phục và chăm sóc cha chồng mỗi bữa.
Những sự kiện đó khiến ông cụ rất đẹp lòng.
Một
hôm, bốn thằng con cùng đến tụ tập ở chân giường, chờ
ông lão thức giấc dù lúc đó trời đã sáng lắm rồi.
Khi ông Bà La Môn vừa thức dậy, đám con tranh nhau hầu hạ,
rửa mặt lau tay, đấm bóp cho ông. Trong khi người cha
dùng điểm tâm, chúng nhỏ nhẹ khuyên ông nên dành hết quãng
đời còn lại để tu tâm dưỡng tánh. Phần chúng sẽ
thay nhau phụng dưỡng cho ông được rãnh rang tu tập.
Trước
những tấm lòng chí hiếu ồn ào đó, ông Bà La Môn rất hài
lòng và cảm động, nên chia nốt phần gia sản còn lại cho
bốn đứa con. Phần mình, ông chỉ giữ lại bộ y phục
đang mặt trong người. Ðám con ông cũng hài lòng và xúc
động không kém. Chúng hôn chân cha, cắt phiên hầu hạ
và phụng dưỡng ông Bà La Môn.
Ngày
tháng dần qua trăng tròn rồi khuyết, đám con trai ông Bà La
Môn viện cớ bận việc túi bụi, giao hẳn sự chăm sóc ông
cha cho mấy mụ vợ của họ…
Ðược
ít lâu, đám dâu quý lại viện lẽ bận bịu con cái nên giao
phần phụng dưỡng cha chồng cho đám gia nhân trong nhà.
Ðám
gia nhân viện cớ bận tối mặt tối mũi về công việc nhà
cửa, mùa màng, gia súc, tiệc tùng, nên mỗi ngày, người ta
thấy ông lão Bà La Môn bấy giờ đã ốm yếu, y phục tả
tơi, thất thểu gọi cổng nhà từng đứa con một… Giọng
nói yếu ớt của ông bị chìm mất giữa tiếng sủa inh ỏi
của đám chó canh cổng nên cuối cùng, vừa đói vừa giận
ông lão cầm gậy, lê chân đi xin ăn khắp nơi… Không ai biết
được ông lão hành khất ốm yếu dơ bẩn kia, có thời đã
từng là chủ nhân của một gia sản kếch sù, có đến bốn
đứa con trai, cả chục bà dâu và hàng tá cháu nội.
Một
hôm trên đường đi khất thực, vừa đói vừa mệt ông lão
ngã quỵ bên vệ đường. Trong giờ phút tuyệt vọng
ông chợt nhớ đến những lời đồn đãi về một đấng
giác ngộ.
“Người
ta bảo rằng sa môn Cồ Ðàm có một dáng dấp từ hòa, vẻ
mặt chân thật và cởi mở. Thái độ đối đãi của
ngài thật mát lòng, ngài đón tiếp mọi người đều thân
thiện và bình đẳng như nhau! Có lẽ đó là người duy
nhất sẽ đón tiếp ta một cách thân thiện trên cõi đời
này chăng?
Ông
lão liền nhỏm dậy, chống gậy lê chân đi tìm Phật.
Ðến nơi, ông chào Phật và lui về một bên. Ðức đạo
sư đón chào ông cụ với vẻ hoan hỷ cố hữu của ngài,
ngài thân ái hỏi:
-
Này cụ Bà La Môn! Vì sao cụ đến đây với vẻ tiều
tụy và quần áo rách tả tơi thế này?
Ông
lão rơi nước mắt:
-
Thưa ngài Cồ Ðàm! Tôi có bốn đứa con trai giàu có,
nhưng đứa nào cũng nghe lời vợ, hất hủi và bạc đãi tôi…
Tôi đành bỏ nhà đi lang thang, vì thà rằng nhận sự bạc
đãi của kẻ bàng quan hơn là sự dằn xéo của những người
thân thuộc.
-
Này ông cụ! Ngày trăng tròn đến đây, dòng Bà La Môn và
vua qua sẽ họp mặt với nhau, trước đông đảo quần chúng.
Ông cụ hãy gắng học thuộc bài thơ sau đây và xin đọc
nó trước đại hội. Ðám con ông thế nào cũng phải thay
đổi cách cư xử:
“Chúng
là những người khi sinh ra
Tôi
mừng vui tôi hy vọng.
Vậy
mà chúng nghe lời vợ
Ðuổi
tôi ra khỏì nhà
Như
đuổi con chó già vô dụng.
Giả
dối thay! Vô ích thay!
Khi
chúng thủ thỉ:
Cha
thân yêu! Cha thân ái!
Ma
quỷ nào đội lốt con tôi
Bỏ
rơi tôi lúc tuổi già?
Như
con ngựa già bị bỏ đói
Làm
cha lũng u phải đi xin ăn từng nhà
Một
cây gậy còi
Còn
có ích hơn lũ con bất hiếu
Trong
đêm tối
Cây
gậy dẫn đường
Trong
vũng nước bùn sình
Cây
gậy đỡ chân…”
Ông
Bà La Môn học thuộc lòng bài thơ và ra về. Ðến ngày
hội, đám con ông lão cũng có mặt. Chúng ăn mặt sang
trọng, đeo đầy đồ trang sức và được ngồi ghế danh dự
giữa cuộc họp. Thật là một cơ hội hiếm có.
Ông lão len vào giữa hội nghị, vái chào mọi người thưa:
-
Tôi muốn đọc một bài thơ, xin quý vị cho phép.
Sau
bữa tiệc no say mọi người đều hoan hỷ, tưởng ông lão
định ngâm thơ giúp vui nên họ liền đồng ý:
-
Cứ đọc đi, ông già!
Ông
lão đứng giữa đám đông, đọc lớn bài thơ đã học.
Giọng đọc khàn khàn cùng hình dung tiều tụy của ông khiến
ai cũng xúc động và phẫn nộ.
Sau
khi tìm hiểu rõ tự sự, chiếu theo luật pháp hiện hành,
những đứa con được thừa hưởng gia tài mà không phụng
dưỡng cha mẹ đều bị tuyên án tử hình. Hội chúng
đồng ý xử tử bốn thằng con bất hiếu. Lũ con ông
hoãng hốt, nhào đến ôm chầm chân cha, khóc rống lên:
-
Cha ơi! Cứu con với!
Tấm
lòng người cha mềm lại, ông lão đứng ra xin bảo lãnh đám
con:
-
Xin quý tòa khoan hồng! Bầy trẻ đã hối hận. Thế
nào tụi nó cũng nuôi dưỡng tôi tử tế.
Hội
chúng hăm dọa đám con bất hảo:
-
Từ nay, chúng tôi sẽ cắt người theo dõi, nếu mấy anh không
phụng dưỡng cha già, chúng tôi sẽ thi hành pháp luật.
Ðám
con ông Bà La Môn run rẩy làm tờ tự kiểm và cam đoan sẽ
không tái phạm lần thứ hai.
Sau
buổi họp, chúng kiệu ông về nhà, tắm rửa sạch sẽ, xịt
dầu thơm, thoa phấn, đánh kem và thay y phục đẹp cho ông
lão. Xong, chúng gọi bốn bà vợ đến, quát mắng họ
và căn dặn:
-
Bà nào không săn sóc cha chu đáo thì phải ăn roi thay cơm đấy
nhé!
Các
nàng dâu vội vã làm tiệc đãi cha chồng. Sau một tuần
lễ được chăm sóc nghĩ ngơi, bồi dưỡng ông lão đã phục
hồi sức khỏe. Ngày thứ tám ông chọn một xấp vải
thật tốt, sai gia nhân thắng xe song mã đưa ông đến tinh
xá thăm Phật. Ông đặt xấp vải dưới chân đức đạo
sư và kính cẩn nói:
-
Thưa ngài Cồ Ðàm! Người Bà La Môn của chúng tôi sẽ
rất sung sướng khi một vị thầy nhận lễ vật giáo thọ.
Xin đức Cồ Ðàm kính mến, vị thầy của tôi, nhận cho món
lễ mọn này.
Ðể
giúp ông vui lòng đức Phật nhận xấp vải và hỏi han về
đời sống hiện tại của ông. Ông cụ cảm động nói:
-
Thưa ngài Cồ Ðàm! Các con tôi thường cho tôi ăn bốn
bữa mỗi ngày, tôi đã trải qua quãng đời hành khất nên
tôi đã hiểu rõ sự cơ cực thiếu thốn của nó. Từ
nay, tôi xin chia hai phần ăn cúng dường cho ngài Cồ Ðàm,
vị thầy của tôi mỗi ngày hai bữa ăn.
Trước
nhiệt tình của ông lão, đức đạo sư cảm ơn và từ chối,
viện lẽ rằng ngài có thói quen đi khất thực khắp nơi.
Ông
lão về nhà bảo con:
-
Này mấy đứa, sa môn Cồ Ðàm là bạn thân của cha, khi nào
ổng đến, tụi con phải tiếp đãi cho tử tế.
Ðám
con dạ rân, hứa sẽ y lời.
Một
hôm, nhằm ngày lễ lớn, đám con ông Bà La Môn tổ chức tiệc
tùng linh đình và hỏi ý cha:
-
Ai là khách danh dự của nhà ta?
Ông
lão dõng dạc:
-
Chỉ có sa môn Cù Ðàm thôi! Không còn ai hết…
Ðám
con liền đi thỉnh đức đạo sư đến nhà dự tiệc.
Họ khoe với ngài:
-
Thưa ngài Cồ Ðàm, chúng tôi đã biết lỗi nên chăm sóc cha
mình rất chu đáo, không dám thiếu sót. Ngài hãy nhìn
xem, ông cụ hồng hào mập mạp ra.
Ðức
Phật dạy:
-
Tốt lắm! Người khôn ngoan bao giờ cũng có hiếu với cha
mẹ. Nên kính thờ cha mẹ như vị trời Ðại Phạm.
Một người Bà La Môn nếu muốn sinh lên cõi trời thì nên
phụng dưỡng cha mẹ thay vì đốt hương dâng hoa cúng dường
thần linh. Loài súc sinh có hiếu còn được sinh thiên
nữa là loài người.
Ðám
con ông lão ngạc nhiên:
-
Thưa ngài Cồ Ðàm! Loài súc sinh mà cũng biết ơn cha
mẹ nữa ư?
Ðức
Phật bèn kể chuyện con voi Tài Hộ, dù được nhà vua thương
mến, săn sóc kỹ lưỡng, ăn ngon ở nhà đẹp mà vẫn khóc
lóc u sầu vì nhớ cha mẹ ở rừng sâu.
Câu
chuyện con voi làm mọi người đều xúc động. Biết
tâm niệm họ đã thuần thục, đức đạo sư bèn nói pháp.
Sau thời pháp mọi người hiện diện đều chứng sơ quả.
Kinh Pháp Cú còn ghi lại sự kiện này bằng một câu đơn
giản nhắc đến chuyện con voi chí hiếu: “Con voi Tài Hộ
bất trị, rơi nước mắt bỏ ăn vì nhớ mẹ ở rừng sâu.”
(PC 324)
Người
Học Trò Hư Nhất
Thomas
Edison là một nhà kỹ thuật nổi tiếng của Hoa Kỳ hồi đầu
thế kỷ thứ 20. Người ta kể rằng số lượng những
phát minh sáng chế của ông nhiều đến nỗi, chỉ riêng những
vết chân ông đi từ nhà đến phòng cấp bằng phát minh cũng
đủ làm mòn cỏ để tạo nên một con đường rồi.
Khi
Edison phát minh ra chiếc máy ghi âm đầu tiên cho nhân loại,
ông được tổng thống Mỹ mời đến tòa bạch cung để làm
quen. Tổng thống rất hài lòng và kính trọng nhà phát
minh nên sau khi nghe máy hát, tổng thống hỏi:
-
Ông đã tốt nghiệp kỹ sư ở nước ta hay ở Âu châu?
Nhà
phát minh thời danh mỉm cười, rút ví lấy ra một mảnh giấy
đã ố vàng, nói:
-
Thưa tổng thống, đây là bằng cấp của tôi.
Tổng
thống Hayes cầm mảnh giấy đọc và không giấu được vẻ
bất bình. Ðọc xong, ông có dáng sững sờ. Cả
cử tọa đều ngạc nhiên. Một vị bộ trưởng lấy
mảnh giấy và đọc to lên:
-
“… Trò Thomas, con trai ông là một học sinh dốt lười và
hư, hỗn láo. Nếu còn giữ trò lại trường e rằng hương
thơm mà lâu nay trường chúng tôi vẫn có vinh dự được mang,
sẽ bị thương tổn. Tốt nhất là ông nên cho trò này
đi chăn lợn thì hơn vì chúng tôi nhận thấy rằng, dù trò
có mất công đi học thì sau này cũng không làm nên trò trống
gì cả.”
Dưới
bức thư là chữ ký và con dấu của ông hiệu trưởng trường
tiểu học Po. Burôn.
Tổng
thống Hayes quyết định chuộc lại lỗi lầm của ông hiệu
trưởng đối với nhà kỷ thuật thiên tài bằng cách ký sắc
lệnh đổi tên các trường tiểu học ở Po. Burôn thành trường
tiểu học Thomas Edison.
Em
thân mến!
Sự
giáo dục mà Edison nhận được do nhà trường truyền trao
thật là ngắn ngủi. Chưa qua khỏi cấp một thì đã
bị cấp bằng…. đuổi học nhưng, thời hàn vi gian khổ,
cuộc phấn đấu, tranh sống không ngừng nơi trường đời
đã giúp cậu bé xui xẻo ấy thành một thiên tài kỹ thuật
với hơn hai ngàn mảnh bằng về sáng chế và phát minh.
Những
kiến thức kinh nghiệm mà chúng ta nhận được do nhà trường
trao thật ít oi và thiếu xót, so với sự phong phú và đa dạng
của cuộc sống. Người ta, thầy bạn, người chung quanh
có thể đánh giá em một cách hời hợt như ông hiệu trưởng
trường tiểu học Po Burôn đã đánh giá Edison. Nhưng
nếu riêng em, em biết tự đánh giá mình như cậu bé Edison,
điều này không phải là tự cao ngã mạn, mà chính là
tự tin đó em ạ.
Trong
nhà thiền, đi gieo rắc cho mọi người có niềm tin rằng họ
có thể thành Phật, được xem là một công tác cực kỳ trọng
đại và khẩn cấp, người làm việc này được gọi là sứ
giả Như Lai hay Bồ Tát Thường Bất Khinh. Phải gọi
là khẩn cấp vì các nhà bác học đều bắt đầu từ những
cậu học trò nhỏ bé, cũng như các đức Phật đều khởi
nguyên từ một chúng sanh vậy. Không tội nào lớn bằng
tội giết chết một đức Phật, một thiền sư Nhật Bản
có bảo rằng:
“Ai
phủ nhận sự giác ngộ của một người, kẻ ấy giết chết
một vị Phật tương lai.”
Kể
lại câu chuyện này, tôi chỉ muốn nhắn nhủ em rằng, sự
tin tưởng của thế nhân đặt và mình không bằng niềm
tin của chính mình. Xin chúc em, người bạn đồng hành
bé bỏng của tôi, có được niềm tự tin vững chắc như
Thomas Edison vậy.
Sự
Khiêm Tốn Của Một Thiên Tài
Mặc
dù được giới khoa học tôn xưng là một trong những người
vĩ đại nhất thế giới, nhưng mà nhà bác học Einstein vẫn
rất khiêm tốn. Một lần, cậu con trai lên 9 của ông
phỏng vấn:
-
Vì sao bố được nổi tiếng như thế?
Einstein
giải thích:
-
Một con ruồi bò trên mặt của quả địa cầu nhưng nó không
biết được rằng nó đang bò trên một đường cong.
Còn bố, bố may mắn hơn nó là bố biết được điều đó.
Nhờ thế mà bố nổi tiếng con ạ!
Lần
khác, một nhà báo phỏng vấn, đề nghị ông hãy cho biết
nhờ đâu mà ông tìm ra được học thuyết tương đối.
Nhà bác học đáp:
-
Mọi người được may mắn hơn tôi là hiểu rõ thời gian
và không gian ngay từ thuở bé. Riêng tôi thì do trí khôn
ngoan chậm phát triển nên đến lúc lớn rồi mà tôi vẫn
chưa hiểu thế nào là không gian và thời gian. Vì vậy
tôi phải gắng công tìm hiểu và tình cờ đi đến thuyết
tương đối.
Bữa
nọ có người hỏi ông rằng:
-
Thưa bác học, những tư tưởng vĩ đại thường nẩy sinh
trong đầu óc ngài vào lúc nào trong ngày ạ?
Einstein
mỉm cười:
-
Suốt cả đời, tôi chỉ may mắn có được một tư tưởng
tạm dùng được là thuyết tương đối, còn hầu hết đều
là những ý tưởng tủn mủn.
Người
ta kể rằng, khi đến nhận chức giáo sư tại trường đại
học Prinxtôn (Mỹ), Einstein bảo người tùy phái hãy mang vào
phòng cho ông một cái sọt rác to nhất. Trước sự ngạc
nhiên của người tùy phái, ông giải thích:
-
Tôi cần nó để đựng giấy loại vì tôi thường hay mắc
phải sai lầm.
Em
thân mến!
Phải
may mắn lắm mới được làm một thiên tài nhưng quên cái
thiên tài của mình đi thì sự may mắn ấy được trọn vẹn.
Ðó là trường hợp của Albert Einstein.
Danh
Và Thực
Ðại
văn hào Lép Tônxtôi (1828-1910) một hôm gởi tác phẩm của
mình đến một tạp chí, nhà văn không ký bút hiệu thường
dùng, mà lại lấy tên là “nông dân Xê-Mi-Ô-Nốp”.
Ban biên tập hẹn cụ già đến tòa soạn. Một biên tập
viên trả lại bản thảo cho cụ với lời nhận định:
-
Chúng tôi đã đọc kỹ tác phẩm của cụ. Nói chung cụ
có nhiều cố gắng nhưng tiếc rằng nó còn rất yếu, thực
khó mà đăng được….
Anh
chàng bỗng đỏ mặt, nín ngang khi thấy mình đang phê bình
một đại văn hào mà cả nước đều kính mộ.
Em
thân mến!
Thấy
mặt không bằng nghe danh là thế! May mà cụ già nông
dân Xê-Mi-Ô-Nốp còn có thêm một cái tên thời danh là Lép
Tônxtôi nên chúng ta mới đọc được câu chuyện này, chứ
không thì tác phẩm của Xê-Mi-Ô-Nốp sẽ bị quẳng vào sọt
rác… Cái nhãn hiệu trên một món hàng đôi khi lại quan trọng
hơn chính sản phẩm. Chả trách chi mà thiên hạ hay bán
đồ dỏm và đồ dỏm bao giờ cũng đắt và bán chạy hơn
là đồ thật vì cái nhãn báo đời của nó. Chúng ta
tính sao đây?
Tướng
Tự Tâm Sinh
Ngày
xửa ngày xưa, có một cô gái nghèo, mồ côi cha mẹ phải
đi ở mướn cho người.
Hôm
nọ, đi gánh nước ở bờ giếng, cô gặp một cụ già xin
cơm ăn. Cô liền trao cho cụ phần cơm sáng của mình.
Ngờ đâu, cụ già ấy chính là bụt hóa thân để thử lòng
cô. Thấy cô tốt nết, bụt ban cho cô mấy giọt sương
đọng trên đầu cỏ, bảo uống đi thì sẽ thành tựu điều
mơ ước tốt đẹp nhất. Cô gái y lời và hóa thành
một cô gái xinh xắn dễ coi, ai thấy cũng đem lòng thương
mến.
Khi
cô trở về nhà, chủ cô vô cùng kinh ngạc. Sau khi gạn
rõ duyên cớ, họ vội vã quảy thùng ra giếng, hy vọng sẽ
gặp may như cô.
Ông
lão ăn xin, hóa thân của bụt vẫn còn đó. Mọi việc
đã lập lại như một vở kịch được tập dợt sẵn.
Bụt cũng trao mấy giọt sương mầu nhiệm cùng lời chúc lành
cho họ rồi biến mất sau một đám mây lành.
Sau
khi uống xong mấy giọt sương, chủ nhân cô gái bỗng thấy
ngứa ngáy khắp người. Phép mầu nhiệm vẫn còn hiệu
dụng nhưng tánh tình xấu xa của các ông chủ ích kỷ khiến
họ biến thành các sinh vật khó coi, ai thấy cũng kinh tởm.
Họ xấu hổ trốn biệt vào rừng và thành thủy tổ của
loài khỉ, con cháu họ vẫn còn nhăn nhó cho tới ngày nay.
Truyện
cổ Việt Nam
Nếu
gặp bậc hiền minh
Chỉ
lỗi và khiển trách
Hãy
cung kính khép mình
Như
được gặp kho tàng
Thân
cận bậc hiền trí
Bảo
đảm được tốt lành
PC 76
Con
đường đến niết bàn
Ngược
nẻo đường thế lợi
Tỳ
kheo đã biết rõ
Hãy
tu hạnh từ bỏ…
PC 75
Con
tôi, tài sản tôi
Người
ngu thường nghĩ vậy
Thân
này còn không có
Con
của từ đâu ra.
PC 62
Ý
Kiến Thống Nhất
Hôm
nọ, đức vua Akba tranh luận cùng một nhà hiền triết.
Nhà hiền triết bảo:
-
Muôn tâu! Giữa hàng trăm nghìn con người dị biệt, ta vẫn
có thể tìm ra một ý kiến thống nhất.
Ðức
vua không chấp nhận điều ấy và phải làm một cuộc trắc
nghiệm theo lời đề nghị của nhà hiền triết.
Nhà
vua cho đặt một cái bể chứa trước cung điện, trên chiếc
bể được phủ một tấm vải trắng mỏng rồi truyền lệnh
cho hết thảy thần dân trong kinh thành, mỗi người phải đổ
một lít sữa vào bể trong đêm tối.
Nhận
được lệnh ấy, các thần dân yêu quý của đức vua đều
nghĩ bụng:
-
Trong đêm nay có đến hàng khối người mang sửa đổ vào
bể, mình có trút vào đấy một lít nước lã cũng chẳng
ai biết!
Sáng
hôm sau, đức vua cùng nhà hiền triết đến thăm chiếc bể.
Sau khi lật tấm vải trắng lên, họ thấy bể chứa đầy
nước lã. Ðức vua nhìn đăm đăm vào làn nước trong
leo lẻo, gật gù:
-
Khanh nói đúng, có khi hàng trăm hàng nghìn người lại suy
nghĩ và hành động hệt nhau.
Em
thân mến!
Thông
thường, loài người chúng ta, do các môi trường sinh hoạt
khác nhau, sự học tập, đào luyện đã khiến ta có những
lề lối suy nghĩ nói năng theo kiểu “chính người mười
ý.” Nhưng cũng lắm khi, ý kiến của chúng ta lại gặp
nhau. Ðó là lúc chúng ta hành động để bảo vệ cái
bản ngã và ngã sở của mình trong lúc tối lửa tắt đèn
như câu chuyện trên đây vậy.
Dựa
vào những điểm thống nhất này, các luận sư Phật giáo
đã lập ra bộ môn Duy Thức học để giúp các hành giả theo
dõi, quán sát và thấu đáo rõ đường đi lối về của tâm
thức đó em!
Quan
sát, theo dõi và thấu đáo rõ ràng các hoạt dụng của tâm
thức là một việc khó khăn nhưng không kém phần kỳ thú.
Thật là ngỡ ngàng biết bao khi ta bắt gặp những con thú
dữ đội lốt thánh thần trong khu rừng âm u của nội tâm.
Ðó là một cuộc dạo chơi hoàn toàn không thể biết trước
và đoán trước…, một nghệ thuật hơn là một kỷ thuật
để truyền trao. Các thiền sư được ấn tâm đều là
những bậc thầy cự phách trong bộ môn nghệ thuật này vậy.
Ba
Con Búp Bê
Ngày
xưa, có một đức vua. Ðể thử tài của đình thần,
nhà vua cho làm ba con búp bê bằng vàng giống hệt nhau về
hình dáng, kích thước cũng như trọng lượng.
Ðức
vua truyền lệnh rằng, giá trị của ba con búp bê hoàn toàn
khác nhau: một con rẻ, một con đắt và một con rất đắt.
Rồi ngài trao giải thưởng cho ai tìm ra nguyên do sự khác
biệt đó.
Sau
một thời gian dài tìm kiếm, các quan đều bó tay và nhà vua
của họ nổi giận lôi đình về sự kiện này. Túng
thế đình thần cho treo bảng cầu hiền. Nhiều người
gỡ bảng nhưng không ai tìm ra manh mối.
Cho
đến một hôm, quan tể tướng gặp một chàng thanh niên khố
rách áo ôm đến xin thử thời vận.
Chàng
trai trầm ngâm quan sát ba con búp bê khá lâu. Thấy ở
mỗi tai con búp bê đều có dùi một lỗ nhỏ, chàng lấy rơm
đút vào tai chúng và thấy có những sự khác biệt lạ lùng:
Ở
con búp bê thứ nhất, cọng rơm xuyên vào tai và chui qua mồn.
Ở
con thứ hai, cuống rơm xuyên tai này liền chui qua tai kia
Nơi
con thứ ba, cuống rơm chui vào tai liền tụt xuống bụng và
nằm sâu ở đó.
Chàng
trai liền giải đáp:
-
Thưa tể tướng, ba con búp bê này giống hệt như người.
Con thứ nhất là kẻ bộp chộp, giống kẻ vừa nghe đã nói,
việc gì qua tai cũng tuôn cả ra miệng. Ðây là hạng
không thể tin cậy được, nên dù có làm bằng vàng ròng đi
nữa, giá của nó cũng rẻ rề. Con búp bê thứ hai giống
kẻ vô tâm chễnh mãng, nghe tai này lọt qua tai kia mất.
Hạng này khó mà học hành hay thu tiếp thu điều hay lẽ phải.
Con thứ ba giống như người nghe xong để trong lòng. Hạng
này kín đáo thâm trầm có thể tin cậy được… nên giá
của nó phải cao nhất.
Chàng
trai này là người duy nhất trúng giải.
Cái
Chết Của Chim Ưng
Thuở
xưa, có một con chim ưng được nhà vua nuôi dưỡng và yêu
mến, thường mang theo trong những cuộc đi săn. Ðáp lại,
chim cũng hết mực trung thành với đức vua.
Bữa
nọ, trong một cuộc săn, vua bị lạc vào rừng, chỉ có một
người một ngựa và chú chim ưng thân tín. Vua khát nước
đến lả người, đi mãi mới tìm được một mạch nước
nhỏ, rỉ ra từ kẽ đá của vách núi. Ðức vua mừng
rỡ, hái lá rừng để làm bát hứng nước uống. Chờ
đợi hồi lâu, nước mới rỉ được lưng lửng bát, vua mới
dợm lên miệng uống thì chim ưng đã dùng cánh hất đổ.
Vua nén giận, kiên nhẫn hứng thêm bát nữa. Ðợi nước
đầy miệng chén, chim lại hất đổ sạch. Nhà vua điên
tiết, quật chim vào vách đá chết tươi.
Vào
lúc đó, đội ngự lâm quân phi ngựa đến. Nhà vua đòi
nước uống, một tên thị vệ liền dâng nước cho vua nhưng
ngài gại đi, bảo:
-
Ta muốn uống nước lạnh rỉ ra từ khe đá kia. Ngươi
hãy trèo lên vách núi, múc cho ta bát nước đầu nguồn chứ
ta không thể đợi cho nó rỏ từng giọt như thế được.
Gã
thị vệ vâng lời, trèo lên vách đá, tìm đến nguồn nước
và thấy một cảnh đáng kinh hãi: giữa bể nước trong veo,
một con rắn độc nằm chết ngay đó. Dòng nước đã
hòa nọc độc của con rắn rỉ dần qua kẻ đá.
Biết
được cội nguồn, đức vua ôm xác con chim ưng mà nhỏ lệ
đầm đìa.
Em
thân mến!
Có
một người bạn cận thị, tức là không thể nhìn rõ được
những vật ở xa, như đức vua trên đây thì dù họ có yêu
thương và tin cậy mình thật đó, nhưng kết cuộc đôi khi
lại bi thảm giống như cái chết của chú chim ưng trong câu
chuyện trên đây vậy.
Chim
Sẻ Mái
Thuở
xưa, có đôi chim sẻ đang đậu giữa đường. Nhác thấy
một người khoác áo tu sĩ đang đi đến, chim sẻ mái bảo
chồng:
-
Kìa mình! Có người đang đi đến, chúng ta hãy bay lên
cây kẻo hắn bắt nạt thì khốn.
Chim
sẻ trống cười lớn:
-
Má nó khéo lo! Ðó là một tu sĩ khả kính chớ nào có
phải bọn phàm phu tục tử đâu mà sợ. Ngài đã không
che chở cho mình thì thôi chớ khi nào nỡ làm hại…
Chim
mái không đợi chồng nói hết câu, bay vụt lên cây.
Chim trống thản nhiên tiếp tục nhặt thóc Gã tu sĩ xuất
hiện, nhặt một hòn đá ném chim trống. Chim bị thương
bay loạng choạng theo vợ.
Chim
mái săn sóc vết thương cho chồng xong trách:
-
Em đã bảo mà mình không nghe. Ðấy! Ðáng kính với che
chở. May mà chưa vặt trụi lông mình.
Chim
trống thở dài:
-
Biết thế nào được! Chiếc áo không làm nên nhà tu.
Thôi, bu nó đừng có nhiếc anh nữa. Mía sâu có đốt,
nhà dột có nơi, cũng có kẻ tu hành đàng hoàng chứ không
phải ai cũng như tên giả hiệu kia đâu, bu nó ạ!
Sẻ
mái nguýt chồng:
-
Hừ! Bọn tu sĩ ngoan đạo đó có làm ích lợi gì cho
mình đâu nào! Có rước họ đến nhà, dâng cơm hầu
nước...họ cũng chỉ ăn căng bụng xong là ngồi mơ tưởng
đến thần đến thánh, nào có đếm xỉa gì đến gia chủ
đâu. Thứ cái ngữ ưa ai thì đem làm vua, ghét ai thì
đem thiêu sống ấy mà mình còn để mắt tới họ làm gì
nữa?
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên đây được trích từ tập truyện cổ Ấn Ðộ,
do nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội ấn hành năm 1985.
Ðó là một câu chuyện được những người đồng hương
với đức Phật lưu truyền trong nhân gian, nhằm chỉ trích
thái độ xấu xa và vô công rỗi nghề của hàng tu sĩ.
Ghi
lại câu chuyện này vào đây, tôi không có ý muốn đưa lên
một lời bào chữa hay biện minh gì về màu áo do tu sĩ mà
tôi và em đang khoác. Tôi chỉ muốn gợi ý cho em biết
tại sao có sự xuất hiện của Phật giáo Ðại thừa cùng
phương châm. “Thượng cầu bồ đề, hạ hóa chúng sanh.”
Nghĩa là, người tu sĩ Phật giáo trên không bao giờ bỏ lý
tưởng giác ngộ nhưng trong nếp sinh hoạt thường nhật, lấy
việc giúp đỡ và phụng sự chúng sanh, giúp đỡ những chúng
sanh cơ cực lầm than đang chung sống với mình tức là cúng
dường chư Phật rồi vậy.
Các
sứ giả thường có thái độ xem Phật giáo Ðại thừa như
là một cái gì sản sinh ra do sự pha trộn của các dị giáo
Ấn về sau mà quên rằng đức Phật, vị thủy tổ của Phật
giáo là một người thực hành phương châm ấy hơn ai hết.
Suốt cuộc đời ngài, trong 49 năm đăng đẳng, với ba tấm
áo chấp vá mong manh và một bình bát ăn xin, đấng giác ngộ
có nguồn gốc vương giả đó đã bôn ba khắp hang cùng ngõ
hẻm, kêu gọi con người xóa bỏ những giai cấp phân chia
giả tạo, sớt cơm chia áo, nhìn nhau với cặp mắt ái
kính, trước mặt cũng như sau lưng...
Ðức
Phật đã thành công trong vai trò làm vị sứ giả hòa bình
của nhân loại. Riêng phần chúng ta, tôi và em, không
nên làm chim sẻ mái thất vọng bằng những lời hứa hẹn
hay lý luận suông, trong hiện tại, ngoài việc đừng đóng
góp vào thế giới điên đảo này bằng những vọng tưởng
rối nùi, đục ngầu ngã kiến, ngã dục, ngã chấp v.v... chúng
ta còn phải thay một bộ đồ công tác lành lặn, vác lên
vai, vừa đi ra đồng, vừa hát:
“Một
ngày không làm, một ngày không ăn” vậy.
Dê
Hóa Chó
Thuở
xưa, có một tu sĩ Bà La Môn ra chợ mua dê về tế thần.
Nhìn con dê béo tốt, một bọn lưu manh rắp tâm đánh cắp.
Sau một hồi bàn tính, một tên bước ra, giả bộ ngạc nhiên
hỏi ông Bà La Môn:
-
Ủa, sao ngài cõng chó lên lưng mà đi như thế kia? Nó
bị đau chân hả?
Tu
sĩ nổi cáu quát:
-
Mắt với mũi, dê mà mi dám bảo là chó à?
Tên
lưu manh bỏ đi sau cái nhún vai bất cần. Chập sao, một
tên khác lại chận đường hỏi tu sĩ:
-
Thưa ông Bà La Môn, chó là một con vật khả ố, sao ông lại
để nước miếng nó dây vào người thế kia?
Tu
sĩ cãi:
-
Này cậu, đây là dê chớ không phải là chó.
Gã
lưu manh lắc đầu, mỉm cười bỏ đi. Ông Bà La Môn
bắt đầu nao núng, đặt con dê xuống đất buộc vào cổ
nó rồi kéo đi. Tên lưu manh thứ ba bước đến hỏi:
-
Thưa ngài, chắc ngài chuẩn bị dắt chó đi săn?
Vị
tu sĩ cãi:
-
Ðây là con dê mà!
Gã
lưu manh bỏ đi sau một chuỗi cười dòn dã. Ông Bà La
Môn ngơ ngẩn đứng dụi mắt hồi lâu vẫn nom thấy rõ ràng
là mình đang dắt một con dê.
Tên
lưu manh thứ tư lại đến, chào ông và hỏi:
-
Ngài mua con chó này giá bao nhiêu thế?
Vị
tu sĩ vô cùng hoang mang nghĩ bụng:
-
Có lẽ đây là con chó thật. Tên lái buôn phù thủy đã
làm mù mắt ta. Một vị Bà La Môn cao cả như ta mà dắt
chó đi thì còn ra cái thể thống gì.
Ông
bèn quăng dây, thả rong con dê và bương bả đi tìm gã lái
buôn để ăn thua đủ. Gặp cơ hội bằng vàng, bọn lưu
manh tóm lấy con dê và chuồn mất.
Em
thân mến!
Sự
giả dối được lập đi lập lại nhiều lần lại hóa thật.
Ông Bà La Môn trên đây bị lừa mất con dê là tại vì “quý
lỗ tai mà khinh con mắt.” Mà nào có mỗi mình ông ta
đâu! Tôi và em cùng tất cả những ai trên thế gian này
đều bị lừa, tự lừa và lừa gạt lẫn nhau cả.
Từ
cái “bản lai vô ngã,” nghĩa là trong những lúc ở một
mình, quán chiếu lại mình, ta thấy rõ ràng, thân và tâm ta
đều là những tổ hợp nhân duyên tạm bợ, rất đỗi mong
manh và vô thường. Không có cái gì là ta, thường tồn,
bất biến… vậy mà, vừa gặp mặt nhau, chúng ta đã tay bắt
mặt mừng:
-
Ồ, sao lúc này bạn đẹp ra thế? Trẻ hơn lúc trước
nhiều (trong khi sự thật thì càng ngày càng già càng xấu
thì có!)
Có
lẽ vì thế mà kinh điển thường ca tụng chữ TÍN: “Tín
là cội nguồn và đạo, là cha mẹ chư Phật!” Tín đây
là niềm tin vững chắc nơi mình, không bị những trò giả
dối của trần cảnh lường gạt đến độ “thấy dê hóa
chó” đó em ạ!
Nghiệp
ác chưa thuần thục
Người
ngu tưởng ngọt ngon
Nghiệp
ác đã thuần thục
Người
ngu chịu khổ sầu.
PC 69
Lòng
Mẹ
Thuở
xưa, có một bà mẹ bồng con ra sông tắm. Tắm xong, chị
đặt nó ngồi dưới bóng cây, choàng khăn cẩn thận rồi
mới xuống bến sông giặt giũ.
Một
người đàn bà hiếm hoi đi ngang qua, bế lấy đứa bé đi
thẳng. Người mẹ mất con, cuống quít đuổi theo, bắt
kịp, nhưng chị đàn bà kia trở mặt bảo đứa bé là con
của y và nhất định giữ lấy. Vì vậy, nội vụ được
đưa lên quan.
Quan
vạch một đường dưới đất, đặt đứa bé ngồi ở giữa
rồi ra lệnh cho hai bà mẹ, mỗi người nắm lấy một tay
đứa bé:
-
Ai kéo được đứa bé về phía mình, người ấy có quyền
giữ lấy nó.
Hai
chị đàn bà y lời, thi nhau kéo. Ðứa bé đau quá khóc
thét lên, người mẹ ruột thương con buông tay và ôm mặt
khóc. Quan phân xử:
-
Chị kia kéo được đứa bé về phía mình nhưng lòng chị
không có sự bi mẫn, đích thị không phải là mẹ ruột của
nó rồi. Chị này thương con, không nỡ làm nó đau, mới
thật là mẹ nó.
Người
mẹ lau nước mắt, bế con vào lòng.
Em
thân mến!
Một
bà mẹ, không phải do nhan sắc, quyền uy, tài sản hay chức
tước có thể tạo thành, mà chính là tấm lòng đối với
đứa con.
Cũng
thế, một bậc giác ngộ không phải chỉ do hình dáng bên
ngoài, công phu tu luyện, sự cung kính của người khác đối
với ngài, mà chính là tấm lòng từ bi, yêu thương đối với
tha nhân. Do đó mà trong kinh thường nhắc nhở chúng ta
rằng, lòng yêu thương của đức Phật đối với chúng sanh
hệt như tấm lòng bi mẫn. Có khác chăng là một bậc
giác ngộ yêu thương hết thảy chúng sinh bất kể thân sơ,
vì các ngài không còn cái tính chấp về ta và của ta nữa.
Một bậc giác ngộ mà không có tấm lòng bi mẫn đối với
chúng sinh thì chỉ được gọi là độc giác mà thôi.
Như
người đang hái hoa
Lòng
say đắm lạc thú
Bị
tử thần lôi xa
Như
lụt trôi làng ngữ.
PC 47
Tại
Ai
Xưa,
có một nhà tu, trên đường hành đạo, ông gặp một khách
bộ hành có dáng điệu dị thường. Ông chăm chú nhìn
và hỏi y:
-
Ngươi là ai?
Người
ấy đáp:
-
Quỷ sa tăng.
Nhà
tu cau mặt:
-
A, chính ra mi là tên khốn khiếp chuyên làm những điều đốn
mạt trên thế gian này đó à?
Con
quỷ mỉm cười:
-
Ai cũng nghĩ như thế, nhưng thật ra, tôi chính là người nhận
chịu tất cả tội lỗi mà thế nhân gây ra rồi đổ cho tôi.
Nếu ngài không tin, chúng ta hãy làm một cuộc thí nghiệm
vậy.
Tu
sĩ bằng lòng. Sa tăng bèn vào tiệm mua một ít mật,
phết lên cánh cửa tiệm rồi lánh sang cửa hàng đối diện.
Ngay
tức khắc, một bầy ruồi kéo đến bu kín cả cánh cửa.
Vài chú nhện vội sà xuống bắt ruồi và một con chim leo
xuống bắt nhện.
Vừa
hay, một viên quan đi săn cỡi ngựa đi ngang, tay cầm một
con chim ưng. Chim ưng liền bay ra, liệng cánh định bắt
chú chim nhỏ. Chủ quán thấy chim ưng, ngỡ là diều hâu,
sợ nó hại đàn gà của mình, liền chộp lấy quả cân, ném
chết chim. Viên quan nổi giận, quất roi vào người chủ
quán. Ðám con chủ quán bênh cha, đánh viên quan bị trọng
thương, bọn tuần dinh liền bao vây cuộc ẩu đả…
Quỷ
sa tăng bèn bảo nhà tu:
-
Thế ngài đã rõ rồi chứ? Tôi chỉ là kẻ phết mật
lên cánh cửa, còn tất cả chuyện khác là do con người gây
ra. Bao giờ cũng vậy, hễ gây nên một lỗi lầm là loài
người của ngài liền đổ lỗi cho tôi.
Kẻ
thù hại kẻ thù
Oan
gia hại oan gia
Không
bằng tâm niệm tà
Gây
hại cho tự nhân
Ðười
Ươi
Xưa,
có một anh chàng kết bạn với đười ươi và rủ nó về
nhà chơi. Gặp khi trời lạnh, anh chàng nọ cóng cả tay
chân nên không ngớt đưa tay lên miệng hà hơi để sưởi
cho ấm. Ðười ươi thấy lạ hỏi:
-
Anh thổi thế để làm gì?
-
Tôi hà hơi cho ấm.
Chập
sau, anh chàng pha chè đãi khách. Chè nóng quá, anh ta lại
phải nâng tách lên thổi cho nguội bớt. Ðười ươi
lại hỏi:
-
Anh thổi thế để làm gì?
-
Ðể cho nước nguội bớt.
Ðười
ươi nổi giận:
-
Sao mà anh tráo trở thế! Anh vừa lấy mồm thổi cái
lạnh cho nóng, giờ lại lấy mồm thổi cái nóng cho lạnh.
Tôi không thể nào tin hạng người nói láo như anh.
Em
thân mến!
Ðây
là một câu chuyện cổ Ấn Ðộ. Dĩ nhiên là trên thực
tế, không có ai kết bạn với đười ươi và cũng không có
con đười ươi nào biết nói tiếng người cả. Tác giả
chỉ muốn mượn hình ảnh của đười ươi ám chỉ cho chúng
ta thấy hạng người ngu xuẩn mà lại tưởng mình khôn ngoan,
biết một nhưng chẳng biết hai. Hạng này trong kinh điển
gọi là bị “sở tri chướng” đó, em ạ!
Tri
Âm
Bá
Thúc Nha, người tự cho mình là một danh cầm, thường than
thở rằng chưa có ai hiểu được tiếng đàn của mình.
Cho đến một hôm, khi có việc đi sứ, xuôi thuyền trên sông,
ông gặp được Chung Tử Kỳ, người đầu tiên hiểu được
những gì mà Bá Thúc Nha muốn diễn tả qua tiếng đàn.
Ông bèn kết bạn tri âm với Tử Kỳ và hứa sẽ gặp lại
chàng ở chuyến về.
Việc
sứ xong xuôi, Bá Nha quay thuyền tìm Tử Kỳ thì chàng không
còn nữa. Bên nấm mộ còn thơm mùi đất mới, Bá Nha
ôm đàn gảy khúc cuối cùng rồi đập vỡ cây đàn, thề
không bao giờ gảy nữa vì người bạn tri âm duy nhất của
ông đã mất rồi.
Câu
chuyện giữa hai người được truyền tụng mãi về sau:
Em
thân mến!
Chúng
ta đã được nghe giai thoại trên từ những năm mới vào học
cấp II. Nhưng ở đây, tôi không có cốt ghi lại
câu chuyện tình đẹp của hai người bạn trong cổ sử Trung
Hoa, tôi chỉ muốn hỏi nhỏ em, cũng là tự vấn lòng mình
rằng: nếu chúng ta có tài thật sự thì tiếng đàn của ta
sẽ làm rung cảm được người chung quanh. Bằng không
với tài năng quá khiêm tốn của mình, ta không tìm được
đôi tai nào vừa ý để thấu rõ âm thanh chói tai của ta.
Cho đến một ngày nào đó, kẻ “tri âm” chính là người
nhận ra tán tụng và thưởng thức cái nghệ thuật, tài năng
mà ta chưa hề có… thì coi chừng khách tri âm ấy chỉ là
một kẻ xiểm nịnh mà thôi. Hay nói như một tư tưởng
gia Tây phương: “Tên ngu nhất, thế nào cũng tìm ra một tên
đần độn hơn để tán tụng nó.” Em nghĩ sao đây?
Ngờ
đâu thiên tài nhất thời
Hèn
lâu mới gặp được người tri âm
So
dây nắn phím âm thầm
Ngờ
đâu người điếc tự năm tháng nào!
Kiếm
Sư Munenori
Kiếm
sư Yayu Taijima-no-Kami Munenori là một tay kiếm lừng danh của
Nhật Bản, ông cũng là một đệ tử của thiền sư Trạch
Am (Tabwan).
Hôm
nọ Munenori đi dạo hoa viên với một tên biểu đồng theo
hầu, đang trầm ngâm nhìn hoa đào nở, kiếm sư bỗng quay
phắt người lại, đảo mắt nhìn quanh với vẻ tìm kiếm.
Quan
sát hồi lâu, không thấy gì, kiếm sư bỏ về phòng riêng
và bỏ luôn buổi ăn trưa thường nhật.
Môn
đồ Munenori thấy lạ, lên vấn an thầy và hỏi duyên cớ
vì sao ông cỏ cơm trưa. Monenori đáp:
-
Ban sáng, lúc đi dạo vườn, thầy bắt gặp một cảm xúc:
có người sắp đâm lén mình. Thầy chưa bao giờ lầm
về những linh cảm này. Vậy mà, cho đến bây giờ, thầy
vẫn chưa tìm ra hung thủ. Vì thế thầy bỏ cơm.
Các
môn đệ bối rối nhìn nhau, riêng tên tiểu đồng theo hầu
Munenori lúc sáng thì tái mặt, bước ra thưa:
-
Bạch sư phụ, tên vô lại ấy chính là con. Lúc đi theo
hầu sư phụ, con khởi lên ý tưởng rằng: “Dù cho thầy
là một kiếm sư lừng danh đi nữa, nhưng chắc ổng không
thể nào đỡ nổi những nhát kiếm đâm lén từ sau lưng được…”
Con đã nghĩ như vậy, xin sư phụ tha tội cho con!
Munenori
cười ha hả:
-
Ðáp số đã tìm ra rồi, các con hãy dọn cơm cho thầy dùng
nhanh lên.
Em
thân mến!
Một
kiếm sư lỗi lạc không cần lúc nào cũng lăm lăm cây kiến
trong tay, vừa múa, vừa la, mặt mũi oai phong lẫm liệt như
những kịch sĩ mà ta thường thấy trên sân khấu… Rất có
thể, vị ấy không còn dùng đến kiếm nữa nhưng vẫn đỡ
được bất cứ đường gươm nào, trước mặt hoặc sau lưng.
Hay tuyệt diệu hơn, như kiếm sư trên đây, khám phá ra những
đường gươm của đối phương từ khi chúng hãy còn trong
tâm tưởng.
Cũng
thế, một thiền sư cự phách không phải lúc nào cũng kè
kè bồ đoàn tọa cụ một bên, miệng lải nhải các thiền
ngữ hoặc lắp ba lắp bắp về thiền về đạo... mà phải
là một con người tự tại trước bát phong, ung dung đón bất
cứ thuận hay nghịch cảnh từ mọi phía… Và cũng như kiếm
sư Munenori, các ngài có thể khám phá ra những tên giặc ti
tiện ngay lúc chúng mới manh nha trong tâm thức, như lời một
thiền sư bảo:
“Quan
bất dung châm,
Tư
thông xa mã.”
Nghĩa
là, hành giả sẽ kiểm soát tâm mình thật miên mật như một
nhân viên thuế vụ, một cây kim không thể lọt qua cửa nữa
là xe ngựa rộn ràng, đồ sộ.
Em
có thấy như thế không?
Chúng
ta biệt ly nhau
Từ
ngàn vạn kiếp lâu
Nhưng
không hề xa cách
Dù
một giây phút nào.
Chúng
ta đối diện nhau
Hằng
ngày suốt ngày lâu
Suốt
ngày nhưng không gặp
Không
bao giờ gặp nhau.
Thiền sư Godaito
Gởi vua Daito
(1318-1338)
Ðôi
Mắt Người Giác Ngộ
Một
thuở nọ, đức đạo sư lên cung trời Ðao Lợi thuyết pháp
cho chư thiên nghe. Do oai thần của ngài và căn cơ của
chư thiên ở vùng trời này đức Phật hiện thân giống hệt
vị vua cõi Ðao Lợi để thuyết pháp hóa độ chúng thiên.
Dưới
nhân gian, mọi người đều thương nhớ đức đạo sư nên
tứ chúng đồng đề cử tôn giả Mục Liên, vị đại đệ
tử thần thông đệ nhất đi thỉnh Phật về. Tôn giả
Mục Liên nhận lời ủy thác của hội chúng, vượt qua bao
tầng trời cõi dục, đến từng tam thập tam thiên để tìm
Phật. Khi ấy đức đạo sư đang ngồi đối diện với
trời Ðế Thích. Ngài Mục Liên vận hết sức thần thông
mà vẫn không phân biệt nổi giữa hai vị vua trời giống
nhau như tạc ấy, vị nào là đấng giác ngộ. Sau cùng,
tôn giả phải quay sang vấn kế người bạn đồng hành của
mình là đức Ðại Trí Xá Lợi Phất. Tôn giả Xá Lợi
Phất bèn mách nước:
-
Này hiền hữu! Bạn hãy nhìn xem, dù hai vị Ðế Thích
trước mặt chúng ta có giống hệt nhau về nhan diện, dung
mạo, hình vóc và y phục chăng nữa... thì vẫn còn một điểm
khác biệt. Hiền hữu hãy nhìn vào đôi mắt của từng
vị một: vị Ðế Thích ngồi bên trái có đôi mắt láo liên,
luôn luôn giao động, trong khi vị bên phải, đôi mắt biểu
lộ một sự an tĩnh hồn nhiên và trong sáng, có phải thế
không nào?
Tôn
giả Mục Kiền Liên gật gù, thầm khen bạn và hai vị thánh
tăng bước đến, cung kính làm lễ thỉnh Phật giáng trần.
Em
thân mến!
Ðây
là một mẩu chuyện nhỏ mà tôi đã đọc được đâu đó
trong các bộ A Hàm thuộc hệ Bắc phạn. Ðiều lý
thú ở câu chuyện trên là chỗ giống nhau của Phật và một
chúng sinh cõi trời. Chúng ta có thể mang hình dáng, dung
mạo, màu da, tiếng nói, cung cách hệt như một đấng giác
ngộ nhưng vẫn không phải là một vị Phật chính hiệu khi
tâm ta còn bị giao động bởi tham lam, sân hận, si mê... Nếu
không nuối tiếc quá khứ thì cũng ngong ngóng về tương lai
hay đắm say quay cuồng theo trần cảnh trong hiện tại.
Dù có sung sướng như trời Ðế Thích chăng nữa, đôi mắt
vẫn láo liên, biểu lộ một trạng thái tâm thức trạo cử,
lăng xăng. Vậy thì, em đã hiểu vì sao Phật giáo lại
nhấn mạnh đến sự tĩnh lặng của tâm thức qua câu: “Không
có gì quý bằng sự an tĩnh của tâm thức” chưa!
Sự
an tĩnh đó, kinh điển Nam phương thường gọi là niết bàn,
tức sự dập tắt, nguội lạnh của các mầm móng tham sân
si... Trong khi, các kinh thuộc hệ Bắc phương gọi đó là trạng
thái vô sinh, vô niệm v.v...
Nhưng
làm thế nào để đạt được sự an tĩnh đó? Ðây là
một câu hỏi dễ nêu lên và thật khó trả lời. Cũng
giống như một kẻ nằm mơ vậy. Trong đoạn đường
vừa qua, ít nhất cũng hơn một lần tôi và em thoát khỏi
một cơn mộng dữ nên... câu hỏi này chúng ta hãy tự mình
tìm lấy lời giải đáp vậy.