THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
Mục lục 
.
HƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT
Chân Hiền Tâm 
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2006
Thay lời tựa

HƯƠNG CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT là vài mẫu chuyện nhỏ ghi lại những gì tôi đã gặp trong cuộc sống của mình liên quan đến những người đã chết.
 
Như đời sống của bao người bình thường khác, tôi cũng lớn lên giữa vòng tay của cha, mẹ, người thân cùng bạn bè, cũng không thoát khỏi những thương, ghét, khóc, cười … không tránh được phiền não và cả những thù nghịch. Song dưới ánh sáng của ĐẠO, những thứ mà ta cho là bất hạnh và ngược đãi lại là những bài học vô cùng quí giá trong cuộc đời mình. Chưa một lần như thật biết thế nào là KHỔ, bạn sẽ không bao giờ thấy được giá trị thật sự của ĐẠO. Không như thật biết thế nào là ĐẠO, bạn cũng không thể chiêm nghiệm được cái gọi là DIỆT mà dừng đi TẬP và KHỔ, là 4 chân đế ở cuộc đời này.

Ta luôn cảm thấy biết ơn khi mọi thuận lợi đến với ta nhưng lại có thái độ than trách đối với hoàn cảnh không thuận lợi. Ít ai chịu chấp nhận hay biết ơn đối với những bất hạnh mà mình gặp phải trong đời. Đó là vì ta không nắm được luật Nhân Quả đang chi phối thế gian này. Không thấy được thế giới chỉ là bóng dáng của tự tâm nên không có tâm bình thản đối với những bất hạnh mình đang gặp phải. Xấu hay tốt, đau khổ hay hạnh phúc không phải từ ngoài đưa tới mà từ trong chính mình. Thiền sư Takuan nói “Tốt và xấu không phải trong chính họ mà trong chính tôi. Khi hình ngay thì bóng không cong”. Hình ngay thì bóng không cong. Hình cong thì bóng không ngay. Đó là qui luật tất yếu ở cuộc đời này. Khi qui luật ấy sáng tỏ trong ta, sẽ không có sự than phiền hay trách cứ nào nữa. Nếu thấy được bất hạnh chồng chất chính là liều thuốc trắc nghiệm, vun bồi khả năng chịu đựng của mình và “trong vực thẳm của thất vọng vẫn có ánh sáng của châu báu”, ta sẽ luôn có lòng biết ơn đối với hoàn cảnh hiện tại dù hoàn cảnh ấy ra sao.       
  
Một nữ tu Rengetsu khi hành hương đến một ngôi chùa thì trời cũng vừa tối. Bà xin chỗ trú chân qua đêm nhưng dân làng ở đó không cho. Bà phải trú tạm ở cây anh đào ngoài đồng. Giữa khuya dưới bầu trời đêm xuân, bà tỉnh giấc và nhìn thấy hoa anh đào nở rộ cười đón ánh trăng trong làn sương mờ. Ngây ngất trước vẽ đẹp của thiên nhiên, bà đứng lên kính cẩn hướng về ngôi làng “Nhờ lòng tốt đã không cho tôi tá túc. Tôi ngồi đây, dưới những đóa hoa nở trong đêm mờ”. Khi ta có thể hài lòng với quá khứ và vui với hiện tại, thì như người nữ tu kia, ta sẽ chiêm nghiệm được cái đẹp của hoa anh đào nở rộ … 

Đó là những gì tôi muốn gởi đến các bạn trong Hương Của Người Đã Chết. 

TP.HCM ngày 20.12.2004 
Chân Hiền Tâm


 

 
Phúc đức

Gia đình tôi ở Sài Gòn nhưng dì và bác lại tận Cần Thơ. Lâu lâu dì lên thăm ngoại, chị em tôi mới có dịp ăn bánh gói lá và củ ấu đen. Củ ấu đen lạt lạt bùi bùi, cắn muốn mẽ răng nhưng nó là thứ quí giá của chị em tôi lúc đó. Thứ ấy Sài gòn không có mà bố tôi thì rất kỹ. Ông không cho gặm những thứ đen đúa mất vệ sinh. Song với dì thì ông chẳng bao giờ lên tiếng. Mỗi lần dì lên, ngoài việc được ăn những thứ linh tinh, tụi tôi còn không phải ngủ trưa. Thành mỗi lần tiễn dì về, tụi tôi cứ dặn lui dặn tới “Dì ơi! Nhớ lên mau mau, nhớ mua củ ấu cho con nữa nha”.

Ngày cưới tôi, dì bác được mời trải giường cưới. Người ta tin rằng lũ trẻ sẽ hưởng được hơi hướm của những người đi trước khi mời họ làm việc đó. Lúc đầu mẹ tôi hơi do dự vì dì không có con. Song nhìn quanh nhìn quất thì chẳng ai được đủ tiền đủ bạc, lại hạnh phúc như dì và yêu vợ như bác. Không có con, bác vẫn chỉ có mình dì. Nhờ vậy, mẹ tôi gạt phăng nỗi lo, hy vọng con gái được chồng thương yêu và đủ tiền đủ bạc. Cũng phải, đời này có gì trọn vẹn mà đòi cho nhiều. 

Không biết việc thừa hưởng hơi hướm ấy có bị qui luật nào chi phối nữa không? Chỉ biết dì không có con, còn tôi nếu không có niệm dừng nghỉ thì hai năm ba đứa cho đến ngày nhắm mắt cũng chưa ngừng.

Vừa đi chợ về thì điện thoại reo. Xa xăm đâu đó, một giọng nói xa lạ vang lên “Chị ơi! Cô Nhờ bị xe đụng chết rồi”. “Hả, cái gì? Ai nói cái gì zậy?”. “Em nói cô Nhờ chết rồi. Sáng nay trên đường lên Sài Gòn gần tới Vĩnh Long thì bị xe đụng chết rồi”. Bị chết vì xe đụng? Nhà tôi mà cũng có người bị chết vì xe đụng? Cái gì đó tưng tức trong ngực. Tôi không khóc mà thấy buồn cười. Tôi báo tin cho mọi người với ánh mắt buồn cười đó. Về đến Cần Thơ, ngồi bên cạnh quan tài rồi tôi mới bật khóc. Khóc đã đời và sung sướng. Không khóc, tôi sẽ chết mất. 

Trên xe chỉ có mình dì chết. Ngồi đúng cái chỗ mà tôi dặn dì theo lập luận và sự tính toán của tôi. Cái chỗ bên phải, không ở hàng ghế dưới cùng, không ở hàng ghế trên cùng. Đó là chỗ mà nếu có tai nạn xảy ra thì xác suất tổn thương cũng sẽ ít nhất. Vậy mà trong chuyến xe ấy chỉ có mình dì chết. Đầu bẹp dí một bên.

Tính gì được một khi nghiệp nhân đã có? Đủ duyên rồi thì nghiệp quả xảy ra. Mình chỉ có thể tính và làm được một điều : Đừng gây việc ác, cố giữ điều thiện và học cách bình thản với những được mất ở cuộc đời. KHÔNG LÀM VIỆC ÁC thì không gieo nhân xấu. Không nhân xấu thì dù duyên nhiều bao nhiêu, mình cũng không phải gặt lấy quả như hiện nay mình đang gặt những quả từ kiếp trước. GIỮ ĐIỀU THIỆN là để những nhân xấu mình lỡ tạo trong quá khứ không có cơ nẩy mầm, hoặc có nẩy mầm thì quả cũng ra èo uộït : Hoạ nhỏ thì tiêu, họa lớn giảm bớt. Cũng là để gieo cái nhân tốt cho tương lai. BÌNH THẢN với những được mất ở thế gian là để có thể bình thản với những định nghiệp mà mình đã tạo trước đây. ĐỊNH NGHIỆP là loại nghiệp mà dù có năng lực và phúc đức như Phật, mình vẫn phải trả. Dì tôi đó, không ai nghĩ dì sẽ chết bất đắc kỳ tử như thế. Hiền lành, đạo đức, không bao giờ bỏ giờ tụng niệm của mình hằng đêm. Ngày dì chết là khoảng ngày dì đang đi cúng dường rất nhiều nơi. Không ai nghĩ dì có thể chết như thế. Nhưng dì đã chết như thế đó. Quá khứ? Mình đã gây tạo những gì trong quá khứ? Không ai biết gì hết. Mình chỉ biết khi quả nó hiện ra. 

Cái chết của dì khiến tôi ngẫm nghĩ nhiều hơn về hai từ PHƯỚC ĐỨC. Ở đời, nó là thứ quyết định mọi thứ chứ không phải là sự tính toán. Suy nghĩ, tính toán chỉ là mớ vọng tưởng. Phước mà đầy đủ, tính sai cũng thành đúng. Họa đã tới rồi, tính đúng cũng thành sai. Chả trách người xưa nói thời thế tạo anh hùng. Thời thế ấy chính là cái duyên đưa đẩy mình thành khôn ngoan, bản lảnh và thành công, cũng là cái duyên khiến mình thành ngu tối, suy bại. Cái duyên ấy là cái quả từ cái nhân mình đã gieo trước đây. Nhân tốt thì sinh thời thế tốt. Duyên xấu thì sinh thời thế xấu. Thời thế tạo anh hùng là do anh hùng đã từng tạo thời thế.

Khoa học phát triển rất mạnh nhưng người chết vì tai họa và bệnh tật lại tăng gấp bội. Bịnh này trị chưa xong lại lòi bịnh khác khó trị hơn. Mình có máy tính sóng thần, nhưng vùng có sóng thần mình lại chưa kịp trang bị. Mình tính vùng này xác suất xảy ra động đất rất ít nhưng nó đã xảy ra. Tổn thất càng nặng. Cứ nhít đi một chút để tai họa và bịnh tật có thể xảy ra cho ngang với những gì khoa học đã ban phát.

Xe này đổ nguyên thùng container lên một xe khác. Đúng vào giờ đó, ngay đúng xe đó chứ không phải xe khác, không sớm một chút cũng không trể một chút. Nó đụng nhau bên kia đường không chết, văng qua giải phân cách tới mình, mình chỏng cẳng dơ que. Đều là bị sóng thần mà người lênh đênh trên đão không sao, chết người trong bờ. Một đứa con nít không chết lại chết người có khả năng tự vệ cao hơn. Biết bao nhiêu điều để mình suy gẫm. Nhưng mình ít khi tự hỏi về những điều đó. 

Thứ quyết định cái nhít đi một chút, trùng lấp một chút đó là hai từ phước đức. PHƯỚC là những gì mình làm cho người khác. ĐỨC là do mình làm chủ những tham dục thuộc bản thân để không làm khổ người, khổ vật. PHƯỚC thường đi chung với ĐỨC nhưng có khi chỉ có PHƯỚC mà chưa đủ ĐỨC. Ngày nay con người làm phước khá nhiều nhưng đức thì ít lắm. Do vậy, đời sống vật chất thật cao nhưng hung họa thì không thiếu.

Một lần tôi ghé vào một tiệm chạp phô mua ít đồ dùng. Tôi lựa mua ít thịt hộp về cho bữa trưa của gia đình. Người đàn bà bên cạnh cứ liên tục hỏi chủ tiệm về đồ hộp Việt Nam. Tôi đưa cho bà hộp thịt nhà vẫn thường dùng, mark ngoại mà giá không hơn đồ nội bao nhiêu. Bà lắc đầu chỉ vì một lý do rất đơn giản : Ăn đồ Việt Nam để dân mình có việc làm. Dân họ giàu rồi. Hàng này thường là hàng nhập lậu. Ăn nó là tiếp tay cho một mớ người làm giàu trên xương máu người khác. Lòng tốt của tôi bị đụng chạm. Một mình bà thì bà làm gì được với cái thế giới như hiện nay? Tôi không cần biết. Tôi chỉ biết mình đã làm gì và không làm gì. Không góp tay vào những thứ tồi tàn đó là được. Đúng là một con người lập dị! Nhưng những điều bà nói không khỏi khiến mình suy nghĩ. 

Ai cũng hay đổ thừa cho hoàn cảnh nên đánh mất dần tính tự chủ của mình. Cái xấu của người này là cái nhân để kéo theo cái xấu của người khác. Thành tai họa của người này dính liền với tai họa của người khác. Mình chỉ cho khi tai họa đã tới với người, chứ mình không biết cho đối với người chưa có tai họa. Ở đâu có thiên tai, lũ lụt, nạn tai … mình đều xan xẻ tiền bạc với sự thương cảm rất thật lòng nhưng mình không biết bớt đi một chút ngon miệng để cuộc sống của người hạnh phúc hơn. Mình có thể mang một đôi giày trăm bạc nhưng lại chì chiết từng đồng với một người hàng rau. Mình gởi tặng rất nhiều nhưng lại bày trò gian dối hại người để có tiền gởi tặng. Mình cúng chùa không ít nhưng lại tranh dành bóp chẹt đồng lương của kẻ làm công. Thứ mình  đưa ra ngang với tiếng chì tiếng bất. Thứ người nhận được cũng ngang với nước mắt đã bỏ ra. Mình làm phước không phải vì thương người mà để nguôi ngoi phần nào nỗi bất an, để việc làm ăn của mình được trôi chảy dễ dàng, để cái tôi của mình được biết đến. Mình bán cái ĐỨC để mua cái PHƯỚC chứ không phải là người có đủ cả đức lẫn phước. Nhân duyên đưa đẩy, cái xấu của người này lại chính là cái duyên để dẫn đến cái xấu của người kia. Con người hiền lành bao nhiêu rồi cũng thành lanh lẹ thủ đoạn trong thời buổi khắc nghiệt. Cái tốt ẩn đi. Cái xấu phất cờ. Người đàn bà không biết giữ được tấm lòng cao cả ấy bao lâu khi ăn phải thịt hộp thối vài lần? Thứ này luôn liên quan mật thiết với thứ kia trong thế giới mà Nhân Duyên là qui luật chi phối tất cả. Cái phước mình tạo thì mình nhận. Cái đức mình thiếu thì họa hoạn theo đó mà sanh. Họa hoạn sanh rồi, cái phước đã tạo không bù nỗi cái đức đã thiếu. Nạn tai rồi, tiền bạc đổ vô không biết bao nhiêu cho đủ. Nhân Quả cứ vậy mà nối tiếp xoay vần. Mình không thấy đầu mút phát sanh để mà ngăn chận, chỉ tìm cách chữa cháy khi nó đã xảy ra. Chữa cháy trở thành bịnh lớn của người thời nay. Lá rách tới đâu đùm tới đó. Đùm đến khi nào hết được thì thôi.

Chữa cháy chứ không biết ngăn chận nên việc cứ có để chữa cháy hoài. Nay lụt chỗ này, mai lỡ chỗ kia. Giúp cho cái cày chưa xong, thiên hạ mất quách con bò. Cứu trợ chưa xong, đã xuất hiện cảnh bán người qua biên giới. Có việc, ai cũng muốn đem tấm lòng để mà làm phước nhưng cái đức thường ngày thì bỏ mặc. Đức trở thành lập dị ở thế giới này. 

Mọi người luôn nói TÀI phải đi đôi với ĐỨC. Nhưng dạy con trẻ thế nào để có đức thì không ai dạy. Ngay từ nhỏ không dạy, lớn lên nó hung hãn là chuyện bình thường. Bây giờ người ta ít dạy trẻ con “Đói cũng phải giữ lấy lề” như các cụ ngày xưa. Bố mẹ không có thì giờ để dạy con. Mà có dạy cũng chỉ dạy lòng vòng trong mấy thứ sự nghiệp và tiền bạc. Bởi đồng tiền là tiên là Phật, là sức bật của lò xo … Có tiền tới đâu cũng được trọng vọng, cũng thành có hiếu, cũng thông mọi chuyện ... Vì vậy càng có nhiều tiền càng tốt. Không ai dạy con biết đủ là hạnh phúc. Không ai dạy con cố gắng học giỏi để sau này còn ra giúp đời. Thầy cô cũng không có thời giờ để dạy học trò mình những câu như thế. Kết quả học tập của trẻ còn phải báo cáo không thật để lấy chỉ tiêu, nói gì đến những thứ to tát hơn. 

Không dạy con trẻ ngăn bớt những ham muốn của bản thân thành thiếu một chút, chúng đi ăn trộm. Ăn trộm hụt mà lỡ tay thì giết người. Lớn chút nữa, đút tiền để con vào đại học mà có cơ ngơi sự nghiệp với đời. Đồng tiền giải quyết mọi sự thành dù không dạy con nít ham tiền, bản thân nó cũng thấy mảnh lực đồng tiền rất lớn. Heo rữa trộn chung với phẩm màu để phát tài phát lộc là chuyện đương nhiên. Báo chí rùm ben, pháp luật được thi hành. Nhưng chẳng có thứ gì suy giảm. Cái này mất thì cái kia lại trồi lên. Luôn có chuyện để làm. Đâu cũng có ngõ ngách để tội ác thông qua. Trong trường học bây giờ cũng có án mạng. Hai bà lớp 9 đánh ghen nhau bằng dao lam. Vừa tròn 14 tuổi đã biết giết bà lấy vàng đem bán. Mô Phật! Chữa cháy chứ có ngăn đâu mà có thể giảm bớt. 

Mình sống trong guồng máy ấy rồi mình cũng quên mất. Mình chỉ cốt làm sao cho con mình ăn thật ngon, mặc thật đẹp, lo cho nó thật đầy đủ mà chưa bao giờ nghĩ ra được những điều người đàn bà kia đã nói. Mình chỉ dạy nó cái tài mà quên dạy nó cái đức. Mình chỉ dạy nó phấn đấu mà không dạy nó hướng phấn đấu. Không biết dạy con bỏ bớt những ham muốn của bản thân từ lúc 3 tuổi, thành lớn lên mình quãn nó không nỗi. Nó thích là nó làm, chẳng kể gì đến cha mẹ hay thiên hạ. Mình không dạy nó tấm lòng đối với mọi người nên ăn được ai, nó ăn cho hết. Cái không đức ấy là nhân để có một cái quả tan thương không ở kiếp này thì cũng ở kiếp sau. Hiện nay mình không đang nhận cái quả của những cái nhân ở đời trước sao? Người này một chút, người kia một chút mà thành muôn sự trên toàn thế giới. 

Mình không thấy được nhân quả ba đời nối tiếp. Mình không thấy được cái nhân của tiền kiếp mà chỉ thấy được những tan thương con người đang gánh chịu rồi tìm cách chữa cháy. Không ai có thể nói thẳng vào mặt một người mẹ vừa mất con rằng “Đó là do bà đã tạo cái nhân xấu trong quá khứ. Bà đã có những suy nghĩ không đúng và làm những việc không đúng nên kiếp này bà phải chịu như thế”. Không ai có thể nói thẳng với những người đang gặp sóng thần về hai chữ Nhân Quả. Không ai đành lòng như thế. Nhưng đó là sự thật. Hạnh phúc sung sướng hay đau khổ nạn tai đều tự chính mình. Mình đã gây tạo một điều gì đó trong quá khứ. Ngày nay lụt lội tai nạn sông nước nhiều như thế, đứng về mặt khoa học mà nói, đó là do phá rừng, do hiệu ứng nhà kính gây ra. Song theo cái nhìn của đức Phật, đó chính là hậu quả của lòng tham dục. Con người đời nay tham dục quá nhiều nên nạn tại sông nước không sao kể xiết. Chết chừng đó chưa thấm vào đâu. Còn nữa! Chưa biết ở đâu mà thôi.

Tấm lòng xan xẽ của muôn người khi một người gặp rũi ro hay nạn tai là nỗi an ủi lớn lao đối với người đó. Nhưng những thứ đó chỉ là chữa cháy chứ không ngăn được cái cháy. Chữa cháy mà không ngăn cháy thì chữa đến khi nào mới rồi? Vấn đề ĐẠO ĐỨC không được đặt nặng, không trở thành việc thiết yếu đối với con trẻ từ lúc 3 tuổi thì lớp này nối tiếp lớp kia, suốt đời cứ sống mà chữa cháy. Lớp trước chết đi biến thành lớp sau để mà trả nợ. Kẻ gây cháy thì nhiều, kẻ chữa cháy thì ít, biết đến khi nào mới hết cháy? 

May là còn những kẻ có tấm lòng chữa cháy! 


Tinh túy của đạo Phật

Tôi nhận được 2 bài báo của CT từ tay một người bạn. Những dòng chữ chân tình không khỏi làm tôi nao lòng. Tôi gặp Sư Trí Hải chỉ hai lần. Một là vào năm tôi 12 tuổi. Đó là những tối làm lễ cầu siêu cho cha tôi trên nốc trường Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng. Trong cái lạnh của sương đêm và hương trầm thoang thoảng, Sư là hiện thân của đức Quán Thế Âm : thanh thản, nhẹ nhàng, ánh mắt đầy thương yêu mà đau cái đau của nhân loại. Lần hai, chỉ còn là tấm ảnh giữa ba chiếc quan tài. Tôi đã khóc như chưa bao giờ được khóc. Khóc vì tức chứ không phải vì buồn. Một bậc Thầy tuyệt vời và đáng kính! Đi rồi, Sư vẫn còn để lại nơi thế gian đầy hoa lẫn hương.

Ni Sư dịch thuật rất nhiều, Ni Sư viết rất hay, nhưng không có thứ nào thể hiện được sự tinh túy của đạo Phật bằng chính con người Sư. Sự bình thản của Sư trong mọi hoàn cảnh chính là sự tinh túy của đạo Phật. Bình thản, dững dưng, thu hẹp ... nhưng không phải với mọi người mà với cái tôi của mình để tình thương được chan hòa trải rộng. Khi làm phó của một viện Phật học hay khi nằm dài trên giường bịnh và ngay khi Sư không còn nữa … cũng vậy thôi! Cuộc sống là cuộc sống. Sư vẫn là Sư của thuở nào. Sư khoẻ hay bịnh, Sư cười hay khóc, Sư vui hay buồn, Sư viết hay làm thơ … tất cả là để cuộc sống của mọi người được hạnh phúc. Tinh túy của đạo Phật chính là đó.

“Thầy đã dạy tôi tất cả những gì tinh túy nhất của đạo Phật”. Song cái tinh túy Thầy muốn trao cho em, không nằm trong những lời dạy của Thầy mà là chính trong mỗi người chúng ta. Thầy chỉ là người đưa đường dẫn lối. Bản thân ta phải tìm lấy cái tinh túy ấy trong chính mình như Thầy đã tìm thấy nó trong chính Thầy. Khi ta sống được với cái tinh túy của chính mình mới là lúc ta đạt được cái tinh túy của đạo Phật. Và vì cái “Tinh túy của đạo Phật” chỉ có trong chính mình, không nằm trên lời dạy, nên dù Thầy đã dạy cho em tất cả, dù em vẫn nhớ đến lời dạy năm xưa của Thầy “làm ơn thì chẳng mong trả ơn”, nhưng em vẫn “thấy đau một cách kỳ lạ, nỗi đau không phải ở đôi tay mà hình như đâu đó trong tâm khảm và trái tim mình”. Quả là phủ phàng và đau đớn khi lòng nhiệt tình của mình bị chà đạp. Nhưng CT biết không, nơi cái tâm đang đau đó, chính là chỗ để ta tìm lại cái tinh túy của chính mình, cũng là cái tinh túy của đạo Phật.

Sống được với cái tinh túy ấy, mình sẽ bình thản được với mọi hoàn cảnh. TẬP bình thản với mọi biến cố xảy ra trong đời, mình sẽ dần dần nhận ra được cái tinh túy của chính mình. TẬP như vậy, chính là em đang học, học và học mãi như em đã nói. Cái học này khó hơn cái học trong trường rất nhiều. Không bản lãnh, tự tin và không đủ lòng nhân từ, mình không học được. Không học được, mình chưa phải là người đủ bản lãnh, tự tin và lòng nhân từ. BỊ TỔN THƯƠNG chính là điều kiện để mình có dịp rèn luyện sự bình thản của mình. Đừng bao giờ sợ hãi những gì có nguy cơ làm mình bị tổn thương mà hãy đối diện với nó, hãy nhìn thẳng vào đó. Mọi nỗi đau sẽ qua đi như làn gió thoảng. Sự hồn nhiên, vô lo dần dần xuất hiện : Em đang trở về với con người thật của chính mình. Đầy tình thương và trí tuệ. 

Ai cũng thích cái đẹp và cái thiện. Người sống thiện luôn được mọi người thương yêu giúp đỡ và kết quả của họ luôn tốt đẹp. Không có sự giúp đỡ của mình, vẫn có vòng tay của kẻ khác. Đó là tính tất yếu của luật Nhân Quả : Ở hiền thì gặp lành. Ngược lại, không ai thích cái xấu. Những người em đã gặp đó chắc chắn không ai muốn gần gũi. Người đụng cái là gây sự, la hét lại càng bị người đời lên án và xa lánh. Tôi là một trong số những hạng người bị lên án đó. Chuyện gì trái ý là tôi phùng mang trợn mắt gầm thét như một con hổ đói, và tìm cho được những lời nặng nhất để nhục mạ và làm tổn thương đối phương. Nhưng em biết không, con người chỉ là những sinh vật bị chi phối bởi chính thói quen của mình. Quen sống như vậy, quen nghĩ như vậy và để cho thói quen dẫn dắt mà không hề ý thức được điều đó. Tôi không hề muốn gầm thét hay đay nghiến, nhưng vì quen sân giận từ nhỏ nên đụng chuyện thì mọi thứ xấu xa lại xuất hiện. Thói quen có sức mạnh rất kỳ lạ. Nó lôi mình đi như một con thiêu thân. Để rồi, sau những cơn điên luôn là sự hối hận và buồn chán. Không biết tôi đã nhủ với mình bao lần rằng “Lần sau không như vậy nữa”. Nhưng đâu rồi cũng vào đấy. Lại tiếp tục với sự dày vò vì hối hận.

Không ai biết những dằn vặt đau khổ lẫn những cố gắng của tôi. Dưới mắt họ, tôi chỉ là một người nói dối và hay thất hứa. Kết cuộc là không ai muốn gần tôi. Tức chí, tôi càng sân hận và quá quắt. Nhưng trong những người xa lánh đó vẫn có người không xa lánh tôi. Tôi luôn nhận được tình thương và sự tha thứ ở người đó. Nhờ yên ả trong sự tha thứ, tôi bỏ lần được thói sân hận. Không có sự tha thứ đó, không bao giờ tôi có thể vượt thoát được chính mình để có được cuộc sống như hiện nay. 

CT thấy những người như vậy đáng thương hay đáng trách? Có nên xa lánh không, hay cần tha thứ để một ngày nào đó họ có thể thoát được những thói xấu của mình. “Bằng cách thay đổi suy nghĩ, bạn có thể làm thay đổi cuộc đời của bạn”. Em rất thích câu nói này phải không? Giúp họ nhận ra và thay đổi những thói xấu là thay đổi cả cuộc đời khốn khổ của họ đó. Nếu em co mình để tránh bị tổn thương thì những người như tôi biết nương vào đâu khi lòng tham và sự vị kỷ đang ngự đầy ở thế giới này? Người ta chỉ biết nương vào tấm lòng và sự thông cảm của những người mang trong mình thứ lý tưởng như của Ni Sư hay em mà thôi. Dù đã quay lưng với em, khi có việc cô bé vẫn cầu viện đến em như một đấng cứu tinh, em không nhận thấy sao? Hãy yêu thương và tha thứ cho những si dại của người đời. 

Đức Phật đã đặt tên cho thế giới này là Ta Bà. Ta Bà là Kham Nhẫn. Vì không có lòng kham nhẫn thì không sống được ở cõi giới này. Cõi giới này vốn là vậy. Bạc bẽo, vô tình, tham lam, chỉ biết nghĩ đến mình và sẵn sàng làm tổn thương người khác. Vì vậy, làm cho ai điều gì, chỉ cần mình chuẩn bị trước tinh thần bạc bẽo của họ thì không bao giờ mình bị tổn thương nữa. Có gì đâu! Cũng một lời nói đó, một hành động đó, với người bình thường mình thấy bị tổn thương, nhưng với một người điên, mình không thấy gì hết. Chẳng qua vì mình biết họ điên. Biết thế giới này như vậy thì có gì để buồn bã hay tổn thương nữa. Không còn thấy tổn thương thì mình sẽ thực hiện được lý tưởng của mình một cách trọn vẹn.

Người mang trong mình lý tưởng cao đẹp không bao giờ là người cô độc. Người đàn bà ra đi để lại một mái gia đình với 7 đứa con thơ. Người đàn ông ra đi để lại người vợ tật nguyền bịnh hoạn với hai đứa con nhỏ … Rất nhiều người như thế, chỉ vì mạng sống của những người không quen biết. Không ai ngờ, những hành động cao cả ấy lại được trả giá một cách quá đắt như vậy. Còn sự tổn thương nào hơn nữa? Nhưng vẫn hiện diện đâu đó những kẻ như vậy. Không phải em đang tiếp tục lý tưởng của mình với một cậu bé 13 tuổi sao? Bên mình luôn có những kẻ đồng hành trong im lặng.  

Mà dù có cô độc chăng nữa, đứng được nơi ngưỡng cửa cô độc đó là lúc ta tìm thấy hạnh phúc thật sự cho chính mình. Đừng bao giờ không phải là hương hoa của Ni Sư. 

Một lần ngang qua hội trường thiền viện Vạn Hạnh, tôi nghe giọng Sư vang ra “Kiếp sau tôi sẽ ra đời mặc lớp áo như quí vị”. Sư đã nói với mọi người như thế. Niết bàn của chư vị Bồ tát không ngoài cõi giới chúng sanh. Xoa dịu được nỗi thống khổ của muôn loài chính là niết bàn của chư vị. Sư ra đi là để trở lại với mọi người gần hơn nữa. Gần như mùi hương đang tỏa ngát quanh đây.

 
Tự tử

Chuyện tôi kể dưới đây xảy ra tại bịnh viện Sài Gòn. Đó là vào khoảng năm 1996 …

Ngày ấy, cô em út nhà tôi còn đi bán ở một cửa hàng gần bịnh viện Sài Gòn. Con bé tiêu chảy nên đưa thẳng vào đó cho gần. Bên cạnh giường nó là giường của một phụ nữ còn rất trẻ, chồng là người Đài Loan. Tôi không trực tiếp chứng kiến cảnh cô ta bị ma nhập ra sao, cũng không gặp được cô ta. Nhưng em gái tôi thì chứng kiến được toàn bộ câu chuyện. 

Cô gái bị người đàn bà vừa chết tại đó nhập vào hành xác. Lúc thì lấy tấm drap quấn ngang cổ xiết chặt, lúc thì đánh vào mình la hét. Chỉ có vài lúc cô ta chịu nằm yên. Là khi người Đài Loan, ông xã tôi, tên bạn trai của con bé và cô em kế tôi đến thăm bịnh. Ngoài ra tất cả đàn ông đều bị la hét và đuổi khỏi phòng. 

Theo đối đáp của hai bên thì hình như người đàn bà chết rồi không xa lạ gì với gia đình cô gái. Cũng không phải lần đầu họ vào đây. Đem được về nhà vài ngày, cô ta lại quăng chuông quăng mõ, nhào ra đường cho xe đụng để vào nằm đúng cái giường ấy. Bốn người đàn ông lực lưỡng không giữ nỗi cô ta. Giữa họ có một mối liên hệ gì đó không theo chiều thuận và có liên quan đến đàn ông. Để giải tỏa nỗi thống khổ của mình, người đàn bà đã tự tử. Tự tử ra sao mình không biết, chỉ nghe cô ta đấm vào ngực rồi nói với bà mẹ “Cái nóng bức đau đớn hiện tại tôi đang chịu đây, bà có giải quyết được cho tôi không mà bà muốn tôi buông tha con bà”. Bà mẹ chỉ còn biết khóc, giải trình và tiếp tục năn nĩ. Nghe đâu, bà gõ mõ tụng kinh gì, cũng chẳng ăn thua.

Có lẽ, cô ta tưởng chết là hết. Có thể trôi xuôi mọi đau khổ mà mình đang gánh chịu. Nhưng chết chỉ như việc thay áo mà thôi. Hết thân này lại có thân khác. Cứ theo những việc thiện ác đã tạo trong đời mà đi. Lúc gần chết ấy lại rất quan trọng. Không thanh thản nhẹ nhàng thì không thể ra đi trong êm ái, không thể có được một thân thể tốt đẹp với một cảnh giới tốt đẹp. Luyến ái, đau khổ, sân hận là mầm móng của thân ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục. Chắc cô gái đang chịu thân ngạ quỉ với những đớn đau do tự tử mà ra. Duyên lành ít quá nên khi khổ không gặp được Phật pháp để giải khổ. Giải quyết nỗi khổ của mình bằng cách trả thù thì khổ chồng thêm khổ. Chỉ có mở lòng buông bỏ và tha thứ thì mới mong thoát được nỗi nóng bức và đau đớn đó mà thôi. 

Chuyện kết thúc ra sao tôi không rõ vì em tôi đã rời bịnh viện dù bịnh chưa hết. Sợ quá nó đòi về bằng được. Chiêu phép cuối cùng nó hay dùng để phù trợ cho bản thân đã bị người đàn bà phá mất “Mày đừng có niệm Phật. Tao không sợ đâu”. “Không biết vì sao tui niệm trong bụng mà mụ ta nghe được”. Con bé nhất quyết đòi về. 

NIỆM PHẬT tụng kinh là để bình tâm. Tâm bình thì bất động được với mọi sợ hãi, lo âu v.v… chứ niệm Phật không phải để trừ ma trừ quỉ. Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh. Tịnh được cái tâm thì những gì chung quanh cũng thành yên tịnh. Vì thế mình cứ ngỡ nó có tác dụng trừ tà. Song niệm Phật tụng kinh mà giữ trong tâm ý muốn trừ tà thì tâm ấy không còn tịnh. Không tịnh thì chuông mõ bay là lẽ tất nhiên. Bởi chuông mõ hay kinh kệ thì có giá trị gì khi đã lìa khỏi tâm? Chỉ là vật vô tri vô giác mà thôi. 

Người đàn bà không hiểu, lại tưởng con bé có tâm niệm trừ tà nên mới hét toán lên như thế. Con bé được dạy niệm Phật mà chẳng hiểu được ý nghĩa của việc niệm Phật. Nghe nạt đâm hoảng, cũng không biết đường mà trả lời. “Mụ nói vậy rồi mày có niệm nữa không”. “Ai dám niệm nữa, nhỡ mụ tức mụ đánh như mấy người kia thì sao”. Ừ! Người ta đang sân hận, không đủ đạo lực để khuyên thì thôi, im lặng là thượng sách. Chuồn cũng phải.
 

 
Đạo giáo

Tôi gặp bà vào những ngày đi chùa cuối tháng. Lúc thì một mình, lúc thì thêm cậu cháu nội nhỏ … Hai bà cháu trong rất tâm đắc. Nhưng hình ảnh dễ thương ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Nghe đâu, cô con dâu người công giáo không bằng lòng để bà ở gần cậu cháu nội. Bà phải sang ở với cô con gái để thằng bé khỏi bị tẩy nảo. Nhà con gái thì xa nên bà không còn dịp để đi chùa vào mỗi cuối tháng. Vài tháng sau, tôi nghe tin bà mất. 

Những lần đi chùa sau bà hay kể tôi nghe về cô con dâu người Công giáo. Cô dữ dằn, hỗn láo và không muốn bà ở gần thằng bé. Cô không muốn bà kể cho thằng bé nghe những mẫu chuyện về đức Phật nhưng bà vẫn làm những gì bà muốn. “Bác ơi! Quan hệ căng lắm rồi. Bác làm vậy có thêm rối không”. “Sinh thằng nhỏ ra, nó đem thằng nhỏ đi chịu thánh lễ liền, đâu cho tôi đem qui y. Giờ tôi dạy cháu tôi đạo đức làm người, có gì mà tầm bậy. Thằng nhỏ nghe tôi kể chuyện đức Phật thích lắm”. Xem ra, quan hệ mẹ chồng nàng dâu ngày càng gay gắt nhờ sự trợ giúp đắc lực của tôn giáo. 

Tôi chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh cơm không lành canh không ngọt chỉ vì hai chữ đạo ông và đạo tôi này. Không hiểu, đức Phật và Đức Chúa trên trời sẽ nghĩ gì về những tín đồ quá trung thành của họ.
 
Cô dâu tương lai của tôi là người công giáo. 

Nhìn con bé hồn nhiên cười nói náo nhiệt, tôi không thể hình dung được hình dạng dữ dằn hay hỗn láo của nó trong tương lai. Nó kể tôi nghe về những tín đồ quá khích. Chỉ thấy đạo giáo của mình là nhất rồi phủ nhận tất cả những đạo giáo khác. Thiên Chúa cũng dạy người bên con ban phát tiền của cho kẻ khác, người theo Chúa phải bỏ tất cả tiền bạc ... Bên con cũng có các đức cha giảng như ở đây. Con thích đi nhà thờ lắm. Con thích nghe những câu chuyện mà các đức cha đã kể. Nó kể cho tôi câu chuyện mà nó được nghe trong nhà thờ và cười thích thú. Nhà con thờ Đức Mẹ đồng trinh. Không! Cũng có sinh ra Thiên Chúa nhưng không phải sinh ra như kiểu của mình nên đức mẹ vẫn đồng trinh. Con không thích Đức Chúa bởi ông ta có quá nhiều râu. Con rất tin vào Đức Mẹ vì Đức Mẹ luôn cứu giúp con trong những lúc con mất hết hy vọng. Trước đây, mỗi lần buồn con lại nói chị con chở con ra nhà thờ Cứu Thế cầu Đức Mẹ, tịnh tâm rồi con mới về nhà.

Bên bác cũng có đức Quán Thế Âm linh như Đức Mẹ đồng trinh của con. Tôi kể cho con bé về những giai đoạn thăng trầm của tôi lúc còn trẻ, về những ngày vượt biên gian khổ, tôi đã tụng chú và được đức Quán Thế Âm hiện thân cứu tôi thế nào. Tôi giải thích với con bé về việc cầu xin linh ứng ấy. Không phải ai cầu Đức Mẹ hay đức Quán Thế Âm cũng được thành tựu như mình. Chỉ những người có lòng từ với người khác mới có thể được như ý mà thôi. Mình cầu được vậy là vì mình có lòng từ, căn lành của mình cũng lớn. Ngày nào mình còn giữ được lòng từ ấy, ngày đó mình còn được Đức Mẹ ban phước. Trong đêm tối, tôi thấy khuôn mặt nó rạng ngời, đôi mắt sáng rực như hai vì sao. 

Nhìn con bé ngủ, tôi thấy cứ như là hiện thân của Đức Mẹ đồng trinh hay Bồ tát Quán Thế Âm của tôi. Dù khắc khe bao nhiêu, chắc không bà mẹ chồng nào nỡ bắt con bé xa lìa niềm tin của nó khi niềm tin ấy đang choáng đầy khuôn mặt nó như thế. Không chừng, đó cũng là một sự linh ứng nữa cũng nên. Biết đâu, con bé đã cầu nguyện với Mẹ đồng trinh rằng “Xin cho mẹ anh ấy thương yêu con như thương yêu anh ấy” và điều cầu nguyện ấy đang linh ứng. 

Hình như khi thương yêu, người ta sẽ tìm mọi lý lẽ ngỏ ngách để bít đi những cái khiến sự ngăn cách xảy ra. 

Đạo giáo đưa ra những phương cách để tạo điều kiện cho con người thương yêu nhau. Thương yêu để mà chịu đựng và tha thứ cho nhau. Để cuộc sống muôn người được hạnh phúc. Tôi đã đọc được vài đoạn đâu đó trong một cuốn Tân Ước “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta. Phải yêu thương kẻ thù và không nên trả thù. Nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má trên trái ra nữa. Ai xin thì anh hãy cho. Ai muốn vay mượn thì anh đừng ngoảnh mặt đi. Khi bố thí đừng khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội trường và ngoài phố xá cốt để người ta khen. Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái xà trong mắt mình thì lại không thấy?”. Điều nào cũng dạy người buông bỏ thói vị kỷ, sống đời sống vị tha. Tinh thần ấy không khác gì tinh thần đức Phật đã dạy chúng sanh của Ngài. Nhưng hình như càng xa thời Chúa và Phật, con người càng quên đi tinh thần ấy. Mọi thứ chỉ còn là hình thức bên ngoài. Chỉ còn lại những nghi lễ và vui chơi nên thói vị kỷ ngày càng tăng mạnh. Thay vì buông ra, ai cũng muốn ôm vào, ôm luôn cả những thứ không phải là đạo giáo mà cho là đạo giáo. Con người, thay vì thương yêu nhau, lại tranh tàn ghét bỏ lẫn nhau ... Tôn giáo chẳng còn ý nghĩa gì trong đời sống mình nữa. 

Có lẽ, mình nên lấy điểm chung của đạo giáo để sống với nhau hơn là cứ vin vào những hình thức bên ngoài rồi làm khổ nhau. Có lẽ, nên khuyến khích trẻ thơ thực hiện những điều Đức Phật cũng như Đức Chúa đã dạy để chúng được hạnh phúc hơn là biến tôn giáo thành một loại độc dược rồi dí vào mồm con trẻ bắt nó uống cho tới chết. Thật đau lòng khi chứng kiến một đứa trẻ phải lấm la lấm lét vì đối diện với sự căng thẳng của hai dòng đạo, mà người của hai dòng đạo ấy đều là thân ruột của nó. Thật đáng tội khi nhìn thấy cảnh tranh dành một thây chết chỉ vì lễ đạo của tôi khác của anh. Đấng tối cao chắc chẳng mấy vui khi thấy tín đồ của Ngài chạy theo những hình thức bên ngoài mà quên đi tinh thần Ngài đã dạy. “Nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má trên trái ra nữa. Ai xin thì anh hãy cho”. Hãy mở lòng cho đi hơn là đòi hỏi ngươi khác phục vụ những mong muốn của mình. Đức Phật cũng dạy như vậy. Buông tất cả, ta sẽ được tất cả.

 
Số tử vi

Ký ức của tôi về cha không nhiều. Với đầu óc non nớt của một đứa trẻ thì 12 năm là quá ít để biết về một người cha, chưa kể ông chỉ thực sự ở gần gia đình vài năm cuối đời. Chỉ còn vài điều lẻ tẻ in đậm trong tâm trí tôi : Tập cho con sống biệt lập, ít nói và có lòng trân trọng đối với mọi người. Săn sóc và nô đùa với con cái nhưng rất nghiêm khắc. Chị em chúng tôi không có thời gian để nghĩ bậy, vì tất cả thời gian đều dành cho việc học tập. Học chữ được xen kẽ với học đàn và những giờ giải trí cuối tuần. Sách báo phim ảnh được kiểm duyệt kỹ trước khi tới tay chúng tôi. Không bao giờ để con cái biết gì về những chuyện không vui của người lớn. Ông không muốn chúng tôi lớn lên trong sự đố kỵ và ghét bỏ người khác chỉ vì những việc họ đã làm với người thân chúng. Thêm vài điều về ông qua lời kể của mẹ : Quyền uy, nóng tánh, đào hoa và coi tử vi rất giỏi.  

Năm tôi 12 tuổi, ông bị bắn chết tại sở làm. Coi tử vi biết mình sẽ chết vào ngày đó mà không cách gì tránh được. Biết mình chết mà không muốn chết nên chết rồi, ông vẫn loanh quanh đâu đó quanh tụi tôi. Máu nơi chỗ ông chết cứ ưng ửng. Giữa trưa chị bếp thấy ông đứng ngoài sân phơi đồ. Ban đêm em tôi thấy ông ngồi nhìn lên bàn thờ với ánh mắt động nước. Thân ông chôn ở Mạc Đĩnh Chi xình lên xọp xuống ra sao, mẹ tôi đều biết. “Khi sống, bố con khôn ngoan nên khi chết mới linh thiêng”. Khôn như vậy thì thật là khổ! 

Tôi là đứa mơ thấy ông nhiều nhất. Không chỉ thời gian đầu mà suốt mấy chục năm liền. Nhiều đến nỗi tôi luôn cảm thấy ông bên cạnh tôi. Đó là nguồn an ủi lớn lao trong suốt quãng đời mờ tối. Mỗi lần thấy ông là tôi biết mình sắp gặp nạn. 

Ông theo tôi nhiều có lẽ vì ông không yên tâm về tôi. Không biết có phải bắt nguồn từ việc coi tử vi không nữa. “Bố nói số tử vi con xấu lắm. Người yếu ớt lại bịnh hoạn. Chồng thì nghèo rớt mồng tơi. Tiền bạc như thùng lủng đáy. Khóc con chứ không phải con khóc mình. Lại còn chết đường chết xá. Nếu không chết trôi thì thân cũng chẳng toàn”. Nói chung, từ lúc đẻ ra cho đến lúc chết không có gì để hồ hỡi.

Tôi chẳng tin vào số tử vi. Nói đúng hơn là tôi không thể chấp nhận thứ tử vi đầy xui xẻo đó là của tôi. Nhưng không tin cũng không được. Đã có nhiều chuyện xảy ra. Cái chết được định trước của bố và cuộc đời thăng trầm bịnh hoạn của tôi. Tôi đã bỏ ra một thời gian dài để nghiền ngẫm về nó. Tôi muốn tìm kiếm vận mệnh của mình đằng sau những vì sao đó. Có lẽ ông đã bỏ xót một sao giải hạn nào đó của tôi cũng nên.

Và thế là, tôi đến với Phật pháp không chỉ để hết khổ mà còn để tìm xem do đâu lại có những vì sao quyết định vận mạng con người một cách tàn nhẫn như thế. Và tôi đã tìm ra được điều mình muốn tìm.

Số tử vi của ai cũng có 12 cung, loanh quanh trong mấy thứ danh vọng, tiền tài, gia đình, bịnh hoạn, nạn tai và chết chóc. Trong đó có cung phúc đức. Cung phúc đức nói cho mình biết về phước báu cũng như nạn tai của dòng họ, trong đó có mình. Thường là trong 3 đời. Nó có đặc tính chi phối luôn 11 cung còn lại. Nghĩa là, những cung khác nếu xấu mà cung phúc đức tốt thì các cung khác cũng đỡ xấu. Cung phúc đức nếu xấu mà các cung khác tốt thì cái tốt đó cũng giảm đi. 

Điều tôi tìm ra ở đây không phải nằm ở các vì sao mà ở chỗ từ đâu có các vì sao ấy. Chính là NGHIỆP LỰC của chúng sanh. Tử vi của mình bị chi phối bởi nghiệp lực của chính mình. NGHIỆP LỰC là cái lực của những thói quen. Mình hay dùng từ tánh nết để chỉ cho việc này. Tánh nó hay uống rượu. Tánh nó nóng v.v… Thói quen nào mạnh, tự nó có lực đưa đến hoàn cảnh xấu hay tốt cho mình. Như có thói quen giết người thì thói quen ấy sẽ có lực khiến mình thực hiện việc đó hoài. Nếu mình có thói quen bố thí, thói quen ấy cũng có lực khiến mình thích bố thí hoài. Nghĩa là, thứ gì được lập lui lập tới hoài thì thứ đó sẽ có lực dẫn mình tới cái quả của nó.

Trên thế giới hiện nay, có những kẻ giết người hàng loạt mà không tìm thấy được nguyên nhân, bị ghép vào hạng loạn thần kinh là đó. Cái quả họ phải gặt là tù tội hay tử hình. Có người gặp ai cũng thích cho. Có khi mình thấy cho rất dễ. Cái quả của họ là giàu sang. Đều là từ nghiệp lực của mỗi người. Tử vi chứa đựng cái nhân của kiếp trước và cái quả của kiếp này, cũng như cái nhân của hiện tại và cái quả ở tương lai, trong đó có cả định nghiệp và bất định nghiệp, được biểu hiện thành các vì sao. Các vì sao ấy tương tự như những chủng tử chứa trong tạng thức  của mình. Chúng sẽ phá tán hay hiện hình tùy theo chủng nghiệp đã gieo trước đây cộng với điều kiện nhân sinh của mỗi người trong hiện tại. Điều này lý giải vì sao một cặp song sinh cùng giờ lại có hai cuộc đời khác nhau. Một đứa đâm đầu vào xe chết tại Mỹ khi vừa 19 tuổi. Một đứa vẫn sống, với công việc từ thiện ở một trại mồ côi tại Việt Nam. Nhân giống nhau nhưng duyên khác nhau nên quả cũng khác nhau. Nhân giống nhau là cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm. Nghĩa là cùng có những NGHIỆP NHÂN như nhau. Nhưng DUYÊN khác nhau, là đời sống tiền tài xa hoa ở Mỹ và công việc phước thiện trong một trại mồ côi. Cho ra quả khác nhau là một đứa thì sống yên bình, một đứa thì chết khá kinh khủng. Mọi thứ điều do NHÂN DUYÊN chi phối.

Mình không thấy được mối liên hệ giữa các vì sao với những thiện ác trong chính mình, cứ tưởng có những vì sao quyết định được vận mệnh của con người. Nên thay vì sửa đi những thói xấu, mình lại tìm cách giải hạn bằng cách cúng sao, không thì nhắm mắt thuận theo số tử vi. Cúng đến bạc đầu cũng không giải nổi điều xấu khi mình vẫn sống ung dung trong cái ác.

Con người là tập hợp của những nghiệp xấu và tốt. Có cái thuộc về thói quen, có cái không phải là thói quen. Từ đó, hạnh phúc và đau khổ xen kẽ với nhau. Trong tử vi vừa có loại sao mang tính cách định, vừa có loại sao mang tính cách bất định. Gọi là bất định khi trong thân mệnh hay phúc đức có loại sao phúc đức hoặc giải hạn. Chúng có thể thay đổi được những tốt xấu của bản thân tùy vào phúc đức hiện thời của mình. Thành tử vi chỉ có giá trị đối với 2 hạng người : 

1. Bị loại định nghiệp chi phối. 
2. Buông xuôi theo bản năng không biết làm chủ bản thân. 

Làm chủ bản thân là một cách tu hành. Tu hành theo kiểu làm chủ thân tâm chứ không phải đến chùa lạy Phật, tụng sám hối cho có lệ rồi thôi. Không phải những việc làm đó không có tác dụng ít nhiều. Nhưng chỉ chừng đó thì tác dụng của nó không bao nhiêu. Làm chủ được thân tâm mới làm chủ được những thói quen xấu, là cái nhân đưa đến quả xấu trong hiện tại và tương lai. Như cái bịnh nhậu nhẹt, bia ôm, mại dâm hiện nay. Ngày nào báo chí cũng liệt kê những tai nạn thương tâm do nhậu nhẹt gây ra, rồi sida, cúm gà v.v… Nhưng nghe đâu có độ nhậu, bia ôm là quên hết mọi chuyện. Không dừng được cái nhân ham muốn bậy bạ thì cái quả bịnh hoạn nạn tai xảy ra là lẽ tất nhiên. Thành dừng được tham dục mới tránh được những nạn tai do tham dục gây ra. Làm chủ được bản thân thì mới đủ sáng suốt mà bình thản với những loại định nghiệp. Bình thản rồi thì không có gì để sợ hãi nữa. Người ta sợ một số tử vi xấu, vì cái xấu thường đưa đến đau đớn và khổ não. Song xấu mấy mà mình bình thản được với nó như Tổ Sư Tử  cho đầu, ngài Bạch Ẩn  nuôi con nít, thì số tử vi dù xấu bao nhiêu cũng chẳng can hệ gì đến mình. Cái xấu lúc ấy không khác gì cái tốt. Người tu Phật có khi còn cần cái xấu để trắc nghiệm công phu nữa là đằng khác.

Tìm thấy được cội nguồn đó rồi, tử vi không còn giá trị với tôi nữa. Nghĩa lý gì khi mọi thứ có thể thay đổi bằng những việc phúc thiện hằng ngày? Nghĩa lý gì khi mình đã vướng phải một loại định nghiệp? Vả lại, mấy người đời nay có thể xem được tử vi như bố tôi? Họ nói thao thao bất tuyệt về người khác nhưng bản thân mình thì mù tịch. Song mình lại hay có tật dễ tin. Tin rồi làm theo nên chuyện đáng nhẽ không lại trở thành có. Chuyện này báo chí đề cập rất nhiều, nhất là đối với mấy chàng miền núi. Khi không đi tin ba chuyện nhảm nhí của thầy bùa thầy chú rồi giết vợ, giết con, làm những chuyện hại người hại vật, là cái nhân của một quả xấu trong tương lai. 

Tôi có đọc đâu đó câu chuyện cái quạt rách. Chắc để giễu cho cái tính hay tin của người mình. Một anh chồng tin lời ông thầy bói “Hôm nay cái quạt của ông sẽ rách”. Anh sợ cái quạt của mình rách thành cả ngày ấy anh không làm gì hết, chỉ ngồi canh cái quạt. Đến giờ đi giỗ cha bên nhà anh Cả, vợ nhắc mấy anh cũng không đi. Mụ tức chí giựt lấy cái quạt xé phăng. Anh vỗ tay cho thầy bói nói đúng. Giả như anh đừng để lời của ông thầy tác động vào mình, cứ cất quạt đâu đó rồi đi giỗ cha như thường lệ, thì không biết số phận cái quạt ấy ra sao? Chưa biết chuyện gì xảy ra nhưng rõ ràng do tin lời ông thầy mà sự việc mới ra như vậy. Chuyện nhỏ ấy nhắc nhở mình phải coi lại cái gọi là số mệnh bất di bất dịch mà mấy thầy gắn cho mình. Đừng nhắm mắt tin theo một cách mù quáng mà làm những việc trái nhân nghĩa đạo đức hay bỏ hết bổn phận trách nhiệm của mình ngày thường. Cái bê trể trách nhiệm, cái vô đạo đức của mình mới chính là cái nhân khiến sự việc xảy ra xấu xa chứ không phải lời anh thầy bói là cái quyết định tất cả. Còn thế giới này là thế giới Nhân Duyên. Duyên thay đổi thì quả sẽ thay đổi. Đã có duyên để thay đổi, vì sao mình không vin vào cái duyên ấy để thay đổi đi số mệnh của mình mà lại tin vào số mệnh đã định qua những ông thầy xa lạ? 

Cứ sống thiện và làm thiện! Sống và làm không ngừng. Làm hết sức mình những gì mình có thể làm cho người khác. Đừng vì những tham dục của riêng mình mà làm khổ người. Tập tỉnh trí và tập thương yêu người khác như thương yêu chính bản thân mình. Sống sao cho đúng với trách nhiệm và bổn phận mà mình đang mang. Sống vậy thì tai họa nào thay đổi được, tự nó sẽ thay đổi. Tai họa nào không thay đổi được, mình cũng đủ năng lực bình thản mà nhận lãnh nó. Làm vậy là mình đang tự gắn sao giải hạn vào trong cung mệnh của mình. 

Người xưa nói “Tướng bất cập số. Số bất cập đức”. Số anh tốt thì tướng anh có xấu cũng không sao. Vì cái số quyết định tướng mạng của anh hơn là cái tướng. Song tướng số gì cũng không bằng cái đức. ĐỨC mới là cái quyết định mọi thứ. Những nhà xem tử vi vẫn cho rằng, tử vi chỉ ảnh hưởng đối với những người còn đang bận bịu với tiền bạc danh vọng thế gian chứ không liên quan gì đến những người đã có tâm xuất thế. Cũng đúng thôi. Nếu có bị ảnh hưởng của số tử vi chăng nữa, mà tâm đã không thì nó ảnh hưởng đến gì bây giờ?

Có lẽ vì vậy, sau khi phát tâm tu hành và đến Thường Chiếu được một năm thì tôi thấy bố đến từ giả để đi đầu thai. Như thường lệ, khi nào mơ thấy ông, ông cũng lái xe đưa tôi đi từ chỗ này đến chỗ khác. Lần đó, tôi đòi cầm lái một mình. Ông yên lặng trầm ngâm, vẫn còn chút gì đó lo lắng và do dự, nhưng ông cũng trao tay lái cho tôi. Ba ngày sau, tôi lại mơ thấy ông lần nữa “Thôi, bố đi đầu thai đây”. Từ đó đến nay tôi không bao giờ thấy lại ông. Có lẽ ông đã yên tâm ra đi khi tôi chọn cho mình con đường này.

Giấc mơ khiến tôi suy nghĩ một điều. Bản thân người chết nếu không thể dứt bỏ vì sự luyến ái với gia đình thì mình có cầu bao nhiêu, họ cũng khó mà siêu thoát. Nếu thật là một người con hiếu hạnh, thật muốn cha mẹ mình có một cảnh giới tốt, thì ngoài việc cúng dường hồi hướng cho các vị, bản thân mình còn phải khiến họ được yên lòng. Yên lòng rồi, họ mới thanh thản ra đi.


Mẹ 

Mẹ là cái nôi dịu dàng. Với tôi thì tôi chẳng tìm thấy cái nôi ấy đâu khi bắt đầu hiểu biết và khôn lớn. Tôi tìm thấy nó qua những giấc mơ với cha nhiều hơn là ở mẹ. Nhà đến 6 chị em mà tôi là đứa đầu. Nhìn lại tấm ảnh ngày xưa thì mẹ cũng từng là chiếc nôi của tôi. Nhưng có lẽ vì tôi là chị cả, lại cứng đầu ương ngạnh nên càng lớn, sự biểu lộ tình cảm của mẹ cũng vơi bớt mà dành nhiều cho những đứa em sau.

Cha mất đi là nỗi thống khổ của bà khi con còn quá nhỏ. Cái chết bất ngờ khiến bà đau đớn không nguôi. Ngoài giờ đi dạy bà lại tìm quên trong bộ bài tứ sắc. Tôi thì cứ lớn lên trong sự đòi hỏi vô tư. Chỉ biết cái gì vừa lòng, cái gì không vừa lòng mà không hề để ý đến nỗi đau khổ và lo lắng của mẹ. Mãi sau này tôi mới hiểu ít nhiều khi bà khóc với tôi “Những ngày bố còn sống, mẹ cứ nói với ngoại con, khi nào ảnh chết rồi chắc con mới hết khổ. Giờ bố con chết rồi, mẹ còn khổ gấp bội”. Không dừng được khổ thì hoàn cảnh nào cũng thấy khổ. Trước thì khổ vì ghen, giờ thì khổ vì thấy tình đời đen bạc. Tôi thấy thương mẹ rất nhiều, nhưng vẫn cho rằng bà khổ là tại bà chẳng phải tại ai. Cái đức nhẫn nhục của bà khiến người ta căm phẫn. 

Ngày cha còn sống, nhà chỉ có hai người lớn và sáu đứa nhóc, cộng thêm chị bếp là chín. Lâu lâu ai đó tới chơi vài ngày rồi về, tuyệt đối không được lập sổ thường trú. Đó là lệnh của cha. Ông mất, nhà chật như nêm và ồn như cái chợ. Mẹ tôi không chỉ gánh sáu đứa con mà còn thêm mấy gia đình nữa. Cũng vô tư như tôi, chơi nhiều hơn ăn, tiền bạc đổ hết vào những trò vô bổ. Không ai hưỡn để nghĩ đến chuyện làm ăn hay kiếm sống. Mẹ thì cứ cắm đầu chịu đựng. Chịu một cách vô lý. 

Thế là, những đứa trẻ thơ ngây lễ phép như tôi bỗng nhiên trở thành sân hận. Bà càng nhịn thì moi người càng lấn. Tụi tôi càng tức. Cậu em trai tôi tặng ông cậu thân ruột một bạt tai. Tôi trở thành nhọn mồm lúc nào không biết. Cứ thế mà loạn xị cả lên. Tình thâm càng xa lìa. Máu đào chẳng bằng nước lã.

Phải chi cứ cương cường và dứt khoát như cha thì có hơn không? Nhẫn nhục chịu đựng như mẹ thì có ích gì? Nhẫn mãi chịu không nỗi thì có ngày phải xì ra. Em dâu xách dao rượt chị chồng. Bà con chung quanh xúm lại chưỡi. Vừa khổ cái tâm vừa chiêu cái oán. Thêm tội vạ cho con cái. Dù thương bà, tôi không khỏi căm phẫn. Với tôi, nhẫn nhục là một sự  ngu xuẩn. 

Đến với đạo và “như thật biết thế nào là khổ đế” với những nghịch duyên của mình. Tôi mới hiểu hết ngọn ngành và thương mẹ nhiều vô kể. Tôi hiểu vì sao bà cứ phải nhẫn nhục một cách buồn cười như thế. Nợ nần! Bà nợ nhiều quá. Nợ cha thành dù được cha thương yêu và lo lắng tất cả, bà vẫn thấy đau khổ vì cái tật đào hoa của ông. Ông chết rồi bà vẫn không hết khổ. Bà tiếc những gì ông đã làm cho bà. Không có ông, không ai bảo vệ và chăm chút cho bà. Nợ em, thành họ phá tán bao nhiêu, bà vẫn cứ chịu đựng. Cha không nợ ai thành không ai đến quấy rầy cha. Tự nhiên cha sáng suốt và dứt khoát. Mẹ nợ nhiều nên nó cứ xui bà chịu đựng để mà trả nợ.

Mình không thấy được vòng nhân duyên nhân quả đó, mình chỉ thấy được những nghịch lý trong hiện tại. Chỉ thấy sao mẹ chịu nhiều bất công và nhẫn nhục quá đáng rồi sinh bực bội và trách cứ người khác. NHÂN xấu là ở mẹ mình. Vì nhân xấu nên mới nảy sinh hoàn cảnh như vậy. Mẹ khổ đúng là tại bà, nhưng không phải vì cái đức nhẫn nhục của bà, mà vì nghiệp nhân bà đã gây tạo trước đây. Không phải nhẫn nhục là ngu xuẩn. Ngu xuẩn là bởi mình không nhận ra được mối liên hệ nhân quả trả vay từ kiếp trước cho đến kiếp này và kéo dài mãi đến những kiếp sau. Không nhận ra nên mình trả mà mình không chấp nhận. Không chấp nhận nên cái nhẫn của mình trở thành dồn nén. Không như các vị thiền sư, nhẫn mà bất động buông bỏ. Dồn nén rồi, lại không biết suy nghĩ thế nào cho khuây khỏa tiêu tan, mọi chuyện mới xì ra. Ân bỗng thành oán. Luân hồi theo đó mà kéo hoài.

Con cái vượt biên. Khổ lại chồng khổ. Đứa ngang ngạnh thì đi không lọt, lại lọt đi cái đứa mình thương. Bà lấy cờ bạc và số đề làm vui. Đó là lý do để tôi không đưa tiền cho bà như ý mình muốn. Tôi không muốn bà đốt tiền vào bài bạc và nuôi mấy con số đề khi tôi phải vật lộn với sợ hãi và cố dành dụm để làm bảo lãnh cho bà. Không phải tôi không thương mẹ. Những tháng lương đầu tiên tôi đưa hết cho bà, chỉ cốt để bà vui. Nhưng cờ bạc số đề thì không được. Tôi không muốn bà thâu đêm suốt sáng và nhịn ăn chỉ vì cờ bạc và số đề. Đó là qui tắc sống của tôi. Tôi làm vậy là muốn tốt cho bà mà không hiểu rằng mình đang bị chôn sống bởi chính những quan niệm của mình. Mình chỉ biết cái gì tốt, cái gì xấu mà ít quan tâm rằng cái tốt đó trong trường hợp đó có còn tốt hay không. Mình sống trong vòng nhân duyên nhưng khi làm việc, mình lại quên mất sự ràng buộc của NHÂN DUYÊN mà chỉ biết đến quan niệm của chính mình. Mình trở thành tàn nhẫn cũng vì không thấy được nhân duyên. Mình sống với những qui tắc thánh thiện của mình mà quên đi tâm trạng của người khác. Mình không biết rằng con người chỉ là những sinh vật bị chi phối bởi những thói quen. Quen sống như vậy, quen nghĩ như vậy và để cho thói quen dẫn dắt mà không hề ý thức được điều đó. Ai cũng bị trói buộc trong những thói quen của mình. Không có nó, người ta thấy trống trãi và buồn bã. Không phải nói bỏ, là có thể bỏ được trong ngày một ngày hai. 

Tôi nghĩ đến tương lai của mẹ, nhưng quên mất hiện tại của bà. Hiện tại liệu có còn không mà nghĩ đến tương lai? Tôi chỉ biết đánh bạc là xấu, đánh số đề là bán nhà, chứ tôi không quan tâm đến nỗi cô độc mà bà đang gánh chịu. Tôi chỉ biết gay gắt chứ không biết thông cảm. Chỉ biết ngăn chận chứ không biết tìm ra thứ gì để thay thế nỗi cô độc mà bà đang mang.

Trong cái vòng nhân quả xoay vần ấy, không hiểu rồi bà có trở lại đòi nợ không nữa. Với cha thì chắc không. Những ngày tháng đau khổ vì ông, bà đã mơ thấy bà làm khổ ông thế nào trong những kiếp trước. Chưa kể cha ra đi để lại cho bà nhiều nuối tiếc hơn là trách cứ. Nhân duyên nếu còn, cũng chỉ là thuận duyên. Nhưng với người khác thì sao? Cũng chẳng biết nữa. Còn tôi, tôi ao ước đền bù cho bà những gì tôi không làm được trong kiếp này. Tôi mong mình đời đời kiếp kiếp có đủ trí tuệ, tình thương và sức nhẫn nại để có thể không làm bà buồn mà vẫn không để bà đi trong con đường tối tăm vì đuổi theo tham dục cũng như những nợ nần của chính mình. 

 
Sư Hưng 

Tôi gặp Sư khi tôi vừa sanh đứa con gái đầu lòng. Sư bấm chuông in ỏi và đòi tôi phải ra trả tiền xích lô từ dưới Long An về. Sư không có tiền mà cũng không biết sài tiền.
 
Nguyên do bắt nguồn từ lá thư tôi gởi cho chồng trong trại cải tạo. Cải tạo hết mười bốn tháng vì cái tội vượt biên. Sư thì vừa trên núi xuống. Được mời vô vì tội phát ngôn bừa bãi. Hai ngày trong trại ấy, Sư ngồi thiền và đọc thư tôi viết cho chồng ... Ra trại, Sư liền phi thẳng lên nhà tôi bằng xích lô máy, bắt tôi trả hết 20 đồng tiền xe, và nói suốt hai tiếng đồng hồ về một thứ gì đó có liên quan đến mấy từ BIỂN ÁI DỤC. Đó là những gì còn sót lại khi Sư quảy gót đi.

Khoảng một năm sau, Sư lại xuất hiện. Cũng vẫn cái màng trả tiền xe như lần trước. Lần này Sư không nói nhiều. Chỉ hỏi tôi có pháp danh chưa? Nếu chưa thì Sư cho pháp danh. “Dạ rồi”. Sư bắt tôi quăng con bé qua một bên để thọ lễ làm thầy. Con bé thấy người lạ thì khóc ngất và càng bám chặt vào mẹ. Sư thản nhiên “Kệ nó! qua đây lạy Sư”. “Ông thầy không có lòng từ”. Nhưng mặc con khóc, tôi vẫn cúi xuống lạy Sư như bị thôi miên. Sư dạy tôi cách lạy, rồi dặn “Thôi Sư về. Khi nào người bạn ra trại thì hai đứa phải xuống Long Xuyên tu với Sư”. “Dạ!”. Ra tới cổng, Sư còn dặn tới dặn lui “Không được đẻ nữa nghe chưa”. “Dạ!”. 

Một tháng sau chồng tôi về. Về như có phép mầu. Tôi có đứa con thứ hai và làm ăn phấn phát. Sư lại xuất hiện. Nghe Sư lên thăm tôi điếng hồn. Tôi đẩy chồng ra và núp sau lưng anh chỉ chừa hai con mắt đủ để thấy Sư. Lần này tôi không phải tốn tiền vì Sư đi nhờ xe người khác. “Sư chờ hoài không thấy đứa nào xuống”. Chồng tôi giải thích về nghĩa vụ làm cha, làm chồng và làm con của mình hiện tại. Công nhận chàng giải bày rất hay. Sư không nói gì, chỉ quay qua hỏi tôi “Con biết nghiệp là gì không?” Trong sách vở cũng như âm nhạc không hề thấy nhắc đến từ này. Tôi lắc đầu. “Nghiệp là nghề. Thôi Sư về. Gắn giữ đạo đức cho mình”. Ra tới cổng Sư vẫn còn dặn lại “Đừng có đẻ nữa!”. “Dạ!”.

Đứa con thứ ba của tôi ra đời. Việc làm ăn của tôi thăng trầm sóng gió và đầy sợ hãi. Tôi mất phương hướng vì những suy nghĩ của mình. Đó là vào khoảng những năm 85. Đất nước còn tranh tối tranh sáng. Môi trường chợ búa thật là nhiêu khê. Mình ăn thì người mất. Mình được thì người thua. Bố thí cúng dường thì quả tình làm ăn có dễ dàng, nhưng cái dễ của mình lại là cái khó của người. Trong cái phước đã sẵn cái mầm của họa hoạn. Nhân quả lại rành rành trước mắt. Lúc ấy, càng có cơ hội làm giàu càng dễ gây nhiều tội lỗi. Tôi thật sự thấy mất phương hướng và xuống tinh thần vì tình trạng tiến thoái lưỡng nan của mình. 

Rồi công việc bị trở ngại, tụi tôi phải thu gọn chỗ ở để lấy nhà cho thuê. Chồng tôi cũng thay đổi. Đang ăn mặn bỗng dưng chuyển sang ăn chay. Anh bỏ hết tất cả và chúi mũi vào kinh sách. Đó là điều lạ đối với tôi. Anh không thể nuốt nỗi một bữa chay đừng nói là ăn trường. Chưa bao giờ biết chấp tay vái Phật đừng nói là tụng niệm hay đọc kinh sách. Cái gì mầu nhiệm trong đóng sách kia? Tôi bắt đầu lùng xục và tìm kiếm. Đó là lúc tôi đến với đạo và theo Hòa thượng Thanh Từ. 

Đến với đạo rồi tôi mới nhớ đến Sư. Tôi đã không gặp Sư mười mấy năm rồi. Tôi quyết định đi tìm Sư bằng địa chỉ ngày xưa Sư cho tôi. Xuống Long Xuyên, Sư không còn đó nữa. Nghe hỏi đến tên Giác Hưng, ai cũng cười. Chuyện gì đó đã xảy ra với Sư không theo chiều thuận. Việc ấy có liên quan đến một người đàn bà. Lại ái dụca(

Rồi tôi cũng tìm thấy Sư trong túp liều tranh đổ nát ở Sa Đéc. Sư của tôi ngày xưa không còn nữa. Chỉ là một ông già ốm tong nhỏ tíu trong thật tội nghiệp. Bụi trần thật kinh khủng! Nó làm thay đổi con người không thể ngờ. Thay đổi cả hình dáng mà phong cách của Sư nữa. Ngày xưa Sư oai phong lẫm liệt và tự tin biết bao! Giờ thì từ tốn, dịu dàng, pha chút chịu đựng trong đó. Không nhờ đôi mắt, tôi không tin đó là Sư của ngày xưa. May là trong cái thay đổi vẫn còn cái không thay đổi để mình còn nhận ra được.

Tôi cứ tưởng Sư sẽ rất mừng khi gặp hai đứa tôi. Nhưng không, Sư rất bình thản. Tôi nói với Sư về hai từ VÔ NIỆM. Sư không lấy làm lạ khi thấy tôi nói về hai từ đó. Sư hỏi tôi “Con ăn chay chưa?”. 

- Dạ, mấy tháng rồi. 
- Phải ăn trường, sao có mấy tháng. 
- Không biết có kéo dài được không thành con không khẳng định với Sư được. 
- Mấy đứa rồi? 
- Dạ ba. 
- Ngừng đẻ chưa? 
- Dạ ổng cắt rồi. 
- Cả hai đứa phải chay trường và giữ thân thanh tịnh mà tu hành.

Rồi Sư lại thao thao bất tuyệt về hai từ ái dục. Chục năm rồi mà tôi vẫn không hiểu được Sư nói gì. Không hiểu thành tôi không thể nhớ mà viết ra đây để mọi người cùng đọc ngoài hai từ ái dục. Tôi kể Sư nghe về quá trình đi tìm Sư thế nào và người ta nói gì về Sư. Sư trả lời ngây ngô “Sư có làm gì đâu. Tại Sư hay vạch cái dỡ của người ra thành người ta không ưa”. Sư chỉ vào cái chòi đổ nát của mình “Chùa này cũng mời Sư đi rồi. Sư chưa kiếm được chỗ thành chưa đi”. Đi từ Long Xuyên tới đây mà cũng chưa chịu yên còn muốn đi nữa. Vì nói mà tù tội, vì nói mà lang thang, nhưng hình như Sư không có ý định ngừng nói. Vậy cũng hay!   

- Đứa út con bao nhiêu tuổi rồi?
- Dạ 9.
- Vậy là 18 năm nữa con mới đi tu.
- Sao tới 18 lận. 13 năm nữa thôi chớ Sư.
- Sao lại 13?
- Nó ra trường đại học thì còn 13 năm nữa thôi.

Sư ậm ự cho qua chuyện, rồi nói về Hòa thượng Thanh Từ với giọng không vừa lòng. Không phải về pháp tu mà về việc Hòa thượng đi đâu, Phật tử cũng theo quá đông. Thêm một mớ linh tinh gì đó. Không muốn nghe nên không có chữ nào vô đầu thành không thể nhớ. Tôi có tật đánh giá không cao về những người hay chê người khác. Huống là chê Tông Sư của mình. Tôi không trả lời vì đó là cái nhìn của riêng Sư. Sư có quyền như thế. Song nhờ cái tật hay chê của Sư mà tôi ngẫm ra một điều. Đừng bao giờ đụng đến thầy người khác. Cốt yếu là phải làm sao để người nhận được sự lợi ích thiết thực, không phải chỉ có chê xuông mà thành công. Lời chê của Sư không có tác dụng với tôi, vì tôi nhận được lợi ích từ việc tu học ở Thường Chiếu thì nhiều mà nhận được ở Sư thì chưa thấy. Chỉ có cãi chày cãi cối là giỏi. Được cái nghiệp miệng thì có. 

Sư hỏi tiếp tôi “Con có biết Sư Nhật Quang không?” Chưa kịp trả lời, Sư đã nói tiếp “Trước giờ, Sư chưa thấy ai có cái tướng hảo quang minh như ông ta. Người gì mà có cái tướng tốt quá”. Tôi hả họng cười khoái chí “A a là đệ tử của Hòa thượng đó. Sư đi đâu mà về tuốt dưới đó?”. Sư cụt hứng “Về Bà Rịa thăm người quen”.

Sau này, khi đã “như thật biết thế nào là đạo đế” và thâm nhập thực tế rồi, tôi không còn tâm đánh giá xấu tốt về những biểu hiện của Sư nữa. Chẳng qua, nhân duyên của tôi nằm ở Thầy là chính nên Sư chê Hòa thượng mà khen Thầy. Cũng nhờ nó tôi hiểu vì sao các bậc Cổ đức lại cứ khen chê lẫn nhau như những người còn nhân ngã. Chê hay khen chẳng qua vì thành thục chúng sanh mà thôi. Đúng duyên thì thứ gì cũng thành tốt, nên khen. Không đúng duyên thì mọi thứ là xấu, nên chê. Với các vị, tất cả là phương tiện. Qua rồi như gió thoảng mây bay. Oan gia là ở tại mình. Thứ gì mình cũng thấy thật. Nên thành nhân ngã với thị phi. Cái nhân ngã ấy là do cái KIẾN của mình chứ không phải do bản chất các ngài như vậy.

Tôi cúng dường Sư một ít để Sư sửa cái chòi dột nát rồi về. Tôi không nghĩ chuyện trở lại gặp Sư nữa, nhưng quyết định mua cho Sư một mảnh đất, cất cho Sư cái nhà nho nhỏ để Sư có chỗ tá túc đàng hoàng. Có điều, Sư chỉ có duyên ở nhờ chứ không có duyên có nhà.

Sư lại lên thăm tôi như xưa. Tuy đã theo Hòa thượng học đạo, nhưng biết và hiểu là một chuyện mà sống được vậy chưa lại là chuyện khác. Thời gian tu hành chưa bao nhiêu, nên trên sự vẫn còn nhiều nước mắt. Những lúc ấy Sư lại xuất hiện. Sư răn tôi “Ra chỗ này là để học không phải để thâu gom hơn thua”. Thấy tôi ngơ ngác không hiểu, Sư lại đánh trống lãng bằng mấy thứ cỏ xanh cỏ vàng trên trời dưới đất gì đó. Tật Sư là vậy. Nói câu đầu thấy người không hiểu thì nói câu sau càng khó hiểu hơn. Sư cứ dặn tôi mỗi khi Sư về “Buông tất cả, con sẽ được tất cả”. “Con nghe rồi!”. 

Tôi nói với Sư về ý định mua đất của mình. Sư ừ è rồi về coi đất. Đợt sau lên, Sư đòi tôi 6 cây chứ không phải 2 như tôi đã định. Sư nói mua mảnh đất thật lớn luôn, cho tôi đứng tên. Sư sẽ lập chùa, trồng cây ăn trái sau này con về đó mà ở. Tôi lắc đầu “Con cúng Sư 2 cây Sư làm gì đó làm. Con không đứng tên đứng tuổi gì đâu. Con sống làm người Thường Chiếu, chết làm ma Thường Chiếu”.

Sư hỏi ngược tôi “Hòa thượng Thanh Từ có gì hay mà con sống chết dữ zậy”.

Tôi hỏi Sư “Tổ Sư Thiền có phải do Phật lập ra  không?”.

Sư không trả lời mà lại hỏi tôi “Con có biết sự tích Đức Phật trao cho ngài Ca Diếp nửa tòa ngồi không?”. Tôi gật đầu. Sư nói “Ca Diếp là ông Tổ của Tổ Sư Thiền”. 

Phải nói, những ngày mà công phu còn chưa đủ để có thể đặt niềm tin tuyệt đối vào Đại thừa thì câu trả lời này chính là thứ củng cố niềm tin về Đại thừa cho tôi rất nhiều. Người dạy Đại thừa khẳng định về Đại thừa không giá trị bằng chính một Sư Tiểu thừa khẳng định. Sư ấy lại tu hạnh đầu đà, đầu trần, chân đất và trú tồi tàn trong một mái nhà tranh rách nát. 

Tôi vùng vằng “Vậy sao Sư cứ chê Hòa thượng hoài zậy. Con tu theo Tổ Sư Thiền của Hòa thượng chứ con có đi bằng hai chân của Hòa thượng đâu mà Sư chê hoài nghe mệt nảo quá!”.

Sư cười không nói gì và tiếp tục đòi cho được 6 cây về mua đất trong khi gia sản tôi chỉ có 4 cây. Tôi nói ngang “Con không có. Có 2 cây đó Sư có lấy thì lấy, không lấy thì thôi”. Sư buồn buồn nhìn vào mắt tôi “Phật chỉ gặp một lần, không còn gặp lại được nữa”. Trời đất! Ai xưng Phật người đó là ma ... Tôi càng thủ chặt hơn nữa.

Vấn đề không phải vì tôi chỉ còn 4 cây. Chẳng qua tôi thấy mua nhiều đất không để làm gì. Nói pháp theo kiểu của Sư thì lập chùa ra có ích lợi gì? Có ai hiểu gì đâu mà nói. Có hiểu thì cũng chẳng ai làm nỗi. Có phải Tăng Ni đâu mà mỗi lần gặp tôi, Sư cứ bắt tôi ăn chay, bắt tôi không được đẻ, bắt tôi ngừng yêu thương khi ông chồng tôi còn sờ sờ ra đó. Tôi thương Sư lắm mà tôi còn ngán tận cổ chẳng muốn gặp Sư, huống là những người không ưa Sư. Thôi cứ ở một mình đó. Lâu lâu lên thăm tôi. Còn không thì đi tới đi lui đâu đó chọc phá cho thiên hạ bớt bình yên cũng được. Thế giới nay chắc chỉ có mình tôi là thương Sư. 6 cây mua đất còn không đủ, lấy đâu ra để xây chùa mà tính chuyện viễn vong. Tôi là đứa cứng đầu lại đa nghi, nghe Sư nói trống trống là Phật là thánh, lại càng thủ chặt không muốn đưa ra. 

Rốt cuộc Sư nài được ông xã tôi một chỉ để đóng thuế đất rồi về. Lần đầu tiên tôi thấy Sư buồn. Một tháng sau tôi mất chiếc xe đang đi, vừa đúng 4 cây. 

Sư nói không sai, đó là lần cuối tôi gặp Sư. Hơn cả năm không thấy Sư lên, tôi sốt ruột điện thoại về chùa hỏi thăm, mới biết Sư đã bị điện giật chết sau đó mấy tháng. Tôi sững sờ và hối hận không thể tả. Tại tôi không chịu đưa 6 cây cho Sư thành Sư mới chết như vậy cũng nên. Tôi muốn khóc nhưng không khóc được. Khi chết, trong tay nãi của Sư còn 2 cây tôi đã đưa mua đất. Chính quyền lập biên bản và mời người em của Sư ở Qui Nhơn vào nhận thay. 

Sư Trung có lên thăm tôi và nói về chuyện miếng đất. Tôi lập lại những gì tôi đã nói với Sư Hưng. Sư nói người ta đã qui hoạch để mở một con đường ngang đó. Miếng đất giờ đã có người trả 20 cây nhưng vậy thì Sư sẽ không bán, để đó lập chùa và dời mộ Sư Hưng về. Tôi rất vừa ý với dự định của Sư. Song cũng không biết hiện tại thế nào. Vì từ đó tới giờ, tôi chưa một lần về đó thăm Sư. Mà duyên đời thì đưa đẩy. Biết hiện tại thế nào. Có còn đó hay không?

 
Nhân Duyên

Đó là những gì tôi biết về Sư Hưng. Còn con người thật của Sư thế nào, tôi không biết. Mà có con người thật nào ở thế giới này khi nó được đúc kết bằng những mạch nối của nhân duyên? Nếu nhân duyên giữa Sư và tôi thuận, nghĩa là Sư và tôi có những mối liên hệ khá tốt từ những đời quá khứ, thì Sư trở thành con người tuyệt vời dưới mắt tôi. Nếu nhân duyên giữa tôi và Sư xấu, tức quan hệ của tôi và Sư trong những đời trước không mấy thuận, thì Sư trở thành một tên đáng ghét dưới mắt tôi. Con người Sư thế nào là tùy duyên, nhưng mình lại lấy cái tướng tùy duyên đó cho là tính cách của Sư và xem tính cách ấy như con người thật của Sư. Không có duyên của tôi và anh thì tính cách của Sư đặt ở chỗ nào? Mà không có tôi và anh, liệu có Sư hay không?

Con người thật của Sư cũng như con người thật của anh hay tôi không hình không tướng. Chỉ vì nhân duyên nhân quả mà thành có tướng. Mình không hiểu, lại nhận cái tướng ấy làm tôi, nhận cái hình hài kia là anh, rồi trên những cái vọng nhận ấy mà phân biệt, tranh dành, thương ghét. Thế giới trở thành đảo điên từ đó.  

Tôi thấy Sư như hiện thân của một vị Bồ tát. Anh thấy Sư như một tên khùng. Tôi đúng hay anh đúng? Không ai đúng cũng không ai sai. Cái duyên giữa tôi với Sư không giống với cái duyên giữa anh với Sư. Chính vì vậy, mình có hai cái nhìn khác nhau về Sư. Cái khác ấy nằm ở mối NHÂN DUYÊN giữa tôi với Sư và giữa anh với Sư, không phải ở chính con người Sư. Nghĩa là, cái tướng Sư đang mang đó, nó liên quan trực tiếp đến nhân vật chính là tôi hay anh. Chính xác hơn, nó liên quan đến căn nghiệp của mỗi người. Nói gần một chút nữa, nó lệ thuộc vào quan niệm định kiến của từng người. Cái định kiến ấy cũng thay đổi theo thời gian chứ không chịu đứng yên một chỗ. Vậy mà mình sử dụng chúng như là của báu, trong khi Phật gọi chúng là đồ VỌNG TƯỞNG. 

Với anh, chân tu phải là người cột sống luôn phải thẳng góc với mặt đất, mắt không ngó bên phải, không nhìn bên trái, cứ một mực dưới đất mà nhìn. Ai thuộc tiêu chuẩn đó, vị đó là thiện tri thức để anh kính trọng. Tôi thì không. Tôi không quan tâm đến cái đầu người đó đặt ở đâu. Cái đầu họ ngược với cái chân mà cái ngược ấy khiến tôi bớt tham sân si, tôi phát trí tuệ thì vị ấy là thiện tri thức của tôi. Mình có hai quan niệm khác nhau nên người tốt và xấu qua cái nhìn của mình cũng không giống nhau. Cứ vướng vào quan niệm như thế nên thế gian nầy mới đầy tốt xấu. 

Có anh mà Sư thành xấu. Có tôi mà Sư thành tốt. Không có anh và tôi thì Sư chỉ là Sư. Không tốt cũng không xấu. Nếu ngay đây nhận được. Không hướng ra ngoài phê phán mà qui hướng lại mình như nhà thiền đã dạy PHẢN QUAN TỰ KỶ BỔN PHẬN SỰ - Phận sự của mình là quay về chiếu soi lại chính mình - thì tốt xấu nằm ở chỗ nào? Không tốt xấu thì không có phê bình, hơn thua, tranh dành, phiền não. Đâu chẳng phải là Phật pháp? Phu nhân Bàng Long Uẩn nói “Dễ! Dễ! Dễ! Trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư”. Chỗ nào không phải là ý của Tổ sư?

Một người bạn nói với tôi “Mày đụng đâu cũng lôi duyên khởi ra nói”. Nói về DUYÊN KHỞI là nói mọi thứ ở thế gian này đều do duyên mà khởi, từ duyên mà có. Nó là từ chung của NHÂN DUYÊN và NHÂN QUẢ. Phải có hạt giống của cam và vô vàn những điều kiện chung quanh như đất, nước, phân bón v.v… mình mới có được quả cam. Hạt giống là NHÂN. Những thứ còn lại gọi là DUYÊN. Quả cam là QUẢ. Mình thử tìm xem, có thứ gì xuất hiện trên cõi đời này mà thoát được hai thứ nhân duyên ấy không? Không có thứ gì hết. Cái mạng mình đây cũng nhờ tinh cha huyết mẹ mới thành. Sâu hơn nữa, phải có nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền não làm duyên mới chiêu cảm ra cái thân phần đoạn sanh tử hiện nay. Cuộc đời này không có gì không là nhân duyên. Đụng tới đâu DUYÊN KHỞI lòi tới đó. Nói gì khác ngoài duyên khởi bây giờ? 

Phật nói chúng sanh đi cùng với NHÂN DUYÊN mà không hề biết gì về nhân duyên. Không biết nghĩa là không biết những gì mình đang có đây đều bắt nguồn từ một cái nhân đã có từ trước. Cái nhân như vậy, cái duyên như vậy, nên cái quả mình nhận như vậy. Những gì mình đang làm đây cũng sẽ có cái quả trong tương lai khi đủ duyên. Không có thứ gì tự nhiên mà có hay tự nhiên mà mất. Nắm được mặt nhân duyên này, mình sẽ bình thản được với những được mất ở thế gian mà cũng tránh được nhiều việc đáng tiếc xảy ra trong hiện tại và tương lai. Song vì không biết mà thế giới này mới đầy tai họa. Tan thương và đau khổ không bao giờ vơi bớt. Không nói về nhân duyên thì nói về gì bây giờ? Nói về bổn phận PHẢN QUAN  của mình vậy. 

 
Phản quan tự kỷ
bổn phận sự

Nói đến Thiền, ai cũng nghĩ ngay đến việc kéo chân ngồi kiết già hoặc bán già, theo hơi thở hay nhắm mắt tịnh tâm. Và cho đó là thiền.

Thiền đó gọi là TỌA THIỀN. Là cách thức đầu tiên giúp mọi người bớt hướng ra ngoài mà xoay lại mình. Nó giúp mình bớt lăn xăn loạn động cái thân để điều phục dần cái tâm chứ nó không phải là tất cả trong việc tu thiền. Vì vậy khi nói đến thiền, mình không nên chỉ nghĩ đến việc ngồi thiền là thế nào? Thấy được gì qua việc ngồi thiền ấy? Mà còn rất nhiều việc khác cần bàn bạc khi nói đến thiền.

Tuy TỌA THIỀN là phương pháp đầu tiên để vào cửa thiền, nhưng với nhiều người cái cửa đầu tiên này không phải dễ nuốt. Bà tôi cứ than “Bà ngồi tụng kinh cả ngày được, mà ngồi thiền cọ mậy phụt răng chịu không được. Khọ quạ!”. Tội bà! Bà tụng giỏi quá bây giờ quen rồi, bảo nó yên không cho nó tụng, nó đâu chịu. Khó lắm! Thành dù tọa thiền không phải là tất cả trong việc tu thiền, mình cũng cần phải cố gắng. Tập ‘ngồi yên’ để trị bớt cái bịnh ‘không yên’ của mình. Khi nào cái ‘không yên’ không còn làm chủ mình nữa - nghĩa là mình muốn yên thì nó yên, mình muốn động thì nó động, mình muốn tụng thì nó tụng, mình muốn im thì nó im - lúc đó mình mới không cần tập ngồi thiền. Cái gì cũng do THÓI QUEN mà thôi. Tập hoài sẽ được.   

Tọa thiền là phương pháp giúp ổn định thân. Thân ổn định để định được tâm. Cho nên, trọng tâm của việc ngồi thiền chính là làm sao để tâm được yên. Không tọa thiền mà vẫn khiến tâm yên thì vẫn gọi là có công phu tu thiền.

Giờ mình bàn về hai chữ TÂM YÊN. 

Tâm yên để làm gì? Để làm Phật. Để thành ông Phật ngồi trên bàn thờ với mấy nãi chuối xanh đó. Nghe vậy chắc chẳng ai muốn làm Phật. Ngồi trên đó coi bộ buồn, mà muốn ngồi trên đó thì mất nhiều công phu sức lực lắm. Thời vật chất đang hưng thịnh như ri mà nói đến hai chữ làm Phật thì quả tình hơi không thực tế. Không thực tế vì không ai muốn yên theo kiểu ông Phật trên bàn thờ kia. Còn biết bao thứ để hưởng thụ.

PHẬT còn có một nghĩa nữa. Nó chỉ cho TÁNH GIÁC trong mỗi người chúng ta. Sống được với cái tánh giác đó gọi là làm Phật. Tánh giác là chỉ cho cái tâm của mình đây, chính là cái BIẾT. Là thứ mà nhờ nó mình không trở thành vô tri vô giác như cây cỏ hoa lá hay như trái banh lăn long lóc trên đường kia. Mình biết cái này ngon, cái kia đẹp. Mình biết nói cười, biết nhảy nhót, biết suy nghĩ, biết yêu thương. Mình biết cái gì thiện, cái gì ác … Tất cả đều nhờ tâm. Ai cũng có cái tâm đó. Phật trên bàn thờ kia cũng có cái tâm đó. Bồ tát Di Lặc cũng có cái tâm đó. Anh có tâm đó. Tôi cũng có tâm đó. Nhưng vì sao không gọi mình là Phật mà lại gọi là chúng sanh?

PHẬT là biết. Biết đủ hết nhưng chỉ BIẾT rồi thôi. “Cái hoa này đẹp quá!”. Nghe cái hoa này đẹp quá thì chỉ biết nghe “Cái hoa này đẹp quá!”. Chừng đó thôi không thêm gì vô nữa. Biết vậy gọi là cái BIẾT PHẬT, còn gọi là GIÁC. Nhờ chỉ BIẾT thôi nên không thứ gì là không biết. 

CHÚNG SANH, nghĩa của nó là họp lại mà sanh. BIẾT mà còn sanh thêm đủ thứ trên đó, từng đàn từng lũ họp lại mà sanh, nên không gọi mình là Phật mà gọi là chúng sanh. “Đứa nào nói vậy hè? Nó nói cái hoa nào đẹp rứa không biết” còn không thì cảm giác vừa lòng hay không vừa lòng xuất hiện, rồi vui buồn thênh thang … Một câu vừa qua tai mà bao nhiêu thứ trổi theo như thế, nên gọi là chúng sanh. Song sanh rồi mà kịp thời ngừng lại không cho nó sanh nữa, gọi là BỒ TÁT. 

Khi mình đang có danh vọng, tiền tài, vợ đẹp, con ngoan, không ai thấy giá trị của việc làm Phật. Làm Phật kiểu thứ nhất thì để dành cho những vị có lý tưởng cao cả, đây mình không đề cập đến. Chỉ nói đến kiểu làm Phật thứ hai. Cái kiểu làm Phật này rất có giá trị khi mình gặp tai họa hay khổ nạn. Trong đời sống thường nhật đây, nếu mình sử dụng được ông Phật này, cuộc đời sẽ bớt khổ đau rất nhiều. Nói đến khổ đau thì chắc chẳng ai dám khoe “Từ nhỏ đến giờ tôi chưa từng biết khổ đau”. Ai đã có lòng yêu thương, người đó có đau khổ. Chỉ là ít hay nhiều, thường hay không thường mà thôi.

Ngày tôi mới theo Hòa thượng học thiền, tôi nhặt được một chú mèo con còn chưa mở mắt. Mẹ nó tha thế nào mà con bé rớt chỏng cẳng dơ que ở cổng nhà tôi. Tôi nuôi nó bằng ống kim với sữa bò cho đến ngày nó lớn. Lần nào nó đẻ, tôi cũng phải ngồi vuốt lấy sống lưng cho nó. Con bé hiền lành dễ thương ... Nuôi 3 đứa con mà còn kiêm luôn cả 3 đứa cháu. Nhưng chưa được mấy ngày thì nó bị người ta thuốc chết. Tôi tìm thấy nó dưới gầm xe. Máu còn loang nơi miệng. Mắt mở trừng trừng. 6 đứa con khát sữa kêu in ỏi. 

Tôi đau trong lòng. Tôi khóc không được. Nghĩ đến hình bóng cứng đờ của nó dưới gầm xe là ruột tôi quặn cả lên. Mọi người xúm lại bàn tán. Kẻ hít hà thương cảm lũ con chưa mở mắt đã mồ côi mẹ. Người nguyền rủa kẻ sát nhân sao ra tay tàn ác. Người thắc mắc vì sao nó không ăn ở nhà, lại đi kiếm ăn ở đâu để chết quá thảm thương. Nghe chừng nào ruột tôi quặn lên chừng đó. Cộng thêm hình ảnh trừng mắt của nó ... Không thể nào chịu nổi! 

Có câm hết đi không! Tôi cấm không ai được nhắc đến con mèo dù chỉ là một sợi lông. Tôi cấm tôi không được nghĩ. Đầu tôi không có hình ảnh. Tai tôi không nghe gì hết. Tôi trừng trừng với nỗi đau của riêng mình trong một không gian yên lặng. Phép màu đã xảy ra ... Ngay cái chỗ đang đau đó, một cảm giác an lạc xuất hiện xóa tan mọi đau đớn. Tài chi Hòa thượng nói “Phiền não tức bồ đề”. Cứ ngay cái phiền não đó mà nhấn tới thì bồ đề sẽ xuất hiện. Bồ đề là chỉ cho ông Phật của mình đó. Phật thì thường, lạc, ngã, tịnh nên mình hưởng được cái lạc đó mà cái khổ không còn.   

Công phu còn đang giai đoạn nhú mầm nên mình vừa phản quan tự kỷ mà vừa phải mượn duyên bên ngoài để … làm Phật. Nếu