Thay
lời tựa
HƯƠNG
CỦA NGƯỜI ĐÃ CHẾT là vài mẫu chuyện nhỏ ghi lại những
gì tôi đã gặp trong cuộc sống của mình liên quan đến những
người đã chết.
Như
đời sống của bao người bình thường khác, tôi cũng lớn
lên giữa vòng tay của cha, mẹ, người thân cùng bạn bè,
cũng không thoát khỏi những thương, ghét, khóc, cười …
không tránh được phiền não và cả những thù nghịch. Song
dưới ánh sáng của ĐẠO, những thứ mà ta cho là bất hạnh
và ngược đãi lại là những bài học vô cùng quí giá trong
cuộc đời mình. Chưa một lần như thật biết thế nào là
KHỔ, bạn sẽ không bao giờ thấy được giá trị thật sự
của ĐẠO. Không như thật biết thế nào là ĐẠO, bạn cũng
không thể chiêm nghiệm được cái gọi là DIỆT mà dừng
đi TẬP và KHỔ, là 4 chân đế ở cuộc đời này.
Ta
luôn cảm thấy biết ơn khi mọi thuận lợi đến với ta nhưng
lại có thái độ than trách đối với hoàn cảnh không thuận
lợi. Ít ai chịu chấp nhận hay biết ơn đối với những
bất hạnh mà mình gặp phải trong đời. Đó là vì ta không
nắm được luật Nhân Quả đang chi phối thế gian này. Không
thấy được thế giới chỉ là bóng dáng của tự tâm nên
không có tâm bình thản đối với những bất hạnh mình đang
gặp phải. Xấu hay tốt, đau khổ hay hạnh phúc không phải
từ ngoài đưa tới mà từ trong chính mình. Thiền sư Takuan
nói “Tốt và xấu không phải trong chính họ mà trong chính
tôi. Khi hình ngay thì bóng không cong”. Hình ngay thì bóng không
cong. Hình cong thì bóng không ngay. Đó là qui luật tất yếu
ở cuộc đời này. Khi qui luật ấy sáng tỏ trong ta, sẽ không
có sự than phiền hay trách cứ nào nữa. Nếu thấy được
bất hạnh chồng chất chính là liều thuốc trắc nghiệm,
vun bồi khả năng chịu đựng của mình và “trong vực thẳm
của thất vọng vẫn có ánh sáng của châu báu”, ta sẽ luôn
có lòng biết ơn đối với hoàn cảnh hiện tại dù hoàn cảnh
ấy ra sao.
Một
nữ tu Rengetsu khi hành hương đến một ngôi chùa thì trời
cũng vừa tối. Bà xin chỗ trú chân qua đêm nhưng dân làng
ở đó không cho. Bà phải trú tạm ở cây anh đào ngoài đồng.
Giữa khuya dưới bầu trời đêm xuân, bà tỉnh giấc và nhìn
thấy hoa anh đào nở rộ cười đón ánh trăng trong làn sương
mờ. Ngây ngất trước vẽ đẹp của thiên nhiên, bà đứng
lên kính cẩn hướng về ngôi làng “Nhờ lòng tốt đã không
cho tôi tá túc. Tôi ngồi đây, dưới những đóa hoa nở trong
đêm mờ”. Khi ta có thể hài lòng với quá khứ và vui với
hiện tại, thì như người nữ tu kia, ta sẽ chiêm nghiệm được
cái đẹp của hoa anh đào nở rộ …
Đó
là những gì tôi muốn gởi đến các bạn trong Hương Của
Người Đã Chết.
TP.HCM
ngày 20.12.2004
Chân
Hiền Tâm
Phúc
đức
Gia
đình tôi ở Sài Gòn nhưng dì và bác lại tận Cần Thơ. Lâu
lâu dì lên thăm ngoại, chị em tôi mới có dịp ăn bánh gói
lá và củ ấu đen. Củ ấu đen lạt lạt bùi bùi, cắn muốn
mẽ răng nhưng nó là thứ quí giá của chị em tôi lúc đó.
Thứ ấy Sài gòn không có mà bố tôi thì rất kỹ. Ông không
cho gặm những thứ đen đúa mất vệ sinh. Song với dì thì
ông chẳng bao giờ lên tiếng. Mỗi lần dì lên, ngoài việc
được ăn những thứ linh tinh, tụi tôi còn không phải ngủ
trưa. Thành mỗi lần tiễn dì về, tụi tôi cứ dặn lui dặn
tới “Dì ơi! Nhớ lên mau mau, nhớ mua củ ấu cho con nữa
nha”.
Ngày
cưới tôi, dì bác được mời trải giường cưới. Người
ta tin rằng lũ trẻ sẽ hưởng được hơi hướm của những
người đi trước khi mời họ làm việc đó. Lúc đầu mẹ
tôi hơi do dự vì dì không có con. Song nhìn quanh nhìn quất
thì chẳng ai được đủ tiền đủ bạc, lại hạnh phúc như
dì và yêu vợ như bác. Không có con, bác vẫn chỉ có mình
dì. Nhờ vậy, mẹ tôi gạt phăng nỗi lo, hy vọng con gái được
chồng thương yêu và đủ tiền đủ bạc. Cũng phải, đời
này có gì trọn vẹn mà đòi cho nhiều.
Không
biết việc thừa hưởng hơi hướm ấy có bị qui luật nào
chi phối nữa không? Chỉ biết dì không có con, còn tôi nếu
không có niệm dừng nghỉ thì hai năm ba đứa cho đến ngày
nhắm mắt cũng chưa ngừng.
Vừa
đi chợ về thì điện thoại reo. Xa xăm đâu đó, một giọng
nói xa lạ vang lên “Chị ơi! Cô Nhờ bị xe đụng chết rồi”.
“Hả, cái gì? Ai nói cái gì zậy?”. “Em nói cô Nhờ chết
rồi. Sáng nay trên đường lên Sài Gòn gần tới Vĩnh Long
thì bị xe đụng chết rồi”. Bị chết vì xe đụng? Nhà
tôi mà cũng có người bị chết vì xe đụng? Cái gì đó tưng
tức trong ngực. Tôi không khóc mà thấy buồn cười. Tôi báo
tin cho mọi người với ánh mắt buồn cười đó. Về đến
Cần Thơ, ngồi bên cạnh quan tài rồi tôi mới bật khóc.
Khóc đã đời và sung sướng. Không khóc, tôi sẽ chết mất.
Trên
xe chỉ có mình dì chết. Ngồi đúng cái chỗ mà tôi dặn
dì theo lập luận và sự tính toán của tôi. Cái chỗ bên
phải, không ở hàng ghế dưới cùng, không ở hàng ghế trên
cùng. Đó là chỗ mà nếu có tai nạn xảy ra thì xác suất
tổn thương cũng sẽ ít nhất. Vậy mà trong chuyến xe ấy
chỉ có mình dì chết. Đầu bẹp dí một bên.
Tính
gì được một khi nghiệp nhân đã có? Đủ duyên rồi thì
nghiệp quả xảy ra. Mình chỉ có thể tính và làm được
một điều : Đừng gây việc ác, cố giữ điều thiện và
học cách bình thản với những được mất ở cuộc đời.
KHÔNG LÀM VIỆC ÁC thì không gieo nhân xấu. Không nhân xấu
thì dù duyên nhiều bao nhiêu, mình cũng không phải gặt lấy
quả như hiện nay mình đang gặt những quả từ kiếp trước.
GIỮ ĐIỀU THIỆN là để những nhân xấu mình lỡ tạo trong
quá khứ không có cơ nẩy mầm, hoặc có nẩy mầm thì quả
cũng ra èo uộït : Hoạ nhỏ thì tiêu, họa lớn giảm bớt.
Cũng là để gieo cái nhân tốt cho tương lai. BÌNH THẢN với
những được mất ở thế gian là để có thể bình thản
với những định nghiệp mà mình đã tạo trước đây. ĐỊNH
NGHIỆP là loại nghiệp mà dù có năng lực và phúc đức như
Phật, mình vẫn phải trả. Dì tôi đó, không ai nghĩ dì sẽ
chết bất đắc kỳ tử như thế. Hiền lành, đạo đức,
không bao giờ bỏ giờ tụng niệm của mình hằng đêm. Ngày
dì chết là khoảng ngày dì đang đi cúng dường rất nhiều
nơi. Không ai nghĩ dì có thể chết như thế. Nhưng dì đã
chết như thế đó. Quá khứ? Mình đã gây tạo những gì trong
quá khứ? Không ai biết gì hết. Mình chỉ biết khi quả nó
hiện ra.
Cái
chết của dì khiến tôi ngẫm nghĩ nhiều hơn về hai từ PHƯỚC
ĐỨC. Ở đời, nó là thứ quyết định mọi thứ chứ không
phải là sự tính toán. Suy nghĩ, tính toán chỉ là mớ vọng
tưởng. Phước mà đầy đủ, tính sai cũng thành đúng. Họa
đã tới rồi, tính đúng cũng thành sai. Chả trách người
xưa nói thời thế tạo anh hùng. Thời thế ấy chính là cái
duyên đưa đẩy mình thành khôn ngoan, bản lảnh và thành công,
cũng là cái duyên khiến mình thành ngu tối, suy bại. Cái duyên
ấy là cái quả từ cái nhân mình đã gieo trước đây. Nhân
tốt thì sinh thời thế tốt. Duyên xấu thì sinh thời thế
xấu. Thời thế tạo anh hùng là do anh hùng đã từng tạo
thời thế.
Khoa
học phát triển rất mạnh nhưng người chết vì tai họa và
bệnh tật lại tăng gấp bội. Bịnh này trị chưa xong lại
lòi bịnh khác khó trị hơn. Mình có máy tính sóng thần, nhưng
vùng có sóng thần mình lại chưa kịp trang bị. Mình tính
vùng này xác suất xảy ra động đất rất ít nhưng nó đã
xảy ra. Tổn thất càng nặng. Cứ nhít đi một chút để tai
họa và bịnh tật có thể xảy ra cho ngang với những gì khoa
học đã ban phát.
Xe
này đổ nguyên thùng container lên một xe khác. Đúng vào giờ
đó, ngay đúng xe đó chứ không phải xe khác, không sớm một
chút cũng không trể một chút. Nó đụng nhau bên kia đường
không chết, văng qua giải phân cách tới mình, mình chỏng
cẳng dơ que. Đều là bị sóng thần mà người lênh đênh
trên đão không sao, chết người trong bờ. Một đứa con nít
không chết lại chết người có khả năng tự vệ cao hơn.
Biết bao nhiêu điều để mình suy gẫm. Nhưng mình ít khi tự
hỏi về những điều đó.
Thứ
quyết định cái nhít đi một chút, trùng lấp một chút đó
là hai từ phước đức. PHƯỚC là những gì mình làm cho người
khác. ĐỨC là do mình làm chủ những tham dục thuộc bản
thân để không làm khổ người, khổ vật. PHƯỚC thường
đi chung với ĐỨC nhưng có khi chỉ có PHƯỚC mà chưa đủ
ĐỨC. Ngày nay con người làm phước khá nhiều nhưng đức
thì ít lắm. Do vậy, đời sống vật chất thật cao nhưng
hung họa thì không thiếu.
Một
lần tôi ghé vào một tiệm chạp phô mua ít đồ dùng. Tôi
lựa mua ít thịt hộp về cho bữa trưa của gia đình. Người
đàn bà bên cạnh cứ liên tục hỏi chủ tiệm về đồ hộp
Việt Nam. Tôi đưa cho bà hộp thịt nhà vẫn thường dùng,
mark ngoại mà giá không hơn đồ nội bao nhiêu. Bà lắc đầu
chỉ vì một lý do rất đơn giản : Ăn đồ Việt Nam để
dân mình có việc làm. Dân họ giàu rồi. Hàng này thường
là hàng nhập lậu. Ăn nó là tiếp tay cho một mớ người
làm giàu trên xương máu người khác. Lòng tốt của tôi bị
đụng chạm. Một mình bà thì bà làm gì được với cái thế
giới như hiện nay? Tôi không cần biết. Tôi chỉ biết mình
đã làm gì và không làm gì. Không góp tay vào những thứ tồi
tàn đó là được. Đúng là một con người lập dị! Nhưng
những điều bà nói không khỏi khiến mình suy nghĩ.
Ai
cũng hay đổ thừa cho hoàn cảnh nên đánh mất dần tính tự
chủ của mình. Cái xấu của người này là cái nhân để
kéo theo cái xấu của người khác. Thành tai họa của người
này dính liền với tai họa của người khác. Mình chỉ cho
khi tai họa đã tới với người, chứ mình không biết cho
đối với người chưa có tai họa. Ở đâu có thiên tai, lũ
lụt, nạn tai … mình đều xan xẻ tiền bạc với sự thương
cảm rất thật lòng nhưng mình không biết bớt đi một chút
ngon miệng để cuộc sống của người hạnh phúc hơn. Mình
có thể mang một đôi giày trăm bạc nhưng lại chì chiết
từng đồng với một người hàng rau. Mình gởi tặng rất
nhiều nhưng lại bày trò gian dối hại người để có tiền
gởi tặng. Mình cúng chùa không ít nhưng lại tranh dành bóp
chẹt đồng lương của kẻ làm công. Thứ mình đưa ra
ngang với tiếng chì tiếng bất. Thứ người nhận được
cũng ngang với nước mắt đã bỏ ra. Mình làm phước không
phải vì thương người mà để nguôi ngoi phần nào nỗi bất
an, để việc làm ăn của mình được trôi chảy dễ dàng,
để cái tôi của mình được biết đến. Mình bán cái ĐỨC
để mua cái PHƯỚC chứ không phải là người có đủ cả
đức lẫn phước. Nhân duyên đưa đẩy, cái xấu của người
này lại chính là cái duyên để dẫn đến cái xấu của người
kia. Con người hiền lành bao nhiêu rồi cũng thành lanh lẹ
thủ đoạn trong thời buổi khắc nghiệt. Cái tốt ẩn đi.
Cái xấu phất cờ. Người đàn bà không biết giữ được
tấm lòng cao cả ấy bao lâu khi ăn phải thịt hộp thối vài
lần? Thứ này luôn liên quan mật thiết với thứ kia trong
thế giới mà Nhân Duyên là qui luật chi phối tất cả. Cái
phước mình tạo thì mình nhận. Cái đức mình thiếu thì
họa hoạn theo đó mà sanh. Họa hoạn sanh rồi, cái phước
đã tạo không bù nỗi cái đức đã thiếu. Nạn tai rồi,
tiền bạc đổ vô không biết bao nhiêu cho đủ. Nhân Quả
cứ vậy mà nối tiếp xoay vần. Mình không thấy đầu mút
phát sanh để mà ngăn chận, chỉ tìm cách chữa cháy khi nó
đã xảy ra. Chữa cháy trở thành bịnh lớn của người thời
nay. Lá rách tới đâu đùm tới đó. Đùm đến khi nào hết
được thì thôi.
Chữa
cháy chứ không biết ngăn chận nên việc cứ có để chữa
cháy hoài. Nay lụt chỗ này, mai lỡ chỗ kia. Giúp cho cái cày
chưa xong, thiên hạ mất quách con bò. Cứu trợ chưa xong, đã
xuất hiện cảnh bán người qua biên giới. Có việc, ai cũng
muốn đem tấm lòng để mà làm phước nhưng cái đức thường
ngày thì bỏ mặc. Đức trở thành lập dị ở thế giới
này.
Mọi
người luôn nói TÀI phải đi đôi với ĐỨC. Nhưng dạy con
trẻ thế nào để có đức thì không ai dạy. Ngay từ nhỏ
không dạy, lớn lên nó hung hãn là chuyện bình thường. Bây
giờ người ta ít dạy trẻ con “Đói cũng phải giữ lấy
lề” như các cụ ngày xưa. Bố mẹ không có thì giờ để
dạy con. Mà có dạy cũng chỉ dạy lòng vòng trong mấy thứ
sự nghiệp và tiền bạc. Bởi đồng tiền là tiên là Phật,
là sức bật của lò xo … Có tiền tới đâu cũng được
trọng vọng, cũng thành có hiếu, cũng thông mọi chuyện ...
Vì vậy càng có nhiều tiền càng tốt. Không ai dạy con biết
đủ là hạnh phúc. Không ai dạy con cố gắng học giỏi để
sau này còn ra giúp đời. Thầy cô cũng không có thời giờ
để dạy học trò mình những câu như thế. Kết quả học
tập của trẻ còn phải báo cáo không thật để lấy chỉ
tiêu, nói gì đến những thứ to tát hơn.
Không
dạy con trẻ ngăn bớt những ham muốn của bản thân thành
thiếu một chút, chúng đi ăn trộm. Ăn trộm hụt mà lỡ tay
thì giết người. Lớn chút nữa, đút tiền để con vào đại
học mà có cơ ngơi sự nghiệp với đời. Đồng tiền giải
quyết mọi sự thành dù không dạy con nít ham tiền, bản thân
nó cũng thấy mảnh lực đồng tiền rất lớn. Heo rữa trộn
chung với phẩm màu để phát tài phát lộc là chuyện đương
nhiên. Báo chí rùm ben, pháp luật được thi hành. Nhưng chẳng
có thứ gì suy giảm. Cái này mất thì cái kia lại trồi lên.
Luôn có chuyện để làm. Đâu cũng có ngõ ngách để tội
ác thông qua. Trong trường học bây giờ cũng có án mạng.
Hai bà lớp 9 đánh ghen nhau bằng dao lam. Vừa tròn 14 tuổi
đã biết giết bà lấy vàng đem bán. Mô Phật! Chữa cháy
chứ có ngăn đâu mà có thể giảm bớt.
Mình
sống trong guồng máy ấy rồi mình cũng quên mất. Mình chỉ
cốt làm sao cho con mình ăn thật ngon, mặc thật đẹp, lo cho
nó thật đầy đủ mà chưa bao giờ nghĩ ra được những điều
người đàn bà kia đã nói. Mình chỉ dạy nó cái tài mà quên
dạy nó cái đức. Mình chỉ dạy nó phấn đấu mà không dạy
nó hướng phấn đấu. Không biết dạy con bỏ bớt những
ham muốn của bản thân từ lúc 3 tuổi, thành lớn lên mình
quãn nó không nỗi. Nó thích là nó làm, chẳng kể gì đến
cha mẹ hay thiên hạ. Mình không dạy nó tấm lòng đối với
mọi người nên ăn được ai, nó ăn cho hết. Cái không đức
ấy là nhân để có một cái quả tan thương không ở kiếp
này thì cũng ở kiếp sau. Hiện nay mình không đang nhận cái
quả của những cái nhân ở đời trước sao? Người này một
chút, người kia một chút mà thành muôn sự trên toàn thế
giới.
Mình
không thấy được nhân quả ba đời nối tiếp. Mình không
thấy được cái nhân của tiền kiếp mà chỉ thấy được
những tan thương con người đang gánh chịu rồi tìm cách chữa
cháy. Không ai có thể nói thẳng vào mặt một người mẹ
vừa mất con rằng “Đó là do bà đã tạo cái nhân xấu trong
quá khứ. Bà đã có những suy nghĩ không đúng và làm những
việc không đúng nên kiếp này bà phải chịu như thế”.
Không ai có thể nói thẳng với những người đang gặp sóng
thần về hai chữ Nhân Quả. Không ai đành lòng như thế. Nhưng
đó là sự thật. Hạnh phúc sung sướng hay đau khổ nạn tai
đều tự chính mình. Mình đã gây tạo một điều gì đó
trong quá khứ. Ngày nay lụt lội tai nạn sông nước nhiều
như thế, đứng về mặt khoa học mà nói, đó là do phá rừng,
do hiệu ứng nhà kính gây ra. Song theo cái nhìn của đức Phật,
đó chính là hậu quả của lòng tham dục. Con người đời
nay tham dục quá nhiều nên nạn tại sông nước không sao kể
xiết. Chết chừng đó chưa thấm vào đâu. Còn nữa! Chưa
biết ở đâu mà thôi.
Tấm
lòng xan xẽ của muôn người khi một người gặp rũi ro hay
nạn tai là nỗi an ủi lớn lao đối với người đó. Nhưng
những thứ đó chỉ là chữa cháy chứ không ngăn được cái
cháy. Chữa cháy mà không ngăn cháy thì chữa đến khi nào
mới rồi? Vấn đề ĐẠO ĐỨC không được đặt nặng, không
trở thành việc thiết yếu đối với con trẻ từ lúc 3 tuổi
thì lớp này nối tiếp lớp kia, suốt đời cứ sống mà chữa
cháy. Lớp trước chết đi biến thành lớp sau để mà trả
nợ. Kẻ gây cháy thì nhiều, kẻ chữa cháy thì ít, biết
đến khi nào mới hết cháy?
May
là còn những kẻ có tấm lòng chữa cháy!
Tinh
túy của đạo Phật
Tôi
nhận được 2 bài báo của CT từ tay một người bạn. Những
dòng chữ chân tình không khỏi làm tôi nao lòng. Tôi gặp Sư
Trí Hải chỉ hai lần. Một là vào năm tôi 12 tuổi. Đó là
những tối làm lễ cầu siêu cho cha tôi trên nốc trường
Vạn Hạnh gần cầu Trương Minh Giảng. Trong cái lạnh của
sương đêm và hương trầm thoang thoảng, Sư là hiện thân
của đức Quán Thế Âm : thanh thản, nhẹ nhàng, ánh mắt đầy
thương yêu mà đau cái đau của nhân loại. Lần hai, chỉ còn
là tấm ảnh giữa ba chiếc quan tài. Tôi đã khóc như chưa
bao giờ được khóc. Khóc vì tức chứ không phải vì buồn.
Một bậc Thầy tuyệt vời và đáng kính! Đi rồi, Sư vẫn
còn để lại nơi thế gian đầy hoa lẫn hương.
Ni
Sư dịch thuật rất nhiều, Ni Sư viết rất hay, nhưng không
có thứ nào thể hiện được sự tinh túy của đạo Phật
bằng chính con người Sư. Sự bình thản của Sư trong mọi
hoàn cảnh chính là sự tinh túy của đạo Phật. Bình thản,
dững dưng, thu hẹp ... nhưng không phải với mọi người mà
với cái tôi của mình để tình thương được chan hòa trải
rộng. Khi làm phó của một viện Phật học hay khi nằm dài
trên giường bịnh và ngay khi Sư không còn nữa … cũng vậy
thôi! Cuộc sống là cuộc sống. Sư vẫn là Sư của thuở
nào. Sư khoẻ hay bịnh, Sư cười hay khóc, Sư vui hay buồn,
Sư viết hay làm thơ … tất cả là để cuộc sống của mọi
người được hạnh phúc. Tinh túy của đạo Phật chính là
đó.
“Thầy
đã dạy tôi tất cả những gì tinh túy nhất của đạo Phật”.
Song cái tinh túy Thầy muốn trao cho em, không nằm trong những
lời dạy của Thầy mà là chính trong mỗi người chúng ta.
Thầy chỉ là người đưa đường dẫn lối. Bản thân ta phải
tìm lấy cái tinh túy ấy trong chính mình như Thầy đã tìm
thấy nó trong chính Thầy. Khi ta sống được với cái tinh
túy của chính mình mới là lúc ta đạt được cái tinh túy
của đạo Phật. Và vì cái “Tinh túy của đạo Phật” chỉ
có trong chính mình, không nằm trên lời dạy, nên dù Thầy
đã dạy cho em tất cả, dù em vẫn nhớ đến lời dạy năm
xưa của Thầy “làm ơn thì chẳng mong trả ơn”, nhưng em
vẫn “thấy đau một cách kỳ lạ, nỗi đau không phải ở
đôi tay mà hình như đâu đó trong tâm khảm và trái tim mình”.
Quả là phủ phàng và đau đớn khi lòng nhiệt tình của mình
bị chà đạp. Nhưng CT biết không, nơi cái tâm đang đau đó,
chính là chỗ để ta tìm lại cái tinh túy của chính mình,
cũng là cái tinh túy của đạo Phật.
Sống
được với cái tinh túy ấy, mình sẽ bình thản được với
mọi hoàn cảnh. TẬP bình thản với mọi biến cố xảy ra
trong đời, mình sẽ dần dần nhận ra được cái tinh túy
của chính mình. TẬP như vậy, chính là em đang học, học
và học mãi như em đã nói. Cái học này khó hơn cái học
trong trường rất nhiều. Không bản lãnh, tự tin và không
đủ lòng nhân từ, mình không học được. Không học được,
mình chưa phải là người đủ bản lãnh, tự tin và lòng nhân
từ. BỊ TỔN THƯƠNG chính là điều kiện để mình có dịp
rèn luyện sự bình thản của mình. Đừng bao giờ sợ hãi
những gì có nguy cơ làm mình bị tổn thương mà hãy đối
diện với nó, hãy nhìn thẳng vào đó. Mọi nỗi đau sẽ qua
đi như làn gió thoảng. Sự hồn nhiên, vô lo dần dần xuất
hiện : Em đang trở về với con người thật của chính mình.
Đầy tình thương và trí tuệ.
Ai
cũng thích cái đẹp và cái thiện. Người sống thiện luôn
được mọi người thương yêu giúp đỡ và kết quả của
họ luôn tốt đẹp. Không có sự giúp đỡ của mình, vẫn
có vòng tay của kẻ khác. Đó là tính tất yếu của luật
Nhân Quả : Ở hiền thì gặp lành. Ngược lại, không ai thích
cái xấu. Những người em đã gặp đó chắc chắn không ai
muốn gần gũi. Người đụng cái là gây sự, la hét lại càng
bị người đời lên án và xa lánh. Tôi là một trong số những
hạng người bị lên án đó. Chuyện gì trái ý là tôi phùng
mang trợn mắt gầm thét như một con hổ đói, và tìm cho được
những lời nặng nhất để nhục mạ và làm tổn thương đối
phương. Nhưng em biết không, con người chỉ là những sinh
vật bị chi phối bởi chính thói quen của mình. Quen sống
như vậy, quen nghĩ như vậy và để cho thói quen dẫn dắt
mà không hề ý thức được điều đó. Tôi không hề muốn
gầm thét hay đay nghiến, nhưng vì quen sân giận từ nhỏ nên
đụng chuyện thì mọi thứ xấu xa lại xuất hiện. Thói quen
có sức mạnh rất kỳ lạ. Nó lôi mình đi như một con thiêu
thân. Để rồi, sau những cơn điên luôn là sự hối hận
và buồn chán. Không biết tôi đã nhủ với mình bao lần rằng
“Lần sau không như vậy nữa”. Nhưng đâu rồi cũng vào
đấy. Lại tiếp tục với sự dày vò vì hối hận.
Không
ai biết những dằn vặt đau khổ lẫn những cố gắng của
tôi. Dưới mắt họ, tôi chỉ là một người nói dối và
hay thất hứa. Kết cuộc là không ai muốn gần tôi. Tức chí,
tôi càng sân hận và quá quắt. Nhưng trong những người xa
lánh đó vẫn có người không xa lánh tôi. Tôi luôn nhận được
tình thương và sự tha thứ ở người đó. Nhờ yên ả trong
sự tha thứ, tôi bỏ lần được thói sân hận. Không có sự
tha thứ đó, không bao giờ tôi có thể vượt thoát được
chính mình để có được cuộc sống như hiện nay.
CT
thấy những người như vậy đáng thương hay đáng trách? Có
nên xa lánh không, hay cần tha thứ để một ngày nào đó họ
có thể thoát được những thói xấu của mình. “Bằng cách
thay đổi suy nghĩ, bạn có thể làm thay đổi cuộc đời của
bạn”. Em rất thích câu nói này phải không? Giúp họ nhận
ra và thay đổi những thói xấu là thay đổi cả cuộc đời
khốn khổ của họ đó. Nếu em co mình để tránh bị tổn
thương thì những người như tôi biết nương vào đâu khi
lòng tham và sự vị kỷ đang ngự đầy ở thế giới này?
Người ta chỉ biết nương vào tấm lòng và sự thông cảm
của những người mang trong mình thứ lý tưởng như của Ni
Sư hay em mà thôi. Dù đã quay lưng với em, khi có việc cô
bé vẫn cầu viện đến em như một đấng cứu tinh, em không
nhận thấy sao? Hãy yêu thương và tha thứ cho những si dại
của người đời.
Đức
Phật đã đặt tên cho thế giới này là Ta Bà. Ta Bà là Kham
Nhẫn. Vì không có lòng kham nhẫn thì không sống được ở
cõi giới này. Cõi giới này vốn là vậy. Bạc bẽo, vô tình,
tham lam, chỉ biết nghĩ đến mình và sẵn sàng làm tổn thương
người khác. Vì vậy, làm cho ai điều gì, chỉ cần mình chuẩn
bị trước tinh thần bạc bẽo của họ thì không bao giờ
mình bị tổn thương nữa. Có gì đâu! Cũng một lời nói
đó, một hành động đó, với người bình thường mình thấy
bị tổn thương, nhưng với một người điên, mình không thấy
gì hết. Chẳng qua vì mình biết họ điên. Biết thế giới
này như vậy thì có gì để buồn bã hay tổn thương nữa.
Không còn thấy tổn thương thì mình sẽ thực hiện được
lý tưởng của mình một cách trọn vẹn.
Người
mang trong mình lý tưởng cao đẹp không bao giờ là người
cô độc. Người đàn bà ra đi để lại một mái gia đình
với 7 đứa con thơ. Người đàn ông ra đi để lại người
vợ tật nguyền bịnh hoạn với hai đứa con nhỏ … Rất
nhiều người như thế, chỉ vì mạng sống của những người
không quen biết. Không ai ngờ, những hành động cao cả ấy
lại được trả giá một cách quá đắt như vậy. Còn sự
tổn thương nào hơn nữa? Nhưng vẫn hiện diện đâu đó những
kẻ như vậy. Không phải em đang tiếp tục lý tưởng của
mình với một cậu bé 13 tuổi sao? Bên mình luôn có những
kẻ đồng hành trong im lặng.
Mà
dù có cô độc chăng nữa, đứng được nơi ngưỡng cửa
cô độc đó là lúc ta tìm thấy hạnh phúc thật sự cho chính
mình. Đừng bao giờ không phải là hương hoa của Ni Sư.
Một
lần ngang qua hội trường thiền viện Vạn Hạnh, tôi nghe
giọng Sư vang ra “Kiếp sau tôi sẽ ra đời mặc lớp áo như
quí vị”. Sư đã nói với mọi người như thế. Niết bàn
của chư vị Bồ tát không ngoài cõi giới chúng sanh. Xoa dịu
được nỗi thống khổ của muôn loài chính là niết bàn của
chư vị. Sư ra đi là để trở lại với mọi người gần
hơn nữa. Gần như mùi hương đang tỏa ngát quanh đây.
Tự
tử
Chuyện
tôi kể dưới đây xảy ra tại bịnh viện Sài Gòn. Đó là
vào khoảng năm 1996 …
Ngày
ấy, cô em út nhà tôi còn đi bán ở một cửa hàng gần bịnh
viện Sài Gòn. Con bé tiêu chảy nên đưa thẳng vào đó cho
gần. Bên cạnh giường nó là giường của một phụ nữ còn
rất trẻ, chồng là người Đài Loan. Tôi không trực tiếp
chứng kiến cảnh cô ta bị ma nhập ra sao, cũng không gặp
được cô ta. Nhưng em gái tôi thì chứng kiến được toàn
bộ câu chuyện.
Cô
gái bị người đàn bà vừa chết tại đó nhập vào hành
xác. Lúc thì lấy tấm drap quấn ngang cổ xiết chặt, lúc
thì đánh vào mình la hét. Chỉ có vài lúc cô ta chịu nằm
yên. Là khi người Đài Loan, ông xã tôi, tên bạn trai của
con bé và cô em kế tôi đến thăm bịnh. Ngoài ra tất cả
đàn ông đều bị la hét và đuổi khỏi phòng.
Theo
đối đáp của hai bên thì hình như người đàn bà chết rồi
không xa lạ gì với gia đình cô gái. Cũng không phải lần
đầu họ vào đây. Đem được về nhà vài ngày, cô ta lại
quăng chuông quăng mõ, nhào ra đường cho xe đụng để vào
nằm đúng cái giường ấy. Bốn người đàn ông lực lưỡng
không giữ nỗi cô ta. Giữa họ có một mối liên hệ gì đó
không theo chiều thuận và có liên quan đến đàn ông. Để
giải tỏa nỗi thống khổ của mình, người đàn bà đã tự
tử. Tự tử ra sao mình không biết, chỉ nghe cô ta đấm vào
ngực rồi nói với bà mẹ “Cái nóng bức đau đớn hiện
tại tôi đang chịu đây, bà có giải quyết được cho tôi
không mà bà muốn tôi buông tha con bà”. Bà mẹ chỉ còn biết
khóc, giải trình và tiếp tục năn nĩ. Nghe đâu, bà gõ mõ
tụng kinh gì, cũng chẳng ăn thua.
Có
lẽ, cô ta tưởng chết là hết. Có thể trôi xuôi mọi đau
khổ mà mình đang gánh chịu. Nhưng chết chỉ như việc thay
áo mà thôi. Hết thân này lại có thân khác. Cứ theo những
việc thiện ác đã tạo trong đời mà đi. Lúc gần chết ấy
lại rất quan trọng. Không thanh thản nhẹ nhàng thì không
thể ra đi trong êm ái, không thể có được một thân thể
tốt đẹp với một cảnh giới tốt đẹp. Luyến ái, đau
khổ, sân hận là mầm móng của thân ngạ quỉ, súc sanh, địa
ngục. Chắc cô gái đang chịu thân ngạ quỉ với những đớn
đau do tự tử mà ra. Duyên lành ít quá nên khi khổ không gặp
được Phật pháp để giải khổ. Giải quyết nỗi khổ của
mình bằng cách trả thù thì khổ chồng thêm khổ. Chỉ có
mở lòng buông bỏ và tha thứ thì mới mong thoát được nỗi
nóng bức và đau đớn đó mà thôi.
Chuyện
kết thúc ra sao tôi không rõ vì em tôi đã rời bịnh viện
dù bịnh chưa hết. Sợ quá nó đòi về bằng được. Chiêu
phép cuối cùng nó hay dùng để phù trợ cho bản thân đã
bị người đàn bà phá mất “Mày đừng có niệm Phật. Tao
không sợ đâu”. “Không biết vì sao tui niệm trong bụng
mà mụ ta nghe được”. Con bé nhất quyết đòi về.
NIỆM
PHẬT tụng kinh là để bình tâm. Tâm bình thì bất động
được với mọi sợ hãi, lo âu v.v… chứ niệm Phật không
phải để trừ ma trừ quỉ. Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.
Tịnh được cái tâm thì những gì chung quanh cũng thành yên
tịnh. Vì thế mình cứ ngỡ nó có tác dụng trừ tà. Song
niệm Phật tụng kinh mà giữ trong tâm ý muốn trừ tà thì
tâm ấy không còn tịnh. Không tịnh thì chuông mõ bay là lẽ
tất nhiên. Bởi chuông mõ hay kinh kệ thì có giá trị gì khi
đã lìa khỏi tâm? Chỉ là vật vô tri vô giác mà thôi.
Người
đàn bà không hiểu, lại tưởng con bé có tâm niệm trừ tà
nên mới hét toán lên như thế. Con bé được dạy niệm Phật
mà chẳng hiểu được ý nghĩa của việc niệm Phật. Nghe
nạt đâm hoảng, cũng không biết đường mà trả lời. “Mụ
nói vậy rồi mày có niệm nữa không”. “Ai dám niệm nữa,
nhỡ mụ tức mụ đánh như mấy người kia thì sao”. Ừ!
Người ta đang sân hận, không đủ đạo lực để khuyên thì
thôi, im lặng là thượng sách. Chuồn cũng phải.
Đạo
giáo
Tôi
gặp bà vào những ngày đi chùa cuối tháng. Lúc thì một mình,
lúc thì thêm cậu cháu nội nhỏ … Hai bà cháu trong rất tâm
đắc. Nhưng hình ảnh dễ thương ấy chẳng kéo dài được
bao lâu. Nghe đâu, cô con dâu người công giáo không bằng lòng
để bà ở gần cậu cháu nội. Bà phải sang ở với cô con
gái để thằng bé khỏi bị tẩy nảo. Nhà con gái thì xa nên
bà không còn dịp để đi chùa vào mỗi cuối tháng. Vài tháng
sau, tôi nghe tin bà mất.
Những
lần đi chùa sau bà hay kể tôi nghe về cô con dâu người Công
giáo. Cô dữ dằn, hỗn láo và không muốn bà ở gần thằng
bé. Cô không muốn bà kể cho thằng bé nghe những mẫu chuyện
về đức Phật nhưng bà vẫn làm những gì bà muốn. “Bác
ơi! Quan hệ căng lắm rồi. Bác làm vậy có thêm rối không”.
“Sinh thằng nhỏ ra, nó đem thằng nhỏ đi chịu thánh lễ
liền, đâu cho tôi đem qui y. Giờ tôi dạy cháu tôi đạo đức
làm người, có gì mà tầm bậy. Thằng nhỏ nghe tôi kể chuyện
đức Phật thích lắm”. Xem ra, quan hệ mẹ chồng nàng dâu
ngày càng gay gắt nhờ sự trợ giúp đắc lực của tôn giáo.
Tôi
chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh cơm không lành canh không
ngọt chỉ vì hai chữ đạo ông và đạo tôi này. Không hiểu,
đức Phật và Đức Chúa trên trời sẽ nghĩ gì về những
tín đồ quá trung thành của họ.
Cô
dâu tương lai của tôi là người công giáo.
Nhìn
con bé hồn nhiên cười nói náo nhiệt, tôi không thể hình
dung được hình dạng dữ dằn hay hỗn láo của nó trong tương
lai. Nó kể tôi nghe về những tín đồ quá khích. Chỉ thấy
đạo giáo của mình là nhất rồi phủ nhận tất cả những
đạo giáo khác. Thiên Chúa cũng dạy người bên con ban phát
tiền của cho kẻ khác, người theo Chúa phải bỏ tất cả
tiền bạc ... Bên con cũng có các đức cha giảng như ở đây.
Con thích đi nhà thờ lắm. Con thích nghe những câu chuyện
mà các đức cha đã kể. Nó kể cho tôi câu chuyện mà nó
được nghe trong nhà thờ và cười thích thú. Nhà con thờ
Đức Mẹ đồng trinh. Không! Cũng có sinh ra Thiên Chúa nhưng
không phải sinh ra như kiểu của mình nên đức mẹ vẫn đồng
trinh. Con không thích Đức Chúa bởi ông ta có quá nhiều râu.
Con rất tin vào Đức Mẹ vì Đức Mẹ luôn cứu giúp con trong
những lúc con mất hết hy vọng. Trước đây, mỗi lần buồn
con lại nói chị con chở con ra nhà thờ Cứu Thế cầu Đức
Mẹ, tịnh tâm rồi con mới về nhà.
Bên
bác cũng có đức Quán Thế Âm linh như Đức Mẹ đồng trinh
của con. Tôi kể cho con bé về những giai đoạn thăng trầm
của tôi lúc còn trẻ, về những ngày vượt biên gian khổ,
tôi đã tụng chú và được đức Quán Thế Âm hiện thân
cứu tôi thế nào. Tôi giải thích với con bé về việc cầu
xin linh ứng ấy. Không phải ai cầu Đức Mẹ hay đức Quán
Thế Âm cũng được thành tựu như mình. Chỉ những người
có lòng từ với người khác mới có thể được như ý mà
thôi. Mình cầu được vậy là vì mình có lòng từ, căn lành
của mình cũng lớn. Ngày nào mình còn giữ được lòng từ
ấy, ngày đó mình còn được Đức Mẹ ban phước. Trong đêm
tối, tôi thấy khuôn mặt nó rạng ngời, đôi mắt sáng rực
như hai vì sao.
Nhìn
con bé ngủ, tôi thấy cứ như là hiện thân của Đức Mẹ
đồng trinh hay Bồ tát Quán Thế Âm của tôi. Dù khắc khe
bao nhiêu, chắc không bà mẹ chồng nào nỡ bắt con bé xa lìa
niềm tin của nó khi niềm tin ấy đang choáng đầy khuôn mặt
nó như thế. Không chừng, đó cũng là một sự linh ứng nữa
cũng nên. Biết đâu, con bé đã cầu nguyện với Mẹ đồng
trinh rằng “Xin cho mẹ anh ấy thương yêu con như thương yêu
anh ấy” và điều cầu nguyện ấy đang linh ứng.
Hình
như khi thương yêu, người ta sẽ tìm mọi lý lẽ ngỏ ngách
để bít đi những cái khiến sự ngăn cách xảy ra.
Đạo
giáo đưa ra những phương cách để tạo điều kiện cho con
người thương yêu nhau. Thương yêu để mà chịu đựng và
tha thứ cho nhau. Để cuộc sống muôn người được hạnh
phúc. Tôi đã đọc được vài đoạn đâu đó trong một cuốn
Tân Ước “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì
chính anh em cũng hãy làm cho người ta. Phải yêu thương kẻ
thù và không nên trả thù. Nếu bị ai vả má bên phải thì
hãy giơ cả má trên trái ra nữa. Ai xin thì anh hãy cho. Ai muốn
vay mượn thì anh đừng ngoảnh mặt đi. Khi bố thí đừng
khua chiêng đánh trống như bọn đạo đức giả thường biểu
diễn trong hội trường và ngoài phố xá cốt để người
ta khen. Sao anh thấy cái rác trong mắt người anh em, mà cái
xà trong mắt mình thì lại không thấy?”. Điều nào cũng
dạy người buông bỏ thói vị kỷ, sống đời sống vị tha.
Tinh thần ấy không khác gì tinh thần đức Phật đã dạy
chúng sanh của Ngài. Nhưng hình như càng xa thời Chúa và Phật,
con người càng quên đi tinh thần ấy. Mọi thứ chỉ còn là
hình thức bên ngoài. Chỉ còn lại những nghi lễ và vui chơi
nên thói vị kỷ ngày càng tăng mạnh. Thay vì buông ra, ai cũng
muốn ôm vào, ôm luôn cả những thứ không phải là đạo
giáo mà cho là đạo giáo. Con người, thay vì thương yêu nhau,
lại tranh tàn ghét bỏ lẫn nhau ... Tôn giáo chẳng còn ý nghĩa
gì trong đời sống mình nữa.
Có
lẽ, mình nên lấy điểm chung của đạo giáo để sống với
nhau hơn là cứ vin vào những hình thức bên ngoài rồi làm
khổ nhau. Có lẽ, nên khuyến khích trẻ thơ thực hiện những
điều Đức Phật cũng như Đức Chúa đã dạy để chúng được
hạnh phúc hơn là biến tôn giáo thành một loại độc dược
rồi dí vào mồm con trẻ bắt nó uống cho tới chết. Thật
đau lòng khi chứng kiến một đứa trẻ phải lấm la lấm
lét vì đối diện với sự căng thẳng của hai dòng đạo,
mà người của hai dòng đạo ấy đều là thân ruột của
nó. Thật đáng tội khi nhìn thấy cảnh tranh dành một thây
chết chỉ vì lễ đạo của tôi khác của anh. Đấng tối
cao chắc chẳng mấy vui khi thấy tín đồ của Ngài chạy theo
những hình thức bên ngoài mà quên đi tinh thần Ngài đã dạy.
“Nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má trên trái
ra nữa. Ai xin thì anh hãy cho”. Hãy mở lòng cho đi hơn là
đòi hỏi ngươi khác phục vụ những mong muốn của mình.
Đức Phật cũng dạy như vậy. Buông tất cả, ta sẽ được
tất cả.
Số
tử vi
Ký
ức của tôi về cha không nhiều. Với đầu óc non nớt của
một đứa trẻ thì 12 năm là quá ít để biết về một người
cha, chưa kể ông chỉ thực sự ở gần gia đình vài năm cuối
đời. Chỉ còn vài điều lẻ tẻ in đậm trong tâm trí tôi
: Tập cho con sống biệt lập, ít nói và có lòng trân trọng
đối với mọi người. Săn sóc và nô đùa với con cái nhưng
rất nghiêm khắc. Chị em chúng tôi không có thời gian để
nghĩ bậy, vì tất cả thời gian đều dành cho việc học tập.
Học chữ được xen kẽ với học đàn và những giờ giải
trí cuối tuần. Sách báo phim ảnh được kiểm duyệt kỹ
trước khi tới tay chúng tôi. Không bao giờ để con cái biết
gì về những chuyện không vui của người lớn. Ông không
muốn chúng tôi lớn lên trong sự đố kỵ và ghét bỏ người
khác chỉ vì những việc họ đã làm với người thân chúng.
Thêm vài điều về ông qua lời kể của mẹ : Quyền uy, nóng
tánh, đào hoa và coi tử vi rất giỏi.
Năm
tôi 12 tuổi, ông bị bắn chết tại sở làm. Coi tử vi biết
mình sẽ chết vào ngày đó mà không cách gì tránh được.
Biết mình chết mà không muốn chết nên chết rồi, ông vẫn
loanh quanh đâu đó quanh tụi tôi. Máu nơi chỗ ông chết cứ
ưng ửng. Giữa trưa chị bếp thấy ông đứng ngoài sân phơi
đồ. Ban đêm em tôi thấy ông ngồi nhìn lên bàn thờ với
ánh mắt động nước. Thân ông chôn ở Mạc Đĩnh Chi xình
lên xọp xuống ra sao, mẹ tôi đều biết. “Khi sống, bố
con khôn ngoan nên khi chết mới linh thiêng”. Khôn như vậy
thì thật là khổ!
Tôi
là đứa mơ thấy ông nhiều nhất. Không chỉ thời gian đầu
mà suốt mấy chục năm liền. Nhiều đến nỗi tôi luôn cảm
thấy ông bên cạnh tôi. Đó là nguồn an ủi lớn lao trong
suốt quãng đời mờ tối. Mỗi lần thấy ông là tôi biết
mình sắp gặp nạn.
Ông
theo tôi nhiều có lẽ vì ông không yên tâm về tôi. Không
biết có phải bắt nguồn từ việc coi tử vi không nữa. “Bố
nói số tử vi con xấu lắm. Người yếu ớt lại bịnh hoạn.
Chồng thì nghèo rớt mồng tơi. Tiền bạc như thùng lủng
đáy. Khóc con chứ không phải con khóc mình. Lại còn chết
đường chết xá. Nếu không chết trôi thì thân cũng chẳng
toàn”. Nói chung, từ lúc đẻ ra cho đến lúc chết không
có gì để hồ hỡi.
Tôi
chẳng tin vào số tử vi. Nói đúng hơn là tôi không thể chấp
nhận thứ tử vi đầy xui xẻo đó là của tôi. Nhưng không
tin cũng không được. Đã có nhiều chuyện xảy ra. Cái chết
được định trước của bố và cuộc đời thăng trầm bịnh
hoạn của tôi. Tôi đã bỏ ra một thời gian dài để nghiền
ngẫm về nó. Tôi muốn tìm kiếm vận mệnh của mình đằng
sau những vì sao đó. Có lẽ ông đã bỏ xót một sao giải
hạn nào đó của tôi cũng nên.
Và
thế là, tôi đến với Phật pháp không chỉ để hết khổ
mà còn để tìm xem do đâu lại có những vì sao quyết định
vận mạng con người một cách tàn nhẫn như thế. Và tôi
đã tìm ra được điều mình muốn tìm.
Số
tử vi của ai cũng có 12 cung, loanh quanh trong mấy thứ danh
vọng, tiền tài, gia đình, bịnh hoạn, nạn tai và chết chóc.
Trong đó có cung phúc đức. Cung phúc đức nói cho mình biết
về phước báu cũng như nạn tai của dòng họ, trong đó có
mình. Thường là trong 3 đời. Nó có đặc tính chi phối luôn
11 cung còn lại. Nghĩa là, những cung khác nếu xấu mà cung
phúc đức tốt thì các cung khác cũng đỡ xấu. Cung phúc đức
nếu xấu mà các cung khác tốt thì cái tốt đó cũng giảm
đi.
Điều
tôi tìm ra ở đây không phải nằm ở các vì sao mà ở chỗ
từ đâu có các vì sao ấy. Chính là NGHIỆP LỰC của chúng
sanh. Tử vi của mình bị chi phối bởi nghiệp lực của chính
mình. NGHIỆP LỰC là cái lực của những thói quen. Mình hay
dùng từ tánh nết để chỉ cho việc này. Tánh nó hay uống
rượu. Tánh nó nóng v.v… Thói quen nào mạnh, tự nó có lực
đưa đến hoàn cảnh xấu hay tốt cho mình. Như có thói quen
giết người thì thói quen ấy sẽ có lực khiến mình thực
hiện việc đó hoài. Nếu mình có thói quen bố thí, thói quen
ấy cũng có lực khiến mình thích bố thí hoài. Nghĩa là,
thứ gì được lập lui lập tới hoài thì thứ đó sẽ có
lực dẫn mình tới cái quả của nó.
Trên
thế giới hiện nay, có những kẻ giết người hàng loạt
mà không tìm thấy được nguyên nhân, bị ghép vào hạng loạn
thần kinh là đó. Cái quả họ phải gặt là tù tội hay tử
hình. Có người gặp ai cũng thích cho. Có khi mình thấy cho
rất dễ. Cái quả của họ là giàu sang. Đều là từ nghiệp
lực của mỗi người. Tử vi chứa đựng cái nhân của kiếp
trước và cái quả của kiếp này, cũng như cái nhân của
hiện tại và cái quả ở tương lai, trong đó có cả định
nghiệp và bất định nghiệp, được biểu hiện thành các
vì sao. Các vì sao ấy tương tự như những chủng tử chứa
trong tạng thức của mình. Chúng sẽ phá tán hay hiện
hình tùy theo chủng nghiệp đã gieo trước đây cộng với
điều kiện nhân sinh của mỗi người trong hiện tại. Điều
này lý giải vì sao một cặp song sinh cùng giờ lại có hai
cuộc đời khác nhau. Một đứa đâm đầu vào xe chết tại
Mỹ khi vừa 19 tuổi. Một đứa vẫn sống, với công việc
từ thiện ở một trại mồ côi tại Việt Nam. Nhân giống
nhau nhưng duyên khác nhau nên quả cũng khác nhau. Nhân giống
nhau là cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, cùng năm. Nghĩa là
cùng có những NGHIỆP NHÂN như nhau. Nhưng DUYÊN khác nhau, là
đời sống tiền tài xa hoa ở Mỹ và công việc phước thiện
trong một trại mồ côi. Cho ra quả khác nhau là một đứa
thì sống yên bình, một đứa thì chết khá kinh khủng. Mọi
thứ điều do NHÂN DUYÊN chi phối.
Mình
không thấy được mối liên hệ giữa các vì sao với những
thiện ác trong chính mình, cứ tưởng có những vì sao quyết
định được vận mệnh của con người. Nên thay vì sửa đi
những thói xấu, mình lại tìm cách giải hạn bằng cách cúng
sao, không thì nhắm mắt thuận theo số tử vi. Cúng đến bạc
đầu cũng không giải nổi điều xấu khi mình vẫn sống ung
dung trong cái ác.
Con
người là tập hợp của những nghiệp xấu và tốt. Có cái
thuộc về thói quen, có cái không phải là thói quen. Từ đó,
hạnh phúc và đau khổ xen kẽ với nhau. Trong tử vi vừa có
loại sao mang tính cách định, vừa có loại sao mang tính cách
bất định. Gọi là bất định khi trong thân mệnh hay phúc
đức có loại sao phúc đức hoặc giải hạn. Chúng có thể
thay đổi được những tốt xấu của bản thân tùy vào phúc
đức hiện thời của mình. Thành tử vi chỉ có giá trị đối
với 2 hạng người :
1.
Bị loại định nghiệp chi phối.
2.
Buông xuôi theo bản năng không biết làm chủ bản thân.
Làm
chủ bản thân là một cách tu hành. Tu hành theo kiểu làm chủ
thân tâm chứ không phải đến chùa lạy Phật, tụng sám hối
cho có lệ rồi thôi. Không phải những việc làm đó không
có tác dụng ít nhiều. Nhưng chỉ chừng đó thì tác dụng
của nó không bao nhiêu. Làm chủ được thân tâm mới làm
chủ được những thói quen xấu, là cái nhân đưa đến quả
xấu trong hiện tại và tương lai. Như cái bịnh nhậu nhẹt,
bia ôm, mại dâm hiện nay. Ngày nào báo chí cũng liệt kê những
tai nạn thương tâm do nhậu nhẹt gây ra, rồi sida, cúm gà
v.v… Nhưng nghe đâu có độ nhậu, bia ôm là quên hết mọi
chuyện. Không dừng được cái nhân ham muốn bậy bạ thì
cái quả bịnh hoạn nạn tai xảy ra là lẽ tất nhiên. Thành
dừng được tham dục mới tránh được những nạn tai do tham
dục gây ra. Làm chủ được bản thân thì mới đủ sáng suốt
mà bình thản với những loại định nghiệp. Bình thản rồi
thì không có gì để sợ hãi nữa. Người ta sợ một số
tử vi xấu, vì cái xấu thường đưa đến đau đớn và khổ
não. Song xấu mấy mà mình bình thản được với nó như Tổ
Sư Tử cho đầu, ngài Bạch Ẩn nuôi con nít, thì
số tử vi dù xấu bao nhiêu cũng chẳng can hệ gì đến mình.
Cái xấu lúc ấy không khác gì cái tốt. Người tu Phật có
khi còn cần cái xấu để trắc nghiệm công phu nữa là đằng
khác.
Tìm
thấy được cội nguồn đó rồi, tử vi không còn giá trị
với tôi nữa. Nghĩa lý gì khi mọi thứ có thể thay đổi
bằng những việc phúc thiện hằng ngày? Nghĩa lý gì khi mình
đã vướng phải một loại định nghiệp? Vả lại, mấy người
đời nay có thể xem được tử vi như bố tôi? Họ nói thao
thao bất tuyệt về người khác nhưng bản thân mình thì mù
tịch. Song mình lại hay có tật dễ tin. Tin rồi làm theo nên
chuyện đáng nhẽ không lại trở thành có. Chuyện này báo
chí đề cập rất nhiều, nhất là đối với mấy chàng miền
núi. Khi không đi tin ba chuyện nhảm nhí của thầy bùa thầy
chú rồi giết vợ, giết con, làm những chuyện hại người
hại vật, là cái nhân của một quả xấu trong tương lai.
Tôi
có đọc đâu đó câu chuyện cái quạt rách. Chắc để giễu
cho cái tính hay tin của người mình. Một anh chồng tin lời
ông thầy bói “Hôm nay cái quạt của ông sẽ rách”. Anh
sợ cái quạt của mình rách thành cả ngày ấy anh không làm
gì hết, chỉ ngồi canh cái quạt. Đến giờ đi giỗ cha bên
nhà anh Cả, vợ nhắc mấy anh cũng không đi. Mụ tức chí
giựt lấy cái quạt xé phăng. Anh vỗ tay cho thầy bói nói
đúng. Giả như anh đừng để lời của ông thầy tác động
vào mình, cứ cất quạt đâu đó rồi đi giỗ cha như thường
lệ, thì không biết số phận cái quạt ấy ra sao? Chưa biết
chuyện gì xảy ra nhưng rõ ràng do tin lời ông thầy mà sự
việc mới ra như vậy. Chuyện nhỏ ấy nhắc nhở mình phải
coi lại cái gọi là số mệnh bất di bất dịch mà mấy thầy
gắn cho mình. Đừng nhắm mắt tin theo một cách mù quáng mà
làm những việc trái nhân nghĩa đạo đức hay bỏ hết bổn
phận trách nhiệm của mình ngày thường. Cái bê trể trách
nhiệm, cái vô đạo đức của mình mới chính là cái nhân
khiến sự việc xảy ra xấu xa chứ không phải lời anh thầy
bói là cái quyết định tất cả. Còn thế giới này là thế
giới Nhân Duyên. Duyên thay đổi thì quả sẽ thay đổi. Đã
có duyên để thay đổi, vì sao mình không vin vào cái duyên
ấy để thay đổi đi số mệnh của mình mà lại tin vào số
mệnh đã định qua những ông thầy xa lạ?
Cứ
sống thiện và làm thiện! Sống và làm không ngừng. Làm hết
sức mình những gì mình có thể làm cho người khác. Đừng
vì những tham dục của riêng mình mà làm khổ người. Tập
tỉnh trí và tập thương yêu người khác như thương yêu chính
bản thân mình. Sống sao cho đúng với trách nhiệm và bổn
phận mà mình đang mang. Sống vậy thì tai họa nào thay đổi
được, tự nó sẽ thay đổi. Tai họa nào không thay đổi
được, mình cũng đủ năng lực bình thản mà nhận lãnh nó.
Làm vậy là mình đang tự gắn sao giải hạn vào trong cung
mệnh của mình.
Người
xưa nói “Tướng bất cập số. Số bất cập đức”. Số
anh tốt thì tướng anh có xấu cũng không sao. Vì cái số quyết
định tướng mạng của anh hơn là cái tướng. Song tướng
số gì cũng không bằng cái đức. ĐỨC mới là cái quyết
định mọi thứ. Những nhà xem tử vi vẫn cho rằng, tử vi
chỉ ảnh hưởng đối với những người còn đang bận bịu
với tiền bạc danh vọng thế gian chứ không liên quan gì đến
những người đã có tâm xuất thế. Cũng đúng thôi. Nếu
có bị ảnh hưởng của số tử vi chăng nữa, mà tâm đã
không thì nó ảnh hưởng đến gì bây giờ?
Có
lẽ vì vậy, sau khi phát tâm tu hành và đến Thường Chiếu
được một năm thì tôi thấy bố đến từ giả để đi đầu
thai. Như thường lệ, khi nào mơ thấy ông, ông cũng lái xe
đưa tôi đi từ chỗ này đến chỗ khác. Lần đó, tôi đòi
cầm lái một mình. Ông yên lặng trầm ngâm, vẫn còn chút
gì đó lo lắng và do dự, nhưng ông cũng trao tay lái cho tôi.
Ba ngày sau, tôi lại mơ thấy ông lần nữa “Thôi, bố đi
đầu thai đây”. Từ đó đến nay tôi không bao giờ thấy
lại ông. Có lẽ ông đã yên tâm ra đi khi tôi chọn cho mình
con đường này.
Giấc
mơ khiến tôi suy nghĩ một điều. Bản thân người chết nếu
không thể dứt bỏ vì sự luyến ái với gia đình thì mình
có cầu bao nhiêu, họ cũng khó mà siêu thoát. Nếu thật là
một người con hiếu hạnh, thật muốn cha mẹ mình có một
cảnh giới tốt, thì ngoài việc cúng dường hồi hướng cho
các vị, bản thân mình còn phải khiến họ được yên lòng.
Yên lòng rồi, họ mới thanh thản ra đi.
Mẹ
Mẹ
là cái nôi dịu dàng. Với tôi thì tôi chẳng tìm thấy cái
nôi ấy đâu khi bắt đầu hiểu biết và khôn lớn. Tôi tìm
thấy nó qua những giấc mơ với cha nhiều hơn là ở mẹ.
Nhà đến 6 chị em mà tôi là đứa đầu. Nhìn lại tấm ảnh
ngày xưa thì mẹ cũng từng là chiếc nôi của tôi. Nhưng có
lẽ vì tôi là chị cả, lại cứng đầu ương ngạnh nên càng
lớn, sự biểu lộ tình cảm của mẹ cũng vơi bớt mà dành
nhiều cho những đứa em sau.
Cha
mất đi là nỗi thống khổ của bà khi con còn quá nhỏ. Cái
chết bất ngờ khiến bà đau đớn không nguôi. Ngoài giờ
đi dạy bà lại tìm quên trong bộ bài tứ sắc. Tôi thì cứ
lớn lên trong sự đòi hỏi vô tư. Chỉ biết cái gì vừa
lòng, cái gì không vừa lòng mà không hề để ý đến nỗi
đau khổ và lo lắng của mẹ. Mãi sau này tôi mới hiểu ít
nhiều khi bà khóc với tôi “Những ngày bố còn sống, mẹ
cứ nói với ngoại con, khi nào ảnh chết rồi chắc con mới
hết khổ. Giờ bố con chết rồi, mẹ còn khổ gấp bội”.
Không dừng được khổ thì hoàn cảnh nào cũng thấy khổ.
Trước thì khổ vì ghen, giờ thì khổ vì thấy tình đời
đen bạc. Tôi thấy thương mẹ rất nhiều, nhưng vẫn cho rằng
bà khổ là tại bà chẳng phải tại ai. Cái đức nhẫn nhục
của bà khiến người ta căm phẫn.
Ngày
cha còn sống, nhà chỉ có hai người lớn và sáu đứa nhóc,
cộng thêm chị bếp là chín. Lâu lâu ai đó tới chơi vài
ngày rồi về, tuyệt đối không được lập sổ thường trú.
Đó là lệnh của cha. Ông mất, nhà chật như nêm và ồn như
cái chợ. Mẹ tôi không chỉ gánh sáu đứa con mà còn thêm
mấy gia đình nữa. Cũng vô tư như tôi, chơi nhiều hơn ăn,
tiền bạc đổ hết vào những trò vô bổ. Không ai hưỡn
để nghĩ đến chuyện làm ăn hay kiếm sống. Mẹ thì cứ
cắm đầu chịu đựng. Chịu một cách vô lý.
Thế
là, những đứa trẻ thơ ngây lễ phép như tôi bỗng nhiên
trở thành sân hận. Bà càng nhịn thì moi người càng lấn.
Tụi tôi càng tức. Cậu em trai tôi tặng ông cậu thân ruột
một bạt tai. Tôi trở thành nhọn mồm lúc nào không biết.
Cứ thế mà loạn xị cả lên. Tình thâm càng xa lìa. Máu đào
chẳng bằng nước lã.
Phải
chi cứ cương cường và dứt khoát như cha thì có hơn không?
Nhẫn nhục chịu đựng như mẹ thì có ích gì? Nhẫn mãi chịu
không nỗi thì có ngày phải xì ra. Em dâu xách dao rượt chị
chồng. Bà con chung quanh xúm lại chưỡi. Vừa khổ cái tâm
vừa chiêu cái oán. Thêm tội vạ cho con cái. Dù thương bà,
tôi không khỏi căm phẫn. Với tôi, nhẫn nhục là một sự
ngu xuẩn.
Đến
với đạo và “như thật biết thế nào là khổ đế” với
những nghịch duyên của mình. Tôi mới hiểu hết ngọn ngành
và thương mẹ nhiều vô kể. Tôi hiểu vì sao bà cứ phải
nhẫn nhục một cách buồn cười như thế. Nợ nần! Bà nợ
nhiều quá. Nợ cha thành dù được cha thương yêu và lo lắng
tất cả, bà vẫn thấy đau khổ vì cái tật đào hoa của
ông. Ông chết rồi bà vẫn không hết khổ. Bà tiếc những
gì ông đã làm cho bà. Không có ông, không ai bảo vệ và chăm
chút cho bà. Nợ em, thành họ phá tán bao nhiêu, bà vẫn cứ
chịu đựng. Cha không nợ ai thành không ai đến quấy rầy
cha. Tự nhiên cha sáng suốt và dứt khoát. Mẹ nợ nhiều nên
nó cứ xui bà chịu đựng để mà trả nợ.
Mình
không thấy được vòng nhân duyên nhân quả đó, mình chỉ
thấy được những nghịch lý trong hiện tại. Chỉ thấy sao
mẹ chịu nhiều bất công và nhẫn nhục quá đáng rồi sinh
bực bội và trách cứ người khác. NHÂN xấu là ở mẹ mình.
Vì nhân xấu nên mới nảy sinh hoàn cảnh như vậy. Mẹ khổ
đúng là tại bà, nhưng không phải vì cái đức nhẫn nhục
của bà, mà vì nghiệp nhân bà đã gây tạo trước đây. Không
phải nhẫn nhục là ngu xuẩn. Ngu xuẩn là bởi mình không
nhận ra được mối liên hệ nhân quả trả vay từ kiếp trước
cho đến kiếp này và kéo dài mãi đến những kiếp sau. Không
nhận ra nên mình trả mà mình không chấp nhận. Không chấp
nhận nên cái nhẫn của mình trở thành dồn nén. Không như
các vị thiền sư, nhẫn mà bất động buông bỏ. Dồn nén
rồi, lại không biết suy nghĩ thế nào cho khuây khỏa tiêu
tan, mọi chuyện mới xì ra. Ân bỗng thành oán. Luân hồi theo
đó mà kéo hoài.
Con
cái vượt biên. Khổ lại chồng khổ. Đứa ngang ngạnh thì
đi không lọt, lại lọt đi cái đứa mình thương. Bà lấy
cờ bạc và số đề làm vui. Đó là lý do để tôi không đưa
tiền cho bà như ý mình muốn. Tôi không muốn bà đốt tiền
vào bài bạc và nuôi mấy con số đề khi tôi phải vật lộn
với sợ hãi và cố dành dụm để làm bảo lãnh cho bà. Không
phải tôi không thương mẹ. Những tháng lương đầu tiên tôi
đưa hết cho bà, chỉ cốt để bà vui. Nhưng cờ bạc số
đề thì không được. Tôi không muốn bà thâu đêm suốt sáng
và nhịn ăn chỉ vì cờ bạc và số đề. Đó là qui tắc
sống của tôi. Tôi làm vậy là muốn tốt cho bà mà không
hiểu rằng mình đang bị chôn sống bởi chính những quan niệm
của mình. Mình chỉ biết cái gì tốt, cái gì xấu mà ít
quan tâm rằng cái tốt đó trong trường hợp đó có còn tốt
hay không. Mình sống trong vòng nhân duyên nhưng khi làm việc,
mình lại quên mất sự ràng buộc của NHÂN DUYÊN mà chỉ
biết đến quan niệm của chính mình. Mình trở thành tàn nhẫn
cũng vì không thấy được nhân duyên. Mình sống với những
qui tắc thánh thiện của mình mà quên đi tâm trạng của người
khác. Mình không biết rằng con người chỉ là những sinh vật
bị chi phối bởi những thói quen. Quen sống như vậy, quen
nghĩ như vậy và để cho thói quen dẫn dắt mà không hề ý
thức được điều đó. Ai cũng bị trói buộc trong những
thói quen của mình. Không có nó, người ta thấy trống trãi
và buồn bã. Không phải nói bỏ, là có thể bỏ được trong
ngày một ngày hai.
Tôi
nghĩ đến tương lai của mẹ, nhưng quên mất hiện tại của
bà. Hiện tại liệu có còn không mà nghĩ đến tương lai?
Tôi chỉ biết đánh bạc là xấu, đánh số đề là bán nhà,
chứ tôi không quan tâm đến nỗi cô độc mà bà đang gánh
chịu. Tôi chỉ biết gay gắt chứ không biết thông cảm. Chỉ
biết ngăn chận chứ không biết tìm ra thứ gì để thay thế
nỗi cô độc mà bà đang mang.
Trong
cái vòng nhân quả xoay vần ấy, không hiểu rồi bà có trở
lại đòi nợ không nữa. Với cha thì chắc không. Những ngày
tháng đau khổ vì ông, bà đã mơ thấy bà làm khổ ông thế
nào trong những kiếp trước. Chưa kể cha ra đi để lại cho
bà nhiều nuối tiếc hơn là trách cứ. Nhân duyên nếu còn,
cũng chỉ là thuận duyên. Nhưng với người khác thì sao? Cũng
chẳng biết nữa. Còn tôi, tôi ao ước đền bù cho bà những
gì tôi không làm được trong kiếp này. Tôi mong mình đời
đời kiếp kiếp có đủ trí tuệ, tình thương và sức nhẫn
nại để có thể không làm bà buồn mà vẫn không để bà
đi trong con đường tối tăm vì đuổi theo tham dục cũng như
những nợ nần của chính mình.
Sư
Hưng
Tôi
gặp Sư khi tôi vừa sanh đứa con gái đầu lòng. Sư bấm chuông
in ỏi và đòi tôi phải ra trả tiền xích lô từ dưới Long
An về. Sư không có tiền mà cũng không biết sài tiền.
Nguyên
do bắt nguồn từ lá thư tôi gởi cho chồng trong trại cải
tạo. Cải tạo hết mười bốn tháng vì cái tội vượt biên.
Sư thì vừa trên núi xuống. Được mời vô vì tội phát ngôn
bừa bãi. Hai ngày trong trại ấy, Sư ngồi thiền và đọc
thư tôi viết cho chồng ... Ra trại, Sư liền phi thẳng lên
nhà tôi bằng xích lô máy, bắt tôi trả hết 20 đồng tiền
xe, và nói suốt hai tiếng đồng hồ về một thứ gì đó
có liên quan đến mấy từ BIỂN ÁI DỤC. Đó là những gì
còn sót lại khi Sư quảy gót đi.
Khoảng
một năm sau, Sư lại xuất hiện. Cũng vẫn cái màng trả tiền
xe như lần trước. Lần này Sư không nói nhiều. Chỉ hỏi
tôi có pháp danh chưa? Nếu chưa thì Sư cho pháp danh. “Dạ
rồi”. Sư bắt tôi quăng con bé qua một bên để thọ lễ
làm thầy. Con bé thấy người lạ thì khóc ngất và càng bám
chặt vào mẹ. Sư thản nhiên “Kệ nó! qua đây lạy Sư”.
“Ông thầy không có lòng từ”. Nhưng mặc con khóc, tôi vẫn
cúi xuống lạy Sư như bị thôi miên. Sư dạy tôi cách lạy,
rồi dặn “Thôi Sư về. Khi nào người bạn ra trại thì hai
đứa phải xuống Long Xuyên tu với Sư”. “Dạ!”. Ra tới
cổng, Sư còn dặn tới dặn lui “Không được đẻ nữa nghe
chưa”. “Dạ!”.
Một
tháng sau chồng tôi về. Về như có phép mầu. Tôi có đứa
con thứ hai và làm ăn phấn phát. Sư lại xuất hiện. Nghe
Sư lên thăm tôi điếng hồn. Tôi đẩy chồng ra và núp sau
lưng anh chỉ chừa hai con mắt đủ để thấy Sư. Lần này
tôi không phải tốn tiền vì Sư đi nhờ xe người khác. “Sư
chờ hoài không thấy đứa nào xuống”. Chồng tôi giải thích
về nghĩa vụ làm cha, làm chồng và làm con của mình hiện
tại. Công nhận chàng giải bày rất hay. Sư không nói gì,
chỉ quay qua hỏi tôi “Con biết nghiệp là gì không?” Trong
sách vở cũng như âm nhạc không hề thấy nhắc đến từ
này. Tôi lắc đầu. “Nghiệp là nghề. Thôi Sư về. Gắn
giữ đạo đức cho mình”. Ra tới cổng Sư vẫn còn dặn
lại “Đừng có đẻ nữa!”. “Dạ!”.
Đứa
con thứ ba của tôi ra đời. Việc làm ăn của tôi thăng trầm
sóng gió và đầy sợ hãi. Tôi mất phương hướng vì những
suy nghĩ của mình. Đó là vào khoảng những năm 85. Đất nước
còn tranh tối tranh sáng. Môi trường chợ búa thật là nhiêu
khê. Mình ăn thì người mất. Mình được thì người thua.
Bố thí cúng dường thì quả tình làm ăn có dễ dàng, nhưng
cái dễ của mình lại là cái khó của người. Trong cái phước
đã sẵn cái mầm của họa hoạn. Nhân quả lại rành rành
trước mắt. Lúc ấy, càng có cơ hội làm giàu càng dễ gây
nhiều tội lỗi. Tôi thật sự thấy mất phương hướng và
xuống tinh thần vì tình trạng tiến thoái lưỡng nan của
mình.
Rồi
công việc bị trở ngại, tụi tôi phải thu gọn chỗ ở để
lấy nhà cho thuê. Chồng tôi cũng thay đổi. Đang ăn mặn bỗng
dưng chuyển sang ăn chay. Anh bỏ hết tất cả và chúi mũi
vào kinh sách. Đó là điều lạ đối với tôi. Anh không thể
nuốt nỗi một bữa chay đừng nói là ăn trường. Chưa bao
giờ biết chấp tay vái Phật đừng nói là tụng niệm hay
đọc kinh sách. Cái gì mầu nhiệm trong đóng sách kia? Tôi
bắt đầu lùng xục và tìm kiếm. Đó là lúc tôi đến với
đạo và theo Hòa thượng Thanh Từ.
Đến
với đạo rồi tôi mới nhớ đến Sư. Tôi đã không gặp
Sư mười mấy năm rồi. Tôi quyết định đi tìm Sư bằng
địa chỉ ngày xưa Sư cho tôi. Xuống Long Xuyên, Sư không còn
đó nữa. Nghe hỏi đến tên Giác Hưng, ai cũng cười. Chuyện
gì đó đã xảy ra với Sư không theo chiều thuận. Việc ấy
có liên quan đến một người đàn bà. Lại ái dụca(
Rồi
tôi cũng tìm thấy Sư trong túp liều tranh đổ nát ở Sa Đéc.
Sư của tôi ngày xưa không còn nữa. Chỉ là một ông già
ốm tong nhỏ tíu trong thật tội nghiệp. Bụi trần thật kinh
khủng! Nó làm thay đổi con người không thể ngờ. Thay đổi
cả hình dáng mà phong cách của Sư nữa. Ngày xưa Sư oai phong
lẫm liệt và tự tin biết bao! Giờ thì từ tốn, dịu dàng,
pha chút chịu đựng trong đó. Không nhờ đôi mắt, tôi không
tin đó là Sư của ngày xưa. May là trong cái thay đổi vẫn
còn cái không thay đổi để mình còn nhận ra được.
Tôi
cứ tưởng Sư sẽ rất mừng khi gặp hai đứa tôi. Nhưng không,
Sư rất bình thản. Tôi nói với Sư về hai từ VÔ NIỆM. Sư
không lấy làm lạ khi thấy tôi nói về hai từ đó. Sư hỏi
tôi “Con ăn chay chưa?”.
- Dạ,
mấy tháng rồi.
-
Phải ăn trường, sao có mấy tháng.
-
Không biết có kéo dài được không thành con không khẳng định
với Sư được.
-
Mấy đứa rồi?
-
Dạ ba.
-
Ngừng đẻ chưa?
-
Dạ ổng cắt rồi.
-
Cả hai đứa phải chay trường và giữ thân thanh tịnh mà
tu hành.
Rồi
Sư lại thao thao bất tuyệt về hai từ ái dục. Chục năm
rồi mà tôi vẫn không hiểu được Sư nói gì. Không hiểu
thành tôi không thể nhớ mà viết ra đây để mọi người
cùng đọc ngoài hai từ ái dục. Tôi kể Sư nghe về quá trình
đi tìm Sư thế nào và người ta nói gì về Sư. Sư trả lời
ngây ngô “Sư có làm gì đâu. Tại Sư hay vạch cái dỡ của
người ra thành người ta không ưa”. Sư chỉ vào cái chòi
đổ nát của mình “Chùa này cũng mời Sư đi rồi. Sư chưa
kiếm được chỗ thành chưa đi”. Đi từ Long Xuyên tới đây
mà cũng chưa chịu yên còn muốn đi nữa. Vì nói mà tù tội,
vì nói mà lang thang, nhưng hình như Sư không có ý định ngừng
nói. Vậy cũng hay!
- Đứa
út con bao nhiêu tuổi rồi?
-
Dạ 9.
-
Vậy là 18 năm nữa con mới đi tu.
-
Sao tới 18 lận. 13 năm nữa thôi chớ Sư.
-
Sao lại 13?
-
Nó ra trường đại học thì còn 13 năm nữa thôi.
Sư
ậm ự cho qua chuyện, rồi nói về Hòa thượng Thanh Từ với
giọng không vừa lòng. Không phải về pháp tu mà về việc
Hòa thượng đi đâu, Phật tử cũng theo quá đông. Thêm một
mớ linh tinh gì đó. Không muốn nghe nên không có chữ nào
vô đầu thành không thể nhớ. Tôi có tật đánh giá không
cao về những người hay chê người khác. Huống là chê Tông
Sư của mình. Tôi không trả lời vì đó là cái nhìn của
riêng Sư. Sư có quyền như thế. Song nhờ cái tật hay chê
của Sư mà tôi ngẫm ra một điều. Đừng bao giờ đụng đến
thầy người khác. Cốt yếu là phải làm sao để người nhận
được sự lợi ích thiết thực, không phải chỉ có chê xuông
mà thành công. Lời chê của Sư không có tác dụng với tôi,
vì tôi nhận được lợi ích từ việc tu học ở Thường
Chiếu thì nhiều mà nhận được ở Sư thì chưa thấy. Chỉ
có cãi chày cãi cối là giỏi. Được cái nghiệp miệng thì
có.
Sư
hỏi tiếp tôi “Con có biết Sư Nhật Quang không?” Chưa kịp
trả lời, Sư đã nói tiếp “Trước giờ, Sư chưa thấy ai
có cái tướng hảo quang minh như ông ta. Người gì mà có cái
tướng tốt quá”. Tôi hả họng cười khoái chí “A a là
đệ tử của Hòa thượng đó. Sư đi đâu mà về tuốt dưới
đó?”. Sư cụt hứng “Về Bà Rịa thăm người quen”.
Sau
này, khi đã “như thật biết thế nào là đạo đế” và
thâm nhập thực tế rồi, tôi không còn tâm đánh giá xấu
tốt về những biểu hiện của Sư nữa. Chẳng qua, nhân duyên
của tôi nằm ở Thầy là chính nên Sư chê Hòa thượng mà
khen Thầy. Cũng nhờ nó tôi hiểu vì sao các bậc Cổ đức
lại cứ khen chê lẫn nhau như những người còn nhân ngã.
Chê hay khen chẳng qua vì thành thục chúng sanh mà thôi. Đúng
duyên thì thứ gì cũng thành tốt, nên khen. Không đúng duyên
thì mọi thứ là xấu, nên chê. Với các vị, tất cả là
phương tiện. Qua rồi như gió thoảng mây bay. Oan gia là ở
tại mình. Thứ gì mình cũng thấy thật. Nên thành nhân ngã
với thị phi. Cái nhân ngã ấy là do cái KIẾN của mình chứ
không phải do bản chất các ngài như vậy.
Tôi
cúng dường Sư một ít để Sư sửa cái chòi dột nát rồi
về. Tôi không nghĩ chuyện trở lại gặp Sư nữa, nhưng quyết
định mua cho Sư một mảnh đất, cất cho Sư cái nhà nho nhỏ
để Sư có chỗ tá túc đàng hoàng. Có điều, Sư chỉ có
duyên ở nhờ chứ không có duyên có nhà.
Sư
lại lên thăm tôi như xưa. Tuy đã theo Hòa thượng học đạo,
nhưng biết và hiểu là một chuyện mà sống được vậy chưa
lại là chuyện khác. Thời gian tu hành chưa bao nhiêu, nên trên
sự vẫn còn nhiều nước mắt. Những lúc ấy Sư lại xuất
hiện. Sư răn tôi “Ra chỗ này là để học không phải để
thâu gom hơn thua”. Thấy tôi ngơ ngác không hiểu, Sư lại
đánh trống lãng bằng mấy thứ cỏ xanh cỏ vàng trên trời
dưới đất gì đó. Tật Sư là vậy. Nói câu đầu thấy người
không hiểu thì nói câu sau càng khó hiểu hơn. Sư cứ dặn
tôi mỗi khi Sư về “Buông tất cả, con sẽ được tất cả”.
“Con nghe rồi!”.
Tôi
nói với Sư về ý định mua đất của mình. Sư ừ è rồi
về coi đất. Đợt sau lên, Sư đòi tôi 6 cây chứ không phải
2 như tôi đã định. Sư nói mua mảnh đất thật lớn luôn,
cho tôi đứng tên. Sư sẽ lập chùa, trồng cây ăn trái sau
này con về đó mà ở. Tôi lắc đầu “Con cúng Sư 2 cây Sư
làm gì đó làm. Con không đứng tên đứng tuổi gì đâu. Con
sống làm người Thường Chiếu, chết làm ma Thường Chiếu”.
Sư
hỏi ngược tôi “Hòa thượng Thanh Từ có gì hay mà con sống
chết dữ zậy”.
Tôi
hỏi Sư “Tổ Sư Thiền có phải do Phật lập ra không?”.
Sư
không trả lời mà lại hỏi tôi “Con có biết sự tích Đức
Phật trao cho ngài Ca Diếp nửa tòa ngồi không?”. Tôi gật
đầu. Sư nói “Ca Diếp là ông Tổ của Tổ Sư Thiền”.
Phải
nói, những ngày mà công phu còn chưa đủ để có thể đặt
niềm tin tuyệt đối vào Đại thừa thì câu trả lời này
chính là thứ củng cố niềm tin về Đại thừa cho tôi rất
nhiều. Người dạy Đại thừa khẳng định về Đại thừa
không giá trị bằng chính một Sư Tiểu thừa khẳng định.
Sư ấy lại tu hạnh đầu đà, đầu trần, chân đất và trú
tồi tàn trong một mái nhà tranh rách nát.
Tôi
vùng vằng “Vậy sao Sư cứ chê Hòa thượng hoài zậy. Con
tu theo Tổ Sư Thiền của Hòa thượng chứ con có đi bằng
hai chân của Hòa thượng đâu mà Sư chê hoài nghe mệt nảo
quá!”.
Sư
cười không nói gì và tiếp tục đòi cho được 6 cây về
mua đất trong khi gia sản tôi chỉ có 4 cây. Tôi nói ngang “Con
không có. Có 2 cây đó Sư có lấy thì lấy, không lấy thì
thôi”. Sư buồn buồn nhìn vào mắt tôi “Phật chỉ gặp
một lần, không còn gặp lại được nữa”. Trời đất!
Ai xưng Phật người đó là ma ... Tôi càng thủ chặt hơn nữa.
Vấn
đề không phải vì tôi chỉ còn 4 cây. Chẳng qua tôi thấy
mua nhiều đất không để làm gì. Nói pháp theo kiểu của
Sư thì lập chùa ra có ích lợi gì? Có ai hiểu gì đâu mà
nói. Có hiểu thì cũng chẳng ai làm nỗi. Có phải Tăng Ni
đâu mà mỗi lần gặp tôi, Sư cứ bắt tôi ăn chay, bắt tôi
không được đẻ, bắt tôi ngừng yêu thương khi ông chồng
tôi còn sờ sờ ra đó. Tôi thương Sư lắm mà tôi còn ngán
tận cổ chẳng muốn gặp Sư, huống là những người không
ưa Sư. Thôi cứ ở một mình đó. Lâu lâu lên thăm tôi. Còn
không thì đi tới đi lui đâu đó chọc phá cho thiên hạ bớt
bình yên cũng được. Thế giới nay chắc chỉ có mình tôi
là thương Sư. 6 cây mua đất còn không đủ, lấy đâu ra để
xây chùa mà tính chuyện viễn vong. Tôi là đứa cứng đầu
lại đa nghi, nghe Sư nói trống trống là Phật là thánh, lại
càng thủ chặt không muốn đưa ra.
Rốt
cuộc Sư nài được ông xã tôi một chỉ để đóng thuế
đất rồi về. Lần đầu tiên tôi thấy Sư buồn. Một tháng
sau tôi mất chiếc xe đang đi, vừa đúng 4 cây.
Sư
nói không sai, đó là lần cuối tôi gặp Sư. Hơn cả năm không
thấy Sư lên, tôi sốt ruột điện thoại về chùa hỏi thăm,
mới biết Sư đã bị điện giật chết sau đó mấy tháng.
Tôi sững sờ và hối hận không thể tả. Tại tôi không chịu
đưa 6 cây cho Sư thành Sư mới chết như vậy cũng nên. Tôi
muốn khóc nhưng không khóc được. Khi chết, trong tay nãi của
Sư còn 2 cây tôi đã đưa mua đất. Chính quyền lập biên
bản và mời người em của Sư ở Qui Nhơn vào nhận thay.
Sư
Trung có lên thăm tôi và nói về chuyện miếng đất. Tôi lập
lại những gì tôi đã nói với Sư Hưng. Sư nói người ta
đã qui hoạch để mở một con đường ngang đó. Miếng đất
giờ đã có người trả 20 cây nhưng vậy thì Sư sẽ không
bán, để đó lập chùa và dời mộ Sư Hưng về. Tôi rất
vừa ý với dự định của Sư. Song cũng không biết hiện
tại thế nào. Vì từ đó tới giờ, tôi chưa một lần về
đó thăm Sư. Mà duyên đời thì đưa đẩy. Biết hiện tại
thế nào. Có còn đó hay không?
Nhân
Duyên
Đó
là những gì tôi biết về Sư Hưng. Còn con người thật của
Sư thế nào, tôi không biết. Mà có con người thật nào ở
thế giới này khi nó được đúc kết bằng những mạch nối
của nhân duyên? Nếu nhân duyên giữa Sư và tôi thuận, nghĩa
là Sư và tôi có những mối liên hệ khá tốt từ những đời
quá khứ, thì Sư trở thành con người tuyệt vời dưới mắt
tôi. Nếu nhân duyên giữa tôi và Sư xấu, tức quan hệ của
tôi và Sư trong những đời trước không mấy thuận, thì Sư
trở thành một tên đáng ghét dưới mắt tôi. Con người Sư
thế nào là tùy duyên, nhưng mình lại lấy cái tướng tùy
duyên đó cho là tính cách của Sư và xem tính cách ấy như
con người thật của Sư. Không có duyên của tôi và anh thì
tính cách của Sư đặt ở chỗ nào? Mà không có tôi và anh,
liệu có Sư hay không?
Con
người thật của Sư cũng như con người thật của anh hay
tôi không hình không tướng. Chỉ vì nhân duyên nhân quả mà
thành có tướng. Mình không hiểu, lại nhận cái tướng ấy
làm tôi, nhận cái hình hài kia là anh, rồi trên những cái
vọng nhận ấy mà phân biệt, tranh dành, thương ghét. Thế
giới trở thành đảo điên từ đó.
Tôi
thấy Sư như hiện thân của một vị Bồ tát. Anh thấy Sư
như một tên khùng. Tôi đúng hay anh đúng? Không ai đúng cũng
không ai sai. Cái duyên giữa tôi với Sư không giống với cái
duyên giữa anh với Sư. Chính vì vậy, mình có hai cái nhìn
khác nhau về Sư. Cái khác ấy nằm ở mối NHÂN DUYÊN giữa
tôi với Sư và giữa anh với Sư, không phải ở chính con người
Sư. Nghĩa là, cái tướng Sư đang mang đó, nó liên quan trực
tiếp đến nhân vật chính là tôi hay anh. Chính xác hơn, nó
liên quan đến căn nghiệp của mỗi người. Nói gần một
chút nữa, nó lệ thuộc vào quan niệm định kiến của từng
người. Cái định kiến ấy cũng thay đổi theo thời gian chứ
không chịu đứng yên một chỗ. Vậy mà mình sử dụng chúng
như là của báu, trong khi Phật gọi chúng là đồ VỌNG TƯỞNG.
Với
anh, chân tu phải là người cột sống luôn phải thẳng góc
với mặt đất, mắt không ngó bên phải, không nhìn bên trái,
cứ một mực dưới đất mà nhìn. Ai thuộc tiêu chuẩn đó,
vị đó là thiện tri thức để anh kính trọng. Tôi thì không.
Tôi không quan tâm đến cái đầu người đó đặt ở đâu.
Cái đầu họ ngược với cái chân mà cái ngược ấy khiến
tôi bớt tham sân si, tôi phát trí tuệ thì vị ấy là thiện
tri thức của tôi. Mình có hai quan niệm khác nhau nên người
tốt và xấu qua cái nhìn của mình cũng không giống nhau. Cứ
vướng vào quan niệm như thế nên thế gian nầy mới đầy
tốt xấu.
Có
anh mà Sư thành xấu. Có tôi mà Sư thành tốt. Không có anh
và tôi thì Sư chỉ là Sư. Không tốt cũng không xấu. Nếu
ngay đây nhận được. Không hướng ra ngoài phê phán mà qui
hướng lại mình như nhà thiền đã dạy PHẢN QUAN TỰ KỶ
BỔN PHẬN SỰ - Phận sự của mình là quay về chiếu soi lại
chính mình - thì tốt xấu nằm ở chỗ nào? Không tốt xấu
thì không có phê bình, hơn thua, tranh dành, phiền não. Đâu
chẳng phải là Phật pháp? Phu nhân Bàng Long Uẩn nói “Dễ!
Dễ! Dễ! Trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư”. Chỗ nào không phải
là ý của Tổ sư?
Một
người bạn nói với tôi “Mày đụng đâu cũng lôi duyên
khởi ra nói”. Nói về DUYÊN KHỞI là nói mọi thứ ở thế
gian này đều do duyên mà khởi, từ duyên mà có. Nó là từ
chung của NHÂN DUYÊN và NHÂN QUẢ. Phải có hạt giống của
cam và vô vàn những điều kiện chung quanh như đất, nước,
phân bón v.v… mình mới có được quả cam. Hạt giống là
NHÂN. Những thứ còn lại gọi là DUYÊN. Quả cam là QUẢ.
Mình thử tìm xem, có thứ gì xuất hiện trên cõi đời này
mà thoát được hai thứ nhân duyên ấy không? Không có thứ
gì hết. Cái mạng mình đây cũng nhờ tinh cha huyết mẹ mới
thành. Sâu hơn nữa, phải có nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền
não làm duyên mới chiêu cảm ra cái thân phần đoạn sanh tử
hiện nay. Cuộc đời này không có gì không là nhân duyên.
Đụng tới đâu DUYÊN KHỞI lòi tới đó. Nói gì khác ngoài
duyên khởi bây giờ?
Phật
nói chúng sanh đi cùng với NHÂN DUYÊN mà không hề biết gì
về nhân duyên. Không biết nghĩa là không biết những gì mình
đang có đây đều bắt nguồn từ một cái nhân đã có từ
trước. Cái nhân như vậy, cái duyên như vậy, nên cái quả
mình nhận như vậy. Những gì mình đang làm đây cũng sẽ
có cái quả trong tương lai khi đủ duyên. Không có thứ gì
tự nhiên mà có hay tự nhiên mà mất. Nắm được mặt nhân
duyên này, mình sẽ bình thản được với những được mất
ở thế gian mà cũng tránh được nhiều việc đáng tiếc xảy
ra trong hiện tại và tương lai. Song vì không biết mà thế
giới này mới đầy tai họa. Tan thương và đau khổ không
bao giờ vơi bớt. Không nói về nhân duyên thì nói về gì
bây giờ? Nói về bổn phận PHẢN QUAN của mình vậy.
Phản
quan tự kỷ
bổn
phận sự
Nói
đến Thiền, ai cũng nghĩ ngay đến việc kéo chân ngồi kiết
già hoặc bán già, theo hơi thở hay nhắm mắt tịnh tâm. Và
cho đó là thiền.
Thiền
đó gọi là TỌA THIỀN. Là cách thức đầu tiên giúp mọi
người bớt hướng ra ngoài mà xoay lại mình. Nó giúp mình
bớt lăn xăn loạn động cái thân để điều phục dần cái
tâm chứ nó không phải là tất cả trong việc tu thiền. Vì
vậy khi nói đến thiền, mình không nên chỉ nghĩ đến việc
ngồi thiền là thế nào? Thấy được gì qua việc ngồi thiền
ấy? Mà còn rất nhiều việc khác cần bàn bạc khi nói đến
thiền.
Tuy
TỌA THIỀN là phương pháp đầu tiên để vào cửa thiền,
nhưng với nhiều người cái cửa đầu tiên này không phải
dễ nuốt. Bà tôi cứ than “Bà ngồi tụng kinh cả ngày được,
mà ngồi thiền cọ mậy phụt răng chịu không được. Khọ
quạ!”. Tội bà! Bà tụng giỏi quá bây giờ quen rồi, bảo
nó yên không cho nó tụng, nó đâu chịu. Khó lắm! Thành dù
tọa thiền không phải là tất cả trong việc tu thiền, mình
cũng cần phải cố gắng. Tập ‘ngồi yên’ để trị bớt
cái bịnh ‘không yên’ của mình. Khi nào cái ‘không yên’
không còn làm chủ mình nữa - nghĩa là mình muốn yên thì
nó yên, mình muốn động thì nó động, mình muốn tụng thì
nó tụng, mình muốn im thì nó im - lúc đó mình mới không
cần tập ngồi thiền. Cái gì cũng do THÓI QUEN mà thôi. Tập
hoài sẽ được.
Tọa
thiền là phương pháp giúp ổn định thân. Thân ổn định
để định được tâm. Cho nên, trọng tâm của việc ngồi
thiền chính là làm sao để tâm được yên. Không tọa thiền
mà vẫn khiến tâm yên thì vẫn gọi là có công phu tu thiền.
Giờ
mình bàn về hai chữ TÂM YÊN.
Tâm
yên để làm gì? Để làm Phật. Để thành ông Phật ngồi
trên bàn thờ với mấy nãi chuối xanh đó. Nghe vậy chắc
chẳng ai muốn làm Phật. Ngồi trên đó coi bộ buồn, mà muốn
ngồi trên đó thì mất nhiều công phu sức lực lắm. Thời
vật chất đang hưng thịnh như ri mà nói đến hai chữ làm
Phật thì quả tình hơi không thực tế. Không thực tế vì
không ai muốn yên theo kiểu ông Phật trên bàn thờ kia. Còn
biết bao thứ để hưởng thụ.
PHẬT
còn có một nghĩa nữa. Nó chỉ cho TÁNH GIÁC trong mỗi người
chúng ta. Sống được với cái tánh giác đó gọi là làm Phật.
Tánh giác là chỉ cho cái tâm của mình đây, chính là cái
BIẾT. Là thứ mà nhờ nó mình không trở thành vô tri vô giác
như cây cỏ hoa lá hay như trái banh lăn long lóc trên đường
kia. Mình biết cái này ngon, cái kia đẹp. Mình biết nói cười,
biết nhảy nhót, biết suy nghĩ, biết yêu thương. Mình biết
cái gì thiện, cái gì ác … Tất cả đều nhờ tâm. Ai cũng
có cái tâm đó. Phật trên bàn thờ kia cũng có cái tâm đó.
Bồ tát Di Lặc cũng có cái tâm đó. Anh có tâm đó. Tôi cũng
có tâm đó. Nhưng vì sao không gọi mình là Phật mà lại gọi
là chúng sanh?
PHẬT
là biết. Biết đủ hết nhưng chỉ BIẾT rồi thôi. “Cái
hoa này đẹp quá!”. Nghe cái hoa này đẹp quá thì chỉ biết
nghe “Cái hoa này đẹp quá!”. Chừng đó thôi không thêm
gì vô nữa. Biết vậy gọi là cái BIẾT PHẬT, còn gọi là
GIÁC. Nhờ chỉ BIẾT thôi nên không thứ gì là không biết.
CHÚNG
SANH, nghĩa của nó là họp lại mà sanh. BIẾT mà còn sanh thêm
đủ thứ trên đó, từng đàn từng lũ họp lại mà sanh, nên
không gọi mình là Phật mà gọi là chúng sanh. “Đứa nào
nói vậy hè? Nó nói cái hoa nào đẹp rứa không biết” còn
không thì cảm giác vừa lòng hay không vừa lòng xuất hiện,
rồi vui buồn thênh thang … Một câu vừa qua tai mà bao nhiêu
thứ trổi theo như thế, nên gọi là chúng sanh. Song sanh rồi
mà kịp thời ngừng lại không cho nó sanh nữa, gọi là BỒ
TÁT.
Khi
mình đang có danh vọng, tiền tài, vợ đẹp, con ngoan, không
ai thấy giá trị của việc làm Phật. Làm Phật kiểu thứ
nhất thì để dành cho những vị có lý tưởng cao cả, đây
mình không đề cập đến. Chỉ nói đến kiểu làm Phật thứ
hai. Cái kiểu làm Phật này rất có giá trị khi mình gặp
tai họa hay khổ nạn. Trong đời sống thường nhật đây,
nếu mình sử dụng được ông Phật này, cuộc đời sẽ bớt
khổ đau rất nhiều. Nói đến khổ đau thì chắc chẳng ai
dám khoe “Từ nhỏ đến giờ tôi chưa từng biết khổ đau”.
Ai đã có lòng yêu thương, người đó có đau khổ. Chỉ là
ít hay nhiều, thường hay không thường mà thôi.
Ngày
tôi mới theo Hòa thượng học thiền, tôi nhặt được một
chú mèo con còn chưa mở mắt. Mẹ nó tha thế nào mà con bé
rớt chỏng cẳng dơ que ở cổng nhà tôi. Tôi nuôi nó bằng
ống kim với sữa bò cho đến ngày nó lớn. Lần nào nó đẻ,
tôi cũng phải ngồi vuốt lấy sống lưng cho nó. Con bé hiền
lành dễ thương ... Nuôi 3 đứa con mà còn kiêm luôn cả 3
đứa cháu. Nhưng chưa được mấy ngày thì nó bị người
ta thuốc chết. Tôi tìm thấy nó dưới gầm xe. Máu còn loang
nơi miệng. Mắt mở trừng trừng. 6 đứa con khát sữa kêu
in ỏi.
Tôi
đau trong lòng. Tôi khóc không được. Nghĩ đến hình bóng
cứng đờ của nó dưới gầm xe là ruột tôi quặn cả lên.
Mọi người xúm lại bàn tán. Kẻ hít hà thương cảm lũ con
chưa mở mắt đã mồ côi mẹ. Người nguyền rủa kẻ sát
nhân sao ra tay tàn ác. Người thắc mắc vì sao nó không ăn
ở nhà, lại đi kiếm ăn ở đâu để chết quá thảm thương.
Nghe chừng nào ruột tôi quặn lên chừng đó. Cộng thêm hình
ảnh trừng mắt của nó ... Không thể nào chịu nổi!
Có
câm hết đi không! Tôi cấm không ai được nhắc đến con
mèo dù chỉ là một sợi lông. Tôi cấm tôi không được nghĩ.
Đầu tôi không có hình ảnh. Tai tôi không nghe gì hết. Tôi
trừng trừng với nỗi đau của riêng mình trong một không
gian yên lặng. Phép màu đã xảy ra ... Ngay cái chỗ đang đau
đó, một cảm giác an lạc xuất hiện xóa tan mọi đau đớn.
Tài chi Hòa thượng nói “Phiền não tức bồ đề”. Cứ
ngay cái phiền não đó mà nhấn tới thì bồ đề sẽ xuất
hiện. Bồ đề là chỉ cho ông Phật của mình đó. Phật thì
thường, lạc, ngã, tịnh nên mình hưởng được cái lạc
đó mà cái khổ không còn.
Công
phu còn đang giai đoạn nhú mầm nên mình vừa phản quan tự
kỷ mà vừa phải mượn duyên bên ngoài để … làm Phật.
Nếu