Dẫn
nhập
Thiền
giả quá hăm hở khi nắm bắt những giáo huấn thiền định
đúng đắn có thể bị cuốn hút khiến lướt vội qua những
đề mục về lòng sùng mộ, niềm tin, sự cầu nguyện dòng
truyền thừa mà chỉ chú tâm vào các kỹ thuật chẳng hạn
như làm thế nào duy trì tư thế thiền định của mình. Đây
chính là bỏ quên toàn bộ tinh tuý của sự thiền định.
Tinh tuý ấy là một phương cách toàn hảo để nhận chân
thế giới, một phương pháp để phát triển mối tương quan
của cá nhân hành giả với chính mình và với người khác.
Để gặt hái tối đa những lợi lạc từ các giáo huấn này,
ta phải đọc từng câu như thể nó được ghi khắc trên những
trang giấy bằng vàng, đó là cách mà một vài trong số những
thánh điển lúc ban đầu đã được soạn ra.
Bởi
tâm thức mọi người thì dị biệt nên cách thiền định
của mỗi người cũng khác nhau. Đây là lý do vì sao giáo huấn
riêng cho mỗi cá nhân thì thật cần thiết. Điều cực kỳ
quan trọng là trước khi thực sự bắt đầu thực hành thiền
định, ta phải thỉnh ý một thiền sư có đầy đủ phẩm
tính. Trung tâm Karma Triyana Dharmachakra (352 Meads Mountain Road,
Woodstock, NY 12498) lưu giữ một danh sách các trung tâm thiền
định Tây Tạng trên khắp thế giới dành cho những người
đang tìm kiếm giáo huấn. Để biết thêm thông tin chi tiết
về thiền định, ta có thể tham khảo nơi trung tâm Thiền
định Shamatha và Vipashyana của Thrangu Rinpoche.
Việc
học Pháp
Ta
nên bắt đầu bằng cách xem xét ý hướng của ta, điều đó
có nghĩa là xoay tâm vào trong và khảo xét xem thái độ của
ta thanh tịnh hay bất tịnh. Bởi chúng ta chỉ là chúng sinh
bình thường nên đôi khi thái độ của ta thanh tịnh và những
lúc khác nó lại bất tịnh. Chẳng có gì phải ngạc nhiên
về điều đó. Khi nhận ra thái độ của ta thanh tịnh, ta
có thể hoan hỉ và hãy để nó an trụ trong sự thanh tịnh.
Khi nhận ra thái độ của ta bất tịnh thì cũng chẳng có
lý do gì để thất vọng, bởi ta có thể chuyển hoá được
nó. Nếu chúng ta chuyển hoá thái độ và lập đi lập lại
như thế, thì từng chút một, thái độ tiêu cực của ta sẽ
tự nhiên trở nên thanh tịnh. Để phát triển ý hướng nhắm
tới sự Giác ngộ này, nên suy tưởng rằng bất kỳ điều
gì ta đang làm đều là để giúp đỡ chúng sinh đạt được
Phật Quả.
Yếu
tố cần thiết để thiền định
Khi
ta làm một hành động thuộc thân xác, hành động này có
thể có một kết quả tích cực hoặc tiêu cực. Khi ta nói
điều gì, nó có thể tốt hoặc xấu. Vì thế với lời nói
và hành động, ta có thể thấy được những kết quả rõ
ràng, nhưng với tư tưởng thì tác dụng cụ thể không được
biểu lộ. Tuy nhiên, tâm thức quyết định mọi hành động
thuộc thân thể và lời nói của ta, bởi bất cứ ta làm điều
gì, tư tưởng luôn hiện diện ở phía sau nó. Khi tư tưởng
đó tích cực, những hành động theo sau sẽ tốt lành. Khởi
điểm của việc thay đổi những gì ta làm là hãy thay đổi
cách thức suy tưởng của chúng ta.
Khi
cốù gắng thay đổi một ý hướng tinh thần, ta phải sửa
đổi các tập quán của mình. Tuy nhiên, ta có thể thực hành
sự thiền định này, đó là vận dụng tâm thức ta trong một
phương cách cô đọng và được kiểm soát hơn nữa. Những
gì đang quấy nhiễu tâm thức có thể được loại trừ bằng
thiền định khiến tâm thức ta có thể hiện hữu trong sự
thanh tịnh trong trẻo của nó. Nếu tâm ta bị xao lãng, thì
nhờ thiền định, ta có thể chuyển hoá nó thành một tâm
thức không phóng dật. Thiền định khiến ta có thể chuyển
hoá những tập quán xấu thành tập quán tốt. Rồi khi ta biết
cách thay đổi những tập quán tinh thần của mình, ta có thể
thay đổi những hành động vật lý và cung cách nói năng của
ta. Một khi đã thay đổi những điều này, ta có thể đạt
được mục đích tối hậu của sự thực hành của ta, đó
là Phật Quả.
Niềm
tin và lòng Sùng mộ
Một
điều chung nhất cho mọi thực hành thiền định là thiền
giả cần có động cơ đúng đắn, đó là ước muốn đem
lại lợi lạc cho mọi người, chứ không chỉ cho riêng mình.
Cùng với điều này, ta cũng cần có lòng sùng mộ hết sức
mãnh liệt đối với Đạo sư của ta và với tất cả các
bậc Đạo sư trong dòng truyền thừa. Nếu chúng ta khẩn cầu
các ngài với lòng sùng mộ thực sự chân thành thì ta có
thể nhận được những sự ban phước của các ngài, nhờ
đó việc thiền định của ta sẽ tiến bộ rất nhanh chóng.
Ta được biết rằng suối nguồn của sự phát triển bốn
phái chính và bốn phái phụ trong dòng Kagyu là những ân phước
được tạo nên bởi những thiền giả cầu nguyện các bậc
Đạo sư của họ với lòng sùng mộ chân thực. Họ đã thọ
nhận những sự ban phước và đã có thể phát triển sự
thiền định và thấu suốt của mình một cách nhanh chóng.
Với
thực hành thiền định, chúng ta có thể thực sự làm cho
tâm được ngưng đọng, tâm thức trở nên trong trẻo hơn
và an bình hơn. Truyền thống Kim Cương thừa (1) đã phát triển
một phương pháp thực hành khiến ta có thể kinh qua tiến
trình này còn nhanh chóng hơn những thực hành thiền định
khác. Trong cách thực hành này, ta cầu nguyện Đạo sư của
ta và tất cả các bậc Đạo sư tiền bối, và phát triển
một lòng sùng mộ hết sức mãnh liệt – một sự mở trống
để nhận lãnh những ân phước của các ngài. Nếu ta khẩn
cầu bậc Đạo sư, ta sẽ nhận được sự ban phước, và
nhờ sự ban phước này mà việc thiền định của ta sẽ tiến
bộ nhanh chóng và tự nhiên.
Làm
thế nào mà những sự ban phước có thể không được một
số người cảm nhận? Chẳng phải bởi chư Phật và
các bậc Thầy nghĩ tưởng: “Tốt, nó không cầu nguyện ta,
do đó ta sẽ không ban phước cho nó.” Với thiện tâm và
lòng từ ái không phân biệt, chư Phật và các bậc Đạo sư
xử sự với tất cả chúng sinh như một bà mẹ đối với
đứa con trai duy nhất của bà, nhưng chỉ có những người
mở lòng ra với những sự ban phước này mới có thể cảm
nhận được chúng. Ví dụ, nếu ta có một cái móc và cố
gắng móc một quả trứng thì điều đó không thể thực hiện
được. Nhưng nếu với cái móc ta cố câu một cái vòng lên
thì thật là dễ dàng. Cũng thế, lòng bi mẫn và những sự
ban phước của chư Phật vẫn luôn luôn hiện diện ở đó,
nhưng điều mà chúng sinh phải làm là mở lòng ra để nhận
lãnh những sự ban phước. Niềm tin và lòng sùng mộ thì giống
như một cái vòng để cái móc của lòng bi mẫn và sự ban
phước của chư Phật kéo chúng ta ra khỏi vòng sinh tử. Cho
dù lòng bi mẫn của chư Phật có bao la đến đâu chăng nữa,
nhưng nếu không có lòng sùng mộ thì sẽ chẳng có điều
gì xảy ra.
Sự
cầu nguyện Dòng truyền thừa
Để
phát triển lòng sùng mộ, ta tưởng tượng Đạo sư của ta
như hiện thân của tất cả chư Phật trong thân tướng Đức
Dorje Chang (Phạn: Vajradhara.) (2) Bài cầu nguyện Đức Dorje
Chang có một giá trị đặc biệt. Nó được Đạo sư của
Đức Karmapa Thứ Bảy (3) sáng tác. Ngài sống trên một hòn
đảo rất nhỏ giữa một cái hồ ở xứ Tây Tạng trong 18
năm và thiền định về Mahamudra (Đại Ấn.) (4) Ngài dùng
tất cả thời gian đó chỉ để thiền định cho tới khi đạt
được sự chứng ngộ toàn triệt về Đại Ấn. Vào thời
điểm này, ngài sáng tác bài cầu nguyện Đức Dorje Chang một
cách tự nhiên, và vì thế bài này được rất nhiều sự
ban phước. Khi đọc bài cầu nguyện này, (5) ta phải
tỉnh thức đối với ý nghĩa của các ngôn từ. Ta nên đọc
nó trong khi cố gắng thực sự tập trung vào những gì ta đang
nói, hết sức chú tâm, không để tâm vẩn vơ trên những
sự việc khác, và trong suốt thời gian đó ta cầu nguyện
với lòng sùng mộ chân thành để tưởng nhớ tới những
phẩm tính của Đạo sư của ta.
Khi
bắt đầu thiền định, ta cần hướng tâm tới sự Giác ngộ
khiến cho những điều kiện khác cần thiết cho một sự thiền
định chân thực sẽ phát sinh trong ta. Giáo lý Kim Cương thừa
có nói rằng thiền định chân thực sẽ xảy ra một cách
tự nhiên nếu ta thọ nhận sự ban phước của Đạo sư của
ta và các bậc Thầy của dòng truyền thừa. Đó là lý do vì
sao ta cầu nguyện với Đức Dorje Chang. Ta quán tưởng Ngài
ở trong không gian trước mặt ta và được vây quanh bởi các
bậc Thầy (Lạt Ma) của dòng truyền thừa. Nếu không thể
quán tưởng nhiều đối tượng, ta có thể chỉ tưởng tượng
thân tướng Đức Dorje Chang như một tích tụ của mọi
phẩm tính và tinh tuý của các bậc Thầy của dòng truyền
thừa.
Bài
cầu nguyện Đức Dorje Chang có bốn phần. Phần thứ nhất
là xoay chuyển tâm khỏi vòng sinh tử khiến ta có thể thấy
được tính chất huyễn hóa của nó, phát triển tâm nhàm
chán sinh tử, và thiết tha thực hành Pháp. Phần thứ hai là
trưởng dưỡng lòng sùng mộ của ta đối với Đạo sư và
Pháp khiến ta có thể nhận được những sự ban phước của
các bậc Đạo sư và phát triển sự thiền định chân thực.
Phần thứ ba là ta cầu nguyện để có được sự an bình
trong tâm và không bị xao lãng, nhờ đó ta sẽ phát triển
thiền định chân thực. Phần thứ tư là nỗ lực để thấu
suốt bản chất của các niệm tưởng của ta là Pháp Thân
(dharmakaya). Khi đã thấu suốt điều này, chúng ta thực sự
trở thành Đức Dorje Chang. Sau đó, chúng ta chỉ việc an trú
trong thiền định. Bất kỳ niệm tưởng nào khởi lên, chúng
ta chỉ ngơi nghỉ trong bản chất của niệm tưởng này.
Khi
quán tưởng Đức Dorje Chang, ta tưởng tượng Ngài có mầu
xanh dương, một mặt và hai tay cầm chày và chuông. Ngài ngồi
trong tư thế kim cương. (6) Ta có thể quán tưởng Ngài đang
ở trên đầu ta hoặc ở trong không gian trước mặt. Ta thường
quán Ngài ở trước mặt ta và nếu có thể được, quán tưởng
Ngài được tất cả các Đạo sư của dòng truyền thừa vây
quanh. Ta không quán tưởng các Đạo sư trong hình tướng bình
thường với thân thể thịt xương thô nặng, bởi nếu quán
tưởng như thế, những hình tướng ấy sẽ làm phát sinh những
tư tưởng tầm thường trong tâm ta. Việc nảy sinh những tư
tưởng tầm thường trong khi thiền định là dấu hiệu cho
thấy ta không có lòng sùng mộ mạnh mẽ. Vì thế ta quán tưởng
Đạo sư trong thân tướng Đức Dorje Chang để phát triển
một thị kiến thanh tịnh trong ta và để thấy Ngài không
như thân xác thịt xương bình thường, mà trong một cách thế
thanh tịnh. Ta biết rằng đó là Đạo sư của ta, nhưng ngài
ở trong thân tướng Đức Dorje Chang. Nếu không thể quán tưởng
tất cả các bậc Đạo sư này thì ta chỉ đơn giản quán
tưởng Đức Dorje Chang và suy tưởng rằng Ngài tượng trưng
cho mọi phương diện của Tam Bảo. Trong khi cầu nguyện, ta
gắng tưởng nhớ tới tất cả các phẩm tính tốt đẹp của
Đạo sư của ta và của các bậc Đạo sư dòng truyền thừa
Kagyu, và nỗ lực cảm nhận lòng sùng mộ chân thực trong
mức đôï có thể. Ta cố gắng cảm nhận càng nhiều càng
tốt niềm tin từ tận đáy lòng ta. Cảm nhận niềm tin ấy,
ta đọc bài cầu nguyện dòng truyền thừa, (7) và khi
điều này xảy ra, ta suy tưởng: “Tôi đã nhận lãnh mọi
sự ban phước về thân, khẩu, ý của tất cả chư Phật và
Đạo sư.” Cuối bài cầu nguyện, ta tưởng tượng rằng
Đạo sư của ta và tất cả các bậc Đạo sư khác tan thành
ánh sáng, rồi ánh sáng này được thâu rút qua đỉnh
đầu và đi vào tim ta. Trong khoảnh khắc đặc biệt này, ta
tưởng tượng đã nhận lãnh mọi sự ban phước về thân,
khẩu, ý của Đạo sư của ta và của tất cả các bậc Đạo
sư khác. Ta quán tưởng ta đã nhận được một cách đúng
đắn cũng những phẩm tính mà các ngài có, bởi giờ đây
tâm ta và tâm các ngài là một. Vì thế, mọi phẩm tính của
sự hoàn toàn giải thoát khỏi những che chướng và của sự
chứng ngộ viên mãn của các ngài giờ đây là của chúng
ta, như thể các ngài đã in một tấm ảnh những phẩm tính
giác ngộ của các ngài lên chúng ta. Ta suy tưởng rằng ta
đã thâu thập toàn bộ sự ban phước, và bất kỳ sự chứng
ngộ nào có trong tâm Đạo sư của ta thì giờ đây cũng
có trong tâm ta.
Tư
thế thiền định
Có
hai vấn đề quan trọng trong thiền định, đó là thân và
tâm. Thân rất cần được giữ cho thẳng để các kinh mạch
vi tế (8) trong thân cũng được ngay thẳng. Nếu những kinh
mạch vi tế này thẳng đứng thì các năng lực vi tế trong
chúng sẽ vận hành trôi chảy. Ta được biết rằng tâm giống
như một con ngựa lướt trên những năng lực vi tế của
thân. Khi ngựa chạy, năng lực này trôi chảy, nó thư thản
và êm dịu.
Có
nhiều mô tả về tư thế thiền định tốt đẹp và ta sẽ
sử dụng sự mô tả gồm năm điểm.(9) Điểm thứ nhất:
thân nên ngay ngắn và thẳng đứng. Phải “thẳng như một
mũi tên” có nghĩa là lưng ta cần thẳng và không nên ngả
về phía trước, phía sau, hay hai bên. Điểm thứ hai là cổ
họng nên hơi congï xuống như một cái móc. Trong cổ họng
có hai kinh mạch vi tế, và nếu chúng hơi được uốn về
phía trước, năng lực sẽ lưu thông trong đó làm giảm bớt
tâm khích động trong việc thiền định của ta. Điểm thứ
ba là chân phải xếp chéo lại theo “kiểu lưới mắt cáo”
có nghĩa là cẳng chân cần được giữ trong tư thế bắt
chéo. Nếu có thể ngồi trong thế kiết già thì thật tốt,
còn không thì chỉ đơn giản chéo chân theo thế bán già. Điểâm
thứ tư là thân phải “cùng tập hợp như sợi giây xích.”
Sau khi ngồi thẳng người, ta khoá thân lại trong tư thế đó
như thể bằng những chiếc cùm thép. Cách thức để làm điều
này là chắp hai bàn tay tay lại, đặt chúng cách dưới rốn
bằng bề dày của bốn ngón tay. Điểm thứ năm là giữ tâm
và thân trong mức độ căng thẳng hợp lý, sử dụng một
nỗ lực để thân và tâm được hoà hợp và tập trung. Điều
này được so sánh với lưỡi của ta, chẳng hạn khi ta phát
âm những chữ Tây Tạng “li” và “ri”, lưỡi cần được
căng lên ở một mức độ nào đó. Cũng thế, ta nên luôn
luôn duy trì một số nỗ lực và tỉnh giác trong thân và tâm.
Đạo
sư vĩ đại Marpa đã nói rằng có nhiều giáo huấn khác nhau
về tư thế thiền định, nhưng ngài thích tư thế năm điểm
này hơn khi nói rằng nếu ta giữ thân thể trong tư thế này
thì năng lực vi tế lưu thông trong thân thể sẽ thật lý
tưởng và sẽ thực sự lưu thông trong kinh mạch giữa. (10)
Tâm
trong khi thiền định
Khi
ta thiền định, hãy thiền định trong một thời gian ngắn,
nhưng lập đi lập lại nhiều lần. Toàn bộ vấn đề là
để phát triển một tập quán thiền định. Nếu ngay từ
lúc đầu ta thiền định quá lâu, tâm chỉ trở nên bị kích
động hơn nữa và khó kiểm soát. Nếu ta thiền định trong
một thời gian ngắn và thực hiện lại thời khoá nhiều lần,
thì trong mỗi thời khoá tâm sẽ tươi mới, trong trẻo và
có thể lắng dịu dễ dàng hơn. Vì thế hãy lập đi lập
lại sự thiền định cho tới khi tập quán thiền định phát
triển mạnh mẽ hơn.
Điều
cần là kiểm soát tâm trong khi thiền định. Tâm thức không
được kiểm soát thì mãnh liệt và nguy hiểm như một con
voi giận dữ. Không những ta không kiểm soát được nó mà
tâm còn có thể vận hành theo cách riêng của nó. Nếu một
cảm xúc giận dữ hay tham muốn rất mạnh mẽ phát sinh trong
ta, ta thường không thể kiểm soát nó. Nhưng nó là tâm ta,
vì thế ta có thể kiểm soát nó nếu ta sử dụng các khí
cụ đúng đắn là sự chánh niệm và tỉnh giác. Tỉnh giác
là thấu biết một cách chính xác điều gì ta đang làm. Chánh
niệm là kiểm soát tâm ta và không để nó vuột ra ngoài sự
kiểm soát.
Khi
thiền định, ta không nên theo đuổi một tư tưởng thuộc
về quá khứ, không dấn mình vào tương lai, và không
nên bị dính mắc với những tư tưởng trong hiện tại. Tư
tưởng thuộc quá khứ thì giống như điều ta đã làm ngày
hôm qua; tư tưởng thuộc tương lai thì giống như những gì
ta đang hoạch định để làm vào ngày mai và tư tưởng trong
hiện tại chỉ xuất hiện bất ngờ. Trong tất cả các trường
hợp, ta không nên theo đuổi dòng niệm tưởng này mà chỉ
nên thư dãn và để mặc chúng bằng cách không đi theo chúng
cách này hay cách khác. Ví dụ, trong khi thiền định ta có
thể nghĩ tưởng về điều đã xảy ra một tháng trước hay
nghĩ tới một tư tưởng ta vừa mới có và nghĩ :”Tôi vừa
nghĩ về điều này.” Sau đó ta chỉ chấm dứt việc đi theo
tư tưởng đó. Như vậy ta không nên đi theo bất kỳ tư tưởng
nào. Cũng thế, ta có thể đang hoạch định điều gì cho tuần
tới và ngay lập tức ta nghĩ tưởng: “Tôi không được suy
nghĩ về điều này!” Ta phải tránh theo đuổi các niệm tưởng
trong thiền định của ta bởi một cách đơn giản, thiền
định chỉ để mặc các sự việc đúng như chúng là, không
quá lơi lỏng hay quá căng thẳng. Nếu ta làm được điều
này, ta sẽ nhận ra rằng tự nó tâm sẽ an tĩnh hoàn toàn
tự nhiên.
Những
Chướng ngại chung cho Thiền định
Trong
thời gian thiền định, tâm phải có một sự căng thẳng đúng
đắn. Ví dụ, nếu ta có một con mèo và ta nhốt nó trong một
căn phòng, con mèo sẽ trở nên điên dại. Không tìm được
cách thoát ra ngoài, nó bắt đầu chạy lên chạy xuống, kêu
meo meo và đập phá đồ vật. Nhưng nếu chúng ta để cửa
mở, con mèo sẽ chạy ra ngoài, loăng quăng đâu đó một chút
rồi quay trở lại và ngủ trong phòng. Tương tự, nếu ta bắt
đầu thiền định và nghĩ :”Tôi phải thực sự ngừng suy
tưởng và giữ tâm hết sức tập trung và an bình,” thì ta
sẽ thường xuyên lo lắng và nghĩ:” Ô, tôi đã có một niệm!”
hay” Bây giờ tôi căng thẳng quá.” Rồi ta sẽ nóng nẩy
bực dọc đến độ không thể ngừng suy nghĩ. Vì thế hãy
thư dãn, chỉ để tâm trôi chảy và nghĩ : “ Bất kỳ điều
gì đến, nó chỉ đến và đi.” Nếu ta ngồi đó thật thư
dãn và để mặc mọi sự xảy ra, ta sẽ không bị quá nhiều
xáo trộn trong khi thiền định.
Nếu
ta sử dụng sự chánh niệm và tỉnh giác đúng đắn trong
khi thiền định, tâm ta sẽ trở nêân an tĩnh. Có hai chướng
ngại chính cho sự an tĩnh của tâm. Một là tâm trở nên quá
lơi lỏng và hai là nó trở nên quá căng thẳng. Khi ta trở
nên quá lơi lỏng, ta bắt đầu đi theo các niệm tưởng của
ta và miệt mài trong chúng. Khi ta quá căng thẳng, ta nỗ lực
rất nhiều khi chú tâm vào ý niệm tập trung và an tĩnh khiến
cho cuối cùng tâm không thể an trụ và ta trở nên xao lãng.
Ta phải cố gắng liên tục tìm thế quân bình giữa sự quá
căng thẳng và quá lơi lỏng bằng cách đặt vào thiền định
của ta một mức độ nỗ lực đúng đắn. Đại thành tựu
giả Saraha đã nói rằng khi ta thiền định, tâm phải giống
như sợi chỉ của người Bà la môn. Ở Ấn Độ, người Bà
la môn thường hay se chỉ. Nếu kéo sợi chỉ căng quá, nó
sẽ đứt. Nếu sợi chỉ chùng quá, nó không đủ mạnh. Cũng
thế, khi ta thiền định, tâm nên duy trì một mức độ tỉnh
giác đúng đắn, không căng quá mà cũng không lơi lỏng quá.
Thiền
định về một Đối tượng bên ngoài
Có
ba kỹ thuật thiền định chính: sự tập trung vào một đối
tượng bên ngoài, sự tập trung vào một đối tượng bên
trong, và sự tập trung không có đối tượng. Mục đích của
thiền định là đạt tới chỗ không cần tới bất kỳ đối
tượng nào trong thiền định. Nhưng để chuẩn bị cho mục
đích này, ta cần quen thuộc với sự thiền định sử dụng
các đối tượng bên ngoài và sau đó sự thiền định sử
dụng các đối tượng bên trong.
Lúc
bắt đầu, sẽ rất ích lợi nếu ta thiền định trên những
đối tượng bên ngoài chẳng hạn như một tượng Phật. Thiền
định trên một đối tượng bên ngoài thì không xem xét hay
nghĩ tưởng về hình dáng, sự cấu tạo hay mầu sắc, nhưng
chỉ đơn giản duy trì sự tỉnh giác đối với pho tượng
ở trước mặt ta và không bị phóng tâm bởi những tư tưởng
khác. Khi nhìn pho tượng, mắt ta không nên căng ra và chỉ
nên ghi nhận hình ảnh Đức Phật trong tâm. Nếu những tư
tưởng khác xuất hiện, ta nỗ lực tỉnh giác về những tư
tưởng này càng nhanh càng tốt, ngừng chúng lại lập tức
và xoay sự tỉnh giác trở lại pho tượng.
Đối
với người mới bắt đầu, loại thiền định này khó thực
hành trong một thời gian dài bởi chúng ta rất dễ bị thất
niệm. Vì thế ta hãy thiền định trong một quãng thời gian
ngắn với sự tập trung hoàn hảo khiến việc thiền định
không trở nên rối loạn bởi những tư tưởng. Lúc bắt đầu,
hãy thực hành trong một thời gian ngắn, và khi nhận thấy
có chút ít dễ dàng hơn thì ta có thể kéo dài thời khoá
thiền định.
Ngài
Tilopa nói rằng ta nên từ bỏ mọi hoạt động vật lý và
chỉ an trú thật tĩnh lặng trong khi thiền định. Nên ngừng
nói chuyện và nghĩ tưởng; chỉ để mặc tâm ngơi nghỉ.
Nếu ta thiền định về một pho tượng Phật, ta không nên
nhìn chăm chăm bằng cái nhìn mạnh mẽ hay cố định vì điều
này sẽ chỉ khiến ta đau đầu và mỏi mắt. Ta phải thư
dãn, để mắt nghỉ ngơi trên pho tượng và chỉ ghi nhận
hình ảnh. Cái nhìn của ta sắc bén hay mờ tối thì không
có gì khác biệt. Và khi nhìn nó, ta đừng nghĩ :”Pho tượng,
pho tượng, pho tượng.” Ta chỉ nhìn nó và cố đừng để
hình ảnh vuột khỏi tâm ta. Nếu ta bắt đầu có một niệm
tưởng mạnh mẽ đang khiến ta bỏ quên pho tượng, ta chỉ
nhẹ nhàng đưa sự chú ý trở lại pho tượng vì nếu ta đi
theo tư tưởng đầu tiên thì những tư tưởng khác sẽ đến,
rồi những tư tưởng khác nữa và ta sẽ hoàn toàn quên mất
đối tượng của sự thiền định. Khi tư tưởng xuất hiện,
cần nhận ra được sự hiện diện của nó. Nếu tâm ta bắt
đầu chạy theo tư tưởng, hãy chỉ nhận thức sự kiện này
và đem tâm trở lại với pho tượng.
Ta
nên luôn luôn tập trung vào những gì được gọi là “vật
hỗ trợ” của sự thiền định, đó là pho tượng hay đối
tượng khác mà ta đang tập trung vào. Nếu ta phát triển tập
quán cố gắng tránh hai khiếm khuyết là quá căng thẳng hay
quá lơi lỏng trong thiền định thì sự thiền định của
ta sẽ tiến bộ. Nếu thực hành loại thiền định này nhiều
hơn nữa, dần dần tâm ta an tĩnh hơn, có khả năng tập trung
hơn và sự thiền định của ta sẽ trong sáng hơn.
Thiền
định nội quán
Trong
việc thực hành Pháp, ta phải làm việc với thân, khẩu và
ý của ta. Tâm thức quyết định phẩm tính của hoạt động
thuộc thân và khẩu. Ta đang nỗ lực tự giải thoát mình
khỏi các vấn đề và nỗi khổ, và vì thế ta đang nỗ lực
siêu vượt luân hồi sinh tử. Gốc rễ của luân hồi
sinh tử là những ô nhiễm, và bao lâu mà chúng còn hiện diện
thì ta không thể hy vọng có được bất kỳ hạnh phúc lâu
dài nào.
Có
hai cách nhờ đó ta có thể đạt được sự giải thoát khỏi
các ô nhiễm; cả hai đều liên quan tới sự thiền định.
Nhờ thiền định, trước tiên ta sẽ có thể có được sự
tĩnh lặng nào đó, ta ít có những niệm tưởng và những
tư tưởng tiêu cực, nhờ đó những ô nhiễm bớt dần đi.
Nhưng hột giống của những ô nhiễm vẫn còn hiện diện,
vì thế ta phải phát triển một sự thấu suốt về sự không
hiện hữu của cái “ngã.” Như thế ta thiền định về
bản tánh thực sự của các hiện tượng.
Khía
cạnh thứ hai của thiền định có thể quét sạch những ô
nhiễm là thiền định nội quán (thiền định vipashyana). Nhưng
để phát triển mạnh mẽ loại thiền định này, trước tiên,
ta phải phát triển vững chắc thiền định tĩnh lặng. Không
có thiền định này, tâm chỉ rong ruổi mọi nơi và ta không
thể kiểm soát nó. Một khi đã phát triển thiền định tĩnh
lặng, ta có thể sử dụng tâm trong sự kiểm soát. Vì thế,
nếu ta quyết định để tâm ngơi nghỉ thì ta có thể làm
điều đó. Nếu ta quyết định tập trung tâm vào sự việc
nào, ta cũng có thể thực hiện được. Phương cách lý tưởng
để đạt được thiền định tĩnh lặng là để tâm hoàn
toàn nghỉ ngơi một cách tự nhiên không có bất kỳ tư tưởng
nào. Nhưng điều này cực kỳ khó đạt được vì ta đã quá
quen có những niệm tưởng và bị dính mắc với chúng. Bởi
ta luôn luôn hướng tâm tới những ngoại vật nên khi bắt
đầu thiền định, sẽ dễ dàng hơn khi ta dùng một đối
tượng bên ngoài. Vì thế bước đầu tiên là thiền định
về một đối tượng bên ngoài như một tượng Phật nhỏ.
Những
chướng ngại của Thiền định Tĩnh lặng
Đối
với thiền định tĩnh lặng, có hai chướng ngại chính. Chướng
ngại đầu tiên là “suy tưởng” (hôn trầm), nó có nghĩa
là khi tâm bắt đầu nghĩ tưởng, nó trở nên nặng nề, trầm
trệ, và ta bắt đầu cảm thấy buồn ngủ. Đó là một cảm
giác lừ đừ, lãnh đạm và muốn ngủ nhưng không thể ngủ
được, vì thế ta không có sự trong sáng trong thiền định
. Chướng ngại khác là sự phấn khích (trạo cử), trong đó
tâm trở nên lộn xộn, nảy sinh nhiều tư tưởng và đeo đuổi
những tư tưởng này theo mọi hướng – tương lai, hiện tại,
hay quá khứ – khiến tâm chẳng thể nghỉ ngơi chút nào.
Cách
thức để sửa trị sự hôn trầm này là nghĩ tới những
phẩm tính của Đức Phật và Giáo Pháp, và nghĩ tưởng xem
nhờ thiền định mà ta có thể gặt hái được biết bao nhiêu
điều lợi lạc. Việc nghĩ tưởng tới điều này sẽ tạo
nên một cảm giác hạnh phúc, sự hứng khởi và lòng nhiệt
thành của ta được làm tươi mới lại, nhờ đó ta sẽ tự
động chỉnh sửa tâm thức trầm trệ của mình. Để làm
điều này, ta nghĩ tưởng rằng nhờ thiền định, ta sẽ giải
thoát khỏi những ô nhiễm, những khó khăn thuộc cảm xúc
và đạt được giải thoát. Ngay cả trước khi thành tựu
sự giải thoát viên mãn, thiền định sẽ đem lại cho tâm
ta sự an bình, khiến ta hạnh phúc hơn. Hãy nhớ rằng ta có
quá nhiều khó khăn, căng thẳng và thất vọng chính là bởi
ta có quá nhiều tư tưởng và bị dính mắc với những tư
tưởng đó. Nếu ta bắt đầu suy nghĩ : “Tôi muốn cái này”
hoặc “Tôi cần cái này,” tâm ta sẽ trông chờ những điều
đó và sẽ là một sự căng thẳng liên tục khởi đi từ
ước muốn này. Sau đó nếu ta không thể sở hữu hay thành
tựu điều ta mong muốn, ta sẽ bị giam giữ trong đau khổ
và thất vọng triền miên. Nhưng nếu ta có thể làm an dịu
tâm thức thì tư tưởng sẽ ít đi, điều đó có nghĩa là
ta bớt đi lòng ham muốn và sự khao khát triền miên này sẽ
được giảm thiểu. Vì thế thiền định có tác dụng ngắn
hạn tạo nên sự tĩnh lặng và tác dụng dài hạn giải thoát
ta khỏi những ô nhiễm là nguyên nhân của mọi bất hạnh.
Sự
phấn khích trong tâm (trạo cử) được tạo nên bởi sự phóng
tâm, nó có thể đến từ sự kiêu ngạo hay ham muốn. Thuốc
chữa cho vấn đề này là nghĩ tưởng rằng mọi nỗi khổ
đều sẵn có trong đời sống tương đối (Phạn: samsara, sinh
tử) và trở nên tỉnh thức đối với những khiếm khuyết
của sự phóng tâm. Chúng ta đã từng lang thang hết sức dài
lâu trong sinh tử bởi ta để cho tâm thức thường xuyên xao
lãng (phóng tâm) và điều này chỉ đem lại đau khổ. Bởi
để cho tâm xao lãng, ta chẳng đạt được điều gì. Cũng
thế, nếu ta phóng tâm trong đời sống hàng ngày, ta không
thể thành tựu nhiều được. Vì thế khi suy tưởng về những
khiếm khuyết của sự phóng tâm và lang thang trong sinh tử,
ta sẽ tự động tiếp tục làm an dịu sự kích động tinh
thần trong thiền định của ta.
Cách
loại trừ sự uể oải trong thiền định là tưởng tượng
trong tim ta có một bông sen tám cánh hướng lên trên. Rồi
ta tưởng tượng có những điểm ánh sáng nhỏ thật trắng
và chói ngờiø trên bông sen. Ta đưa những điểm trắng này
lên đỉnh đầu ta ở khoảng mái tóc. Thân ta hơi rướn lên,
chuyển đôïng thân hướng lên trên một chút. Để loại trừ
sự phấn khích trong thiền định, ta tưởng tượng một
bông sen đen hướng xuống dưới. Trong bông sen này, ta tưởng
tượng một điểm đen và đưa nó hướng xuống mặt đất.
Đồng thời ta thư dãn tư thế, để thân hơi cúi xuống.
Sự
Phát triển sự Trong sáng trong Thiền định
Nếu
muốn sự thiền định của ta được trong sáng, ta nên nuôi
dưỡng một cảm thức vui thích đối với thiền định. Cảm
thức đó có thể được phát triển bằng cách nghĩ tưởng
tới mọi phẩm tính có được từ sự thiền định. Còn nếu
ta phóng tâm, ta gặp sự đối nghịch của những phẩm tính
này. Đâu là sự tai hại của sự phóng tâm? Đó là bất kỳ
điều gì ta làm sẽ có phẩm tính tệ hại, và vì thế sẽ
uổng phí thời gian. Còn nếu ta để mặc tâm trong trạng thái
tự nhiên không theo đuổi các niệm, thì những gì ta làm sẽ
rất chính xác, rất trong sáng và hiệu quả. Khi phóng tâm,
ta đang lãng phí một ít thời gian của đời người quý báu
của ta mà nó có thể không bao giờ tìm lại được.
Ta
có thể cho rằng có lẽ thật tốt đẹp nếu hoàn toàn thả
mình theo các niệm tưởng và điều này sẽ đem lại
sự thích thú trong tâm. Nhưng nếu ta rơi vào ảnh hưởng của
những cảm xúc tiêu cực như sự đam mê, hung hăng, kiêu ngạo,
hay đố kỵ, thì sẽ không thật vui thích đâu. Khi một trong
những cảm xúc này phát khởi, rất khó ngưng nó lại và nó
sẽ chỉ đem lại cho ta những khổ đau. Ví dụ, một khi ta
bắt đầu giận dữ, cảm xúc ấy gây nên nhiễu nỗi bực
dọc, và nếu nó kéo dài, nó thực sự có thể khiến ta cảm
thấy thân tâm đau bệnh. Cũng thế, cảm thức ham muốn tiêu
cực là một nỗi khao khát liên tục. Ta luôn luôn tìm kiếm
điều nào đó mà ta cho là sắp đem lại cho ta niềm vui, sự
hài lòng hay thỏa mãn. Nhưng vì một lý do nào đó, dường
như không bao giờ ta có thể đạt được điều ấy,
vì thế ta liên tục ước muốn. Sự việc sẽ trở nên hết
sức khốn khổ bởi ta chẳng bao giờ đạt được những gì
ta nhắm tới. Vì thế nếu xem xét cẩn thận những cảm xúc
và tư tưởng tiêu cực, ta thấy rằng tự nền tảng, bản
tánh của chúng là đau khổ.
Tuy
nhiên, nhờ thực hành thiền định, ta có thể giải trừ đau
khổ bởi tâm ta sẽ đặt dưới sự kiểm soát và được
an tĩnh. Bằng cách phát triển sự tập trung qua thiền định,
ta có thể đạt được sự tĩnh lặng. Ta được dạy rằng
một khi đạt được mức độ lão luyện trong thiền định,
ta sẽ tự động có sự an vui, thoải mái trong thân và tâm.
Đó là bởi sự thiền định giảm thiểu những niệm tưởng
thường xuyên làm xao lãng tâm ta và điều này làm bớt đi
những cảm xúc tiêu cực. Thiền định cũng sẽ đem lại một
cảm thức to lớn về hạnh phúc bởi từng chút một, ta sẽ
có thể kiểm soát được những tư tưởng và cảm xúc của
ta.
Thực
hành Hậu-Thiền định
Khi
nhờ năng lực của thiền định mà sự tập trung của ta từng
chút một đã khá hơn, ta sẽ có thể mở rộng sự tập trung
tự nhiên này tới phần còn lại của đời ta. Dù ta đang
đi, ngồi, nói năng hay làm việc, ta có thể học cách ngưng
tâm thức lang thang của ta lại. Nếu bị phóng tâm trong khi
làm việc thì ta không thể làm công việc của ta một cách
đúng đắn. Nếu ta có thể giải trừ sự phóng tâm và phát
triển sự tập trung hơn nữa thì đời ta sẽ tự động tốt
đẹp hơn, và điều ấy cũng sẽ làm hoàn thiện thực hành
thế tục và thực hành Pháp của ta. Nếu ta phải tuỳ thuộc
vào người khác để thay đổi tâm thái của ta, thì có thể
sẽ là một tiến trình hết sức phức tạp. Sự kiểm soát
tâm thức của ta thì hoàn toàn tuỳ thuộc vào bản thân ta.
Đây là điều mà chính ta có thể thực hiện với một chút
chánh niệm và tỉnh giác. Từng chút một, khi sự tập trung
được phát triển, ta có thể hướng tâm vào trong dễ dàng
hơn.
Thực
hành Cho và Nhận
Mục
đích của ta là sự phát sinh thiền định chân thật. Do đó
ta phải khơi dậy lòng sùng mộ trong ta, là điều không nhất
thiết phát khởi tự nhiên trong hầu hết mọi người. Vì
thế ta phải tiếp tục làm việc đó bằng cách cầu nguyện
với Đức Dorje Chang, Pháp Thân, Ngài là sự kết hợp của
Đạo sư của ta và tất cả các bậc Đạo sư khác và của
mọi khía cạnh của sự quy y. Nếu ta mong muốn sự ban phước
đến với ta thì việc thiền định của ta phải được trợ
giúp bởi một động cơ đúng đắn. Động cơ này phải là
vì sự Giác ngộ, nghĩ tưởng rằng ta đang thực hành điều
này là vì lợi lạc của tất cả chúng sinh; rằng ta có thể
đạt được Phật Quả là để giúp đỡ tất cả chúng sinh.
Động cơ này được gọi là “động cơ căn bản,” và ta
phải có nó trước khi bắt đầu thực hành. Nó cũng là “động
cơ trực tiếp, ” điều ta luôn luôn có khi ta đang thực sự
thực hành.
Thông
thường thì ta không quá quan tâm tới người khác. Vì thế
ta đã phát triển niềm tin hết sức mạnh mẽ này vào cái
“tôi.” Từ niềm tin này phát sinh mọi cảm xúc tiêu cực.
Để giải trừ tất cả cảm xúc tiêu cực và các tư tưởng
về cái “tôi,” ta phải học cách tu tập tâm thức bằng
thiền định về Cho và Nhận. Thiền định về Cho và Nhận
(Tây Tạng: tonglen) giúp ta phát triển một thái độ thuần
tịnh bằng cách giảm thiểu sự dính mắc vào chính mình và
gia tăng việc nghĩ tưởng tới người khác. Thiền định về
Cho và Nhận sẽ giúp ta phát triển Bồ Đề Tâm (bodhicitta),
(11) lòng khao khát chứng ngộ Phật Quả vì lợi lạc
của tất cả chúng sinh. Trong thực hành này ta hoán chuyển
hạnh phúc của ta với sự bất hạnh và đau khổ của chúng
sinh khác. Thiền định này cũng được liên kết với hơi
thở. Khi thở ra, ta tưởng tượng ta gởi một luồng áng sáng
rất chói lọi đi tới mọi chúng sinh. Ánh sáng trắng này
tượng trưng cho tất cả hạnh phúc của ta, mọi sự tốt
lành trong đời ta. Ta cũng nghĩ tưởng rằng nó chứa đựng
những hạt giống của hạnh phúc, là tất cả những đức
hạnh của ta. Vì thế ánh sáng trắng này đi tới mọi chúng
sinh và khi chạm vào họ, nó đem tới cho họ hạnh phúc và
niềm vui lớn lao. Ngược lại, khi ta thở vào, ta tưởng tượng
đang nhận một luồng ánh sáng rất tối ám đem lại cùng
nó tất cả những đau khổ, những vấn đề, những khó khăn
và mọi nguyên nhân của những vấn đề đó. Ta thực hành
thiền định này hoàn toàn theo nhịp thở tự nhiên. Ta biết
rằng ta mong muốn hạnh phúc và với thực hành Cho và Nhận
(tonglen) ta nhận thức rằng những người khác cũng mong muốn
hạnh phúc này. Do đó bất kỳ những gì ta có, ta hiến tặng
nó cho họ. Bất cứ bất hạnh và đau khổ nào họ không mong
muốn, ta tưởng tượng mình nhận lãnh nó. Thực hành Cho và
Nhận là một khí cụ tuyệt hảo để tăng trưởng Bồ Đề
Tâm rộng lớn hơn nữa, và Bồ Đề Tâm chính là động cơ
cho sự Giải thoát.
Thật
là một điều tốt đẹp khi nghĩ tưởng tới việc chấp nhận
nỗi đau khổ của ta và cố gắng thực sự mở lòng ra với
người khác trong một cách thức bi mẫn. Nhưng để làm điều
này một cách đúng đắn, trước tiên ta phải tu hành tâm
thức. Ta cố gắng nghĩ tưởng rằng ta thực sự mong muốn
hiến tặng những người khác điều gì đó và thực sự muốn
nhận lãnh và làm nhẹ bớt nỗi khổ của họ. Chỉ nhờ sự
tu hành bản thân mà động lực thuần tịnh đích thực mới
có thể sinh khởi trong ta. Một khi đã có động cơ thuần
tịnh này, ta mới có thể thực sự giúp đỡ những người
khác. Ta không thể chuyển đổi nghiệp của người khác, nhưng
có thể thay đổi những điều kiện (duyên) trực tiếp ảnh
hưởng tới họ. Nếu ta có lòng bi mẫn chân thực thì ta sẽ
có thể làm rất nhiều việc. Có một động cơ thuần tịnh
là một việc hết sức quan trọng. Khi ta chân thành mong ước
muốn giúp đỡ chúng sinh khác, ta sẽ thực sự có thể giúp
đỡ họ. Ta sẽ nhận ra rằng nếu cố gắng giúp đỡ họ
khi ta không sẵn sàng thì sau này ta sẽ hối tiếc. Ví dụ,
khi ngài Xá Lợi Phất quyết định đạt tới Giải thoát để
làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh, ngài quyết định bố
thí bất cứ điều gì nếu có ai yêu cầu. Một hôm một con
quỷ muốn quấy nhiễu nên đi đến và nói: “Hãy cho tôi
bàn tay phải của ông.” Bởi ngài Xá Lợi Phất không muốn
từ chối nên với lòng can đảm lớn lao, ngài chặt bàn tay
phải cho con quỷ. Con quỷ chỉ cười và nói: “Tôi không
muốn bàn tay phải của ông. Tôi muốn bàn tay trái.” Dĩ nhiên
sau đó ngài Xá Lợi Phất nghĩ rằng món bố thí đó quá nhiều
và ngài hối tiếc về điều ấy.
Khi
thực hành pháp Cho và Nhận, ta không nên sợ rằng mình sẽ
nhận những khó khăn của người khác, vì ta đang tưởng tượng
ta đang nhận lãnh những phiền não của mọi người. Nhưng
đừng nên nghĩ rằng sự thiền định này không có tác dụng
gì bởi lẽ ta không thực sự nhận bất kỳ nỗi khổ nào
hay cho đi bất kỳ hạnh phúc nào. Thực hành này rất quan
trọng vì trong khi thực hành thiền định Cho và Nhận, ta đang
tu tập tâm ta để dần dần biến đổi thái độ rất ích
kỷ của ta thành một mối tương quan cởi mở và từ ái với
người khác khiến ta có thể phát triển ý hướng chân thật
đi tới Giác ngộ.
Thiền
định Nội tâm
Ta
bắt đầu thiền định bằng cách làm tâm kiên cố với
sự trợ giúp từ bên ngoài. Khi đã trở nên thuần thục,
ta có thể tập trung tâm hướng vào trong. Thực hành thiền
định nội tâm là sự vận dụng hơi thở. Đức Phật đã
dạy sáu vấn đề (12) khác nhau trong thiền định shamatha.
Có ba thiền định chính đặt nền trên hơi thở, chẳng hạn
như đếm hơi thở, theo hơi thở v..v..
Lúc
mới bắt đầu thiền định, tâm ta không kiên cố và đây
là lý do vì sao ta có thể thật dễ dàng rơi vào ảnh hưởng
của những cảm xúc của ta. Với thiền định ta cố gắng
tập trung trở lại bằng cách chú tâm vào sự vật nào đó
hơi nhỏ, nhưng đừng nhỏ quá. Vì thế ta dùng một tượng
Phật để học cách chú tâm. Từng chút một, sự tập trung
của ta được cải thiện, và sau đó ta có thể chú tâm vào
một chữ tượng trưng cho ngữ của đức Phật. (13) Sau
đó ta tập trung trên một biểu tượng của tâm Phật là một
điểm nhỏ. Lúc bắt đầu, sự chú tâm của ta tản mạn trên
hàng trăm đối tượng, rồi dần dần nó tập trung hơn trên
những vật nhỏ hơn nhiều như một tượng Phật. Pho tượng
có một mặt, hai cánh tay, hai bàn tay…và khi ta đã tập trung
hơn, ta chú tâm trên một chữ duy nhất và sau đó chỉ còn
lại một điểm. Trong mọi trường hợp, cũng giống như đối
tượng của sự tập trung, kỹ thuật đòi hỏi sự chú tâm
hơn nữa tạo nên một kiểu tập trung càng lúc càng tinh tế
hơn.
Phương
pháp thứ nhất là đếm hơi thở. Trước hết, ta có thể
thở hoàn toàn tự nhiên. Khi thở ra, ta nghĩ : “Bây giờ không
khí đi ra, giờ đây tôi đang thở ra.” Khi thở vào, ta tỉnh
giác rằng không khí đang đi vào thân ta. Mỗi chu kỳ thở,
ta tỉnh giác không khí đang đi vào và đi ra, và thầm đếm
một lần. Việc này trở nên dễ dàng hơn khi ta phát triển
tập quán thiền định này. Chỉ cần đếm thật rõ ràng xem
ta đang thở bao nhiêu lần.
Phương
pháp thiền định thứ hai được gọi là “đi theo hơi thở.”
Ta thở bình thường, nhưng khi thở vào, ta tưởng tượng không
khí tràn đầy toàn thân ta. Khi thở ra, ta tưởng tượng tất
cả không khí trong thân thoát ra ngoài theo lỗ mũi và tan vào
không gian. Khi làm điều này, ta đang đi theo chuyển động
này bằng tâm ta để tâm và không khí được kết nối liên
tục trong lúc thiền định. Đây là phương cách rất tốt
để phát triển sự tĩnh lặng trong tâm.
Phương
pháp thứ ba là kết hợp việc đếm hơi thở và đi theo hơi
thở, vì thế trước tiên ta đếm hơi thở từ 1 tới 21, mỗi
lượt hít vào thở ra ta tính là một lần. Cách này giữ cho
tâm ta tập trung vào hơi thở và không lãng quên việc tính
đếm. Ngay sau khi đếm tới 21, ta bắt đầu thực hiện thiền
định đi theo hơi thở.
Ta
nên thực hành thiền định hơi thở trong những thời khoá
thật ngắn, nhưng làm nhiều thời khoá. Khi thực sự thiền
định, ta nên thực hành thật thận trọng và càng chính xác
càng tốt.
Khi
thiền định về hơi thở, ta có thể nhận ra rằng tâm ta
có khuynh hướng tăng trưởng chút ít tăm tối và không thật
sự trong sáng. Khi điều này xảy ra, ta nên làm sắc bén sự
chú tâm của mình. Để sự thiền định được trong sáng
hơn, ta có thể thực hiện “thiền định ba chu kỳ.” Trước
hết ta hít vào (chu kỳ thứ nhất), giữ không khí lại (chu
kỳ thứ hai) và sau đó thở ra (chu kỳ thứ ba). Khi đang hít
vào, ta nghĩ tưởng tới âm thanh OM. Khi không khí ở trong thân,
ta nghĩ tưởng tới âm thanh AH. Và khi không khí thoát
ra khỏi thân, ta nghĩ tưởng tới âm thanh HUM. Cả ba chu kỳ
này phải tự nhiên, không bị gò bó, và ta nên cố gắng thực
hiện ba chu kỳ bằng nhau. Nếu thực hành như thế, ta sẽ
nhận ra là mình không trở nên quá phấn khích (trạo cử)
hay quá trầm trệ (hôn trầm). Thiền định này giữ cho tâm
luôn trong sáng, nhờ đó khi ta nhận thấy tâm trở nên phấn
khích hay trầm trệ, ta có thể chỉ cần chuyển sang ba chu
kỳ thở này.
Thiền
định Mahamudra
Sự
nhận lãnh những ban phước vào lúc cuối của bài cầu nguyện
Đức Dorje Chang là cách thức để thiền định chân thật
sinh khởi trong ta và ta sẽ thành tựu sự chứng ngộ bản
tánh chân thật của các hiện tượng. Bản tánh chân thật
này gồm cả sự trống không lẫn sự trong sáng. Trong một
chúng sinh bình thường thì sự trong sáng này được gọi là
Phật tánh (Phạn: Tathagatagarba). Khi Phật tánh được chứng
ngộ, sự trong sáng này được gọi là Pháp Thân (dharmakaya).
Trên con đường đi tới Giác ngộ, Phật tánh là sự chứng
ngộ từ từ tất cả các phẩm tính tốt đẹp và là sự
giải trừ mọi phẩm tính xấu xa. Đây là lý do vì sao thiền
định về chân tánh của các hiện tượng và bản tánh của
tâm thì rất quan trọng. Trước tiên ta có được sự thấu
hiểu trên lý thuyết về thiền định này nhờ giáo lý vĩ
đại như Uttara Tantra. (14) Sau đó nhờ thiền định Mahamudra,
ta đạt được sự chứng ngộ trực tiếp chân tánh của các
hiện tượng bằng cách nhìn vào chân tánh của tâm.
Bài
Cầu nguyện Đức Dorje Chang
Đức
Vajradhara (Kim Cang Trì) vĩ đại, Tilopa, Naropa
Marpa,
Milarepa, và chúa tể của Pháp Gampopa.
Bậc
thấu suốt ba thời, Đức Toàn Trí Karmapa.
Những
bậc nắm giữ bốn phái lớn và tám phái phụ.
Phái
Drikung, Taklung, Tsalpa, phái Drukpa vinh quang và những phái khác
Trước
tất cả các bậc đã hoàn toàn thấu suốt con đường Mahamudra
sâu xa
Phái
Dagpo Kagyu vô song, những bậc bảo hộ của chúng sinh
Con
khẩn cầu các Ngài, những Đạo sư Kagyu, xin ban phước cho
con
Khiến
con có thể tuân thủ truyền thống và mẫu mực của các Ngài.
Giáo
lý dạy rằng sự xả ly là chân của thiền định;
Không
bị ám ảnh bởi thực phẩm hay của cải.
Đối
với thiền giả xả bỏ những trói buộc với đời này,
Xin
các Ngài ban phước để sự bám luyến vào danh vọng và sở
hữu ngừng dứt.
Giáo
lý dạy rằng lòng sùng mộ là đầu của sự thiền định.
Đạo
sư mở rộng cánh cửa vào kho tàng giáo lý khẩu truyền sâu
xa,
Đối
với thiền giả luôn luôn quay về chính mình,
Xin
các Ngài ban phước để lòng sùng mộ chân thật được sinh
khởi trong thiền giả ấy.
Giáo
lý dạy rằng sự chú tâm không lay động là thân của sự
thiềnđịnh,
Bất
kỳ niệm tưởng nào sinh khởi - bản tánh của nó thì trống
không.
Đối
với thiền giả ngơi nghỉ trong sự tự nhiên,
Xin
các Ngài ban phước để việc thiền định thoát khỏi sự
ý niệm hoá.
Giáo
lý dạy rằng bản chất của niệm tưởng là Pháp Thân,
Niệm
tưởng chẳng là gì cả, tuy thế chúng sinh khởi.
Đối
với thiền giả quán chiếu sự phô diễn không chướng ngại
của tâm,
Xin
các Ngài ban phước để thiền giả chứng ngộ luân hồi sinh
tử và Niết bàn thì bất khả phân.
Trải
qua mọi cuộc đời, cầu mong con không bị xa lìa bậc Thầy
toàn hảo
Và
nhờ đó hân hưởng Pháp vinh quang
Cầu
mong con nhanh chóng thành tựu các phẩm tính tốt đẹp của
con đường và các giai đoạn,
Và
nhanh chóng đạt được trạng thái Vajradhara (Kim Cương Trì).
Chú
thích:
1.
Có ba truyền thống chính trong Phật giáo: Tiểu thừa (Hinayana),
Đại thừa (Mahayana), và Kim Cương thừa (Vajrayana). Kim Cương
thừa được thực hành chủ yếu ở Tây Tạng.
2.
Dorje Chang (Kim Cương Trì) là một hình thức Báo Thân của
Đức Phật.
3.
Karmapa là vị lãnh đạo Dòng Kagyu của Phật giáo Tây Tạng.
4.
Mahamudra (Đại Ấn) là phương pháp thiền định chính của
dòng Kagyu.
5.
Bài cầu nguyện được đưa ra ở cuối bản văn này.
6.
Kim cương hay tư thế hoa sen viên mãn là thế ngồi bắt chéo
cả hai chân (thế kiết già).
7.
Bài cầu nguyện dòng truyền thừa Kagyu được đưa ra ở
cuối bản văn này.
8.
Đây là những kinh mạch (Phạn: nadi, Tây Tạng: tsa) đưa dẫn
những năng lực vi tế (Phạn: bindu, Tây Tạng: tiglee). Những
kinh mạch này không có những cấu trúc cơ thể, nhưng giống
những kinh đạo trong khoa châm cứu hơn.
9.
Phương pháp bảy điểm của Đức Tỳ Lô Giá Na được đưa
ra trong Thiền định Tĩnh Lặng và Nội quán của Thrangu Rinpoche,
Nhà xuất bản Namo Buddha.
10.
Có ba kinh mạch chính đưa dẫn năng lực vi tế : kinh mạch
phải, trái, và kinh mạch giữa. Kinh mạch giữa được phỏng
chừng là chạy dọc theo tuỷ sống.
11.
Bodhicitta (Bồ Đề Tâm) là Phật tánh căn bản mà mọi người
đều có.
12.
Đó là (1) có tư thế đúng đắn, (2) trụ tâm trên đối tượng
nào đó của thị giác, (3) cắt đứt dòng niệm tưởng và
sự lăng xăng trong tâm, (4) giải trừ sự hôn trầm và trạo
cử trong thiền định, (5) không để tâm quá căng thẳng hay
quá lơi lỏng, và (6) không làm đứt đoạn sự liên tục giữa
thiền định và hậu-thiền định.
13.
Đây là những chủng tự thường dùng, chẳng hạn như OM AH
HUM.
14.
Uttara Tantra của Thrangu Rinpoche có thể tìm trong thư mục
của Nhà xuất bản Namo Buddha.
Nguyên
tác: “A Guide To Shamatha Meditation”
by
The Venerable Thrangu Rinpoche
Bản
dịch Việt ngữ: Thanh Liên