IV
VỊ
TRÍ VĂN HỌC
Việc
tồn tại các kinh điển bằng tiếng Việt theo nghiên cứu
của chúng tôi đã xuất hiện từ lâu, ngay khi những lời
dạy của Ðức Phật được truyền thụ lại cho những người
Phật tử Việt Nam như Chử Ðồng Tử và Tiên Dung. Ðiều
bất hạnh là do thiên tai địch họa, đặc biệt là do dã
tâm diệt chủng văn hoá của kẻ thù, số kinh điển này đã
không được bảo lưu cho chúng ta ngày nay một cách nguyên
vẹn. Dẫu thế chúng ta biết một số chúng đã có mặt rất
sớm như Lục độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, Tạp thí
dụ kinh v.v…Và qua những năm tháng sau đó chắc chắn những
kinh khác cũng đã được dịch ra tiếng Việt hoặc từ chữ
Phạn, Pàli hay chữ Hán, nhưng hầu hết đã bị tán thất.
Bản kinh sớm nhất còn nguyên vẹn bằng tiếng Việt mà ta
có hiện nay là Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng
kinh có thể coi là được thiền sư Viên Thái (k.1400-1460) dịch
vào khoảng giữa những năm 1440 khi đất nước đang nỗ lực
dân tộc hoá các sinh hoạt văn hoá của mình sau thời gian
bị giặc Minh chiếm đóng. Rồi thiền sư Pháp Tính (k.1470-1550)
đã mạnh mẽ hô hào việc học tập tiếng Việt quốc âm
:
Hồng
phúc tên Hương Chân Pháp Tính
Bút
hoa bèn mới đính nên thiên
Soạn
làm chữ cái chữ con
San
bản lưu truyền ai đặt thì thông…
Vốn
xưa làm nôm xe chữ kép
Người
thiểu học khôn biết khôn xem
Bây
chừ nôn dạy chữ đơn
Cho
người mới học nghĩ xem nghĩ nhuần .
Trong
Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, chính trong phong trào dân tộc
hoá đầy khí thế này, cả một cao trào sáng tác văn học
bằng chữ Việt mới ra đời, và được bảo lưu cho tới
ngày nay cho những tác gia lớn như Nguyễn Trãi, Viên Thái,
Lê Thánh Tôn, Pháp Tính, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thọ Tiên Diễn
Khánh, Phùng Khắc Khoan, Lê Ðức Mao, Nguyễn Giản Thanh v.v…Sinh
ra và lớn lên trong khí thế của một cao trào đang phát triển
ồ ạt như thế, ta không lạ gì khi hầu như toàn bộ tác
phẩm của Minh Châu Hương Hải đều viết bằng tiếng Việt.
Ðây là một đóng góp lớn lao của Minh Châu Hương Hải đối
với lịch sử văn học dân tộc ta, đặc biệt là đối với
nền văn xuôi Việt Nam. Lý do nằm ở chỗ nhiều người quan
niệm nền văn học dân tộc ta phần lớn gồm những truyện
thơ, tức là các loại truyện bằng văn vần và không có một
nền văn xuôi hoàn chỉnh. Bây giờ với việc khám phá ra bản
dịch Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh và Cổ
châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục của Viên Thái cùng
với Tân biên truyền kỳ mạn lục giả thiết là của Nguyễn
Thế Nghi và ba bản giải kinh của Minh Châu Hương Hải, tức
Giải Kim Cang kinh lý nghĩa, Giải Di Ðà kinh và Giải Tâm kinh
ngũ chỉ, ta thấy nền văn xuôi Việt Nam đến thế kỷ thứ
17 đã phát triển rực rỡ và phong phú. Tiếng nói dân tộc
được ghi lại một cách trung thành, sau các tác phẩm tiếng
Việt đầu tiên hiện còn bảo tồn là Cư trần lạc đạo
của Trần Nhân Tông (1258-1308) và Vân Yên tự phú của Huyền
Quang (1251-1334) .
Ngôn
ngữ của bản kinh giải này đã đạt đến một vẻ đẹp
văn học nhất định, chúng ta hiện có thể đọc các đoạn
văn sau đây và cảm thấy chúng gần gũi với tiếng nói chúng
ta ngày nay như thế nào, khi Minh Châu Hương Hải giải thích
bài kệ cuối cùng của kinh Kim Cương :
"Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn bào ảnh
Như
lộ diệc như điện
Ứng
tác như thị quan
Hết
thảy hữu vi pháp là trên tự thiên địa tạo hoá, dưới
đến nhân gian vạn vật, dầu sanh lão bệnh tử, giàu khó
sang hèn, sĩ nông công thương, mọi loài sắc vật, dầu nhẫn
xanh vàng thâm trắng thô tế thanh trọc, dầu có dầu không,
dầu hư dầu thiệt, sâu cạn thấp cao, ách thật vọng tâm
khởi diệt. Hết thảy thiện ác muôn pháp cũng là hưũ vi
vậy …"
Ðọc
các đoạn văn như thế này, rõ ràng Minh Châu Hương Hải đã
có những đóng góp mới. Ông đã không dùng thủ pháp dịch
đuổi mà cho đến thời ông tương đối khá phổ biến và
được thử thách, thể hiện qua các công trình dịch Phật
thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh và Cổ châu Pháp
Vân Phật bản hạnh ngữ lục của thiền sư Viên Thái thuộc
thế kỷ thứ 15 cũng như Tân biên truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Thế Nghi thuộc thế kỷ 16. Dịch đuổi là dịch theo
lối chữ nào nghĩa đó. Trường hợp các bản thích giải
của Minh Châu Hương Hải không thuộc và sử dụng thủ pháp
ấy, ông đã dựa vào một câu hay đoạn văn chữ Hán rồi
giải thích bằng tiếng Việt quốc âm theo cách hiểu của
bản thân ông, đây có thể nói là một đóng góp mới đối
với lịch sử văn học tiếng Việt, bởi vì, tiếng Việt
văn xuôi được dùng một cách tự nhiên, không bị gò bó
bởi câu chữ của nguyên bản tiếng Hán. Có thể nói Minh
Châu Hương Hải là người đầu tiên đã ghi lại những câu
nói tiếng Việt bình thường của người Việt Nam vào thời
ông trong khi trao đổi ý kiến hay giảng giải cho nhau nghe về
những vấn đề gì, mà họ cảm thấy quan tâm hay thích thú.
Việc này giúp ta xoá bỏ vĩnh viễn thành kiến cho rằng văn
học dân tộc ta không có nền văn xuôi cho đến thời kỳ
mất nước của thế kỷ 20, mà trước đây thường hay rao
giảng một cách vô bằng .
Ðiều
quan trọng hơn nữa là văn xuôi hay của Minh Châu Hương Hải
có thể nói là đại biểu cho tiếng nói của một dân tộc
thống nhất mà vào thời ông các sử sách ta thường hay đề
cập đến việc chia cắt đất nước thành hai miền khác nhau,
và các nhà lãnh đạo chính trị của hai miền này thường
được giả thiết là muốn biến thành hai nước khác nhau.
Thực tế, Minh Châu Hương Hải đã sinh ra, lớn lên và thành
đạt ở miền Nam của Tổ quốc, tức tại vùng Trị Thiên
và Quảng Nam ngày nay. Rồi sau đó, ông đã ra sống 30 năm
cuối cùng của đời mình tại miền Bắc, ở tỉnh Hưng Yên
hiện tại. Những tác phẩm văn xuôi do ông để lại cho chúng
ta vì thế, thể hiện được tiếng nói thống nhất của cả
hai miền tổ quốc. Ðây là một đặc điểm khác của văn
xuôi Minh Châu Hương Hải, mà ta cần nghiên cứu sâu hơn để
hiểu được tiếng nói của dân tộc ta vào thời bấy giờ.
Văn xuôi của Minh Châu Hương Hải không còn là loại văn xuôi
dịch thuật, mà đã bắt đầu buớc qua địa hạt văn xuôi
sáng tác, dùng văn xuôi tiếng Việt hàng ngày để thể hiện
tư tưởng, tình cảm, quan điểm của mình, để vươn lên
và đạt tới một nền văn xuôi văn học .
Vậy
thì Minh Châu Hương Hải đã có một vị trí xứng đáng trong
lịch sử văn học Việt Nam, người mở đầu cho nền văn
xuôi sáng tác tại Việt Nam, mà ta hiện biết. Cho nên, phải
nói rằng Hương Hải mới chính là người đã đặt nền móng
cho nền văn xuôi Việt Nam bằng tiếng Việt chứ không phải
tác giả Truyền kỳ mạn lục, như quan điểm của các sách
về lịch sử văn học Việt Nam trước đây. Ai đã chịu khó
đọc sơ qua lịch sử văn học hiện thực Trung quốc, thì
cũng biết Nguyễn Dữ viết Truyền kỳ mạn lục đã mô phỏng
theo Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đời Minh Trung quốc,
trong đó thậm chí có truyện đã lấy lại hẳn cốt truyện
của Cù Hựu, với chỉ một vài thay đổi về nhân danh và
địa danh. Vì vậy, nói đến văn xuôi sáng tác tiếng Việt,
ta phải coi Minh Châu Hương Hải là người tiên phong, tối
thiểu là trong lĩnh vực sở trường của ông, lĩnh vực tư
tưởng Phật giáo và sử dụng tiếng nói dân tộc .
Tất
nhiên, tiếng Việt thời Minh Châu Hương Hải cách chúng ta
gần 400 năm, có những nét đặc thù mà khi tiếp cận ta cảm
thấy khó khăn cho việc nhận thức và lý hội. Chẳng hạn
những từ như bui ( ), lệ ( ), hợp ( ) v.v… với nghĩa chỉ,
sợ và nên ngày nay không còn dùng trong tiếng Việt hiện đại,
nhưng không phải vì thế mà ta không hiểu tác phẩm văn xuôi
của ông. Thực tế, như đoạn văn xuôi chúng tôi trích ở
trên cho thấy tiếng Việt thời ông không xa với tiếng nói
của người Việt chúng ta ngày nay bao nhiêu .
Chúng
ta hãy đọc một đoạn văn mở đầu cho bản Giải tâm kinh
ngũ chỉ sau đây thì cũng có thể thấy :"Nương lời trong
kinh, dịch rằng Thích Ca Thế Tôn thuở trú trong Linh thứu
sơn, vào tọa thiền, nhập Quang minh đại định. Khi ấy Xá
Lợi Tử bạch Quán Tự Tại Bồ Tát rằng :"Dầu có chúng
sinh tu hành, muốn học cửa pháp Bát Nhã thần thông vi diệu,
rằng làm sao cho hiểu thấu được"Quán Tự Tại Bồ tát bèn
dạy bảo Xá Lợi Tử rằng :"Thích Ca Thế Tôn diễn thuyết
đại bộ Bát Nhã 600 quyển. Một Bát nhã tâm kinh này lấy
làm chí tinh chí yếu, , là mẹ đại bộ chư kinh, truyền sang
Ðông Ðộ đã 5 lần dịch, đến đời Ðường Huyền Tráng
pháp sư lại vâng chiếu dịch truyền để Ðông Ðộ lấy
làm chính giáo thịnh hành …"
Ðọc
đoạn này, tiếng Việt của Minh Châu Hương Hải đâu có cách
xa gì với tiếng Việt của chúng ta hiện nay. Chỉ có vấn
đề là ông đã giới hạn việc sử dụng tiếng Việt trong
việc giải thích các kinh điển Phật giáo, mà không mở rộng
đến các lĩnh vực khác của đối tượng văn học, tất nhiên
ta không thể đòi hỏi nhiều ở Minh Châu Hương Hải, những
con người tiên phong .
Ðiểm
lôi cuốn hơn nữa là Minh Châu Hương Hải không phải không
biết làm thơ bằng tiếng Việt. Sự lý dung thông là một
điển hình, đây là một bài thơ hay, lời lẽ điêu luyện,
hình tượng hấp dẫn dài 162 câu, được viết theo thể song
thất lục bát, đứng vào hàng những bài thơ song thất lục
bát đầu tiên của dân tộc, mở đầu cho những danh tác về
sau như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Chinh phụ
ngâm của Phan Huy Ích. Vì vậy, việc ông dành một số lớn
thời gian để thích giải các kinh điển Phật giáo bằng văn
xuôi tiếng Việt đã chứng tỏ ông có một niềm đam mê và
yêu mến như thế nào đó đối với tiếng nói hằng ngày
của đồng bào mình. Tình cảm nồng đậm này phải kể là
một điểm son khác của sự nghiệp Minh Châu Hương Hải. Sau
ông vẫn còn tìm thâý những người Việt Nam khác đã dùng
thơ truyện để diễn giải kinh truyện Phật giáo như Chân
Nguyên trong Ðạt Na thái tử hạnh, Nam hải Quan âm bản hạnh,
v.v…và Pháp Liên trong Pháp Hoa quốc ngữ kinh. Thế mà vào
thời mình, ở thế kỷ thứ 17, Minh Châu Hương Hải đã mạnh
dạn giảng giải kinh điển cho đồng bào mình bằng tiếng
nói thường ngày của họ. Nói khác đi, không phải Minh Châu
Hương Hải không có tài làm thơ, nên ông đã dùng văn xuôi
để viết nên các tác phẩm của mình. Trái lại nữa là khác,
nhưng ông đã viết hầu như toàn bộ tác phẩm của mình bằng
văn xuôi, mà hiện tại ta đã tìm thấy 3 tác phẩm, thì đó
là một biểu hiện tấm lòng yêu mến của Minh Châu Hương
Hải đối với tiếng nói thường ngày của dân tộc ta.
Ðây
là một số những thu hoạch sơ bộ của chúng tôi, khi nghiên
cứu các tác phẩm của Minh Châu Hương Hải, để cho ra đời
toàn tập này. Chúng ta cần nghiêm chỉnh tìm hiểu sâu xa hơn
để xác định đúng đắn không những vị trí của Minh Châu
Hương Hải trong lịch sử văn học dân tộc, mà còn để làm
rõ quá trình phát triển và tiến hoá của lịch sử văn học
Việt Nam, giúp cho con cháu ta nhận thức chính xác những cống
hiến to lớn của tổ tiên trong việc giữ gìn và bồi đắp
tiếng nói của dân tộc. Quá trình phát triển văn học dân
tộc bằng tiếng Việt là một quá trình đấu tranh cam go,
khốc liệt chứ không phải là quá trình phát triển dễ dàng
và êm thắm, đặc biệt là trong lĩnh vực văn xuôi. Quá trình
này có sự đóng góp của nhiều người qua nhiều thế kỷ,
mà ngày nay tác phẩm phần lớn đã bị thất truyền, từ
những bản kinh đầu tiên thời Hùng vương cho đến những
tác phẩm của Từ Ðạo Hạnh v.v…cuối cùng đến Trần Nhân
Tông và Huyền Quang, chúng ta có được những tác phẩm đầu
tiên của dân tộc được bảo tồn nguyên vẹn, rồi đến
Trần Tùng Quang, Nguyễn Biểu, nhà sư chùa An Quốc, Nguyễn
Trãi, Viên Thái v.v…chúng ta có một loạt những tác phẩm
văn học được lưu truyền cho đến ngày nay. Tới nhóm thơ
Tao Ðàn do Lê Thánh Tôn thành lập rồi các tác phẩm của
Pháp Tính, Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v…cả một cao trào sử dụng
tiếng Việt để làm thơ, văn đang hừng hực vươn lên chiếm
lĩnh vị thế chủ đạo, Pháp Tính đã mạnh dạn nói rằng
mình đã kế thừa sự nghiệp tự điển quốc âm của Sĩ
nhiếp, thiết định lại chữ viết tiếng quốc âm cho mọi
người dễ học, dễ nhớ. Nhưng tất cả các vị này hầu
hết đều bằng tiếng Việt thơ mà không phải tiếng Việt
văn xuôi, điều này ta phải đợi đến Minh Châu Hương Hải
mới có được những thành tựu đầu tiên hiện được lưu
truyền. Chúng ta cần phải trân trọng những thành tựu đó
và cần nghiên cứu thêm hơn nữa để hiểu biết trọn vẹn
hơn quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc
ta .