CHƯƠNG
I:
PHÁP
HỘI VƯỜN XOÀI
DẪN
Phật
trú trong vườn Xoài của kỹ nữ Am-ma-la-bà-lị (Āmrapālīvana),
thành Tỳ-da-li (Vaiśālya), thủ phủ của dòng họ Ly-xa (Licchavi).
Bấy
giờ, năm trăm công tử Ly-xa, dẫn đầu bởi Bảo Tích (Ratnākāra),
mỗi người mang theo một cây lọng quý, biểu hiệu quyền
quý, đến vườn Xoài cúng dường Phật. Các công tử hỏi
Phật, làm thế nào để kiến thiết quốc độ thanh tịnh,
và hình thái thanh tịnh của quốc độ Phật như thế nào.
Phật giảng cho các công tử về quá trình tu tập bản thân
và hành đạo để thành tựu được mục đích ấy. Cuối
cùng, Phật kết luận: sự thanh tịnh của tâm của Bồ tát
như thế nào thì sự thanh tịnh của quốc độ của Phật
cũng như vậy.
Kết
luận này gợi nên sự hoài nghi nơi Xá-lợi-phất: Há đức
Thích Tôn khi hành Bồ tát đạo tâm không thanh tịnh hay sao,
để khi thành Phật quốc độ lại xấu xa như thế này? Nhân
đó Phật thị hiện cho Xá-lợi-phất cùng đại chúng hiện
diện nhìn thấy thế giới bản lai vốn cực kỳ thanh tịnh,
vô cùng tráng lệ.
I.
PHÁT
KHỞI CHI HƯỚNG
Một
thời đại xa xưa, các hàng vương tôn công tử được nuôi
dưỡng trong nhung lụa, được bảo bọc bởi quyền lực thống
trị; sống với tuổi trẻ hưởng thụ ngũ dục, học tập
và chờ đợi kế thừa cơ nghiệp được dựng lên và được
bảo vệ bằng thanh kiếm; họ có suy nghĩ gì về sự nghiệp
tương lai? Về ý nghĩa nhân sinh? Họ nghĩ gì về đám thuộc
hạ, thần dân, với những hạnh phúc và khổ lụy nhân sinh;
với những bức bách khốn quẩn của giá trị sinh tồn? Một
số không đủ kiên nhẫn đợi chờ đã manh tâm giết cha,
giết anh để thâu tóm quyên lực trong tay, tự do tự tại
làm những gì mình thích, hủy diệt những gì mình ghét. Một
số khác an phận với những gì đang được cho và những gì
sẽ cho, tùy thuộc sự yêu ghét của những ai đang và sẽ
là chủ nhan ban phát ân huệ; sống vâng theo định mệnh an
bài nào đó từ trên cao là Thượng đế mà dưới cõi trần
là Nhân vương. Một số khác phản tỉnh trên tự thân, tư
duy về lẽ sống chết; quan sát những giá trị sinh tồn, về
hạnh phúc và đau khổ.
Hàng
sau cùng, khám phá tự thân chỉ là một tổ hợp giả tạo;
hạnh phúc từ những hưởng thụ ngũ dục chỉ là phù du,
chỉ đáng khát khao cho những ai đang đắm mình trong quên lãng
bởi cơn say. Không có nấc thang cao quý và sang hèn giữa các
vương tôn công tử cùng với hạng cùng đinh hạ đẳng. Thế
giới này không được sáng tạo riêng cho một chủng tộc,
cho một dòng họ, cho một giai cấp. Nó là kết quả của cộng
nghiệp, của sáng tạo cộng đồng bởi khát vọng sinh tồn
phổ quát; được sáng tạo từ ý chí muốn sống, muốn được
an ổn để sống của từ con sâu, con kiến bé bỏng. Thế
giới ấy là công cụ che chở và nuôi dưỡng các sinh loại
đã sáng tạo nên nó bắng khát vọng sinh tồn; thế giới
ấy cũng là công cụ trừng phạt các sinh loại đã dựng lên
nó bằng hận thù, tranh đoạt. Trong từng giây phút, như bốn
ngọn núi lớn từ bốn phía đang trườn tới, nghiền nát,
hủy diệt tất cả những gì chúng đi ngang qua. Yếu đuối
như sâu kiến, hùng mạnh như vua chúa, thảy đều bị nghiền
nát. Chỉ những ai đang say sưa, đang ngủ say mới không thấy
được tại họa đang tràn đến.
Vậy
ta phải làm gì để dựng một thế giới an toàn. một hải
đảo an toàn giữa đại dương mênh mông, đầy hiểm nguy rình
rập?
Một
đoàn Công tử Ly-xa, một dòng họ hùng mạnh đang cai trị
thành bang tì-da-li phú cường, với xe ngựa, với tàn long,
với tất cả biểu hiệu uy quyền vương giả, họ hướng
về phía vườn Xoài của một kỹ nữ danh tiếng, nơi đó
Phật và Thánh chúng đang tạm dừng chân trên bước đường
hành đạo. Tất cả sức mạnh của tuổi trẻ, tất cả sự
hùng cường của dòng họ, và tất cả lạc thú mà họ dễ
dàng đạt được bằng sức mạnh ấy khi đi đến vườn Xoài
trước đây, nay tất cả những thứ ấy có ý nghĩa gì trước
sức mạnh của chân lý, của những vị đã nhìn thấy sự
thật của thế gian?
Bây
giờ họ đên vườn Xoài này để muốn biết có hay chăng
ở đâu đó một thế giới an toàn, an lạc, mà sức mạnh
uy quyền và vật duhc hưởng thụ không mang lại được, không
thể gìn giữ lâu bền được.
Các
Công tử Ly-xa dẫn đầu bởi Bảo Tích, đến cúng dường
Phật, và sau đó hỏi Phật về một thế giới an toàn, an
lạc; về sự kiến thiết quốc độ trang nghiêm. Bắt đầu
từ đây là một đoạn đường chuyển hướng. Những
chuyện ly kỳ trong đời sống của Duy-ma-cật cũng bắt đầu
từ đây. Danh hiệu Duy-ma-cật chưa được giới thiệu, nhưng
chí hướng Bồ tát và các ý nghĩa liên hệ mà Duy-ma-cật
nói và làm được kể chi tiết trong toang bộ Kinh được giới
thiệu ngay ở đây, qua hình ảnh được nhìn hoặc chính diện
hoặc phản diện từ các Công tử Ly-xa cho đến vườn Xoài
của kỹ nữ.
Khởi
điểm và chí hướng của Bồ tát đạo được nêu lên ở
đây. Do ý nghĩa này mà phẩm thứ nhất, trong bản dịch của
Cưu-ma-la-thập, có tiêu đề là “Phật quốc phẩm.” Tiêu
đề theo bản Phạn hiện còn cũng với ý nghĩa tương tợ:
bằng những điều kiện gì, bằng những phương tiện gì,
để kiến thiết một quốc độ thanh tịnh trang nghiêm, một
thế giới xinh đẹp, an toàn và an lạc.[1] Trong bản dịch
của Huyền Tráng, tiêu đề là “Tự phẩm.” Theo thông lệ,
các kinh Đại thừa bắt đầu với phẩm Tựa, giới thiệu
thời gian, địa điểm, thính chúng, và các yếu tố khác liên
quan đến lý do bản kinh được giảng thuyết.
Phẩm
tựa như vậy được chia làm hai phần chính. Phần tổng quát,
chung cho tất cả các kinh, giới thiệu hoàn cảnh thuyết
kinh. Phần cá biệt, giới thiệu nội dung chủ yếu của kinh.
Duy-ma-cật
sở thuyết mở đầu kinh với tiêu đề “Phật quốc phẩm”
đã nêu rõ nội dung chủ yếu của kinh. Theo đó, bản kinh
không phải đơn thuần là bản hành trạng của của Duy-ma-cật,
mặc dù có những chi tiết nói về đời sống và các hành
vi của Duy-ma-cật. Nhưng điều cần được nhấn mạnh
là nội dung hành đạo của Bồ-tát. Nội dung đó, như đã
biết, là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh”.[2]
Toàn
bộ kinh được diễn ra ở hai địa điểm. Tại vườn Am-la[3]
và tại căn phòng riêng của Duy-ma-cật, nơi ông đang nằm
bệnh. Kinh mở đầu bằng sự kiện, lúc đó Phật cùng với
đại chúng tỳ kheo đang trú ngụ tại vườn Am-la, tức khu
vườn của kỹ nữ Am-ba-bà-lị[4]. Điều này rất có ý nghĩa.
Khu vườn ấy đã được Am-ba-bà-lị dâng cúng cho Phật sau
khi nàng quy y.[5] Từ một địa điểm xa hoa trụy lạc nay bỗng
nhiên biến cải thành nơi chốn tu hành nghiêm túc. Vườn xoài
vẫn như cũ. Kỹ nữ Am-ba-bà-lị vẫn là kỹ nữ. Các vương
tôn công tử vẫn tìm đến nàng để mua vui. Nhưng nay, vẫn
những người đó, khi họ trở lại lạc viên ngày trước,
thì một sự thay đổi kỳ diệu nào đó đã xảy ra.
Trước kia, họ đến đây để thưởng thức vị ngọt của
ngũ dục. Nay, vẫn những con người đó, họ đến đây để
phát hiện một hương vị tuyệt vời khác: hương vị của
Chân lý, vị ngọt của Chánh pháp. Được nuôi dưỡng bằng
vị ngọt đó, cuộc đời của họ thay đổi, hướng đến
phụng sự và kiến thiết một thế giới thanh tịnh, quốc
độ Phật. Điều đó khiến mọi người khởi lên ý nghĩ
liên tưởng và so sánh. Sẽ là hiện thực chăng, thế giới
được xem là ngập tràn nước lũ ô trược này nhất định
sẽ có thể trở thành thế giới thuần tịnh, một khi tâm
tư của chúng sinh sống trong đó được biến cải? Và phải
chăng, một khi tâm của chúng sinh đã thanh tịnh thì vị ngọt
ngũ dục vốn là nguyên nhân của đau khổ sẽ trở thành vị
ngọt của Chân lý, của Chánh pháp?
Sự
kiện, năm trăm công tử trong thanh Tỳ-da-ly, dẫn đầu bởi
Bảo Tích,[6] đến vườn xoài để tham lể Phật, được giới
thiệu ngay trong phần tựa này cũng là điều có ý nghĩa.
Trước đây có thể nhiều người trong số họ đã
đến với người kỹ nữ danh tiếng nơi vườn xoài này để
tìm lạc thú. Nay họ đến đây không do thúc đẩy của khát
khao dục vọng, nhưng đến để tìm một giá trị siêu việt
nào đó của sự sống. Cho nên, sau khi lễ Phật và cúng dường,
Bảo Tích thỉnh cầu Phật chỉ dạy con đường hành đạo
thực tiễn để Bồ-tát kiến thiết quốc độ Phật thanh
tịnh và thành tựu chúng sinh thuần thục trong chân lý.
II.
BIỂU
TƯỢNG CUƠNG GIỚI PHẬT QUỐC
Khái
niệm một quốc gia bao gồm lãnh thổ, nhân dân và cơ cấu
chính quyền. Phật quốc tuy không phải là một quốc gia mà
đứng đầu Nhà nước là Phật để tất yếu phải gồm những
yếu tố như thế. Nhưng, trong các truyền thống Phật giáo,
giữa không gian vô cùng tận này tồn tại vô số Phật quốc.
Điều làm nảy sinh khái niệm rằng mỗi Phật quốc đương
nhiên tồn tại một đường biên nào đó, để có thể phân
chia giới hạn các Phật quốc khác nhau.
Trong
kinh Tiễn dụ (Thí dụ về mũi tên),[7] khi Man Đồng Tử yêu
cầu Phật giải thích một số vấn đề trong đó có câu hỏi:
thế giới này hữu biên hay vô biên, đức Phật không trả
lời, cho đó là những câu hỏi không liên hệ đến mục đích
giải thoát. Nhưng các nhà Phật học về sau khi đi sâu vào
ý nghĩa triết học của vấn đề, đã lập luận rằng các
câu hỏi không đuợc Phật trả lời vì bản chất không xác
định của chúng. Thực tế, các câu hỏi của Man Đồng Tử
nếu không được trả lời trong một phương diện nào đó
thì sẽ không thể thành lập một thế giới quan Phật giáo.
Và do thế sẽ không thể giải thích khẳng định trong nhiều
kinh rằng “không hề có hai vị Phật xuất hiện
cùng thời gian trong cùng một thế giới.” Đâu là giới
hạn của một thế giới?
Từ
“thế giới” hay “thế gian” trong tiếng Việt đều tương
đương với một từ tiếng Phạn: loka. Các nhà Phật học
phân chía hai phạm trù thế giới: thế giới sinh vật (hay
hữu tình thế gian),[8] và thế giới vật chất[9] (hay khí
thế gian). Nói cách khác, một thế giới là một môi trường
để chúng sinh tồn tại, với những khí cụ hay phương tiện
và điều kiện cần thiết để chúng sinh sinh sản, rồi trưởng
thành, rồi chết đi và tái sinh. Núi rừng, sông, biển, các
thứ vân vân, cho đến mặt trời, mặt trăng tinh tú, tất
cả đều là hoàn cảnh và điều kiện sinh tồn của chúng
sinh, phù hợp với tâm thức và nghiệp cảm của các loài
chúng sinh sống trong đó.
Một
nghìn thế giới như vậy hiệp thành một tiểu thiên thế.
Một nghìn tiểu thiên thế giới hiệp thành một trung thiên
thế giới. Một nghìn trung thiên hiệp thành một đại thiên
thế giới, cũng gọi là tam thiên đại thiên thế giới.[10]
Mỗi Tam thiên đại thiên như vậy là một cõi Phật, trong
đó thế giới vật lý bị chi phối các quy luật giống nhau,
và các chúng sinh cùng được giáo hóa bởi giáo pháp của
một đức Phật như nhau. Ngoài đó ra, mỗi thế giới tồn
tại theo các quy luật riêng biệt. Chẳng hạn, chúng sinh ở
thế giới Ta-bà, phạm vi mà giáo pháp của đức Thích-ca có
tác dụng, hết thảy giáo pháp được công bố và được
lãnh hội đều qua phương tiện âm thanh. Nhưng có thế
giới khác, như cõi của Phật Hương Tích, ở đó phương tiện
truyền thông lại là mùi hương.[11] Nếu các chúng sinh trong
thế giới Ta bà này tồn tại nhờ dung nạp bốn loại
thực phẩm mà loại thứ nhất cần được chuyển hóa qua
dạ dày, thì ở thế giới Hương tích thực phẩm chính
là mùi hương.
Như
vậy, khái niệm Phật quốc cũng bao hàm khái niệm về cương
giới, và loại biệt chúng sinh tồn tại trong phạm vi cương
giới đó với các hình thái và trạng huống đau khổ và hạnh
phúc chung. Khái niệm này được xác định bằng hành vi thần
kỳ mô tả trong phẩm Phật quốc như sau:
“Bấy
giờ, ở Tỳ-da-ly có một vị công tử tên là Bảo Tích, cùng
với năm trăm công tử, cầm các bảo cái được làm bởi
bảy thứ báu, đi đến chỗ Phật. Sau khi cúi đầu lễ dưới
chân Phật, mỗi người dâng bảo cái của mình lên cúng
Phật. Bằng uy lực siêu nhiên, Đức Phật làm cho tất cả
các bảo cái ấy hiệp thành một cái duy nhất, che trùm cả
Tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả hình thái của thế
giới này với tất cả chiều kích của nó thảy điều ánh
hiện vào trong ấy. Lại nữa, trong Tam thiên đại thiên thế
giới này, với các núi ... ;[12] các đại dương, các sông
ngòi, các suối, nguồn, cho đến mặt trời, mặt trăng, các
sao, thiên cung, long cung, thần cung; tất cả đều ánh hiện
trong đó mười phương chư Phật, cùng với giáo pháp của
muời phương chư Phật ấy, thảy đều ánh hiện trong bảo
cái ấy.”
Bảo
cái, hay lọng báu, là dụng cụ để che đầu. Bảo cái có
nhiều chủng loại khác nhau, biểu hiệu cho thân phận xã hội
khác nhau của mỗi cá nhân. Bảo cái cũng là biểu hiệu cho
uy quyền của vua hay hoàng đế.
Khi
các công tử thành Tỳ-da-ly dâng các lọng báu cúng Phật,
cũng chỉ là hành vi đơn giản, với ý nghĩa bình thường
là dâng cúng một vật dụng cần thiết để che nắng, che
mưa. Nhưng, trong trường hợp đặc biệt như ở đây,
khi mà thời cơ thích hợp để nêu cao lý tưởng Bồ-tát đạo,
và chỉ rõ mục tiêu cứu cánh và đường hướng hành đạo
thực tiễn đối với lý tưởng ấy, đức Phật khiến cho
các bảo cái hiệp nhất để biểu tượng cho Phật quốc,
trong đó, như trong một sa bàn, hiện rõ hình thái và cương
giới Phật quốc, là phạm vi mà giáo pháp của một đức
Phật có thể được thực hành có hiệu quả, và cũng là
môi trường thực tế để Bồ-tát hành đạo.
III.
HÀNH
TRANG TƯ TƯỞNG
Trong
quốc độ và quốc giới như vậy, hình thái như thế nào
để có thể nói là thanh tịnh trang nghiêm, và làm thể nào
để thành tựu hình thái ấy? Có ba yếu tố cần thiết: Thứ
nhất, cảnh vực, bao gồm không gian giàn và thời gian để
kiến thiết quốc độ ấy. Thứ hai, trình độ nhận thức
để quan sát các giá trị giả và thực của thực tại để
kiến thiết quốc độ chân thực chứ không phải vọng tưởng
điên đảo. Thứ ba, một căn bản giáo nghĩa, hay những nguyên
lý để tiến hành mà không sợ bị lệch hướng tạo nên
một thế giới dị dạng. Trong thuật ngữ triết học Phật
giáo, ba yếu tố đó được gọi là canh - trí- giáo.
Gia
Tường Đại sư khi viết Tịnh Danh huyền luận.[13] đã xoay
quanh ba phạm trù cảnh-trí-giáo trên hai phương diện bản
môn hay bản thể luận và tích môn hay hiện tượng luận để
phân tích toàn bộ nội dung của Duy-ma-cật sở thuyết. Bản
thể luận và hiện tượng luận là hai từ Việt hiện đại
được vay mượn từ nội hàm triết học phương Tây, nhưng
không hoàn toàn hàm ngụ hết ý nghĩa của từ bản môn và
tích môn. Ở đây, cảnh giới của chân lý thực chứng được
nhận thức bởi trí vô phân biệt của Phật được gọi là
bản môn. Cảnh giới thực chứng ấy được Phật mô tả
lại cho các hàng chúng sinh tùy theo trình độ bằng các phương
tiện ngôn ngữ; đây gọi là tích môn. Tích là dấu vết,
là lối mòn, để người sau lần bước khám phá ra hướng
đi chính xác. Trong quán trình hành Bồ tát đạo, cảnh giới
được hướng đến chỉ căn cứ theo mô tả của Phật, còn
chân thực tính của cảnh giới ấy thì bằng trình độ hiên
tại của trí tuệ thì chưa thể hình dung nỗi. Cảnh giới
thực chứng của Phật mà Bồ tát hướng đến như là mục
tiêu cứu cánh như vậy là bất khả tư nghị, vượt ngoài
trình độ tư duy của các hàng chưa giác ngộ như Phật. Đại
sư nói: “Do cảnh (đối tượng) bất tư nghị khởi trí bất
tư nghị. Bằng trí bất tư nghị, diễn giáo bất tư nghị,
khiến cho hàng đệ tử tiếp thọ giáo hóa; nhân giáo mà thông
lý; nhân lý mà phát trí.”[14]
Về
quan hệ ba phạm trù này với bản-tích, Đại sư nói: “Cảnh
làm trổi dậy trí; đó là bản (môn) bất tư nghị. Giáo chính
là tích (môn) bất tư nghị.”[15]
Trên
phương diện bản thể luận, thể tính hay tự tính của Phật
quốc vốn thanh tịnh. Ở đoạn sau trong phẩm Phật quốc này
Phật thị hiện cho ngài Xá-lợi-phất thấy rõ thế giới
Ta-bà vốn dĩ được quan niệm là một thế giới đầy ô
trược nguyên lai trong tự tính lại là thế giới thanh tịnh
như tất cả Phật quốc khác trong mười phương thế giới.
Cảnh tương ứng với trí. Do đó, chỉ với trí tuệ thanh
tịnh mới nhận thức được bản nguyên thanh tịnh của thế
giới. Nhận thức như thế là trí bất tư nghị. Cảnh và
trí ấy siêu việt mọi tư duy, biện giải; vượt ngoài khả
năng luận giải của ngôn ngữ. Nhưng bằng phương tiện khéo
léo, đức Phật thuyết pháp tùy theo mọi căn cơ, nói được
những điều không thể nói. Đó là phương pháp luận từ
bản mà thiết lập tích. Rồi căn cứ vào giáo thuyết ấy
mà thực hành, các đệ tử dần dần thể nhập cảnh và trí
bất tư nghị. Đó là phương pháp luận đi từ tích đến
bản. Đại sư Gia Tường nói: “Trước hết do cảnh phát
trí, sau đó mới ứng theo vật mà ban phát giáo. Đố là từ
bản dẫn xuống tích[16] . Mượn giáo để thông lý. Đó là
bằng tích mà chỉ vào bản.[17]
Nói
cách khác, như được thị hiện trong bảo cái, có vô số
Phật quốc khác nhau, thì cũng có vô số phương tiện thuyết
giáo và vô số phương tiện hành đạo khác nhau. Do vậy, khi
Bồ-tát hành đạo trong một Phật quốc cá biệt với đối
tượng thành tựu là các loại chúng sinh cá biệt, thế thì
Bồ-tát cũng y trên một giáo pháp cá biệt thích ứng. Đó
là hành trang tư tưởng của Bồ-tát, cần chuẩn bị đủ
để lên đường đi về Phật quốc.
Phân
tích ý nghĩa loạt bài tụng mà Bảo Tích đọc lên để tán
thán Phật chúng ta sẽ có thể tìm thấy những gì là hành
trang tư tưởng cho Bồ-tát hành đạo, để làm thanh tịnh
quốc độ và thành tựu sự thuần thục của chúng sinh.
Một
cách tổng quát, nội dung loạt bài tụng tán Phật của Bảo
Tích là sự triển khai cặp tương đối Phật quốc và Phật
thân. Như đã thấy, khi luận giải thế giới, các
nhà luận sư Phật học cổ đại phân tích thế giới thành
hai loại, hữu tình thế gian và khí thế gian, tức thế
giới sinh vật và thế giới tự nhiên. Ở đây, trong sự phát
triển của tư tưởng Đại thừa, hay trong tư tưởng
Bồ-tát đạo, khái niệm về Phật quốc cũng bao gồm hai phạm
trù như vậy. Trong đề cương của Gia Tường Đại sư, đó
là cặp tương đối cảnh và trí.
Trong
thời kỳ đầu, các luận sư A-tỳ-đàm luận giải Phật thân
với hai phạm trù là sắc thân và pháp thân. Sắc thân là
bản thân do cha mẹ sinh ra, chịu tác động của quy luật vật
lý. Pháp thân là bản thân có được sau khi giác ngộ.
Trong
phẩm “Phương tiện,” bằng cách giả bịnh, Duy-ma-cật
thuyết pháp cho các cư sỹ, đề cao Pháp thân của Phật: “Phật
thân chính là Pháp thân, sinh ra từ vô luợng công đức trí
tuệ, từ giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát
tri kiến…” Đoạn khác, khi nghe ngài A-nan nói Phật đang
bịnh, Duy-ma-cật nói với ngài A-nan: “Thân của Như lai là
Pháp thân, không phải thân do tư dục. Phật là đấng Thế
Tôn, vượt ngoài tam giới. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu
đã bị dứt sạch. Thân Phật là vô vi, vì không thuộc khái
niệm. Bản thân như vậy làm sao có bịnh?”
Giải
thích quan hệ Phật thân và Phật độ, Khuy Cơ minh giải: Quốc
độ Phật có ba, 1. Pháp tính độ, trú xứ của Pháp thân,
là lý thể của Chân như; tức thế giơi chân lý mà tự thân
Phật chứng nhập. 2. Thọ dụng độ, thế giới của Báo thân,
thọ hưởng quả báo của vô số công đức được tích lũy;
thế giới trang nghiêm thanh tịnh mà tự thân Phật cảm nghiệm.
3. Biến hóa độ, thế giới của Hóa thân Phật, tịnh hay
uế không nhất định; thế giới Phật xuất hiện để giáo
hóa chúng sinh.[18]
Trong
tông Thiên thai, Phật thân và Phật quốc hay Phật độ được
luận giải bằng bốn phạm trù: 1. Phàm thánh đồng cư độ,
thế giới vừa tịnh vừa nhiễm, ở đó Thánh nhân và phàm
phu cùng sống chung. 2. Phương tiện Thánh cư độ, thế giới
chỉ tồn tại các Thánh nhân. Cũng gọi là Hữu dư phương
tiện nhân độ, thê giới hữu dư cho cac Thánh giả tuy đã
vượt khỏi phần đoạn sinh tử nhưng còn tàn dư là biến
dịch sinh tử chưa được vượt thoát. 3. Thật báo trang nghiêm
độ, thế giới do quả báo chân thực từ nhân tu hành chân
thật. Cũng gọi là “thật báo vô chướng ngại”, vì sắc
tâm không còn bị chướng ngại. Cũng gọi là “quả báo thuần
pháp thân cư”, là trú xứ của Pháp thân Bồ tát. 4. Thường
tịch quang độ, thế giới của các bậc Diệu giác. Quốc
độ thứ nhất và thứ hai là thế giới của Ứng thân Phât.
Quốc độ thứ ba, vừa Ứng thân, vừa Báo thân. Quốc độ
thứ tư duy chỉ thuộc về Pháp thân Phật.[19]
Khái
niệm Phật thân trong loạt bài tụng của Bảo Tích có tính
cách cá biệt, không theo các khuynh hướng giải thích trong
các trường Phật học khác. Phật thân ở đây được nhận
thức trên cơ sở nghiệp. Nghĩa là, Tùy theo bản chất và
mục tiêu hành động của Bồ-tát mà Phật thân được nhận
thức tương ứng.
Bài
tụng thứ nhất tán thán Phật thân mà ngài Khuy Cơ phân tích
thành sáu điểm tịnh gồm trong ba nghiệp: con mắt tịnh, ý
lạc tịnh, định tịnh, bĩ ngạn tịnh, nghiệp tịnh và danh
xưng tịnh.[20] Bài tụng nói:
Con
kính đảnh lễ Ngài,
Vị
dẫn đạo chúng sinh bằng con đường tịch tĩnh.
Mắt
trong vắt, dài rộng như sen xanh;
Tâm
tịnh, đã vượt các thiền định;
Lâu
dài tích chứa nghiệp tịnh,
Danh
xưng không thể lường.
Trong
bài tụng thứ hai, Phật thân và Phật quốc được nhận thức
như một chỉnh thể thống nhất, mà Phật thị hiện cho thấy
trong bảo cái.
Các
bài tụng tiếp theo tán thán riêng biệt Pháp thân. Nếu phân
tích theo phương pháp luận của Gia Tường, thì Pháp thân ở
đây gồm hai phương diện, bản (bản thể) và tích (hện
tượng): Pháp thân như là hiện thân của thể tính chân lý,
và Pháp thân tương ứng với các loại chúng sinh sai biệt.
Tùy theo cơ cảm của mỗi hạng chúng sinh, và tùy theo trình
độ sai biệt của Thánh Hiền, của Bồ-tát, Phật và giáo
pháp của Phật được nhận thức và lãnh hội không đồng
nhất.
Mặc
dù thể tính của các pháp vốn siêu việt tư duy, siêu việt
ngôn ngữ, nhưng do đã thể nhập pháp tính, đạt được sự
tự tại đối với các pháp, nên Phật có thể phân tích,
giải thuyết các pháp và pháp tướng một cách chính xác;
dù vậy, đệ nhất nghĩa tức Chân tính tuyệt đối vẫn không
vì thế mà bị rối loạn, dao động. Pháp mà Phật diễn giải
không phải là hữu, cũng không phải là vô; tất cả sinh khởi
do nhân duyên. Phần đầu bài tụng thứ năm nói:
Không
nói pháp hữu, cũng không phi hiện hữu;
Bởi
do nhân duyên các pháp sanh.
Vô
ngã, không tạo tác, không người thọ báo.
Nhưng
nghiệp thiện ác không hề mất.
Bằng
bản chất của giáo pháp như thế, Phật vận chuyển bánh
xe Chánh pháp trong cả Đại thiên thế giới. Khởi từ đó,
Tam bảo xuất hiện ở thế gian làm nới nương tựa cho chúng
sinh. Các bài tụng 12-14 nói:
Phật
bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Chúng
sinh tùy loại đều hiểu được;
Đều
nói Thế Tôn cùng tiếng của mình;
Ấy
do thần lực pháp bất cộng.
Phật
bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Chúng
sinh mỗi mỗi theo chỗ hiểu,
Đều
được thọ hành, đại lợi ích;
Ấy
do thần lực pháp bất cộng.
Phật
bằng một âm diễn thuyết Pháp;
Có
kẻ nghe sợ, có kẻ vui,
Có
kẻ chán bỏ, kẻ hết nghi;
Ấy
do thần lực pháp bất cộng.
Mối
quan hệ của Phật thân và Phật độ như đã thuật cũng có
thể được nhận thức theo một khía cạnh khác; khía cạnh
thực dụng. Với thể tính mầu nhiệm của Pháp mà Ngài chúng
đắc dước gốc Bồ-đề, Phật đã thành tựu phẩm tính
tự lợi. Bằng phương tiện thuyết giáo vi diệu, Phật đã
thành tựu các phẩm tính lợi tha. Bồ-tát khi hành đạo cũng
thế, vì mục đích giác ngộ của chính mình mà cũng vì sự
an lạc của mọi loài.
Cuối
cùng, Bảo Tích đọc lời kính lễ Phật:
Cúi
lạy đấng Mười lực, Đại tinh tấn;
Cúi
lạy đấng đã đạt vô sở uý;
Đảnh
lễ bậc trụ pháp Bất cộng;
Đảnh
lễ Đại đạo sư của tất cả;
Đảnh
lễ đấng dứt mọi trói buộc;
Đảnh
lễ đấng đến bờ bên kia;
Đảnh
lễ đấng cứu độ thế gian;
Đảnh
lễ đấng thoát vòng sinh tử.
IV.
THANH TỊNH QUỐC ĐỘ PHẬT
1.
CĂN BẢN TỊNH PHẬT QUỐC ĐỘ
Khi
được Bảo Tích thỉnh cầu Phật chỉ giáo hình thái
tồn tại của Phật quốc, đức Phật nói: “Các loại chúng
sinh là Phật quốc của Bồ-tát.”[21]
Như
đã biết, các luận sư Phật học chia thế giới làm hai phạm
trù, hữu tình và khí thế gian. Các nhà chú giải Duy-ma-cật
cũng dựa trên đó để thuyết minh ý nghĩa tịnh độ Phật
quốc. Do đó, khi giải thích từ loại[22] trong “chúng sinh
chi loại”, Trạm Nhiên cho đó là khí loại. Giải thích này
phù hợp với văn dịch của ngài Huyền Tráng: “Quốc độ
của các hữu tình là Phật độ của Bồ-tát.”[23] Để
giải thích ý nghĩa của câu này, Khuy Cơ phân tích hai loại
quốc độ. Quốc độ phàm phu gồm hữu tình thế gian và khí
thế gian. Quốc độ Thánh gồm Bồ-tát và bảo phương, tức
địa phương hay phương vực cao quý. Khuy Cơ viết: “Ngoài
hữu tình (tức chúng sinh) không tồn tại quốc độ riêng
biệt. Do có hữu tình mà có khí thế giới. Hữu tình sẽ
trở thành Bồ-tát. Khí thế giới sẽ trở thành bảo phương.
Bồ-tát nguyên lai muốn giáo hóa hữu tình dẫn đến xuất
thế, do đó phương tiện biến diệt mà thành bảo phương.
Căn bản không phải biến khí thế giới thành tịnh độ.”[24]
Như
vậy, căn bản của tịnh độ Bồ-tát vẫn là quốc độ chúng
sinh. Nhưng nội dung quốc độ ấy là thanh tịnh hay uế trược,
tùy theo loại chúng sinh tồn tại trong đó. Theo ý nghĩa này,
đối tượng hành đạo của Bồ-tát là thế giới hiện thực
bao gồm chúng sinh và môi trường sống của chúnh sinh. Vì
lợi ích và sự an lạc của chúng sinh, Bồ-tát cần làm sạch
môi trường sống. Làm sạch môi trường sống là tạo điều
kiện tốt, thuận duyên, để chúng sinh tu tập và phát triển
thiện căn như là gốc rễ của an lạc. Nhưng không thể làm
sạch môi trường sống nếu Bồ-tát không làm sạch tâm tư
của chúng sinh. Đồng thời, không thể làm sạch tâm tư chúng
sinh nếu không cải thiện môi trường sống. Mối quan hệ
nhân quả phản hồi ấy thực chất là bất khả tư nghị.
Không thể tồn tại cái này mà không tồn tại cái kia.
Với
nội dung cải biến tâm tư chúng sinh để tịnh Phật quốc
độ, Bồ-tát hành đạo theo hai phương hướng: tùy theo sự
phát triển và lợi ích của chúng sinh, và tùy theo sự phát
khởi các phẩm chất thanh tịnh của chúng sinh. Đó là hai
phương hướng xác định theo bản Hán dịch của Huyền Trang.
Cả hai phương hương này, theo giải thích so sánh của Khuy
Cơ, được tổng hợp làm một trong bản Hán dịch của La-thập:
“Bồ-tát xây dựng Phật độ Tùy theo loại chúng sinh được
giáo hóa.”[25]
Với
nội dung cải thiện môi trường, Bồ-tát xây dựng Phật quốc
theo ba tiêu chí: tùy theo loại Phật quốc nào thích hợp để
chúng sinh có thể được điều phục, nghĩa là để dễ dàng
chế ngự tâm tư; tùy theo Phật quốc thích hợp mà ở đó
chúng sinh có thể ngộ nhập Phật trí; tùy theo Phật quốc
thích hợp mà ở đó chúng sinh có thể phát triển gốc rễ
Bồ-tát, nói theo bàn Hán của La-thập; hay phát khởi Thánh
hạnh, nói theo bản Hán của Huyền Trang.
Do
văn dịch khác nhau của Duy-ma-cật sở thuyết (La-thập) và
Thuyết Vô cấu xưng (Huyền Trang), và cũng có thể do khác
biệt ngay gốc truyền bản, các nhà chú giải nêu nhiều giải
thích khác nhau về đoạn này.
Duy-ma-cật
sở thuyết xác định tịnh độ của Bồ-tát là “chúng
sinh chi loại” và phân tích “chi loại” ấy thành bốn.
Căn cứ theo văn dịch này, nhà chú giải thuộc tông Thiên
thai là Trạm Nhiên triển khai thành bốn loại quốc độ. Kinh
văn nói: “Bồ-tát nhiếp thủ Phật độ tùy theo chúng sinh
được giáo hóa.”[26] Đây chỉ Đồng cư độ, là quốc độ
nơi mà phàm phu và Thánh Hiền ở chung. Đó là hình thái
quốc độ vừa nhiễm vừa tịnh. Kinh văn nói: “Bồ-tát chọn
hình thái Phật độ tùy theo loại chúng sinh được điều
phục.”[27] Điều này chỉ cho Hữu dư độ, là quốc độ
riêng biệt của Thánh giả. Kinh văn nói: “Bồ-tát chọn quốc
độ nào thích hợp để chúng sinh ngộ nhập trí tuệ
của Phật.”[28] Đây chỉ Quả báo độ, hình thái quốc độ
theo nguyên nhân tu hành của Phật. Kinh văn nói: “Tùy theo
chúng sinh bằng quốc độ nào mà phát khởi căn cơ của Bồ-tát.”[29]
Đây chỉ Tịch quang độ (quốc độ của ánh sáng thường
hằng tịch tĩnh), quốc độ lấy Pháp tính thân của Phật
làm bản thể.
Trong
văn dịch của Thuyết Vô cấu xưng, có năm hình thái tịnh
độ của Bồ-tát. Căn cứ vào văn dịch này, Khuy Cơ gọi
là năm trùng, chia làm hai phần. Phần thứ nhất, Tùy theo sự
phát tâm tu hành của chúng sinh. Phần này có hai trùng:1. Hết
thảy các Bồ-tát tùy theo sự phát triển và sự làm ích lợi
cho chúng sinh mà xây dựng Phật quốc trong sạch và đẹp đẽ.[30]
Điều này được giải thích là chỉ cho hình thái quốc độ
tương ứng với sự tu thiện diệt ác của chúng sinh.
2. Tùy theo sự phát khởi các phẩm tính thanh tịnh của chúng
sinh mà kiến thiết Phật quốc nghiêm tịnh.[31] Đây chỉ cho
hình thái quốc độ tùy theo phẩm chất phước đức và trí
tuệ của chúng sinh. Cả hai hình thái này gọi chung là
Ngoại phàm Biến hóa độ (quốc độ do Phật biến hóa ra,
dành cho phàm phu ngoại biên), theo Khuy Cơ, hoặc Ứng độ,
theo Cát Tạng,[32] là quốc độ của Ứng thân của Phật,
thân thể với hình tướng phù hợp theo căn cơ và nhận thức
của từng loại chúng sinh khác nhau; là quốc độ của chúng
sinh hay phàm phu bên ngoài Thánh đạo.
Ba
hình thái còn lại, tức ba trùng của phần thứ hai theo phân
tích của Khuy Cơ, đại để tương đồng trong Duy-ma-cật sở
thuyết và Thuyết Vô cấu xưng. Cả ba được gọi chung là
Tha báo độ, tức quốc độ của Tha thọ dụng thân của Phật
(bản thân Phật duy chỉ Bồ tát hàng Thập địa mới nhìn
thấy).
2.
NỘI
DUNG TỊNH PHẬT QUỐC ĐỘ
Bi
và trí, nguyện và hành, là các cặp nhân quả tương đối
trong quá trình tu đạo và hành đạo của Bồ-tát. Bằng trí
tuệ, Bồ-tát nhận rõ yếu tính của tồn tại, nguồn
gốc của đau khổ và an lạc, và do đó thấu hiểu tâm tư,
ước nguyện của chúng sinh. Với bi tâm, Bồ-tát hành đạo
với mục đích mong cầu lợi ích và an lạc cho chúng sinh.
Do đó, tùy theo căn cơ, tùy theo xu hướng của các loại chúng
sinh mà Bồ-tát dự phóng hình ảnh một Phật quốc thích ứng.
Đó là nguyện. Từ nguyện, và Tùy theo bản chất của nguyện,
Bồ-tát phát khởi hành. Nguyện và hành tương xứng, nhân
và quả tương liên. Bồ-tát lấy đó làm chỉ nam định
hướng.
Ở
đây, Duy-ma-cật sở thuyết nêu mười bảy hành của Bồ-tát.
Trong Thuyết Vô cấu xưng, có mười tám hành. Theo bản dịch
trước, gồm ba tâm, sáu độ, bốn vô lượng và bốn nhiếp.
Trong bản dịch sau, thay vào ba tâm là bốn độ. Các hành còn
lại, đại thể tương đồng.
A.
Ba tâm và bốn độ. Về ba tâm, Duy-ma-cật sở thuyết nói:
“Trực tâm là tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật,
các loại chúng sinh không dua vạy sẽ sinh về đó. Thâm tâm
là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát thành Phật, các chúng
sinh có đầy đủ các phẩm chất sẽ sinh về đó. Bồ-đề
tâm là tịnh độ của Bồ-tát; khi Bồ-tát thành Phật, chúng
sinh Đại thừa sẽ sinh về đó.”
Ý
nghĩa và mối quan hệ tương liên của ba tâm được Cát Tạng
giải thích: “Phàm phu vướng mắc hữu, Nhị thừa nghiêng
lệch về không. Cả hai đều cong. Bồ-tát thực hành chánh
quán nên gọi là trực tâm (tâm ngay thẳng)… Phát tâm là
điểm khởi đầu. Khởi đầu với chánh quán. Chánh quán càng
lúc càng sáng, gọi là thâm tâm (tâm sâu thẳm). Vì thâm sâu
kiên cố khó nhổ, là ý nghĩa của thâm tâm… Muốn đi đường
lớn[33], trước hết phải làm ngay thẳng tâm. Tâm đã chánh
trực rồi mới bước vào hành. Bước vào hành mà sâu
thì có thể vận chuyển cùng khắp, tất cả đều đi đến
Phật, nên gọi là Bồ-đề tâm.”[34]
Trạm
Nhiên khi giải thích ba tâm lại phối hợp vơí ba Thừa. Trực
tâm, chỉ Thanh văn thừa, tu quán bốn Thánh đế. Thâm tâm
chỉ Duyên giác thừa, tu quán mười hai nhân duyên. Bồ-đề
tâm, chỉ Bồ-tát thừa phát bốn đại nguyện (bốn hoằng
thệ nguyện).
Ba
tâm trên đây trong bản dịch của La-thập cần được đối
chiếu với bốn độ trong bản dịch của Huyền Tráng.
1.
Bồ-đề tâm độ: quốc độ mà trong đó tất cả chúng sinh
đều phát khởi ý hướng Đại thừa; như đã thấy trong ba
tâm của bản dịch trước.
2.Thuần
ý lạc độ: quốc độ được hình thành bằng thuần ý lạc,
hay ý hướng, của Bồ-tát. Khi Bồ tát thành bồ-đề, các
chúng sinh không dối trá, không hư ngụy, sẽ tái sinh về đó.
Giải thích từ thuần ý lạc, Khuy Cơ nói: “Tiếng Phạn a-thế-da
[35], có nghĩa là ý lạc. Không lẫn lộn với cái xấu, gọi
là thuần tịnh ý lạc.” Điều này tương đương với
trực tâm trong bản dịch trước.
3.
Thiện gia hành độ,[36] không có tương đương trong bản dịch
trước. Quốc độ được hình thành do nỗ lực thực hiện
các phẩm tính thiện mà trước kia chưa từng có hay chưa từng
biết.
4.Thượng
ý lạc độ,[37] tương đương với thâm tâm. Khi Bồ tát thành
Phật, các chúng sinh đã tích lũy hành trang thiện sẽ tái
sinh về đó. Khuy Cơ so sánh: ý lạc (ý hướng) mà được
tăng thượng mãnh liệt, thì đó cũng là thâm tâm.
B.
Sáu độ, hay sáu ba-la-mật. Cả sáu ba-la-mật, theo giải thích
của Khuy Cơ, đều có tác dụng đình chỉ (chỉ tức), loại
bỏ các chướng ngại để đạt đến chỗ toàn thiện.
C.
Bốn vô luợng tâm: từ, bi, hỷ, xả, như thường biết.
D.
Bốn nhiếp pháp, hay nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành
và đồng sự. Đó là bốn nguyên tắc để Bồ-tát gần gũi
chúng sinh, duy trì mối quan hệ mật thiết.
E.
Các hành tiếp theo: phương tiện, và 37 thành phần giác ngộ,
cùng với 4 vô lượng tâm và 4 nhiếp pháp, được Khuy Cơ
hợp chung thành một nhóm, gọi là phát khởi thuyết.
D.
Ba hành: thuyết trừ tám nạn[38], tự thủ giới hạnh và mười
nghiệp đạo thiện, được Khuy Cơ hợp thành nhóm tịch tĩnh.
Điểm
cũng nên lưu ý là trong tất cả các hành nêu trên trong Thuyết
Vô cấu xưng đều là các hình thái quốc độ được hình
thành do bởi các hành ấy của Bồ-tát, chứ không phải thuần
tuý là các hành.
V.
TUẦN
TỰ TU HÀNH
Được
trang bị với các tâm như vậy, Bồ-tát hình thành quốc độ
thanh tịnh tương ứng. Bồ-tát tuần tự thực hiện mục tiêu
cứu cánh là tịnh Phật quốc độ theo chuỗi quan hệ nhân
quả, khởi đầu với trực tâm, cho đến thành tựu cuối
cùng là tịnh độ.
Chuỗi
tuần tự ấy, trong Duy-ma-cật sở thuyết là mười ba giai
đoạn. Trong Thuyết Vô cấu xưng, gồm mười bảy giai đoạn.
1.
CHỖI
MƯỜI BA GIAI ĐOẠN
Bồ-tát
tùy theo trực tâm mà phát khởi thực hành. Tùy phát khởi
hành động mà đạt được thâm tâm. Do thâm tâm mà ý
được chế ngự (điều phục). Do ý được chế ngự mà có
thể thực hành như thuyết. Do hành như thuyết mà có thể
hồi hướng. Do hồi hướng mà có phương tiện. Tùy theo phương
tiện mà thành tựu chúng sinh. Tùy theo sự thành tựu
chúng sinh mà quốc độ Phật được thanh tịnh. Tùy theo Phật
độ tịnh mà pháp được thuyết thanh tịnh. Tùy theo thuyết
pháp tịnh mà trí tuệ tịnh. Tùy theo trí tuệ tịnh mà tâm
tịnh. Tùy theo tâm tịnh mà Phật độ thanh tịnh.
Mười
ba giai đoạn này có thể phối hợp với thứ lớp trình độ
tu tập của Bồ-tát, lấy mười địa làm chuẩn.
Sự
phối hợp theo Duy ma kinh lược sớ [39]của Trạm Nhiên như
sau:
1.
Bồ tát khi vào Sơ địa, tức Hoan hỷ địa, do chứng nghiệm
chân lý nên thoát ly các kiến giải tà khúc; đó là trực
tâm.
2.
Do trực tâm mà tiến vào Nhị địa tức Ly cấu địa. Ở
đây, Bồ-tát khởi đầu hành động nhằm mục đích lợi
tha, do đó, Nhị địa tương ứng với giai đoạn phát hành.
3.
Do phát hành tiến vào Tam địa tức Phát quang địa. Ở đây,
nhận thức và hành động của Bồ-tát cùng tiến, do đó tương
ứng với thâm tâm.
4.
Do thâm tâm mà tiến vào Tứ địa, tức Diệm tuệ địa. Ở
đây, lý và sự cùng song hành, cho nên có thể tự điều phục
và cũng có thể điều phục tha nhân. Như vậy, Tam địa tương
ứng với giai đoạn điều phục.
5.
Do điều phục mà nhập Ngũ địa, Nan thắng địa. Đã
điều phục sự lý nên có thể hành động như thuyết. Ngũ
địa tương ứng giai đoạn như thuyết.
6.
Do như thuyết hành mà vào Lục địa, Hiện tiền địa. Ở
đây, Bồ-tát đã có thể hồi hướng tất cả thiện pháp
về Phật quả, vậy tương ứng với hồi hướng.
7.
Do hồi hướng mà vào Thất địa, Viễn hành địa. Thất địa
tương ứng giai đoạn Bồ-tát có đủ phương tiện thiện
xảo, có thể tự mình hành đạo và cũng có thể giáo hóa
tha nhân.
8.
Do phương tiện nhập Bát địa, Bất động địa. Ở đây
Bồ-tát có thể vận dụng đạo và quán song hành, và cũng
có thể giáo hóa và điều phục chúng sinh ở bất cứ nơi
nào. Chúng sinh được điều phục, thì Phật quốc được
thanh tịnh. Do Phật quốc tịnh mà tiến vào Cửu địa.
9.
Cửu địa tức Thiện tuệ địa, ở đây Bồ-tát có thể
thuyết pháp tịnh. Thuyết pháp tịnh, tức trí tuệ tịnh.
Nhân trí tuệ tịnh mà nhập Thập địa.
10.
Thập địa là Pháp vân địa, do bởi tâm tịnh nên hế tthảy
phẩm tính đều thanh tịnh.
Trong
Duy ma kinh nghĩa sớ,[40] Cát Tạng phối hợp các quá trình
hành đạo này theo tiêu chuẩn mười địa cách khác. Bắt
đầu với Thập tín, giai đoạn ngoại phàm, tức phàm phu tuy
đã có tín tâm nhưng còn ở ngoài Thánh đạo; đó là giai
đoạn Bồ-tát tu trực tâm để tịnh Phật quốc độ.
Sau quá trình thành tựu mười tín tâm, Bồ-tát bước vào
vị trí nội phàm, phàm phu nhưng đã ở trong Thánh đạo; tương
đương giai đoạn phát khởi hành. Từ Sơ địa trở lền,
đều là quá trình tu và sửa trị sự nghiệp Bồ-tát
địa; đó là thâm tâm. Nhị địa thành tựu trì giới ba-la-mật,
Bồ-tát có năng lực phòng hộ các bất thiện nghiệp, nên
gọi là điều phục. Tam địa, Bồ-tát y vào những điều
được nghe mà tu định; tương đương giai đoạn như thuyết
hành. Tứ địa cho đến Lục địa, Bồ-tát tu thuận nhẫn,
hướng đến chứng nhập thể bất sinh; đây gọi là hồi
hướng. Thất địa tu tập mười phương tiện nên có thể
thành tựu chúng sinh. Bát địa tu tịnh Phật quốc độ. Cửu
địa, thành tựu biện tài để thuyết pháp vô ngại, nên
gọi là thuyết pháp tịnh. Thập địa thành tựu trí
ba-la-mật nên nói là trí tuệ tịnh. Đẳng giác địa, tức
kim cang tâm, gọi là tâm tịnh. Diệu giác địa, hành và nguyện
viên mãn, nên nói là hết thảy công đức thanh tịnh.
2.
CHUỖI
MƯỜI BẢY CHUYỂN
Trong
Thuyết vô cấu xưng,[41] quá trình này gồm tất cả mười
bảy giai đoạn, mà Khuy Cơ gọi là mười bảy chuyển, chia
làm hai phần.[42] Phần đầu gồm tám chuyển, lặp lại tuần
tự tu hành của mười tám phiên đã nêu. Phần hai gồm chín
chuyển, những kết quả đặc biệt phát sinh từ sự tu nhân
về nghiêm tịnh Phật độ. Mười bảy chuyển liệt kê theo
tuần tự: 1. Phát Bồ-đề tâm; 2. Thuần tịnh ý lạc; 3. Diệu
thiện gia hành; 4. Tăng thượng ý lạc; 5. Chỉ tức, dẹp các
chướng ngại, gồm sáu ba-la-mật; 6. Phát khởi, gồm bốn
vô lượng tâm, bốn nhiếp pháp, phương tiện thiện xảo,
các thành phần của Bồ-đề; 7. Hồi hướng; 8. Tịch tĩnh,
gồm thuyết tức vô hạ (tức thuyết trừ tám nạn, theo dịch
văn của La-thập), tự thủ giới hạnh, mười nghiệp đạo
thiện; 9. Thanh tịnh hữu tình; 10. Nghiêm tịnh Phật độ;
11.Thanh tịnh giáo pháp; 12.Thanh tịnh diệu phước; 13.Thanh
tịnh diệu tuệ; 14.Thanh tịnh diệu trí; 15.Thanh tịnh diệu
hành; 16.Thanh tịnh diệu tâm; 17.Thanh tịnh các công đức.
Kinh
kết luận: nếu Bồ-tát muốn tu tập để làm trang nghiêm
thanh tịnh quốc độ Phật, trước hết phải nghiêm tịnh
tự tâm. Tùy theo tâm tịnh mà Phật độ thanh tịnh.
VI.
THỂ
NGHIỆM TỊNH ĐỘ
Lịch
sử phát triển tư tưởng về Phật thân trong Phật giáo Đại
thừa, về một phương diện, nhắm thỏa mãn nhu cầu tâm linh
tôn giáo; về phương diện khác, để nỗ lực giải quyết
một vấn đề hết sức gay cấn mà nhà tư tuởng lúc nào
cũng phải đối diện. Tuy vậy, cả hai phương diện ấy
phản ánh hai xu hướng thực hành, tức thể nghiệm, khác nhau,
chứ thực chất cả hai nằm chung trên một bình diện.
Một
vấn đề căn bản kích thích các xu hướng tư tưởng tôn
giáo và triết học khác nhau, là vấn đề bản nguyên hay bản
thể của vũ trụ hay thế giới. Trên mặt lý luận và nhận
thức, bản nguyên và bản thể là hai vấn đề riêng biệt.
Những câu hỏi và giải thích về bản nguyên luôn luôn dẫn
tư tưởng và nhận thức đi vào ngõ cụt. Chẳng hạn, một
nạn vấn danh tiếng được đặt ra cho nhà tính không luận
là rằng, tiền đề tính không nói “tất cả các pháp đều
không,” bản thân của tiền đề ấy có phải là một pháp
hay không? Nếu nó cũng là một pháp, thì tiền đề không được
xác lập, vì không thể minh chúng bằng hiện thực. Nhưng nếu
nó không phải là một pháp, nó không tồn tại hiện thực,
và như vậy trở thành vô nghĩa.[43] Tuy không thể minh chứng
bằng hiện thực, nhưng có thể thể nghiệm bằng tâm linh.
Vì thể nghiệm ấy siêu việt lý trí, do đó được xem như
là thể nghiệm thần bí. Triết học có tham vọng tiến đến
chân lý phổ quát và khoa học nên thường cố tình tránh né
vần đề bản nguyên, mà tập trung nồ lực tư duy trên vấn
đề bản thể.
Đại
thừa Phật giáo phát triển quan niệm Phật thân cũng là để
giải quyết cùng lúc cả hai vấn đề, bản nguyên và bản
thể. Phật thân vừa là bản nguyên vừa là bản thể của
tồn tại, của vũ trụ. Đỉnh cao của tư tưởng này là kinh
Pháp hoa, ở đó Phật thân và Phật tính được nhận
thức bằng lý tính duyên khởi.[44]
Khởi
thủy, vì đức Phật được nhận thức như là một con người,
cho nên thân Phật cũng vẫn là một tổ hợp của năm uẩn
như các con người hay các chúng sinh khác. Nhưng khi các luận
sư A-tì-đàm đặt vấn đề thân Phật hữu lậu hay vô lậu,
thì một khái niệm mới về Phật thân đã thành hình. Chính
Duy-ma-cật cũng đã khẳng định với A-nan: thân Phật là vô
lậu. Thế nhưng, khẳng định ấy không thể là xác quyết
một chiều. Thân Phật được nhận thức là hữu lậu hay
vô lậu tùy theo tính chất nhiễm hay tịnh trong tương quan
với Phật quốc. Đây là chỗ dẫn khởi mối nghi ngờ của
ngài Xá-lợi-phất.
Sau
khi nghe Phật diễn giải quá trình biến chuyển tâm tư của
Bồ-tát, với đoạn kết nói rằng, tùy theo sự thanh tịnh
của tâm mà Phật quốc của Bồ-tát thanh tịnh. Nếu thế,
ngài Xá-lợi-phất tự hỏi, phải chăng đức Thích Tôn khi
hành Bồ-tát đạo đã không tu tập tâm chất trực, vv., cho
đến các ba-la-mật, các trợ đạo và các thiện nghiệp đạo,
do đó mà quốc độ của Ngài không thanh tịnh.
Nghi
ngờ của ngài Xá-lợi-phất không những được Phật giải
đáp, mà cả đến Loa Kế Phạm thiên vương vốn chỉ là phàm
phu cũng có thể khẳng định rằng quốc độ của Phật Thích-ca
không uế trược, xấu xí như Xá-lợi-phất thấy. Thế giới
mà ngài Xá-lợi-phất đang thấy là xấu xa ấy, thực chất,
trong cái nhìn của Loa Kế Phạm vương, cũng xinh đẹp huy hoàng
như thiên giới của trời Đại Tự tại. Đây không phải
là do ở chỗ Loa Kế Phạm vương có sở đắc trong Thánh đạo
cao hơn ngài Xá-lợi-phất. Bậc Thánh thấy nó xấu xí, trong
khi đó phàm phu thấy nó thanh tịnh; sở kiến bất đồng là
do nghiệp cảm bất đồng. Phàm phu thấy nó xinh đẹp nên
sinh tâm đắm trước. Thánh giả thấy nó bất tịnh nên có
tư tưởng thoát ly. Siêu việt trên sở kiến của Thánh và
phàm, đức Phật khẳng định thế gian này vốn thanh tịnh;
tự tính thanh tịnh. Để xác chứng điều này, bằng thị
hiện thần thông, Ngài hiển thị cho Xá-lợi-phất thấy tất
cả sự trang nghiêm và thanh tịnh của thế giới Ta bà này.
[1]
Bản Skt., VKN: buddhakṣetrapariśuddhinidāna, “nhân duyên làm
thanh tịnh quốc độ Phật.”
[2]
buddhakṣetra-pariśuddhi; sattva-paripāka, sự thanh tịnh của quốc
độ Phật và sự thuần thục của chúng sanh.
[3]
Vườn Xoài. Xem cht. 2, phần Bản dịch Viêt.
[4]
Sk. āmrapālīvana. Pali: ambapālīvana. Vương Xoài của kỹ nữ
Āmrapālī (Pāli: Ambapālī).
[5]
Pali, Mahāvagga, Vin. i. 233. Mahāparibibbāna, D. ii. 98. Hán,
Trường A-hàm 1 (kinh Du hành), tr. 14b9.
[6]
Skt. Ratnakara. Ckh. La-lân-na-kiệt 羅<gaiji cb='CB0444' des='[阿-可+(嶙-山)]'
uni='96A3' >隣</gaiji>那竭 (Hán dịch: Bảo Sự 寶事). Htr.
Bảo Tính 寶性.
[7]
Trung A-hàm 60, kinh 221, T1n26, tr. 804a23. Pali, M. 63. (Cūla)Mākuṅkya.
[8]
sattvaloka.
[9]
bhājanaloka.
[10]
Skt. trisāhasra-mahāsāhasra-lokadhātu: Một thế giới hệ gồm
ba nghìn đại thiên. Một đại thiên bằng 10003. Cf. Tạp A-hàm
16, T2n99, tr. 111c8.
[11]
Kinh, phẩm xi “Bồ tát hành”: “Có cõi Phật láy sanh
sáng của Phật làm Phật sự ... Có cõi Phật lấy hư không
làm Phật sự.”
[12]
Xem các cht. với các đoạn liên hệ trong phần phiên dịch
kinh văn.
[13]
T38n1780.
[14]
T38n1780, tr.853b3
[15]
T38n1780. tr. 853b5.
[16]
Dĩ bản tùy tích 以本垂跡. T38n1780, tr.853b7.
[17]
Dĩ tích hiển bản 以跡顯本. ibid.
[18]
Vô Cấu Xưng kinh sớ (VCS), T38n1782, tr. 995b6.
[19]
Trạm Nhiên, Duy-ma kinh lược sớ, T38n1778, tr. 564b01. Về nguồn
gốc kinh điển của bốn độ, đoạn sau (T38n1778, tr. 565a15),
Trạm Nhiên đặt nghi vấn : ý nghĩa bốn độ chỉ có thể
tìm thây rải rác, chứ không thấy đề chung trong
một đoạn văn. Rồi Trạm Nhiên giải thích : Ngay trong phần
trả lời cho Bảo Tích trong Kinh này cũng đã cho thấy hêt
ý nghĩa của cả bốn độ.
[20]
T38n1782, tr. 20a2.
[21]
Chúng sinh chi loại thị Bồ-tát Phật độ 眾生之類是菩薩佛土.
Skt.: sattvakṣetraṃ kulaputra bodhisattvasya (Tib. rigs kyi bu sems
can gyi ni zhiṅ byang chub sems dpaḥi sangs rgyas kyi zhing ngo): quốc
độ chúng sanh là quốc độ Phật của bồ tát.
[22]
Từ dịch ý của La-thập, không có tương đương chính xác
trong bản Huyền Trang, và bản Tây tạng.
[23]
Chư hữu tình độ thị vi Bồ-tát nghiêm tịnh Phật độ 諸有情土是為菩薩佛土.
[24]
Khuy Cơ, Thuyết Vô Cấu Xưng kinh sớ (vt. VCS), T38n1782, tr. 1023b1.
[25]
T38n1782, tr. 1023b7.
[26]
Tùy sở hóa chúng sinh nhi thủ Phật độ 隨所化眾生而取佛土.
Skt. yāvantaṃ bodhisattvaḥ sattveṣūpacayaṃ karoti tāvad buddhakṣetraṃ
parigṛhnāti (Tib. byang chub sems dpaḥ ji tsam du sems can rnams la
rgyas par byed pa de tsam du sangs rgyas kyi zhing yongs su ḥdzin to),
Bồ tát làm phồn vinh cho các chúng sinh, là kiến thiết quốc
độ Phật.
[27]
Tùy sở điều phục chúng sinh nhi thủ Phật độ隨所調伏眾生而取佛土.
[28]
Tùy chư chúng sinh ưng dĩ hà quốc nhập Phật trí tuệ nhi
thủ Phật độ 隨 諸 眾生 應以何國 入佛 智 而取佛 土.
[29]
Tùy chư chúng sinh ứng dĩ hà quốc khởi Bồ-tát căn 隨諸眾生應以何國起菩薩根
[30]
Nhất thiết Bồ-tát tùy chư hữu tình tăng trưởng nhiêu
ích, tức tiện nhiếp thọ nghiêm tịnh Phật độ 一切菩薩隨諸有情增長饒益即便攝受嚴淨佛土
[31]
Tùy chư hữu tình phát khởi chủng chủng thanh tịnh công đức,
tức tiện nhiếp thọ nghiêm tịnh Phật độ 隨諸有發起種種清
淨功德即便攝受嚴淨佛土.
[32]
Cát Tạng, Duy-ma-cật nghĩa sớ, T38n1781, tr. 927c15
[33]
Hành đại đạo行大道.
[34]
T38n1781, tr. 928b19.
[35]
āśaya, từ Sanskrit khó dịch, nên Huyền Trang thường phiên
âm. Có khi dịch là ý lạc意樂. Các chỗ khác, cũng dịch
là chánh trực tâm, thâm tâm, bản nguyện, chí lạc, tâm sở
dục lạc... Bản Skt., VKN: āśayakṣetraṃ (tả bản chép nhầm
là ākāśayakṣetraṃ) bodhisattvasya buddhakṣetraṃ; Tạng: bsam
paḥi zhiṅ ni byang chub sems dpaḥi sangs rgyas kyi zhing, quốc
độ của ước nguyện là quốc độ Phật của Bồ tát.
[36]
Skt. prayogakṣetraṃ; Tạng: sbyor baḥi zhing, quốc độ ứng
dụng/ thực hành.
[37]
Skt. adhyāśayakṣetraṃ; Tạng: lhag-paḥi bsam-paḥi zhing, quốc
độ của ước nguyện siêu việt.
[38]
Huyền Tráng: ác thú vô hạ 惡趣無暇.
[39]
T 38 n 1778, tr.593c23.
[40]
T38n1781, tr. 930a9.
[41]
T38n1782, tr. 026b25.
[42]
Khuy Cơ, ibid., cũng phân tích bản dịch của La-thập thành
13 chuyển, chia làm hai phần. Phần đầu 7 chuyển ; phần hai
6 chuyển.
[43]
Nāgārjuna, Vigrahavyāvartani, k.1;: sarveṣāṃ bhāvānāṃ sarvatra
na vidyate svabhāvaścet/ tvadvacanam asvabhāvaṃ na nivartayitum svabhāvam
alam, “Nếu tự tính của các sự hữu không tồn tại một
cách phổ quát, thì phát biểu ngài là vô thể, không thể
bác bỏ tự tính.”
[44]
Pháp hoa, phẩm ii “Phương tiện”: thị pháp trụ pháp vị,
thế gian tướng thường trụ 是法住法位 </l><l>世間相常住.
Pháp trụ (dharmasthiti) và pháp vị (dharmaniyāmatā), là hai từ
chỉ lý tính duyên khởi, Cf. Pali, Paccaya, S. ii. 25: sā
dhātu dhammaµµhitatā dhammaniyāmatā idappaccayatā.