CHƯƠNG
IV:
HỘI
KIẾN CÁC BỒ TÁT
I.
MÂU THUẪN NỘI TÂM VÀ THỜI ĐẠI
A-nan
quả thật bị chấn động bởi những phát biểu của Duy-ma-cật
về Phật thân, về tính siêu việt của Phật thân. Nhưng ngay
sau đó đã tự trấn tĩnh bằng quan điểm hiện thực: Thế
tôn Thích-ca xuất hiện trong thời đại năm ác trược, nên
hiện thân có già, có bệnh và có chết. Điều này có vẻ
gần như tín điều Thiên Chúa nhập thế trong nhiều tôn giáo.
Thượng đế hiện xuống thân người thì cũng chấp nhận
thân phận con người.
Trược,
trong tiếng Phạn là kaṣāya, nguyên nghĩa chỉ cho vị chát;
kế đó, chỉ cho một loại màu gọi là hoại sắc, màu nâu
hay đỏ sậm, vàng đỏ, màu của y tỳ kheo thường gọi là
màu áo ca-sa. Nghĩa được dùng trong ngữ cảnh này là “cặn
bẩn”, chỉ cho hiện tượng suy thóai của thời đại.[1]
Luận
Du-già nói, khi Bồ tát tích lũy hành trang là các thành phần
của trí giác Bồ-đề, một trong những điều kiện cần có
là nhận thức về thời đại: “Bồ tát nhận thức một
cách như thật về thế giới Chúng sinh, hoặc đang thời suy
thóai hay tăng trưởng (có cặn bẩn), và thời đại suy thóai
hay tăng trưởng mà không có cặn bẩn. Sự suy thóai có năm:
tuổi thọ, nhân phẩm, đạo đức, học thuyết, kỹ nguyên.”[2]
Bồ tát nhận thức chính xác về thời đại để cho sở tri
và sở học thích hợp, thích ứng với các chu kỳ tăng trưởng
hay suy thóai của nó.
Quan
điểm về sự xuất hiện của Phật Thích-ca, hay các Phật
khác, vào thời kỳ suy thóai trong chu kỳ tăng trưởng và suy
thóai của thế giới phổ biến trong Đại thừa, và trong một
số bộ phái.[3] Quan điểm càng về sau trong Đại thừa càng
tỏ ra là nhận thức bi quan về sự tồn tại của Phật pháp.
Quan
điểm này không được tìm thấy trong kinh điển Pāli. Trong
các kinh điển Pāli, từ kasāya, hay đồng dạng phổ biến
của nó là kasāva,[4] được dùng theo nghĩa mục nát, rỗng
bộng. Đoạn văn rất tượng hình trong kinh Sacetana[5] mô tả
như một bánh xe không được làm tốt, khi lăn hết sức đẩy
ban đầu, nó bị xoay và đổ. Trái lại, bánh xe được làm
tốt, khi lăn hết sức đẩy ban đầu, nó dừng hẵn lại như
được móc chặt vào trục xe, không bị ngã đổ. Bánh xe đầu
được mô tả là gỗ của nó có chỗ cong, có khuyết điểm,
có chỗ rỗng. Phật như người thợ làm bánh xe thiện nghệ,
biết rõ gỗ cong, gỗ hỏng, gỗ rỗng. Các tỳ kheo hay tỳ
kheo ni nào mà phẩm chất đạo đức có chõ cong, có chỗ hỏng,
có chỗ rỗng sẽ rời bỏ Thánh đạo, không lăn theo đường
chánh, và sẽ trụy lạc, như bánh xe kia nhất định rơi đổ.[6]
Đại
thừa Phật giáo phát triển chỉ sau khi đế quốc Maurya được
thống nhất bởi Hoàng đế A-dục bị sụp đổ; Ấn độ
chia thành nhiều vương quốc; tình trạng tranh giành quyền
lực giữa các vua chúa là điều tất nhiên. Ngay sau khi A-dục
băng hà, Phât giáo không còn được ưu đãi như trước nữa
mặc dù ảnh hưởng trong quần chúng vần tiếp tục. Tuy vậy
không khỏi không gây trong tâm tư Phật tử những hoài niệm
về một thời kỳ rực rõ của nó. Đấy là ấn tường về
sự suy thóai của thế giới.
Ngay
cả trong tình trạng hưng thịnh, từ góc nhìn của người
bảo thủ tư tưởng bi quan về sự thóai cũng dễ thành hình.
Vì hình thức giáo lý không được thực hành như trước nữa
mà đã có nhiều thay đổi theo sự phát triển của xã hội.
Người ta biết chỉ sau Phật niết-bàn khoảng 100 năm nhóm
tỳ kheo Bạt kỳ ở Tỳ-da-li, bản địa của Duy-ma-cật, đã
quy định những áp dụng mới mẻ cải biến từ mười điều
luật Phật chế. Trước nguy cơ chia rẽ Tăng đoàn, một hội
nghị kết tập lần thứ hai đã diễn ra gồm 700 đại biểu.
Sau khi thảo luận về tính hợp luật của mười quy định
mới của nhóm tỳ kheo Bạt kỳ ở Tỳ-da-li, đại hội tiến
hành thủ tục hành xá-la, tức bỏ phiếu để lấy quyết
định đa số. Kết quả, đại biểu các Thượng tọa bác
bỏ mười quy đinh mới, trong khi hàng đại chúng, đông hơn,
chấp nhận. Tăng đoàn bắt đầu phân hai; Thượng tọa bộ
và Đại chúng bộ.
Một
nhà thơ Trung hoa đã viết: “tại sơn tuyên thủy thanh, xuất
sơn tuyền thủy trược.” Nước nguồn trong núi thì trong,
nhưng ra khỏi núi, nước nguồn thành đục. Con suối nhỏ
hiền lành, trong vắt, trong rừng núi vắng vẻ, không hề bị
người hay vật khuất đục lên. Nhưng khi nó mở rộng thành
con sông lớn, tất phải mang theo nó vô số rác bẩn, nhiều
khi cả cây trái độc. Sự phát triển đạo giáo không nhất
thiết như sông suối. Dù vậy, từ một góc nhìn, vẫn có
sự tiếc nuối về thời kỳ mà Phật pháp còn là một vị
ngọt duy nhất; từ đó gây thành ấn tượng về sự suy thóai.
Phật pháp tuy là ly dục thanh tịnh, như thân Phật vốn vô
lậu vô vi, nhưng khi thể hiện giữa lòng đời, vẫn phải
chịu quy luật sinh diệt của thế giới.
Từ
sự hoang mang bối rối chỗ đến khẳng định thực tế của
A-nan trước những lời lẽ lạ lùng của Duy-ma-cật, ở đó
đã nói lên khá rõ nét mối xung đột nội tâm khi quan sát
bản thân giáo lý nguyên thủy của Phật trong sự phát triển
của thời đại lịch sử. Con người không thể tách mình
ra khỏi thời đại, ra khỏi trào lưu phát triển của xã hội
mà mình lớn lên trong đó, để tự hành đạo. Những cuộc
luận đạo của Duy-ma-cật với các Đại Thanh văn đã giới
thiệu Phật pháp trên cũng một nền tang giáo nghĩa nhưng được
nhìn từ hai góc độ khác nhau, trong hai bối cảnh xã hội
khác nhau. Để hoàn thiện nhận thức, Duy-ma-cật tiến đến
luận đạo với các Bồ tát, trong một xu hướng xã hội khác
trước.
II.
CÁC BỒ TÁT
Trong
đoạn này, Duy-ma-cật gặp gỡ luận đạo với bốn vị Bồ
tát. Trong đó ngoại trừ Bồ-tát Di lặc, ba vi còn lại không
xuất hiện trong nhiều kinh điển lớn khác của Đại thừa.
Do lẽ này, các nhà chú giải không biết đặt vị trí các
Bồ tát này ở đâu trong số các Đại Bồ tát như Phổ Hiền,
Quán Thế Âm, v.v.
Sự
gặp gỡ của Duy-ma-cật với các Bồ tát tất nhiên không
phải là tình cờ. Kinh văn muốn nêu rõ ý nghĩa nào đó của
Đại thừa, tương phản với các Thanh văn đã giới thiệu
trước. Đồng thời cũng cho thấy những giới hạn trong sự
hành đạo của các Bồ tát Đại thừa. Không thấy bản chú
giải nào giải thích rõ ý nghĩa này. Phần lớn chỉ dựa
theo những lý luận của Duy-ma-cật để nói rằng sở tri và
sở hành của ông vượt hẵn trên tất cả Thanh văn và Bồ
tát. Tức là giới thiệu phẩm cách riêng của Duy-ma-cật.
Một
cách tổng quát, trong hai Bồ tát đầu, Di-lặc ở vào địa
vị cứu cánh, Quang Tịnh ở vào giai đoạn sơ phát tâm. Hai
vị này tượng trưng cho khởi điểm và cứu cánh của Bồ
tát đạo. Hai vị sau, Trì Thế tượng trưng cho sự hoàn thiện
giới đức trước sự cám dỗ của Ma; Thiện Đức hoàn thiện
sự bố thí. Nói cách khác, hai diện Trí và Bi của Đại thừa
được thể hiện qua nhân cách bốn vị Bồ tát.
1.
DI-LẶC
a.
Truyền thuyết
Bồ-tát
Di-lặc, hay Phật tương lai, vốn là hình ảnh rất quen thuộc
không chỉ đối với Phật tử Đại thừa. Danh hiệu của
Ngài cũng xuất hiện rất nhiều nơi trong kinh điển Pali. Kinh
Chuyển luân vương nói:[7] “Khi tuổi thọ loài người lên
đến tám vạn tuổi, bấy giờ có Thế tôn hiệu là Di-lặc
xuất hiện ở đời.”
Huyền
ký tưởng tự cũng được nói đên trong Trung A-hàm. Ở đây
còn thêm chi tiết. Sau khi nghe Thế tôn huyền ký về sự xuất
hiện của một Chuyển luân vương tên Loa,[8] bấy giờ trong
thính chúng có một tỳ kheo tên là A-di-đá[9] đứng dậy trình
Phật, ông muốn trong tương lai ông sẽ là vị Chuyển luân
vương đó. Ước nguyện này bị Phật khiển trách, một lần
chết là quá đủ, sao còn muốn chết thêm lần nữa.[10] Tỳ
kheo này bị khiển trách, vì không mong diệt tận sinh tử,
chứng nhập Niết-bàn; lại muốn tái sinh nhiều đời nữa
để làm vua. Sau đó Phật lại huyền ký về sự xuất hiện
của vị Phật tương lai hiệu Di-lặc, trong triều đại Loa
Chuyển luân vương. Bấy giơ Tôn giả Di-lặc cũng hiện diện
trong thính chúng, đứng dậy chắp tay trình Phật, phát nguyện
sẽ là vị Phật được huyền ký đó. Phát nguyện này được
Thế tôn tán thán.[11] Ngay lúc đó, Phật bảo A-nan mang ra chiêc
y được dệt bằng kim tuyến do bà Kiều-đàm-di cúng Phật,
trao cho Di-lặc. Tuy ước nguyện tái sinh nhiều đời nữa,
nhưng Di-lặc được tán thán, vì ước nguyện “cứu hộ
thế gian; vì mục đích cứu cánh, vì sự an ổn và hạnh phúc
của thế gian.”[12]
Tuy
có một vài sai khác giữa các truyền thống, nhưng điểm được
thừa nhận chung, Di-lặc là vị Phật tương lai, sau một thời
gian dài, kế tiếp Phật Thích ca để truyền giảng Chánh pháp.
Hiện tại, Ngài đang là Bồ-tát ở trên cung trời Đâu-suất.
Sự tồn tại này được gọi là nhất sinh bổ xứ, hay nhất
sinh sở hệ.[13] Quan niệm này chung cho cả bộ phái và Đại
thừa. Địa vị quả chứng của Ngài hiện tại được gọi
là A-bệ-bạt-trí,[14] hay bất thối chuyển.
b.
Ý niệm thời gian
Ý
niệm thành Phật liên hệ ý niệm thời gian; dù hiểu theo
nghĩa thời gian tuyến tính, hay thời gian siêu nghiệm.
Thế
giới như bánh xe;
Thời
gian, bánh xe quay.
Người
cũng như bánh xe,
Khi
lên rồi lại xuống.[15]
Thời
gian như bánh xe, quay vòng bất tận. Luân hồi không khởi điểm,
không đoạn cuối. Tư duy của con người về ý nghĩa tồn
tại như tập trung vào một điểm, một thời điểm nào đó
thôi, trên vành bánh xe, để không thể nhận thức được
đâu là biên tế tối sơ của thời gian, và đâu là tận cùng
của thế giới.[16] Con người bị trùm kín trong bóng tối
vô minh,[17] không thể nhận thức được từ đâu là khởi
thủy của thời gian, và đến đâu là biên tế của không
gian, chỉ trừ tính quy ước của tư duy, tìm một điểm tựa
để không rơi vào trạng thái hoài nghi đáng kinh sợ. Từ
điểm tựa quy ước đó, như là sự tồn tại thật tế của
nguyên nhân phát sinh nhận thức, tư duy tự nâng mình lên cảnh
giới tuyệt đối.[18] Đó là cảnh giới giải thoát, vượt
ngoài vòng quay bất tận của thời gian.
Trong
giới hạn quy ước của tư duy, nghĩ về sự thành Phật, như
nghĩ về điểm tận cùng của vòng quay bánh xe, ở đó thời
gian được hình dung bằng con số vô số.[19] Từ khi chớm
khởi ước nguyện thành Phật, cho đến khi thành Phật, phải
trải qua ba vô số kiếp. Tại sao phải lâu dài như thế? Đấy
cũng có thể là ý nghĩa ước lệ, để cho tư duy có điểm
tựa mà hình dung về một nhân cách tuyệt đối, siêu việt
thời gian. Không chỉ là phẩm tính siêu việt thời gian, mà
còn bằng vào thước đo vô tận của thời gian để hình dung
về giá trị phổ quát của tư duy và hành động, của hùng
lực và từ bi. Bởi vì, “Bồ tát cần phải trải qua ba vô
số kiếp tu tập tích chứa tư lương đại phước đức, trí
tuệ, hành sáu ba-la-mật, qua nhiều trăm nghìn khổ hạnh, mới
chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.”[20] Đó là quan niệm chung
cho cả Phật giáo bộ phái, và Đại thừa.
Nhưng,
chính quan niệm ấy, khi nghĩ đến sự thành Phật, khiến đa
số khiếp sợ. Tuy tất cả Bồ tát bắt đầu sự nghiệp
bằng sự phát tâm, quyết định sẽ chứng thành Vô thượng
Bồ-đề, vì lợi ích của hết thảy chúng sinh, dẫn tất
cả đến chỗ an ổn tuyệt đối, đến cứu cánh Niểt-bàn;
nhưng trung gian, có trường hợp kiên trì, dũng mãnh thăng tiến;
và cũng có trường hợp gọi là thóai thất tâm Bồ-đề.
Vì sao? Vì nghĩ đến thời gian cực kỳ lâu dài, đến ba đại
a-tăng-kỳ kiếp. Suốt trong thời gian đó, cần phải hành
vô số việc khó hành, chịu vô vàn thống khổ của sinh tử
liên tục không gián đoạn. Nghĩ như vậy mà kinh khiếp. Tâm
Bồ-đề rơi mất.[21]
Như
vậy, há không phải rất có ý nghĩa chăng, khi Duy-ma-cật hỏi
Bồ-tát Di-lặc: “Trong ba thời, Ngài sẽ thành Phật vào thời
nào?” Câu hỏi đó có ý nghĩa gì? Hãy nói là, nếu không
siêu việt khái niệm thời gian sẽ không thể tư duy một cách
chân chính về Phật tính như là tự tính của hết thảy chúng
sinh. Bởi vì con mắt pháp này thường hằng tồn tại, và
tự tính luôn tỏa sáng bằng pháp chân thật.[22] Tự tính
ấy là Phật tính, cũng được gọi là pháp trụ và pháp vị.[23]
Hai từ ấy được dùng để chuyển tải ý nghĩa duyên khởi.
Nói là pháp trụ, vì tự tính của hết thảy các pháp là
như vậy, luôn tồn tại trong quan hệ, trong mối tương tức
tương nhập. Nói là pháp vị, là nguyên lý tồn tại của
pháp, vì Phật xuất hiện hay không xuất hiện, lý duyên khởi
vẫn tồn tại ở đó. Duy chỉ chúng sinh không có mắt để
nhìn thấy thôi. Cho nên, Phật tính tức duyên khởi. Lý duyên
khởi, như Trung luận nói: không tịch diệt, không hiện khởi,
là duyên khởi.[24] Đó là lý tắc được nhận thức trong
quan hệ thời gian, nhưng cũng là lý tắc tồn tại siêu việt
khái niệm thời gian.
c.
Như như
Qua
trường kỳ thới gian, Bồ tát tích lũy công đức phước
báo, và phát triển năng lực trí tuệ. Bằng công đức được
tích lũy ấy, dù sinh vào chủng loại nào, trong bất cứ giai
tầng nào của xã hội hay phi xã hội, Bồ tát không thuộc
hạng bần hàn, thấp kém. Không nghèo hèn, không kém trí, không
bất lực. Đó là nền tảng vật chất, và điều kiện môi
trường, để Bồ tát hành đạo. Bằng năng lực trí tuệ,
Bồ tát nhận thức những gì đã thực hành, đã tích lũy,
tất cả yếu tính của pháp đã qua, thảy đều là không,
tịch tĩnh. Bồ tát nhận thức pháp tính đồng như hư không.[25]
Nhưng,
cũng có một lúc, Ác Ma xuất hiện, quấy nhiễu tâm tư, và
lung lạc chí nguyện của Bồ tát, bằng chính điều mà Bồ
tát đã sở đắc. Ác Ma nói: “... Như vậy, hết thảy đều
đồng đẳng như hư không. Trong cái Không của tính tướng,
không có một pháp gì để nói là chứng và được chứng...
Hết thảy tính tướng đã là vốn không, cùng đồng đẳng
như hư không; vậy thì ích lợi gì mà ông phải cần khổ
cầu chứng Vô thượng Chính đẳng Bồ-đề?... Ông hãy dẹp
bỏ Bồ-đề nguyện ấy đi, đừng có vì sự an lạc của
hết thảy hữu tình mà trường kỳ nhận chịu những khổ
luỵ...”[26] Rồi Bồ tát trả lời: “Tuy hết thảy pháp
đồng đẳng như hư không; tính tướng thảy đều không. Nhưng
các hữu tình trong đêm dài sinh tử không thấy không biết,
cho nên điên đảo kiêu xa để phải chịu vô lượng khổ.
Ta phải khóac lên mình giáp trụ công đức mà tính tướng
thảy đều không như hư không bao la...”[27]
Trước
sự kiện có khi phải nhận chịu cảnh ngộ tưởng chừng
không thể vượt, bằng sở học, Bồ tát có thể tự biện
hộ, để thóai thất Bồ-đề tâm. Đó là những giai đoạn
quyết định sự tiến thóai. Vượt qua khỏi đó, Bồ tát
bước vào địa vị Bất thối chuyển.[28] Cũng gọi là quán
đỉnh vị. Như con trưởng của Chuyển luân vương được
làm lễ quán đỉnh, tấn phong chức vị Hoàng thái tử kế
thừa ngôi báu. Tuy chưa chính thức lên ngôi Hoàng đế Chuyển
luân, nhưng phong tư cốt cach, kể cả quyền lực, đều như
Chuyển luân vương. Bồ tát lúc này chính thức được xác
nhận là con chân thật của Như lai, là tùy sinh của Như lai.
Vì sao? “Chân như của Như Lai không đến, không đi... Chân
như của Như Lai là chân như của hết thảy pháp... Các Bồ
tát hiện chứng chân như của hết thảy pháp như vậy, nên
nói là Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác.” Và theo nghĩa
đó mà nói các Phật tử là tùy sinh của Như lai.[29]
Qua
trường kỳ gian khổ, cho đến khi đạt thành mục đích, thấy
rằng tự tính của tất cả là không; tất cả đều như như.
“Nhất thiết trí như như. Hết thảy các pháp như như. Hết
thảy đều đồng một Chân như, không hai, không khác, không
cùng tận.” Thấy như vậy rồi, “Do nhận thấy ý nghĩa
như vậy rồi, này chư thiên, tâm Ta xu hướng tịch tĩnh, im
lặng không thuyết pháp. Vì sao? Vì pháp này sâu xa, khó thấy,
khó giác tri.”[30]
Duy-ma-cật
hỏi Bồ tát Di-lặc: “Thưa Di-lặc, khi đức Thế tôn thọ
ký Nhân giả còn một đời nữa sẽ chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.
Sự thọ ký ấy nhắm vào đời nào? Đời quá khứ chăng?
Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá
khứ, thì đời quá khứ đã diệt. Nếu là đời vị lai thì
đời vị lai chưa đến. Nếu ở đời hiện tại, thì đời
hiện tại không đình trú. Như Phật đã nói: Này tì kheo,
ngươi nay tức thời vừa sinh, vừa già, vừa diệt. Nếu bằng
vô sinh mà đươc thọ ký, thì vô sinh là chính vị. Mà trong
chính vị thì không có thọ ký, cũng không có sự chứng đắc
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề?”
Về
từ chánh vị được nói trong đoan dẫn trên, La-thập nói:
“Chân tướng thường định nên nói là chánh vị.”[31] Nghĩa
là, yếu tính của thực tại Chân như thường hằng ổn định
trong nguyên vị của nó, được hiểu đó là chánh vị. Trong
bản dịch của Huyền Trang, từ chánh vị được dịch là
chánh tánh. Khuy Cơ giải thích: Đó là chân tánh của pháp.[32]
Tự tánh chân thực của vạn hữu, đó là Không tính theo thắng
nghĩa tuyệt đối.
Nguyên
lai, trong A-tì-đàm, chánh hay chánh tánh là giai đoạn chuyển
tiếp từ phàm phu trở thành Thánh giả, được gọi là “nhập
chánh tánh ly sanh” tức rời bỏ bản tính phàm phu (sanh) để
trở thành Thánh (chánh).[33] Đây là giai đoạn mà cấu trúc
bản lai của thân và tâm bắt đầu quá trình thay đổi. Trong
Đại thừa Du-già tông, đó là bắt đầu quá trình chuyển
y. Khi cấu trúc của thân này và tâm này được thay đổi,
thì cấu hình của thế giới theo đó cũng thay đổi. Thời
gian trong tâm thức của phàm phu và của Thánh giả tất nhiên
không giống nhau. Trong tâm thức của Thánh, ý niệm về sự
tái sinh trong tương lai, gọi là vô sinh, không tồn tại, do
đó khái niệm về thời gian theo quá khứ, hiện tại và vị
lai cũng không tồn tại. Trong ngữ cảnh đó, ý tưởng về
sự được thọ ký, tức sẽ thành Phật trong tương lai, cũng
không tồn tại.
Tuy
nhiên, trong tâm thức chúng sinh, ước vọng tương lai, tất
nhiên là một tương lai tôt đẹp hơn, là một hiện thực.
Ước vọng tương lai là nguồn thực phẩm duy trì sự sống
hiện tại. Vậy, khi Bồ tatá Di-lặc giảng giải chp chư thiên
về pháp bất thối, để chờ đợi sự thành Phật trong tương
lai, phải chăng khi ấy Bồ tát đang cung cấp nguồn thực phẩm,
hy vọng và chờ đợi cho chư thiên? Vì vậy, Duy-ma-cật nói:
“Ngài chớ nói những lời dụ hoặc ấy.”
Tiếp
đó Cư sỹ giải thích ý nghĩa gọi là chứng đắc Bồ-đề
hay Chánh giác:
“Thật
sự không có người phát tâm vô thượng bồ-đề cũng chẳng
có người thóai thất. Bồ-đề không thể được chứng đắc
bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch
diệt là bồ-đề, vì diệt các tướng. Không có quán là bồ-đề
vì nó lìa ngoài nhân duyên. Không hành là bồ-đề vì nó dứt
tuyệt nghĩ tưởng. Đoạn là bồ-đề, vì xả ly các kiến.
Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng (...) Đến
là bồ-đề, vì đi đến thực tế. Bất nhị là bồ-đề,
vì nó xa lìa ý và pháp. Bình đẳng là bồ-đề, vì đồng
đẳng với hư không (...) Không xứ sở là bồ-đề, vì không
hình sắc. Giả danh[34] là bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng
không...”
Di-lặc
như vậy đành khuất tất trước Duy-ma-cật.
d.
Khuất tất
Nhưng,
đích thực tế nào là ý nghĩa của sự khuất tất này?
Ở
hàng nhất sinh sở hệ, đã bước lên địa vị quán đỉnh,
có thể thay Phật chuyển bất thối pháp luân, nhưng sao Bồ-tát
Di-lặc còn phải khuất tất trước đối biện sắc bén của
Duy-ma-cật? Đấy là ẩn ngữ, không có ngôn ngữ để
giải thích. Khuy Cơ cũng cố tìm cách nhìn vào mặt sau của
ẩn ngữ. Vô Cấu Xưng kinh sớ dẫn kinh Phóng bát: “Di-lặc
nói với Văn-thù-sư-lợi, những vị như ngài cho dù nhiều
đến trăm nghìn vạn ức cũng không thể hiểu nổi sự việc
tôi cất chân lên và hạ chân xuống... Cho nên, sự khuất
phục của Di-lặc chỉ là sự giả. Không phải thật sự Di-lặc
bị khuất phục. Xưa Di-lặc nói pháp bất thối cho thiên chúng
để họ có hy vọng mong cầu. Nay Duy-ma-cật đến nói vô tướng
chân như, để làm nhân duyên cho họ.”[35]
Trong
tòan bộ kinh văn, không tìm thấy đoan Khuy Cơ dẫn chứng.
Nhưng nội dung tương tợ có thể tìm thấy trong kinh Hoa nghiêm,
phẩm Thập địa: “Các Đại sỹ an trụ trong bậc Pháp vân
địa; đối với sự cất chân và hạ chân của cấc ngài,
hết thảy Bồ tát cho đến bậc thứ chín cũng không thể
hiểu nổi.”[36]
Ở
đây, trong giới hạn mà trí năng chúng ta có thể hiểu, sự
khuất tất của Di-lặc trước Duy-ma-cật biểu hiện ý nghĩa
tùy thuận pháp tánh.
2.
QUANG NGHIÊM
a.
Thiện Tài và Quang Nghiêm
Các
bản sớ giải đều không giải thích nhân địa tu hành, hay
nguồn gốc của vị Bồ tát Quang Nghiêm đồng tử này, mặc
dù danh hiệu được kể trong số các Bồ tát tham dự pháp
hội tại vườn Xoài.[37] Tuy nhiên, điều có thể thấy biểt
ở đây là, qua sự kiện các đệ tử, rồi các Bồ tát từ
chối đi thăm binh Duy-ma-cật, trong sâu thẳm của trần thuật,
Kinh giới thiệu kho tàng Phật pháp, được nhìn từ nhiều
khía cạnh khác nhau, mâu thuẫn và đối nghịch, để từ đó
mỗi cá nhân tự chứng nghiệm ý nghĩa chân thật của Phật
pháp.
Cho
nên, Quang Nghiêm đồng tử, là một nhân cách biểu hiểu hiện
một phương diện của Bồ tát đạo, trong quá trình tu dương
của Bồ tát. Tên gọi mang nhiều ý nghĩa biểu tượng, chứ
không chỉ đơn giản là một tên gọi. Vì vậy, điều cũng
rất có ý nghĩa ở đây khi liên hệ đến “Hoa nghiêm Nhập
pháp giới.” Ở đó, Bồ tát đạo bắt đầu bằng các thiếu
niên nam nữ, những người mà Văn-thù đã khơi dậy nơi họ
tâm Bồ-đề rộng lớn. Duy-ma-cật cũng bắt đầu với Bảo
Tích và các công tử thành Tỳ-da-ly. Từ Bảo Tích, cho đến
Quang Nghiêm, có thể là hai thế hệ trong ý nghĩa nhân sinh.
Cho thấy sự kế tục của lý tưởng Phật thừa Bồ tát đạo
là liên tục không gián đoạn.
Nhân
cách biểu tượng của Quang Nghiêm, theo như tên gọi, là sự
trang nghiêm bằng ánh sáng của trí tuệ. Đó là điều mà
Văn-thù khai đạo cho Thiện Tài đồng tử, cùng các thiếu
niên nam nữ khác. Rồi Văn-thù giáo giới Thiện Tài: “Để
vững chắc sự nghiệp của Bồ tát, để hoàn tất con đường
của Bồ-tát; thì đây là điểm khởi đầu, từ đó mà lưu
xuất, từ đó mà viên mãn Nhất thiết trí; đó là thân cận,
tôn kính, phụng sự thiện tri thức.”[38]
b.
Khởi điểm và cùng đích
Bồ-đề
tâm là ý chí, bạn hữu là bước khởi đầu. Ý nghĩa này
cũng được thấy trong đối thoại giữa Duy-ma-cật và Quang
Nghiêm. Chính vì thân cận thiện tri thức mà Quang Nghiêm hội
ngộ Duy-ma-cật. Hoạt trường thiện tri thức của Thiện Tài
bao la, trên những vùng không gian rộng lớn, và trong chuỗi
thời gian vô tận. Không gian của Quang Nghiem chỉ trong thành
Tỳ-da-ly. Thời gian cũng chỉ là sự tụ hội phút chốc. Đấy
hiện thực rất gần gũi đời thường để dẫn người vào
sự nghiệp hoằng vĩ của Bồ tát.
Cũng
tương tự như Quang Nghiêm hỏi Duy-ma-cật: “Bác đi đâu về?”
Thiện Tài sau khi chiêm ngưỡng lầu các Tì-lô-giá-na trang
nghiêm tạng[39] của Di-lặc, rồi hỏi: “Đại Thánh, Ngài
từ đâu đến?” Chúng ta hãy liên hệ ở đây với câu trả
lời của Di-lặc:
“Hết
thảy Bồ tát không đến, không đi. Như vậy mà đến. Không
hành, không trụ, như vậy mà đến. Vô xứ, vô định, như
vậy mà đến. Không chết, không sinh, như vậy mà đến. Không
đình trú, không thiên di, như vậy mà đến. Không động, không
khởi, như vậy mà đến. Không tham luyến, không hệ luỵ,
như vậy mà đến. Không nghiệp, không quả báo, như vậy mà
đến. Không khởi, không diệt, như vậy mà đến. Không đoạn,
không thường, như vậy mà đến.
“Bồ
tát từ trú xứ đại bi mà đến... từ trú xứ đại từ
mà đến... từ trú xứ đại nguyện mà đến... Hóa hiện
như bóng của hình, như ảnh trong gương.”[40]
Khi
được Quang Nghiêm Đồng tử hỏi từ đầu về, Duy-ma-cật
đáp: “Từ đạo tràng về.”
Đạo
tràng, tức Kam cang tòa, nơi chư Phật ngồi và thành tựu đại
giác. Từ này, Huyền Trang không dịch là “đạo tràng” hay
“Bồ-đề tràng” mà dịch là “diệu Bồ-đề.”[41] Đây
là nghĩa thứ hai của từ tiếng Phạn, chỉ tinh hoa hay tâm
tủy chân thật của Bồ-đề, là diệu giác, là quả vị cứu
cánh của Phật. Huyền Trang nhấn mạnh ý nghĩa thứ hai, nhưng
danh từ đảo vị, thay vì nói “Bồ-đề diệu” bản dịch
Huyền Trang nói là “diệu Bồ-đề” nên các chú giải tập
trung vào ý nghĩa Bồ-đề thay vì “diệu” tức tinh hoa, hay
thượng vị.
La-thập
dịch là “đạo tràng” nên các chú giải theo đó tập trung
trên ý nghĩa thành Phật thay vì nêu rõ khởi điểm của Bồ
tát đạo. trong Kinh văn, trả lời của Duy-ma-cật về ý nghĩa
“Bồ-đề thượng vị” đã khá rõ: trực tâm, phát hành,
thâm tâm và Bồ-đề tâm là Bồ-đề thượng vị. Ở đây,
tinh chất của Bồ-đề, vị ngọt tối thượng vi diệu của
Bồ-đề, chính là sự phát tâm Bồ-đề với bốn đặc tính:
thứ nhất, điều mà La-thập dịch là trực tâm, Huyền Trang
gọi là thuần trực ý lạc, trong nguyên tiếng Phạn nên hiểu
là ý chí hướng thượng. Ý nghĩa này đã được Phật nói
cho Bảo Tích trong chương đầu, khi trả lời về ý nghĩa thanh
tịnh Phật quốc. Nguyên Phạn văn nói: “Thượng vị của
ý chí hướng thượng là thượng vị của Bồ-đề.”[42]
Ý nghĩa như vậy cũng khá rõ. Ý chí hướng thượng của Bồ
tát trong nội dung của Duy-ma-cật là thanh tịnh Phật quốc,
thành tựu Chúng sinh. Khi đã xác định được lý tưởng cao
thượng của mình, Bồ tát sơ phát tâm cảm thấy như đang
thưởng thức hương vị tuyệt vời vi diệu của Bồ tát đạo,
hướng đến Bồ-đề.
Tiếp
theo đó là phát khởi hành động. Trong sự thực hành Bồ
tát đạo, Bồ tát cảm nghiệm được thượng vị của Bồ-đề.
Còn
lại, như đã đề cập trong chương một, đoạn nói về ba
tâm và bốn độ.
Tiếp
theo, Duy-ma-cật diễn giải các hành trì của Bồ tát là thượng
vị của Bồ-đề, bao gồm sáu ba-la-mật, bốn vô lượng tâm,
và những thành tựu chứng đắc của Bồ tát. Những điều
này cũng đã được đề cập trong chương một, về sự thanh
tịnh Phật quốc.
Cuối
cùng, Duy-ma-cật kết luận: tất cả cử chỉ của Bồ tát
thảy đều phù hợp tương ưng với các ba-la-mật, với sự
thành thục Chúng sinh, với sự hộ trì chánh pháp; tất cả
những điều đó đến từ thượng vị vi diệu của Bồ-đề,
được xác lập vững chắc trong Phật pháp.
Cho
nên, việc Quang Nghiêm hỏi Duy-ma-cật, cũng là chào hỏi thường
tình của người đời đối với hàng trưởng bối. Nhưng,
từ những tế toái của đời thường, mà đi tìm ý nghĩa
không cùng tận của nhân sinh, Bồ tát có hay sinh sự, và nhiều
lý sự quá đi chăng?
Giải
đáp ý nghĩa đến và đi của Di-lặc xuất phát từ tự tính
của các pháp, cho nên không đến, không đi. Trả lời của
Duy-ma-cật xuất phát từ thể của hành động, tức tính thể
của Bồ tát hạnh. Ông nối, từ đạo tràng về, hay từ diệu
Bồ-đề đến.[43] Đạo tràng, tức là cao đài của trí giác,
là điểm xuât phát với tâm Bồ-đề, và cũng là điểm tựu
thành của Bồ tát đạo.[44]
3..
TRÌ THẾ
a.
Sáng thế và Trì thế
Tên
gọi của vị Bồ tát này cho thấy biệu tượng nhân cách
của Bồ tát, là vị nâng đỡ, hộ trì hay duy trì thế gian.[45]
Bồ
tát Pháp vân địa, địa vị thứ mười, cũng nói là quán
đỉnh vị, thường thác sinh làm Đại Tự Tại Thiên vương.[46]
Nguyên đó là xưng hiệu gọi các vị Thần sáng tạo thế
gian trong tôn giáo Ấn độ. Tín ngưỡng này được Đề-bà
tường thuật trong Niết-bàn luận như sau: “Nhóm ngoại đạo
thứ 15 là những người thờ Ma-hê-thủ-la thiên. Quả được
sáng tạo bởi Na-la-diên.[47] Nhân là Phạm thiên. Ma-hê-thủ-la
là nhất thể mà chia thành ba ngôi.[48] Đó là Phạm thiên,
Na-la-diên và Ma-hê-thủ-la. Đất là y xứ. Ma-hê-thủ-la là
chủ của đất. Hết thảy trong tam giới những loài có linh
hồn (mạng) hay không có linh hồn (phi mạng) đều được sáng
tạo bởi Ma-hê-thủ-la. Trên thân thể của Ma-hê-thủ-la, đầu
là bầu trời. Đất là thân mình. Nước là nước tiểu. Núi
là phân. Các sâu trùng trong bụng là chúng sinh....”[49]
Những
vị Thần này từ tín ngưỡng phổ biến được đưa vào Phật
giáo như những vị hộ trì Phật pháp, cho ở vào chỗ cao
nhất trong thế giới hữu sắc là cõi trời Sắc cứu cánh,
tức tầng thứ năm, cao nhất của năm tầng Tịnh cư thiên,
nơi mà một vị A-na-hàm nhập Niết-bàn vì không tái sinh Dục
giới. Du-già sư địa nói: “Vượt qua các tầng Tịnh cung
(Tịnh cư) là trú xứ của Đại Tự Tại (Ma-hê-thủ-la). Ở
đó có Bồ tát địa thứ mười do huân tu thập địa đến
chỗ tuyệt đối nên sinh vào đó.”[50]
Bỏ
qua tính chất thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo, Bồ tát
Trì Thế như vậy được coi như biểu tượng cho phẩm chất
cao nhất của Bồ tát hàng thập địa. Phẩm chất đó, như
vai trò sáng tạo thế gian của Thần tôn giáo, ở đây, Bồ
tát hàng thập địa được quan niệm như là những vị sáng
tạo nên các giá trị và ý nghĩa tồn tại cho thế gian. Tất
nhiên, chỉ trong ý nghĩa tục đế, hay chân lý ước lệ.
b.
Ma sự
Thiện
Tài sau khi từ giã Di-lặc, chuẩn bị đi vào giai đoạn chót,
dự vào hàng nhất sinh sở hệ, bước lên địa vị Quán đỉnh
Pháp vương tử; vào lúc ấy, Văn-thù xuất hiện. vừa tán
thán vừa canh giác: “Nếu lìa tín căn, tâm tư bạc nhược,
ưu sầu, hối tiếc, công hành không đủ, thóai thất, không
tinh cần, với một chút ít công đức mà cho là đủ, với
một chút thiện căn mà mà tâm bị buộc ràng, không thiện
xảo để phát khởi hành nguyện của Bồ tát, không được
thiện tri thức che chở, không được Như lai hộ niệm; hạng
như vậy thì không thể thấu suốt pháp tính như vậy, lý
thú như vậy, sở hành như vậy, sở trụ như vậy...”[51]
Tất
nhiên, Bồ tát ở vào hàng bất thối chuyển, những lời cảnh
giác ấy thật sự là tán thán, vì đã vượt qua mọi chướng
ngại, tâm tư không còn dao đông. Nhưng trong một ý nghĩa khác,
đó vẫn còn là lời cảnh giác. Cảnh giác Ma sự. Cho đến
khi Bồ tát ngồi tại Bồ-đề đạo tràng, vẫn còn phải
chiến đấu lần chót với quân đội Ma: “Thế gian cùng với
thiên giới không thể đánh bại đạo quân này của ngươi.
Nhưng, bằng trí tuệ, Ta phá tan nó như đạp vỡ cái bát sành
chưa được nung.”[52]
Khi
Ác Ma bị đức Thích tôn đánh bại tại Bồ-đề đạo tràng,
y than thở: “Không dễ dụ La-hán, đấng Thiện thệ trong
đời. Vị đã thoát cảnh Ma. Vì vậy ta buồn rầu.”[53]
Ác
Ma ở đây cũng chỉ là sự hình tượng hóa cái xấu trong
thế gian. Nó là thế lực ngự trị không để một chúng sinh
nào thoát ra khỏi sinh tử. Cho nên, nó được nói là phiền
não ma. Cũng được nói là ngũ uẩn ma. Phiền não, tất nhiên
là những kết sử ràng buộc, dẫn chúng sinh tái sinh, luân
chuyển trong vòng quay bất tận. Năm uẩn, là sở y của tồn
tại. Y trên đó, thiện hay bất thiện được thực hiện.
Ác
Ma luôn theo dấu Phật, quấy nhiễu chúng Thanh văn. Trên đường
đi của Bồ tát tất nhiên không phải là không có dấu chân
theo dõi của Ma. Vì vậy, sau khi Phật nói các công đức của
Bồ tát, vì để chứng thành Vô thượng giác ngộ mà dũng
mãnh tinh tấn tu các ba-la-mật, và vô số việc khó làm khác;
bấy giờ Tu-bồ-đề liền hỏi ngay dấu hiệu của Ma sự:
“Phật
đã tán thán các công đức của Bồ tát, vì để chứng đắc
Vô thượng Bồ-đề mà dũng mãnh tinh tấn tu hành bố thí
cho đến bát-nhã ba-la-mật, thành thục hữu tình, trang nghiêm
Phật quốc, vì sao cần phải biết các Bồ tát ấy khi phát
khởi hướng đến Vô thượng Bồ-đề, bấy giờ thường
phải vướng mắc các ma sự?”[54]
Và
bây giờ thì thật sự Ma đang đến quấy nhiễu Trì Thế.
Khi
được Tu-bồ-đề hỏi về Ma sự, Phât nói: “Bồ tát ưa
thuyết pháp yếu. Rồi phát sinh ưa thích nói mãi không thôi.”[55]
Có thể trước dấu hiệu nào đó của sự sụp đổ ý chí,
thóai thất, hoài nghi hay nhận thức lệch lạc con đường
mình đang đi, người hành Bồ tát đạo viện dẫn giáo lý
để tự biện hộ. Cũng có thể ngụy tín về khả năng giáo
hóa nên trở thành vị pháp sư chuyên biện thuyết nhưng thiếu
thực hành. Dù sao, ở đây Trì Thế giảng cho vị Thiên đế
giả mạo bằng những điều Phật đã giảng cho chúng để
tử: “Không phóng dật dẫn đên bất tử. Phóng dật dẫn
đến diệt vong.”[56] Chính lời dạy ấy, để chống lại
Ma, nay được đem giảng lại cho chính Ma.
c.
Vô tận đăng
Một
đoạn kinhh văn, Trì Thế bạch Phật:
“
... Con còn nhớ có lần đang ở trong tĩnh thất, khi ấy Ma
Ba-tuần[57] hình trạng như Đế Thích xuất hiện cùng với
mười hai ngàn thiên nữ theo sau đàn hát, đi đến chỗ con.
Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, họ chắp tay đứng
sang một bên. Con tưởng đó là Đế-thích nên noi: ‘Xin chào
Kiều-thi-ca. Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưng
không nên phong túng. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để
tìm cầu gốc rễ thiện. Hãy tìm cầu pháp chắc thật cho
thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Ma liền nói: ‘Thưa
Đại Chánh sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn thiên nữ
này để hầu hạ ngài, lo việc quét dọn.’ Con bảo: ‘Này
Kiều-thi-ca, chớ đem cho Sa-môn họ Thích món quà phi pháp như
vậy. Nó không thích hợp với tôi.’ Con chưa dứt lời thì
Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Nó đâu phải là Đế-thích.
Nó là Ma đến quấy nhiễu ngài đấy.’ Rồi ông quay sang
bảo ma: ‘Hãy cho ta các cô gái này. Như ta thì có thể nhận.’
Ma kinh sợ, nghĩ rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’”
Nữ
nhân trong Duy-ma-cật thường xuất hiện trong những hình tượng
đặc biệt. Chúng biểu tượng cho tính chất mâu thuẫn nội
tại trong ý niệm giải thoát, để từ đó dẫn đến nhận
thức về ý nghĩa giải thoát bất khả tư nghị.
Trước
hết, trong những môi trường văn hóa nhất định, nữ tính
là biểu tượng cho yếu tố thẩm mỹ. Đồng thời đó cũng
là hỉnh ảnh phản diện của thẩm mỹ: tịnh và bất tịnh.
Phẩm chất cao quý, dẫn đến giác ngộ và giải thoát, như
trí bát-nhã, được gán cho nữ tính. Tham ái dẫn đến tái
sinh, cũng được gán cho nữ tính. Cho nên, khi Ác Ma đã thất
bại không thể chinh phục đức Thích tôn với đạo quân hùng
mạnh của mình, nó sai ba người con gái đi chinh phục Thích
tôn. Các cô nói với bố Ác Ma: “Chúng con sẽ trói người
đó bằng sợi dây thừng tham ái, như trói con voi lớn trong
rừng.”[58]
Ở
đây Ác Ma đang thử thách bài giảng về không buông lung của
Trì Thế bằng cả một đội quan Ma nữ.
Điều
rất thú vị là Duy-ma-cật đã tiếp nhận đội quân Ma nữ
ấy, và trao cho họ sứ mạng đi thắp ngọn đuốc soi sáng
thế gian. Những ngọn đuốc ấy sẽ cháy sáng bất tuyệt.
Thế gian chìm đắm trong ái dục, bị trói chặt bởi sợ dây
thừng ái dục, không thể vùng thoát. Không thể bứt thoát
dễ dàng được, nếu không châm ánh lửa trí tuệ lên chính
những ngọn đuốc được làm bằng chất liệu ái dục ấy.
Kinh
văn nói:
“Các
thiên nữ quay hỏi Duy-ma-cật: ‘Ở trong cung điện của Ma,
chúng tôi phải sống như thế nào?’
“Duy-ma-cật
đáp: ‘Này các chị, có Pháp môn được gọi là Ngọn đèn
vô tận;[59] các Chị nên học. .. Dù các Chị có ở nơi cung
điện của Ma, các Chị hãy nên dùng Pháp Vô tận đăng này
để dẫn dắt vô lượng con trai, con gái của Trời khiến
phát tâm cầu giác ngộ, vừa để báo Phật ân vừa làm lợi
chúng sinh.’”
Trong
hình tướng xuất gia, dù ở vào hàng thập địa, Trì Thế
vẫn không thể tiếp nhận đội quân ấy như Duy-ma-cật. Cho
nên, Bồ tát cũng cần phải cảnh giác thế gian về Ma sự.
Không thể để cho những diễn thuyết pháp yếu của mình
trở thành yếu tố làm sụp đổ chính mình. Giữa Duy-ma-cật
và Trì Thế, giải thoát bất tư nghị là gì? Không thể có
định nghĩa chung cho tất cả. Dù sao, điều đã được biết
là, tự tính của các pháp bản lai thanh tịnh. Bằng chất
liệu ô nhiêm của thế gian mà thắp lên ánh sáng thanh tịnh
vi diệu cho thế gian, Bồ tát xây dựng cõi Phật thanh tịnh
từ chính những môi trường ô nhiễm bất tịnh.
4.
THIỆN ĐỨC
a.
Tế tự
Trong
một chuỗi thời gian tiến hóa lâu dài, cho tới một thời
kỳ nhất định, ý niệm tích lũy tư hữu mới phát sinh nơi
con người.[60] Cũng từ đó, cạnh tranh và mâu thuẫn phát
sinh. Để giải quyết, mọi người bầu ra một người hoà
giải. Họ chia một phần thu hoạch của mình cho người này.
Đó là hình thức giao ước xã hội đầu tiên của loài người.[61]
Nhưng cũng từ đó, phát sinh giao ước giữa con người với
Thần linh. Con người có bổn phận hiến tế phẩm vật cho
Thần linh, như một hình thức đóng thuế. Đáp lại, Thần
linh cũng có nhiệm vụ hỗ trợ con người trong các sinh hoạt.
Càng về sau, hiến tế trở thánh bổn phận cưỡng bức, chứ
không phải giao ước theo chủ nghĩa công lợi nguyên thủy
giữa người và Thần nữa.
Cho
đến thời đức Thích tôn xuất hiện, hiến tế và cầu nguyện
trở thành quy tắc đạo đức, là cơ sở phân chia đẳng cấp
xã hội. Trong nhiều điều khoản của Luật tạng, các tỳ
kheo không được phép tham gia các sinh hoạt tế tự và cầu
nguyện chung với thế tục. Tăng đoàn Phật giáo muốn giữ
tính cách độc lập với các tín ngưỡng tôn giáo đương
thời, mà kinh điển gọi là tà kiến, vì không đem lại ích
lợi thiết thực cho sự tiến hóa tâm linh của con người.
Trong
thời Phật, pháp điển tế tự của Vệ-đà chưa hoàn tất.
Chỉ truyền tụng ba Vệ-đà. Ngay cả trong ba Vệ-đà này,
bộ thứ ba là Dạ-nhu Vệ-đà có vẻ cũng chưa phổ biến.
Vì cũng có một số giáo sĩ Bà-la-môn tìm đến Phật để
tham khảo nghi thức tế tự. Vì họ tin rằng, họ Thích trong
chủng tộc Gotama là hậu duệ của cổ đại Tiên nhân Aṅgiras,[62]
là một trong các dòng họ gia truyền Vệ-đà.
Nhiều
nơi trong kinh Phật cũng mô tả hình thức các tế đàn được
tổ chức; nói đến vai trò của vị chủ tế, phận sự của
Quốc vương, cùng với sự tham gia của Vương hậu, Vương
phi, Vương tử, triều thần và dân chúng.[63] Nhưng trong tất
cả, kinh Phật đều hướng tế đàn sang một ý nghĩa khác,
mang tính xã hội hơn là bản chất tôn giáo. Trong một quốc
độ mà dân chúng đang cùng khốn, không thể tổ chức đại
tế đàn. Vì sẽ thâm thủng ngân sách. Và như vậy, phải
tăng thuế, sưu dịch. Khiến dân chúng đã khốn, lại càng
khốn thêm. Hậu quả là trộm cướp phát sinh và hoành hành,
tăng thêm tình trạng khốn quẫn của dân chúng. Chỉ khi nào
dân chúng sống sung túc, bây giờ Vua mới nên nghĩ đến viêc
tế tự, để cầu phước báo lâu dài cho mình.
Theo
cách giới thiệu như vậy, tế tự tuy bắt nguồn từ bản
chất tôn giáo, nhưng bây giờ trở thành sinh hoạt lễ hội
mang tính nhân gian. Vì mọi người đều có thể tham dự khi
đời sống vật chất tương đối sung túc. Dù hiểu theo nghĩa
nào, trong một xã hội truyền thống với những tập quán
lâu đời, không thể tách rời con người ra khỏi thế giới
Thần linh của nó. Vả lại, thế giới đó cũng biểu tượng
cho sự thăng hoa của đạo đức, và do đó, của hạnh phúc.
b.
Thiện Đức
Bồ
tát Thiện Đức, mà bản Huyền Trang âm là Tu-đạt,[64] người
ở thành Tỳ-da-ly, là nhân vật cùng tên với vị Trưởng
giả ở Xá vệ, thường gọi theo phiên âm là Tu-đạt. Đó
là vị cư sỹ rất nổi tiếng trong các đệ tử tại gia của
Phật. Vì sự bố thí, chẩn tế người nghèo, nên ông được
người đương thời tặng cho danh hiệu là Cấp Cô Độc.
Vị
Bồ tát Thiện Đức này tu công hạnh như thế nào, không thể
biết được. Nhưng khi Duy-ma-cật đến viếng, thì ngài đang
tổ chức lễ hội lớn. Như thế là tuy tu tập Phật pháp,
nhưng Bồ tát vẫn không bỏ thế gian pháp. Vẫn kế thừa
gia nghiệp của tổ tiên, và làm các phận sự đối với tổ
tiên.
Duy-ma-cật
đến, không đề nghị dẹp bỏ hinh thức tế tự mà các đệ
tử Phật xem là vô ích. Ông đến đề nghị nâng tầm mức
ý nghĩa lên tầng thăng hoa cao hơn.
Trong
lễ hội này, Thiện Đức cũng đã thực hiện nghĩa bình đẳng,
hiểu theo nghĩa thông tục của thế gian. Bình đẳng, vì không
chỉ tế tự dâng hiến Tổ tiên, những người đã chết,
mà còn dâng hiến những ngưòi còn sống. Không chỉ bố thí
cho một thành phần tôn giáo nào đặc biệt, mà cho tất ca
Sa môn, Bà la môn, ngoại đạo. Không phân biệt giai cấp sang
hèn, mà cho bất ai cần. Tuy vậy, đó chỉ là ý nghĩa trong
quy ước thế gian, chỉ mang lại giá trị tầm thường cua
thế gian. Nên Duy-ma-cật đề nghị một ý nghĩa chân thật
cho lễ hội, được nhận thức từ ý nghĩa pháp tính bình
đẳng. Điều đó nên là nền tảng tu đạo và hành đạo
của Bồ tát.
Các
Thanh văn đi tìm sự giải thoát bằng con đường xuất thế,
sống cuộc đời ẩn cư tịch mịch. Bồ tát cũng đi tìm cứu
cánh giải thoát, nhưng ở ngay giữa cõi đời hệ lụy, nên
chọn hướng đi bằng phụng sự, dâng hiến. Tức bố thí
là công hạnh chính để Bồ tát tu tập, và thăng tiến.
Hạnh
bố thí lưu xuất từ ý nghĩa pháp tính bình đẳng. Do đó,
chỉ bằng vào sự bố thí, Bồ tát lần lượt thành tựu
hết thảy các ba-la-mật. Thành tựu các thiền, tam muội, các
Bồ-đề phần, mà Thanh văn phải ẩn thân trong rừng núi mới
có thể tu tập được. Tất nhiên, hướng đi của Bồ tát
lâu dài hơn, và do đó cũng dễ thối chí, thất bại; không
vững chắc như Thanh văn, chứng chánh trí ngay đời này, và
cũng sống an lạc ngay trong đời này. Bồ tát còn phải chịu
nhiều đau khổ, chung với số phận của vô lượng chúng sinh,
trong vô lượng kiếp nữa.
Do
ý nghĩa đó, Thế Thân khi giải thích kinh Kim cang đã nhấn
mạnh ngay trên sự bố thí, như là nền tảng để thành tựu
Bát-nhã ba-la-mật.[65] Trong đó, với ba phương diện bố thí
là tài vật, cứu nguy, và pháp, tài thí là nền tảng
để thành tựu bố thí ba-la-mật. Vô uý thí, hành động cứu
khổn phò nguy, để thành tựu giới và nhẫn, vì mang lại
sự an toàn thoát mọi nguy hiển sợ hãi cho chúng sinh. Cuối
cùng, pháp thí, tích cực trong các công tác giáo dục để
thành tựu tinh tấn, thiền và trí tuệ.
Trong
Duy-ma-cật, cũng chính bằng sự bố thí mà thành tựu tất
cả Phật pháp.[66]
Nói
cách khác, trong ý nghĩa vừa nêu, Bồ tát hành đạo giữa
thế gian có ba mục tiêu cụ thể. Thứ nhất, tăng ích tài
sản vật chất. Với mục tiêu này, Bồ tát hiện thân trong
quốc độ nào, quốc độ ấy không có những kẻ bần cùng
cô khổ. Thứ hai, chẩn tế vô uý. Hiện thân ở quốc độ
nào, Bồ tát khiến cho nhân dân ở đó không sống trong sợ
hãi, nguy hiểm đe dọa; không giặc cướp, không chiến tranh,
không áp bức. Sau hết, giáo hóa chúng sinh thành tựu các phẩm
chất cao thượng, thành tựu các công đức của Bồ tát và
Phật.
Thật
sự, ba mục tiêu vừa nói của Bồ tát không khác với mục
tiêu của xã hội loài người. Quốc gia nào cũng muốn dân
giàu nước mạnh, hoà bình ổn định, và dân trí được nâng
cao. Bồ tát hành đạo không đặt mục tiêu của mình ngoài
ước vọng chung của xã hội nhân quần. Duy chỉ một nền
tảng không thể thiếu, để Bồ tát an trụ trên đó mà hành
đạo. Nền tảng đó là nhận thức về ý nghĩa pháp tính
bình đẳng. Đó là điểm mà Duy-ma-cật đề nghị với Thiện
Đức khi hành lễ hội và bố thí.
Thế
nhưng, mục tiêu của Thanh văn là phải chứng đắc chánh trí
ngay trong đời này, “Sau đời này, không còn đời nào nữa.”
Mục tiêu của Bồ tát thì không thể thành tựu trong một
đời. Vì vậy, Bồ tát cần có Bồ-đề tâm kiên cố, không
thể bị lay chuyển dù trải qua đời nào. Thế thì, ở đây
chúng ta cũng gặp lại ý nghĩa thời gian trong cuộc luận đạo
với Bồ tát Di-lặc; Bồ-đề tâm nơi Quang Nghiêm; và ma sự
nơi Trì Thế. Đó là bốn đức của Bồ tát. Thoạt nhìn,
có vẻ siêu thực. Nhưng khi phát khởi hành động, các phẩm
tính ấy rất hiện thực, rất gần gũi với đời thường.
Nghĩa là, bất cứ ai, ở bất cứ địa vị nào, với bất
cứ trình độ nhận thức nào, đều có thể hành Bồ tát
đạo.
Đạo
Bồ tát không chỉ ở trong một đời, nên không thể lấy
đó mà luận giải thành tựu hay không thành tựu.
Không
thể đem tâm lượng hẹp hòi mà đánh giá công hạnh của
bậc đại sỹ.
[1]
Kośa-bhāṣya, p. 183: apakarṣasyādhas tāt pratyavarā āỷuādayaḥ
kiṭṭabhūtatvāt, tuổi thọ các thọ bị giảm xuống đwns
mức rất thấp, như cặn bẩn. Cf. Câu-xá, tr. 64a18.
[2]
Bodhisattvabhūmi, 173: punaḥ sattvakokasyaiva kaṣāyotsadakālatāñ
ca yathābhūtaṃ prajānāti. niṣkaṣāyānutsadakaṣāyakātāñ
ca yaduta pañcakaṣāyanārabhya āyuṣka-ṣāyaṃ sattvakaṣāyaṃ
kleśakaṣāyaṃ dṛṣṭikaṣāyaṃ kalpakaṣāyam. / Du-già 44,
T30n1579, tr. 538a4.
[3]
Câu-xá, k. 94: khi tuổi thọ con người bắt đầu giảm từ
84 000 tuổi xuống đên 100 tuổi, các Phật xuất hiện trong
khoảng thời gian đó.
[4]
Pāli-Englíh Dictionary, PTS; Buddhist Hybrid Sanskrit Dictionary, F.
Edgerton.
[5]
Aṅguttara i. 112. Sớ giải: sakasāvāti pūtisārena ceva pheggunā
ca yuttā, goi là kasāva (kasāya), vì nó được làm với ruột
bên trong mục nát, chỉ có vỏ bọc ngoài.
[6]
A. ibid.: yassa kassaci, bhikkhave, bhikkussa vā bhikkhuniyā vā kāyavaṅko
appahīno kāyadoso kāyakasāvo, vacīvaṅko appahīno vacīdoso vacīkasāvo
manovaṅko appahīno manokasāvo, evaṃ papatitā te, bhikkhave, imasmā
dhammavinayā.
[7]
Cakkavatti-suttam, D.iii. 76. Hán dịch tương đương, Trường A-hàm
6 (Chuyển luân thánh vương tu hành kinh, T01n0001,tr. 041c29). Pali
còn có một bản thi tụng nhan đề Anāgatavaṃsa (Đưong lai
ký), kể riêng về chuyện Phật Di-lặc (Pali: Metteyya) đương
lai, được nói là do Trưởng lão Kassapa soạn; tài liệu Journal
of the Pali Text Society, 1886.
[8]
Trong kinh Cakkavattī dẫn trên, tên vua này được gọi là Saṅkha
(võ sò).
[9]
Pali: Ajita, Hán cũng thường phiên âm là A-dật-đa (Bồ-tát).
[10]
Trung A-hàm 13 (Thuyết bản kinh, T01n0026,tr. 510a01).
[11]
Dẫn thượng, T01n0026,tr. 510c10.
[12]
Đoạn kinh trên cũng được dẫn, và giải thích, Đại Tì-bà-sa
178 (T27n1545, tr.893c7). Trong các tài liệu Hán này cho thấy,
trong Phật giáo bộ phái, A-dật-đa (A-di-đá, hay A-thị-đa,
Skt.=Pali: Ajita, Vô Năng Thắng), và Di-lặc (Pali: Metteyya, Skt.
Maitreya),
là hai nhân vật khác nhau; đều là tỳ kheo trong chúng Thanh
văn của Phật Thích ca. Nhưng trong các truyền thuyết Đại
thừa 9 (Pháp hoa 6, phẩm Tùy hỉ cống đức, T9n262, tr. 46b27:
Phật gọi Di-lặc là A-dật-đa. Cf. bản Skt.: atha khalu bhagavān
Maitreyaṃ...etad avoca: yaḥ kaścid Ajita kulaputro...)
[13]
Skt. ekajātipratibandha, còn bị ràng buộc một đời nữa. Từ
này không có tương đương Pali.
[14]
Skt. avivartika.
[15]
Đại trí độ 1 (T25n1509,tr. 065b14).
[16]
Vì vậy các nhà Hữu bộ gọi các pháp hữu vi là lộ trình
thời gian, Câu-xá 1; Kośa-bhāṣya, i.7: ta eva saṃskṛtā gatagacchadgamiṣyadbhāvād
adhvānaḥ, các pháp hữu vi, vì tự thể là quá khứ, hiện
tại, hay vị lai, nên gọi là lộ trình thời gian.
[17]
Avijjā-suttam (A.v.113): purimā bhikkhave koṭi na paññāyati avijjā,
ito pubbe avijjā nāhosi, atha pacchā samabhavī’ti, không thể
cho biết được vô minh từ biên tế tối sơ, để nói rằng,
trước đó vô minh không tồn tại; sau này mới xuất hiện.
[18]
Bát nhã đăng 11, “phẩm 19 Quán thời” (T30n1566,tr. 109a14):
“Các nhà Phệ-thế-sư (Vaiśeṣika) nói, trong đệ nhất nghĩa,
thời gian tồn tại (paramārthataḥ bhāvānaṃ svabhāvo vidyate),
vì tự thể của pháp làm nguyên nhân nhận thức (abhivyakter
hetusadbhāvāt), như ngọn đèn. Nếu không có thời gian, do đâu
mà tồn tại nguyên nhân cho nhận thức.” Cf. Prajñāpradīpa,
ch. iv. Kālaparīkṣa.
[19]
Vô số, tên gọi một số đềm, trong chuổi 60 số đếm của
hệ thập phân hay bách phân; chứ không phài là số lượng
không đếm được. Do đó, nguyên tiếng Phạn: asaṃkheya, thường
dùng theo phiên âm là a-tăng-kỳ để không hiểu nhầm. Trong
60 hàng số, asaṃkheya thuộc hàng số thứ 60, nghĩa là 1.1059.
Câu-xá 12 (T29n1558,tr. 063c11); Đại Tì-bà-sa 178 (T27n1545,tr.
892a26).
[20]
Câu-xá, đã dẫn (T29n1558,tr. 063c15).
[21]
Du-già sư địa 35 (phẩm Phát tâm, T30n1579,tr. 482a01).
[22]
Saddharma, ii. 102: sthitikā hi eṣā sadā dharmanetrī prakṛtiś
ca dharmaṇā sadā prabhāsate/
[23]
Saddharma, ch. ii. k. 103: dharmasthitiṃ dharmaniyāmatāṃ ca/ Cf.
S. ii. 25: uppādā vā tathāgatānaṃ anuppādā
vā tathāgatānaṃ, ṭhitāva sā dhātu dhammaṭṭhitatā
dhammaniyāmatā idappaccayatā, Các Như lai dù xuất hiện
hay không xuất hiện, giới tánh ấy vẫn ổn định, là tính
quan hệ tồn tại của vạn hữu, đó là pháp trụ tính, là
pháp vị tính. Sớ giải Pāli: bất cứ khi nào có hữu, bấy
giờ có sinh, già chết; quy luật ấy được xác định, nên
nói là ṭhitāva sā dhātu (giới tánh ấy ổn định). Các pháp
đã hiện khởi tồn tại do quan hệ của duyên với duyên,
đó tính tồn tại xác định của các pháp (dhammaṭṭhititā:
pháp trụ). Các duyên hay điều kiện quan hệ trong mối tác
động hỗ tương, do đó gọi là tính quyết định của pháp
(dhammaniyāmatā: pháp vị).
[24]
Mādhyamaka: anirodham anutpādam... pratītyasamutpādam.
[25]
Hoa nghiêm, bản 60, quyển 27 (phẩm 22 Thập địa, T9n278,tr.
571b18).
[26]
Đại bát-nhã 449 (T7n220,tr. 264b29).
[27]
ibid.
[28]
Skt. avivartika. Xem Đại trí độ 73 (phẩm 55. A-bệ-bạt-trí).
[29]
Trong kinh Bát nhã (T7n220,tr. 253b01), Phật gọi Tu-bồ-đề tùy
sinh của Như lai (tathāgatānujāta). Xem Đại trí độ 72 (T25n1509,tr.
564c15). Trong kinh Selasuttam (Pāli, M.i. 146), Phật gọi Xá-lợi-phát
là tùy sinh của Như lai, vì tùy chuyển pháp luân mà Phật
đã chuyển (mayā pavattitaṃ cakkaṃ sāriputto anuvatteti anujāto
tathāgataṃ). Sớ giải (iii. 403), có ba loại con: con ác giới
gọi là avajāto (hạ sinh); không phải là con của Như lai. Con
hơn cha mẹ, gọi là atijāto (thắng sinh); nhưng không có ai
hơn Phật cả nên không có con của Như lai như vậy. Như lai
duy nhất có một hạng con, đó là anujāta (tùy sinh). Xem Tạp
A-hàm (kinh 874, T02n0099,tr. 220c19): “Có ba hạng con: thắng sinh,
con hơn cha mẹ. Tùy sinh, con bằng cha mẹ. Hạ sinh, con kém
hơn cha mẹ.”
[30]
Đại bát nhã 448 (T7n220, tr. tr. 252a14).
[31]
Chú Duy-ma, T38n1775. tr.361b22
[32]
Vô cấu xứng sớ, T38n1782, tr. 1058b03.
[33]
Skt. nayāma-avakrama; Kośa-bhāṣya, 67.
[34]
Giả danh 假名. Htr.: duy danh 唯名. VKN: nāmadheyamātraṃ.
[35]
VCS (T38n1782_p1057b16). Phóng bát kinh, khuyết dich, T15n0629,tr.
449a24.
[36]
Hoa
nghiêm (bản 60, T9n278,tr. 577a23).
[37]
Lược sớ của Trạm nhiên (T38n1778,tr. 641a29) nói: “Quang Nghiêm
là Bồ tát tại gia; pháp hữu của Tịnh Danh và Bảo Tích.”
Đây cũng chỉ dựa vào kinh văn mà suy đoán, không có chi tiết
gì cụ thể. Khuy Cơ (VCS, T38n1782_p1017a04) cũng chỉ giải nghĩa
tên: “Trong ánh sáng, có đủ màu sắc, đủ các thứ trang
nghiêm, nên nói là Quang Nghiêm.” Bản dịch của Chi Khiêm
gọi là Quang Tịnh đồng tử. Skt. Prabhāvyūha
[38]
Hoa nghiêm, bản 40 (T10n0293,tr. 679b09).
[39]
Gaṇḍa: Vairocanavyūhālaṅkāragarbha-mahākūṭāgāra.
[40]
Hoa nghiêm, bản 40 (T10n0293,tr. 835b25).
[41]
Skt. bodhimaṇḍa, Tạng dịch: byag-chub kyi snying-po, có nghiac
là tâm tủy của bồ đề; đòng thời cungzx chỉ kim cang tòa
của Phật.
[42]
VKN: bodhimaṇḍa iti kulaputra āśayamaṇḍa…
[43]
Bản Chi Khiêm và La-thập đều dịch là “đạo tràng.” Bản
Huyền Trang dịch là “diệu bồ đề.” Cả hai đều cùng
gốc Skt. bodhimaṇḍa. Theo đó, maṇḍa có nghĩa là “thượng
vị” tức vị đề hồ (Mahāvyutpatti); cũng có nghĩa toà hay
trường sở. Khuy Cơ: cựu dịch “đạo tràng, nhấn mạnh
trên nghĩa nguyên nhân. “Bồ đề” thông cả nhân và quả.
[44]
Khuy Cơ, VCS (T38n1782_p1060c19), có 5 bồ đề: 1. Bồ đề tính,
tức chân như. 2. Bồ đề dụng, tức chân trí. 3. Bồ đề
nhân, tức ba tuệ luân để chứng đắc bồ đề. 4. Bồ đề
bạn lữ, tức vạn hạnh phước trí. 5. Bồ đề cảnh, pháp
chân và tục. Trong kinh văn, nêu 32 định nghĩa về diệu bồ
đề (hay đạo tràng). Khuy Cơ chia thành 6 nhóm: 1. Gồm 4 định
nghĩa, nói về phát khởi thực tế. 2. Gồm 6 ba-la-mật. 3.
Gồm 8 yếu tố thành thục chúng sinh. 4. Gồm 2 thiện căn.
5. Gồm 6 thứ nhiếp thọ chánh pháp. 6. Còn lại, 6 sự cúng
dường Như lai.
[45]
Trì Thế, Skt. Lokadhātṛ, hay Jagaddhātṛ.Trạm Nhiên (T38n1778,tr.
643c27) giải thích: “Ghi nhớ không quên, gọi là trì. Thế,
nghĩa là cách biệt.” Giải thích này không phù hợp. Bản
Chi Khiêm dịch là “Trì Nhân.” Skt. lokadhātṛ, hay jagaddhātṛ,
trong tôn giáo Ấn đọ, đều chỉ Thần sáng tạo, tức Brahman,
hay Śiva.
[46]
Tức Ma-hê-thủ-la thiên (Hoa nghiêm bản 60, T09n278, tr. 574c7,
577b12). Skt. Maheśvara.
[47]
Skt. Nārāyaṇa.
[48]
Nhất thể tam phân; Skt. trimūrti.
[49]
Đề-bà Bồ tát thích Lăng-già kinh trung Tiểu thừa ngoại
đạo niết-bàn luận, T32n1640, tr. 157c23.
[50]
Du-già sư địa, quyển 4, T30n1579,tr. 295a12.
[51]
Hoa nghiêm (bản 60) quyển 60 (T9n278,tr. 783c03)
[52]
Sn. i. 75: yaṃ te taṃ nappasahati, senaṃ loko sadevako, taṃ te
paññāya bhecchāmi, āmaṃ pattaṃva asmanā.
[53]
Māradhītu-suttam, S.i. 123.
[54]
Đại bát nhã 509 (T7n220, tr. 596a13); Đại trí độ 68 (T25n1509,tr.
533a06).
[55]
Đã dẫn trên.
[56]
Dhp. 21: appamādo amatapadaṃ, pamādo maccuno padaṃ.
[57]
Ma Ba-tuần 魔波旬. CDM, Trtiệu nói: „Ba-tuần, tiêng Tần
gọi là Sát giả hay Cực ác, vì là nguyên nhân đoạn thiện
căn, và tội lớn nhất là chống Phật, nhiễu loạn Tăng.“
VCX: ác ma oán 惡魔怨. Skt. Māra-Papiyas.
[58]
Dhītaro-sutta, S.i. 124: mayaṃ taṃ rāgapāsena, araññam iva kunjaraṃ
bandhitvā...
[59]
Vô tận đăng 無盡燈. VCS: “Vì để sự lưu truyền Chánh
pháp không bị gián đoạn mà nói Vô tận đăng.”
[60]
Xem Trường A-hàm 6 (kinh Tiểu duyên, T01n0001,tr. 038a16).
Pali tương đượng, Aggañña, D. iii. 89)
[61]
Đẫ dẫn, T01n0001,tr. 038b21.
[62]
Pali: Aṅgirasa. Trong bài thi tụng, Vaṅgisa tán thán Phật, gọi
Ngài là “...Aṅgirasa tvaṃ mahāmuni”, hởi đấng Đại Mâu-ni,
Aṅgirasa. Bản Hán tương đương, Tạp A-hàm 45 (T02n0099,tr.
329b04), Aṅgirasa được dịch là “tuệ quang.”
[63]
Kūtadantasuttam, D.i. 136.
[64]
Bản Chi Khiêm đọc là Thiện Kiến (Skt. Sudarśana?). Cát Tạng
và Trạm Nhiên đều đọc là Thiện Đắc. Trạm Nhiên (T38n1778,tr.
646c03) giải thích ý nghĩa danh hiệu này như sau: “Thiện,
là thiện xảo. Đắc, là đắc lý.” Bản La-thập nói Thiện
Đức. Giải thích có vẻ đi quá xa. Thiện Đức hay Thiện
Đắc dịch nghĩa từ Skt. Sudatta. Trong đó, từ -datta, thường
đặt cho con cầu tự mà có.
[65]
Kim cang bát nhã ba la mật kinh luận, T25n1511,tr. 782a29.
[66]
Giải thích của Khuy Cơ (T38n1782_p1066b21), trong phần giảng
của Duy-ma-cật, có tất cả 32 cú. chia làm 5 nhóm. Nhóm thứ
nhất, gồm bốn cú đầu, hành 4 vô lượng tâm. Nhóm thứ
hai, 6 ba-la-mật. Nhóm 3, hành ba giải thoát môn. Nhóm 4, gồm
9 trường hợp tạp tu. Nhóm 5, thừ tự 10 hành.