CHƯƠNG
V:
VĂN-THÙ
THĂM BỊNH
I.
NGÔN NGỮ VÀ BIỂU TƯỢNG
1.
Thực tại vô ngôn
Không
phải chỉ riêng thực tại được mô tả trong Duy-ma-cật là
vô ngôn, mà tất cả khái niệm về thực tại được biểu
hiện trong các kinh điển đều xuất phát từ tự thể phi
ngôn thuyết. Sự im lặng của Duy-ma-cật, rồi sẽ thấy trong
chương “Nhập bất nhị”, là đỉnh cao tuyệt đối của
ngôn ngữ.
Thế
nhưng, không phải chỉ trong đối thoại triết lý hay đạo
lý, không phải chỉ giữa các hàng đại trí của thế gian,
mới có biểu hiện của ngôn ngữ phi ngôn thuyết, biểu hiện
bằng sự im lặng. Trong đời thường, cũng có rất nhiều
trường hợp người ta phải im lặng. Im lặng, vì những xung
đột nội tâm, vì những mâu thuẫn xã hội, những nghịch
lý vượt ngoài tầm hợp lý của ngôn ngữ. Hành vi và ngôn
ngữ của Duy-ma-cật cũng cần phải được chiêm nghiệm ngay
giữa cuộc sống thường nhật.
Xu
hướng giảng luận Duy-ma-cật thường cố thăng hoa mọi
ý niệm, những khái niệm thường bị khóac cho tính chất
triết lý siêu hình, để bốc hơi thành thực tại hư ảo,
không thể tìm thấy trong thế gian này. Chính vì vậy mà người
ta thấy một tôn giả Xá-lợi-phất đại trí bỗng trở thành
ngây ngô, một Đại Ca-diếp vô cùng khả kính trở thành lẩm
cẩm, một A-nan bác học phải bối rối. Không đơn giản vì
các ngài chưa hiểu nổi, chưa thâm nhập pháp tính thậm thâm,
nên trở thành như vậy. Nếu các bậc Thánh cao đại của
thế gian ấy mà không hiểu nổi, chưa thâm nhập được, thì
các hạng phàm phu đang chìm ngập trong dòng xoáy ô nhiễm lại
có thể?
Các
Đại Thanh văn từ chối đi thăm bịnh. Các Đai Bồ tát cũng
từ chối. Chỉ vì không đương nổi biện tài vô ngại của
Duy-ma-cật. Thế thì, từ một góc nhìn, không hẵn các ngài
ngại ngùng trước sự việc Duy-ma-cật bịnh thật hay bịnh
giả, mà có thể là các ngài sợ chứng bịnh lắm lời của
thế gian, hý luận và vọng tưởng. Văn-thù chấp nhận đi
thăm bịnh, và nhận xét: “Cư sỹ ấy đã chứng thật tướng
và cũng thuyết thật tướng.”
Thấy
và nói lên những gì mình thấy, không phải luôn luôn là sự
phù hợp giữa ngôn ngữ và thực tại. Nhà thơ nào đó đi
tìm dòng sông trong con mắt. Không phải nhà thơ ấy thực sự
đi tìm dòng sông và con mắt. Ông đang “chứng nhập” một
cái gì đó đang di động và làm rung động tận cùng thể
tính của mình, một thực tại phi ngôn thuyết.
Vậy
thì, chứng thật tướng, và thuyết thật tướng, được biểu
hiện trong vô vàn phương tiện.
Để
vận dụng các phương tiện thiện xảo ấy, hành vi và ngôn
ngữ Duy-ma-cật xuất hiện trong nhiều hình ảnh biểu tượng
có khi hiện thực, có khi siêu thực; có khi hợp lý, có khi
phản lý và siêu lý. Như một nhà đạo diễn nếu không nắm
vững các quy luật của sân khấu, không thể biến cái không
gian nhỏ hẹp kia thành hoạt trường của mọi thứ hỷ nộ,
yêu ghét trong cả cái xã hội và thế giới bao la và vô cùng
phức tạp ấy. Cũng vậy, Bồ tát không chứng nhập thật
tướng thì không thể diễn thuyết thật tướng.
2.
Biểu tượng nghệ thuật
Một
cách nào đó, chúng ta có thể nhìn mọi sự biến trong Duy-ma-cật
như những tình tiết trong các màn kịch. Nhưng đây là bản
kịch câm. Vì tận cùng ngôn ngữ và biểu tượng ở trong
đó là sự im lặng. Mỗi khán giả hay thính giả, tức mỗi
độc giả của Duy-ma-cật, tự mình chiêm nghiệm, và tự minh
thuyết minh lấy. Chính vì vậy mà có người nhìn lên sân
khấu, thấy vị đại trí như là kẻ ngu; thấy vị đại biện
tài như một gã nói lắp.
Vậy
thì, trong tận cùng tự thể của nó, biểu tượng là gì?
Đó là một câu hỏi triết lý, yêu cầu một định nghĩa
bản thể luận. Các nhà luận giải Duy-ma-cật sẽ có xu hướng
làm như thế. Nhưng nếu chúng ta nói Bồ tát đạo của Duy-ma-cật
là hành vi của một con người giữa đời thường, trong tương
quan liên đới với toàn thể xã hội; thì các biểu tượng
là những tín hiệu truyền thông. Như các Thiền sư thường
nói: Một cái nhướng mi, một cái nhăn mặt, thảy đều là
Phật sự. Vì nó làm cho người này hiểu được tâm tư của
người kia.
Thế
giới trong Duy-ma-cật được thâm nhập cùng lúc bằng hai phương
tiện gần gũi nhất trong đời thường; đó là ngôn ngữ và
biểu tượng. Có thế giới của ngôn ngữ. Và có thế giới
của biểu tượng.
Qua
suốt ba chương trước, Duy-ma-cật dẫn vào thế giới ngôn
ngữ qua nhiều tầng bậc khác nhau. Ông đi từ ngôn ngữ giao
tiếp thường nhật, trong kinh nghiệm thưòng nhật, để nhận
thức trong tự thể của thân thể mong manh đầy bịnh tật
này là sự hiện hữu của Pháp thân mầu nhiệm.[1] Nhưng ông
không mô tả Pháp thân mầu nhiệm như thế nào, mà chỉ nói
bằng ngôn ngữ của một người bịnh than phiền về thân
thể bịnh tật của mình, và ước mơ một thân thể không
bịnh tật. Rồi cũng bằng ngôn ngữ ấy, trong bình diện cao
hơn, vì kinh nghiệm về bản chất của tồn tại thâm sâu
hơn, ông dẫn đạo siêu việt tam thừa, vượt qua các Thanh
văn địa[2] và Bồ tát địa.[3] Cho đến lúc hội ngộ với
Văn-thù, ngôn ngữ càng lúc càng trở nên mâu thuẫn, chứa
đầy nghịch lý, cho tới lúc trở thành vô ngôn.[4] Thực tại
bấy giờ được trình bày bằng hình ảnh biểu tượng. Đấy
là lúc cần phải tư duy về thế giới bằng hình ảnh, chứ
không bằng những khái niệm nữa. Nhưng đấy sẽ là những
hình ảnh kỳ quặc, khó tìm thấy trong đời thường. Cũng
có khi họa sỹ vẽ hình ảnh thế giới sự vật bằng những
đường nét gãy khúc, méo mó. Nhưng người thưởng ngoạn
biết rằng cái đó còn thực hơn những đường nét ngay thẳng
mà mọi người quen thấy hằng ngày.
Bằng
ngôn ngữ của thi ca, bằng hình ảnh của hội họa, mà ẩn
tình u uẩn, những khát vọng thầm kín của con người được
bộc lộ một cách trung thực. Cũng vậy, bằng ngôn ngữ và
biểu tượng, xuất phát chỗ chứng thật tướng và thuyết
thật tướng, nhà đại nghệ sỹ Duy-ma-cật đã phơi mở tất
cả kho tàng huyền diệu vô biên của thế giới cho những
ai muốn thấy, muốn biết.
II.
QUAN HỆ NHÂN SINH
1.
Ái ngữ
Văn-thù
phụng chỉ đi thăm bịnh Duy-ma-cật. Các Thanh văn và Bồ tát
đều nghĩ “Sẽ có những luận giải về pháp vi diệu.”
Tất cả đều muốn được nghe, nên cùng đi theo Văn-thù.
Người
luận giải Duy-ma-cật sẽ có xu hướng thăng hoa ngôn ngữ
luận đạo của hai vị đại sỹ, mà không quan tâm đến một
khía cạnh “rất người” trong cuộc hội ngộ phi thường
này. Bởi vì nhân cách siêu việt của hai vị, vì trí tuệ
vô biên, ngôn ngữ kỳ diệu của họ, che lấp hình ảnh đời
thường, như ánh sáng mặt trời làm khuất đi hằng tỉ tinh
tú.
Nằm
trên giường bịnh, Duy-ma-cật tự hỏi: “Chẳng lẽ Thế
tôn đại từ không có lời thăm hỏi?” Không biết ông bịnh
thật, hay bịnh giả. Nhưng bậc đại sỹ thông đạt pháp
tướng, biện tài vô ngại, lại cũng cần những cuộc thăm
hỏi, những lời an ủi rất người thường ấy chăng?
Không
nên chỉ một mực đi vào thế giới của Duy-ma-cật bằng
ngôn ngữ và hình tượng siêu nghiệm. Tuy Duy-ma-cật hàm chứa
rất nhiều thứ như vậy. Nếu không, người học Duy-ma-cật
tự huấn luyện mình trở thành người hý luận suông. Không
ai có thể cầm quả địa cầu này trong tay để ném bay qua
khỏi chòm Liệp hộ trên vòm xích đạo kia như Duy-ma-cật
được tưởng tượng là đã có thể làm, thì cũng không ai
có thể nói năng như Duy-ma-cật mà không trở thành người
nói càn. Cho nên, chúng ta nên nhìn sự việc Văn-thù thăm bịnh
Duy-ma-cật qua hình ảnh thân thuộc, gần gũi hơn. Như là chuyện
Xá-lợi-phất đi thăm bịnh Cấp Cô Độc.[5]
Vị
trưởng giàu sang nhất nước này tới lúc bịnh trầm trọng,
nằm liệt giường, đau nhức tưởng không còn có thể chịu
đựng. Khi ấy, ông nghĩ đến nguồn an ủi. Ông cho người
đi thỉnh Xá-lợi-phất đến thăm bịnh. Vì bịnh ông là bịnh
thật của một con người thật, nên ông cần nguồn an ủi
thật, bằng những lời chân thành và cũng rất thật. Xá-lợi-phất
không diễn giải pháp tướng hay pháp tính vi diệu; mà đơn
giản chỉ củng cố niềm tin của Cấp Cô Độc trên đời
sống thanh tịnh của mình. Sau bài pháp, bịnh của Cấp Cô
Độc vẫn không nhẹ hơn, nhưng tâm của ông tràn đầy hỷ
lạc. Thân bịnh, nhưng tâm không bịnh.
Cũng
trong bối cảnh này, nếu thay vì Xá-lời-phất và Cấp Cô
Độc, ta nhìn thấy Văn-thù và Duy-ma-cật, thì sẽ thấy ý
nghĩa Phật pháp trong quan hệ nhân sinh, nhìn từ cả hai phía,
hiện thực và siêu thực.
Sinh
lão bịnh tử, là quy luật. Nhưng sự chiếu cố và cần được
chiếu cố của người bịnh, là mối ràng buộc giữa người
và người trong quan hệ nhân sinh. Bồ tát hành bốn nhiếp
sự, để giữ vững cương thường của quan hệ ấy. Hoăc
thăm viếng chào hỏi người bằng ái ngữ, theo nghi thức thế
gian; hoặc thuận theo chánh pháp mà an ủi, khích lệ bằng
ái ngữ.[6] Khi có người sầu khổ, vì tai nạn xảy cho
thân thích, Bồ tát hành ái ngữ, đến thăm viếng và an ủi,
giảng thuyết đạo lý để dập tắt ưu sầu ấy. Cũng vậy,
khi người sầu khổ vì tai nạn cho địa vị và tài sản,
Bồ tát cũng đến an ủi bằng ái ngữ.[7]
Như
vậy, sự thăm viếng, an ủi và khích lệ, để nâng đỡ tinh
thần lẫn nhau, theo lề thói xã giao của người đời, không
chỉ là lề thói suông, mà trong sự nghiệp của Bồ tát, nó
trở thành phận sự, một công hạnh tu tập trong bốn nhiếp
sự, chứ không đơn giản vì mọi người đều làm thế nên
ta cũng làm theo.[8]
2.
Vãng lai
Vãng
lai, hoặc khứ lai, cùng ý nghĩa. Trong các loại ngôn ngữ,
tuy cách diễn đạt có khác nhau, nhưng mối quan hệ nhân sinh
luôn luôn hàm ngụ khái niệm vãng lai; lui tới thăm viếng
nhau. Trong các kinh luận, không dùng từ vãng lai, mà dùng từ
khứ lai. Kinh Đại bát nhã[9] nói: “Như lai chân như không
đến, không đi; Thiện Hiện chân như không đến, không đi.
Cho nên, Thiện Hiện là Tùy sinh của Như lai.” Kinh Hoa nghiêm
(Nhập pháp giới), Thiện Tài hỏi Di-lặc: “Thánh giả từ
bao xa đến?”[10] Câu hỏi cũng rất thường tình, nhưng trả
lời của Di-lặc thì không thường tình: “Chưa đến, đang
đi, đã đi.”[11] Rồi Ngài giải thích: “Sự đi không loạn
đông, không an trú, là sự đi của các Bồ tát... Sự đi không
sinh, không diệt,...không đoạn, không thường, là sự đi của
Bồ tát.”[12]
Duy-ma-cật
cũng chào Văn-thù tương tự: “Chào ngài Văn-thù. Bằng tướng
không đến mà đến. Bằng tướng không đi mà đi.” Văn-thù
trả lời: “Thật vậy, đã đến thì không đến. Đã đi
thì không đi.”
Có
cái gì rất bất thường trong sự chào hỏi giao tiếp của
các con người siêu việt này. Nhưng trong những lời lẽ bất
thường ấy hàm chứa ý nghĩa rất thường, làm sáng lên tính
cách giao tiếp thâm tình mà ngôn ngữ quán lệ không thể nói.
Khi
Phật trờ về Xá-vệ sau một thời gian dài đi xa, cả bốn
chúng đệ tử đều đến để thăm viếng, chiêm ngưõng. Riêng
Tu-bồ-đề vẫn ngồi một mình trong hang đá khâu vá y.[13]
Không ai có thể nói là Tu-bồ-đề vô tình. Phật vẫn thường
tán thán Tu-bồ-đề là vị Thanh văn bậc nhất đắc vô tránh
tam-muội, bậc nhất giải Không.
Thế
nhưng, khi Vakkali bịnh nặng, gần qua đời, Phật tự thân
đến thăm bịnh. Phật đi thăm đệ tử, dù có nói rằng đấng
Chí tôn đi thăm một con người hèn mọn, thì đó cũng là
sự thường. Tuy vậy, lời thăm hỏi Phật bấy giờ không
là sự thường: “Này Vakkali, ích gì mà muốn thấy thân thể
hôi thối này của Ta. Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.”[14]
Vậy
thì, giữa các bậc đại sỹ, không thể đem quy ước ngôn
ngữ quán lệ mà lượng giá được.
Dù
sao, khởi đầu Bồ tát đạo, như Văn-thù đã giáo giới Thiện
Tài, là thân cận thiện tri thức, bằng hữu tốt. Cho nên,
bước đầu tiên trên Thánh đạo, nhập sơ Hoan hỉ địa,
bước đầu hoan hỷ, Bồ tát hành bố thí, đồng thời tầm
cầu và thân cận thiện tri thức.[15] Đó là nền tảng của
công hạnh tu tập. Qua đến bước thứ hai, nhập Ly cấu địa,
tẩy sạch cáu bẩn, trong khi nghiêm trì tịnh giới để thành
tựu phẩm chất đạo đức, Bồ tát vẫn tầm cầu thiện
tri thức. Nhưng còn thêm nữa, bấy giờ Bồ tát cũng trở
thành người bạn không cần mời thỉnh của mọi chúng sinh.[16]
Bồ tát đến với bất cứ chúng sinh nào cần giúp đỡ, cần
bảo vệ; không đợi thỉnh cầu. Vì Bồ tát tu tập bốn nhiếp
sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
Quan
hệ nhân sinh, như vậy, trong ý nghĩa đó, là căn bản khởi
đầu của Bồ tát đạo. Nhưng không để cho quan hệ ấy trở
thành hệ lụy, Bồ tát cần trang bị một nền tảng nhận
thức tính Không sâu sắc. Cho nên, khi vừa gặp Văn-thù, vẫn
là sự chào hỏi bình thường, mà ngôn ngữ chào hỏi đã
hàm ngụ tính Không: “Đến mà không đến.” Thật vậy,
tự tính của pháp vốn không đến, không đi. Đến đi, chỉ
là tùy thuận duyên khởi. Trung luận của Long Thọ đã dành
nguyên một chương luận về sự đi và không đi.[17]
3.
Hỏi thăm bịnh
Duyên
khởi tức Không. Bồ tát tiếp đãi thiện tri thức bằng chân
tình của tính Không. Cho nên, để chuẩn bị đón tiếp Văn-thù,
cùng các chúng Thanh văn và Bồ tát, Duy-ma-cật dọn sạch trống
không nhà cửa; không thân thích, không người giúp đỡ. Một
mình trơ trọi giữa Chân Không, nhưng sung mãn cả đại thiên
thế giới.
Sau
khi chuyển lời thăm hỏi ân cần của Thế tôn, Văn-thù hỏi
Duy-ma-cật những điều như tất cả mọi người thăm bịnh
khác thường hỏi bịnh nhân. Hỏi về nguồn gốc của bịnh,
các triệu chứng, sự điều trị, và người chăm sóc bịnh.
Duy-ma-cật
nói về nguồn góc bịnh của mình: “Vô minh và hữu ái là
gốc bịnh của tôi.”[18] Nói như thế thì, trừ A-la-hán và
các Đại Bồ tát đã chứng đắc Niết-bàn, ái tận giải
thoát, còn lại không một ai là không bịnh. Vì cả hai thứ,
hữu ái hay khát vọng tồn tại,[19] và vô minh tức là động
lực do bởi bản năng mù quáng ấy, đều là những chất liệu
cho đời sống hiện tại và tương lai, nhưng khởi thủy của
chúng thì không thể biết được.[20]
Ông
nói, “Bịnh của Bồ tát phát xuất từ tâm đại bi.” Cũng
như bịnh của bố mẹ phát xuất từ tình yêu đối với quý
tử.
Thành
ra, bịnh nguyên thì giả, nhưng bịnh chứng thì thật. Thật
hay giả còn tùy theo quá trình thăng tiến của Bồ tát. Trong
a-tăng-kỳ kiếp thứ nhất, Bồ tát đang thuộc hạng phàm
phu, với tất cả tham, sân, si còn nguyên vẹn, và cũng chưa
có năng lực thiền định đáng kể, cho nên bịnh nguyên và
bịnh chứng đều thật. Bồ tát bấy giờ cũng thống khổ
như bất cứ chúng sinh nào khác.
Trong
a-tăng-kỳ kiếp thứ hai, Bồ tát thực sự bước vào Thánh
đạo. Tuy chưa đoạn trừ triệt để tham, sân, si, chưa chứng
đắc ái tận giải thoát. Nhưng tâm đại bi đã phát triển,
và cũng đã có những chứng đắc thiền định đáng kể.
Cho nên, bịnh nguyên và bịnh chứng vừa thật vừa giả.
Từ
a-tăng-kỳ kiếp thứ ba, Bồ tát trên địa thứ tám, Bất
động địa trở lên, như các Đại A-la-hán ái tận giải
thoát, chứng đắc câu phần giải thoát[21] ; đã dứt sạch
tất cả hữu ái; đã chứng tất cả thiền định siêu việt
thế gian; với tâm đại từ đại bi rộng lớn như hư không.
Bấy giờ, Bồ tát đã hoàn toàn miễn dịch với tất cả
mọi thứ bịnh. Bịnh nguyên thì không, nhưng triệu chứng
bịnh là thật, vì chúng sinh khổ thật.
4.
Không gian bịnh
Bịnh
phát sinh do sự không điều hoà của bốn đại chủng, nội
thân và ngoại giới. Nói cách khác, tác nhân của bịnh là
căn thân này, tức thân làm sở y cho các căn để nhận thức
tiếp thu ngoại giới này, và khí thế gian tức môi trường
mà trong đó căn thân tồn tại.
Thoạt
kỳ thủy, Kinh nói, loài người chỉ có ba chứng bịnh thôi:
ước muốn, đói, và già.[22] Về sau, nhiều chứng bịnh khác
phát sinh, gần cả trăm chứng. Ngày nay, tất nhiên còn nhiều
hơn thế nữa. Tác nhân của bịnh, theo chiều hướng tiến
hóa như vậy, phần lớn do từ phía xã hội, trong sự giao
tiếp giới hạn và không giới hạn của con người với môi
trường chung quanh.
Sự
mất quân bình, không điều hoà của bốn đại, và những
tác nhân xấu từ phía xã hội mà con người không chủ động,
và cũng không có nhận thức chính xác về các tác nhân đó,
tất cả được gọi là Ma và Ngoại đạo. Sống giữa đời
thường, Bồ tát luôn tiếp xúc với nguồn bịnh như vậy,
bịnh tật là hiện tượng tất nhiên. Khi ấy, gia nhân để
chăm sóc bịnh cho Bồ tát không ai khác hơn là Ma và Ngoại
đạo.
Bốn
đại do duyên khởi mà tồn tại, cho nên tự thể của chúng
là rỗng không. Sự sinh và diệt của bốn đại là những
hiện tượng vận hành trong tâm tư phân biệt vọng tưởng
của chúng sinh. Từ đó, không gian bịnh lý của Bồ tát là
một gian rỗng không. Các chứng bịnh của thế gian có thể
được ngăn ngừa và giảm thiểu tùy theo trình độ nhận
thức của chúng sinh sống trong đó.
III.
ĐIỀU TRỊ
1.
Quán sát bịnh trạng
Vô
minh và hữu ái là nguồn gốc của bịnh, của hết thảy mọi
thứ bịnh. Bịnh tâm và luôn cả bịnh thân. Sự mất quân
bình của tứ đại là hiện tượng sinh diệt biến thiên bất
định của các hành. Bịnh chứng xuất hiện như là phản
ứng tự vệ của căn bản thức để tìm cách khôi phục trạng
thái quân bình.
Căn
bản thức là kho tàng tích lũy tất cả mọi kinh nghiệm, ký
ức quá khứ. Chúng tồn tại như những hạt giống, hay nói
chính xác, như là công năng để, nếu đủ điều kiện, sẽ
làm tái hiện những nhận thức và hành vi đã làm trong quá
khứ, và cũng trở thành động lực cho các hành vi và nhận
thức mới. Theo định luật vô thường, chúng không tồn tại
như những hạt giống nằm bất động trong kho chờ ngày mang
đi gieo. Chúng tồn tại trong chuỗi vận hành liên tục. Tự
thể, hay bản thân của mỗi công năng hay chủng tử ấy, vừa
sinh khởi liền hủy diệt ngay. “Hết thảy các hành đều
vô thường. Chúng khởi lên, liền chìm xuống.” Công năng
trước diệt làm điều kiện xuất hiện cho công năng sau.
Như quả lắc đồng hồ, tự nó dao động, nếu thế lực
tác động ban đầu đủ lớn. Như vậy, chính tự thể của
mỗi thực thể công năng, trong chuỗi sinh diệt liên tục của
nó, tạo thành hình ảnh một dòng chảy liên tục. Đó là
dòng tương tục của sinh mệnh, được gọi tên là căn bản
thức.
Căn
bản thức cần thức ăn, nghĩa là cần năng lượng, để hoạt
động. Trên căn bản đó, tất cả mọi sinh vật đều cần
thức ăn để tồn tại. Kinh nói, “Tất cả chúng sinh do thức
ăn mà tồn tại.”[23] Con mắt cần tiếp thu sắc như là thức
ăn của nó. Nếu không đủ thức ăn, phần tịnh sắc căn
sẽ huỷ diệt dần, và sau đó thức mất sở y nên không hiện
khởi để hoạt động. Mắt trở thành mù. Cho đến ý thức
cũng vậy.
Mọi
sinh vật đều cần thực ăn vật chất.[24] Tuy vậy, cũng có
thể trong một thời gian không cần đến loại này. Như những
người nhập định. Nhưng, tất cả chúng sinh luôn luôn đều
cần thức ăn của thức, đó là các phiền não, mà trong đó,
thức ăn chính là vô minh và hữu ái. Thức ăn đó là dưỡng
chất để tồn tại. Như mọi thứ thức ăn, vừa là dưỡng
chất, và đồng thời cũng là nguồn bịnh.
Trên
cở sở nhận thức đó, Bồ tát làm y sỹ điều trị mọi
chứng bịnh cho chúng sinh. Cả thân bịnh và tâm bịnh. Tất
nhiên, sự điều trị bịnh không chỉ là chẩn mạch và cho
thuốc. Tâm lý bịnh nhân là yếu tố quyết định. Buông lung
các căn mà không tự chế, để chúng tiếp thu thức ăn mà
không kiểm soát, như trẻ nhỏ ăn bất cứ thứ gì nắm được
trong lòng tay của nó, như thế thì không có y sỹ tài ba nào
có thể điều trị nổi.
Bồ
tát quan sát bịnh trạng như vậy, để có thể chăm sóc bịnh
nhân, làm người điều dưỡng cho thế gian.
Duy-ma-cật
nói: bịnh của ông không hình tướng; không phải thuộc thân,
không phải thuộc tâm; không thuộc bốn đại. Nhận định
này có thể hiểu trên cơ sở nhận thức về lý tính duyên
khởi. Bốn đại không tồn tại như là những tự thể thực
hữu. Chúng tồn tại trong quan hệ duyên khởi. Trạng thái
quân bình hay không quân bình, điều hòa hay không điều hòa
giữa chúng, là hiện tượng tất yếu của sinh diệt vô thường.
Đó không phài là bịnh hay phi bịnh. Sự xuất hiện của những
trạng thái được nói là bịnh cũng như hoa đốm xuất hiện
giữa hư không. Con mắt có thể nhìn thấy đấy, nhưng tự
thể của những hoa đốm ấy là vô tướng. Điều này rất
có ý nghĩa để Bồ tát quan sát bịnh, và cũng biết cách
thích hợp để điều trị bịnh.
2.
Khán hộ
Trong
giao tế xã hội, sự thăm viếng bịnh nhân như là phận sự
của mọi người. Bịnh nhân rất cần những thăm viếng thân
tình để nâng đỡ tinh thần. Nếu tinh thần bịnh nhân sụp
đỗ, trên đời này không có tiên dược nào có thể chữa
lành.[25]
Nói
là tinh thần, theo cách nói thông thường, nhưng thưc sự đó
là một tổng thể gồm cả thân, tâm và ngoại giới. Tức
là mối quan hệ, y tựa nhau của thức và danh, sắc. Cả ba
y tựa nhau như ba cọng lau, tựa nhau mà đứng. Rút đi một
cọng, hai cọng kia cũng ngã liền.
Nguyên
tắc điều dưỡng của Bồ tát đối với bịnh nhân, là y
trên nhận thức rằng, “Tất cả chúng sinh đều do thức
ăn mà tồn tại.” Bồ tát mang thức ăn đến cho người bịnh.
Thức ăn thích hợp và cần thiết cho sự tồn tại và thăng
hoa.
Ở
đây không phải là thiên luận về y học, mà chỉ là sự
minh giải về mối quan tâm của Bồ tát đối với chúng sinh.
Trong đó, vô minh và hữu ái được coi là nguồn gốc của
mọi thứ bịnh tật, nên Bồ tát đến với chúng sinh như
là y sĩ hay người điều dưỡng đến với bịnh nhân. Nói
rõ hơn, đây đang nói về sự việc Văn-thù thăm bịnh Duy-ma-cật.
Duy-ma-cật
hỏi Văn-thù: Bồ tát nên an ủi một Bồ tát khác đang bịnh
như thế nào. Vì lúc này Văn-thù đang là người thăm bịnh,
nên trả lời của Văn-thù đề cập những việc Bồ tát cần
nói và làm khi chăm sóc người bịnh.
Người
bịnh yếu ớt, không thể tự mình làm cho mình những việc
cần thiết, nên cần đến người khác giúp đỡ.[26] Sự giúp
đỡ ấy trước hết là dành cho thân. Nhưng còn có tình trạng
yếu đuối khác của bịnh nhân cũng rất cần hỗ trợ. Đó
là sự suy sụp của thân kéo theo sự suy sụp của tâm. Rồi
do ảnh hưởng hỗ tương, sự suy sụp của tâm khiến cho sự
suy sụp của thân càng trở nên tồi tệ.
Người
điều dưỡng chăm sóc thân thể của bịnh nhân thì phải
biết người bịnh nên ăn những gì, không nên ăn những gì;
nên làm những gì và không nên làm những gì. Cũng vậy, Bồ
tát đến với chúng sinh như người điều dưỡng biết những
gì nên nói và không nên nói.[27]
Trả
lởi của Văn-thù gồm có hai phần: thứ nhất, những nhận
thức mà người bịnh cần có để chiến thắng bịnh; và
thứ hai, những suy nghĩ của người bịnh về liên hệ giữa
mình và mọi người để tăng cường khả năng kham nhẫn.
Những
điều này có ý nghĩa rất quan trọng để hiểu Phật pháp.
Duy nhất chỉ có nhận thức thức chân chính về hiện thực
mới cứu rỗi con người, cả thân và tâm. Không có năng lực
siêu nhiên nào khác ngoài nhận thức của con người có thể
can thiệp vào định mệnh của nó. Khi bịnh, chính là
lúc con người đối diện với thực tại mong manh, như cảm
nhận lớp băng mỏng dưới chân sắp rã, để chôn vùi nó
vào hố thẳm diệt vong. Nhưng mọi phương pháp chữa trị
của thế gian đều cố tình làm cho con người quên đi hiện
thực đó. Có thể bác sỹ chuyền dung dịch pha màu đỏ khiến
bịnh nhân có ảo tưởng mình đang được chuyền máu để
chữa trị. Nhưng thực tế thì bác sỹ đang đếm giật lùi
thời gian sống của con bịnh. Bịnh nhân sống và chết trong
ảo tưởng, phó mặc số mệnh trong tay bác sỹ. Bác sỹ phó
mặc định mệnh của con bịnh cho thế lực vô hình, mù quáng
nào đó. Con bịnh này sẽ đi về đâu: thiên đường, địa
ngục, hay trở về với cát bụi vô tình?
Vì
vậy, trong phần thứ nhất của nhiệm vụ khán hộ hay điều
dưỡng, Văn-thù nói đến năm điều, mà người bịnh hay không
bịnh đều có thể nhận thức dễ dàng. Nhưng thực chứng
những điều đó, không dễ dàng. Trong thời Phật, rất nhiều
tỳ kheo chỉ khi nằm liệt trên giường bịnh, ý thức thời
gian sắp tận cùng, lúc ấy mới sẵn sàng nhận thức những
giá trị đã học từ trước từ kinh điển.
Phật
thường đến thăm bịnh các tỳ kheo như vậy. Một cách đại
thể, Ngài hỏi tỳ kheo bịnh có điều gì đáng hối hận
không, về mặt thọ trì giới luật. Rồi Phật giảng: sắc
là gì; thế nào là vô thường, khổ, vô ngã. Những điều
này có thể tỳ kheo ấy nghe rất nhiều lần. Vì được
thường xuyên nhắc nhở trong các kinh điển. Nhưng cho đến
lúc này, sau khi nghe lần chót, vị ấy mới thực sự chứng
ngộ. Rồi vị ấy qua đời với tâm tư an lạc, biết rõ và
thấy rõ mình đang đi về đâu.
Năm
điều giới thiệu của Văn-thù cũng là nội dung các điều
giáo giới của Phật cho các tỳ kheo bịnh. Văn-thù nói với
Duy-ma-cật, Bồ tát thăm bịnh nên hỗ trợ người bịnh tự
mình thấu rõ năm điều:
1.
Cảm nhận một cách hiện thực tính vô thường của thân,
nhưng không vì vậy mà ghê tởm và muốn từ bỏ thân để
tìm cách tự huỷ. Nhận thức tồn tại trên cả hai phương
diện, tích cực và tiêu cực.
2.
Vô thường, biến dịch là qui luật tất nhiên của tồn tại.
Nhưng khi qui luật ấy tác động trên thân thể vượt quá
khả năng chịu đựng thông thường của người; bịnh
phát sinh. Cho nên, vô thường dẫn đến khổ. Nhận thức như
vậy khiến người bịnh chấp nhận bịnh khổ, đau nhức,
như là hiện tượng tất nhiên của quy luật tồn tại.
3.
Như vậy, mọi hiện tượng xuất hiện hay biến mất do tương
quan, trong đó không có cái gì là chủ tể. Cho nên, không có
một cái ta chủ tể để ước muốn rằng thân thể ta sẽ
như thế này hay như thế kia; thân thể của ta sẽ như thế
này, sẽ như thế kia.
4.
Vô ngã, không tồn tại một cái ta chủ thể, tức không tự
thể. Thực tại này trống rỗng, không tự nó tồn tại. Có
cái này, vì có cái kia. Tồn tại của tự thân cũng vậy,
là không, là tịch tĩnh.
5.
Không tồn tại tự ngã. Nghĩa là, có nghiệp đã được tạo
tác, và có kết quả của nghiệp đã được tạo tác ấy,
nhưng không có con người tạo tác, không có con người lãnh
thọ. Người bịnh tư duy như vậy khi nghĩ về những gì mình
đã làm trong quá khứ. Nhưng nhận rõ tự tính của tội nghiệp,
để chấp nhận nghiệp như là quá trình vận chuyển tự nhiên.
Nhận thức như vậy, với tâm tư an lạc, là yếu tố để
chiến thắng bịnh.
Còn
một phương diện khác nữa mà người nuôi bịnh cần hỗ
trợ người bịnh, để có thể kham nhẫn những đau nhức
cực kỳ xảy ra cho thân. Văn-thù nói, Bồ tát cần hỗ trọ
người bịnh bằng năm điều khuyên:
1.
Tự thân bịnh khổ, nghĩ đên những người khác; mong tất
cả đều không bịnh khổ.
2.
Không chỉ hiện tại mới chịu cái khổ này. Trong vô lượng
quá khứ cũng đã từng phải chịu như vậy.
3.
Nghĩ về những điều thiện mà mình đã làm cho người khác.
Nhiều hay ít, điều này tất nhiên có.
4.
Không sinh buồn phiền, không sợ hãi mà luôn khởi tâm tinh
tấn dũng mãnh.
5.
Phát đại nguyện muốn thành y vương để chữa trị bịnh
khổ cho mọi người.
Lúc
bấy giờ người bịnh đang được người khác chăm sóc, nên
cảm nhận được tình yêu ấy. Từ tình yêu mà người khác
dành cho mình, người bịnh làm trổi dậy trong tâm tư tình
yêu của mình với những người khác, cho đến những người
cùng chịu thống khổ. Đồng bịnh tương liên, đó là cách
ngôn của thế tục.
Nói
tóm lại, bằng đại trí và đại bi của mình, Bồ tát khiến
cho người bịnh cũng phát khởi bi và và trí. Y sỹ cần có
nhận thức chính xác về căn bịnh, mà cũng cần có tình yêu
chân thật đối với con bịnh.
Nhận
thức chân chính về thế giới hiện thực mà ta đang tồn
tại, đồng thời làm trổi dậy tình yêu thương đối với
mọi người, đó là phương thuốc mà người bịnh tự mình
bào chế, với sự hỗ trợ của Bồ tát, để khống chế
hai nguồn bịnh là vô minh và hữu ái.
3.
Tự điều phục
Hỗ
trợ của thầy thuốc, và sự chăm sóc của người khán hộ,
là cần thiết cho bịnh nhân trong quá trình điều trị. Nhưng
đấy chỉ là sự hỗ trợ bên ngoài. Yếu tố quyết định
trong quá trình điều trị vẫn thuộc về bịnh nhân. Nếu
không, bịnh vẫn có nguy cơ tái phát và có thể nguy kịch
hơn nữa. Cho nên, Văn-thù hỏi Duy-ma-cật, bấy giờ đang trong
vị thế người bịnh: “Bồ tát đang bịnh nên tự chế tâm
như thế nào?”
Không
bịnh, vô thượng an ổn, Niết-bàn, đó là cứu cánh mà Thanh
văn hay Bồ tát đều nhắm đạt đến.[28] Nhưng Thanh văn ước
nguyện thành tựu mục đích này trong hiện tại. Trong khi Bồ
tát có thể nhiều đến vô lượng kiếp nữa mới đạt cứu
cánh này. Do vậy, phương pháp tự điều phục không giống
nhau.[29]
Sự
tự chế ngự tâm để chiến thắng bịnh tật của Bồ tát
không phải chỉ là biện pháp trấn áp bịnh trong đời hiện
tại, mà đó là quá trinh tu dưỡng lâu dài. Quá trình đó
vượt qua các địa vị phàm phu, Thanh văn, cho đến Bồ tát.
Trước hết, y trên thân, vốn tụ hợp của năm thủ uẩn,
được hợp thành với bốn đại. Thân ấy là sở y của bịnh.
Diệt trừ phiền não chấp thủ đối với năm thủ uẩn, đạt
Niết-bàn vô sở y, thân này là tối hậu, không còn tái sinh
đời sau. A-la-hán ở đó nhập Niết-bàn, vĩnh viễn chiến
thắng bịnh. Trên địa thứ bảy trong hàng Thập địa, Bồ
tát cũng chứng Niết-bàn như A-la-hán. Nhưng vì tâm nguyện
đại bi, Bồ tát không nhập Niết-bàn khi thấy còn chúng sinh
cần hóa độ. Do đó, bằng nguyện ba-la-mật, Bồ tát sẽ
tái sinh nhiều đời nữa. Như vậy, còn bịnh tật cần phải
đối trị nữa. Chỉ khi nào ngồi trên Bồ-đề đạo tràng,
chiến thắng Ma quân, bấy giờ mới có thể nói vĩnh viễn
chiến thắng bịnh.
Do
ý nghĩa đó, trình bày của Duy-ma-cật về sự tự điều phục
tâm của Bồ tát thọ bịnh được chia làm ba phần.
1.
Đoạn thứ nhất, chế ngự tâm phàm phu. Y trên thân mà
quán sát theo chuỗi liên tục, cho đến khi phát sinh nhận thức
thân không, bịnh không, chứng đạt chính trí của Thanh văn.
Người bịnh biết rằng bịnh phát sinh là do sự không điều
hòa, mất quân bình của bốn đại. Trên cơ sở đó, người
bịnh quán sát thực tính của bốn đại. Bốn đại tụ tập
chỉ là sự giả hợp. Chúng sinh diệt liên tục không gián
đoạn. Điều hòa hay không điều hoà chỉ là hiện tượng
tự nhiên trong dòng sinh diệt của các pháp. Từ nhận thức
về dòng sinh diệt của pháp, người bịnh tiến tới quán
sát ý nghĩa tồn tại của tự ngã. Ý niệm về sự tồn tại
của cái tôi và những cái của tôi là nguồn gốc cho vọng
tưởng. Để diệt trừ, Bồ tát quán sát, cái gì là trong,
cái gì là ngoài, để hình thành ý niệm ta và của ta?[30]
Cho tới lúc, không có gì là trong thân hay ngoài thân, cho nên
tự ngã và Niết-bàn đồng đẳng. Do đó, tự tính của bịnh
là không. Tất cả bình đẳng như hư không, không tự tính,
do đó thực chất không có ngoại giới để thức vin vào mà
hiện khởi vọng tưởng; cũng không tồn tại nội giới để
thức y tựa mà hiện khởi. Không sở y, không sở duyên, nên
không sở đắc. Đó là chính trí của Thanh văn mà Bồ tát
trong giai đoạn sơ nghiệp cần thành tựu để chiến thắng
bịnh. Duy-ma-cật kết luận đoạn trình bày này: “Vì để
cắt đứt cái khổ già, bịnh, chết, là Bồ-đề của Bồ
tát... Cũng như thắng được kẻ địch mới gọi là dũng;
cũng vậy, dứt trừ cùng lúc già, bịnh, chết, ấy mới là
Bồ tát.”
2.
Đoạn thứ hai, siêu việt Nhị thừa. Bằng chính trí
mà Thanh văn nhận thấy bản chất chân thật của các pháp,
do đó diệt tận mọi nguồn gốc của đau khổ; tất nhiên
luôn cả nguồn gốc bịnh. Nhưng, như Duy-ma-cật đã nói với
Văn-thù trên kia, vì chúng sinh bịnh nên Bồ tát bịnh. Do đó,
đã diệt trừ được gốc khổ, Thanh văn có thể an ổn nhập
Niết-bàn. Nhưng Bồ tát cần khởi tâm đại bi, khi còn có
chúng sinh bịnh cần chăm sóc, cần chửa trị.
Tâm
đại bi khởi lên từ chỗ rung động chân thật trước thống
khổ của người khác. Đại bi như vậy do ái và kiến mà
phát khởi. Đây là nói từ Sơ nghiệp Bồ tát, khi mới bắt
đầu tu tập Thánh đạo, nhận thức được nổi khổ của
người do suy diễn từ nổi khổ của mình. Đó chưa phải
là chứng nghiệm sự khổ toàn diện.
Thật
vậy, Thanh văn khi chứng đắc chính trí là đã đoạn tận
ái và kiến do đã thấy Thánh đế. Sự thấy này một phần
là chứng nghiệm bản thân; phần khác là loại suy. Nhận thức
Thánh đế bằng kinh nghiệm hiện thực, y trên tự thân mà
chứng nghiệm, đó là do pháp trí về Thánh đế. Các Thánh
đế trong các giới địa khác, như Sắc và Vô sắc giới,
là điều mà tự thân của Thanh văn vốn được cấu tạo
bởi vật chất thuộc Dục giới, nên không thể thực chứng.
Nhận thức Thánh đế trong các giới địa ấy phải do loại
suy, tức bằng loại trí Thánh đế.[31] Giống như người bịnh
cảm thấy thương tưởng đến người khác, do vì đồng bịnh.
Nếu dị loại, không thể thông cảm được. Đó là tình yêu
có điều kiện. Là tâm đại bi còn bị giới hạn trong giới
địa hạn hẹp, chưa phải là tâm đại bi rộng lớn và bình
đẳng. Do ý nghĩa này mà nói tâm đại bi khởi lên bởi ái
kiến.
Ái
kiến là hệ phược. Thanh văn chứng đắc Niết-bàn không
còn hệ phược gì nữa. Đó là nhìn trong giới hạn cá thể.
Nếu nhận thức trong toàn thể chúng sinh, trong mối quan hệ
duyên khởi không cùng tận, thì sự chứng nhập Niết-bàn
của Thanh văn không phải không có quan hệ gì đến các chúng
sinh khác. Như y sỹ ở giữa các bịnh nhân. Ông vô nhiễm
đối với bịnh, nên thong dong, không bị các thứ bịnh tật
ràng buộc như bịnh nhân. Trong ý nghĩa cá nhân, y sỹ ấy
đã giải thoát tự tại. Nhưng việc ông bỏ đi, hay ở đó
với bịnh nhân, không phải không có liên hệ gì. Như vậy,
tuy bản thân là tự tại không ràng buộc, nhưng trong quan hệ
cộng đồng, y sỹ vẫn bị ràng buộc với bịnh nhân. Thanh
văn hay Đại Bồ tát đã chứng đắc Niết-bàn có thể nhập
Niết-bàn tùy ý. Nhưng Bồ tát nhận thức thấy rằng trong
pháp giới trùng trùng duyên khởi, ông vẫn còn ràng buộc
với thế gian này. Nói theo nghĩa nào, nhìn từ góc cạnh nào,
đó vẫn là hệ phược. Để giải thoát mình ra khỏi hệ
phược này, nhưng vẫn không bỏ rơi những chúng sinh cần
được chiếu cố, Bồ tát vận dụng sự tương thành và tương
tác của diệu huệ và phương tiện.[32]
Bằng
diệu huệ, Bồ tát nhận thức bản chất hư ảo của chúng
sinh, của thế giới, bịnh hay không bịnh. Nhưng bằng phương
tiện, không phải vì thấy vậy mà cho rằng thế gian này tồn
tại vô nghĩa, nên bỏ đi không chút đoái hoài. Bằng diệu
huệ Bồ tát tập thiền mà không còn tham đắm vị ngọt của
Thiền, nên không còn có chỗ nào trong ba cõi này để tái
sinh. Nhưng bằng phương tiện, do tâm đại bi rung động với
chúng sinh đang chìm ngập trong ba cõi ấy, Bồ tát trở lại.
Huệ và phương tiện, nếu nhận thức cá biệt, từ góc nhìn
riêng biệt, là hai thực tế mâu thuẫn nhau. Giống như y sỹ
chán ghét cái thế giới bịnh hoạn, kinh tởm với đám con
bịnh nhiều thói hư tật xấu đáng ghét, muốn bỏ đi; nhưng
vì phận sự ông phải ở lại. Đi và ở, thành mối xung đột
nội tâm. Chỉ khi nào trong ông có tình yêu thật sự với
đám con bịnh, nghĩa là đám con bịnh ấy chính là thân thích
ruột thích, hay ông có thể xem họ như vậy, thì ông có thể
ở lại với tâm trạng thóai mái, không hệ luỵ. Cũng thế,
khi diệu huệ và phương tiện hợp thành nhất thể trong tự
tâm của Bồ tát, khi ấy Bồ tát tái sinh trong thế gian mà
không do vì hệ phược nào cả.
Để
diễn giải rõ nhất thể của bi và trí này, Duy-ma-cật vận
dụng cặp từ phương tiện huệ, và huệ phương tiện. Phương
tiện huệ, là diệu huệ được tác thành bởi phương tiện.
Huệ phương tiện, là phương tiện được vận dụng trong
tương tác với diệu huệ.
3.
Song vận điều phục. Đây là giai đoạn từ địa thứ
tám[33] trở lên của các Bồ tát trong hàng thập địa, hay
của Thanh văn sau khi đã chuyển hướng tâm nguyện đến các
chúng sinh, tuy vẫn an trụ trong Niết-bàn mà không rời sinh
tử. Bấy giờ Bồ tát chế ngự tâm mình bằng trú xứ vô
trụ: không trụ Niết-bàn, không trụ sinh tử. Không trụ sinh
tử, vì đã giải thoát khỏi mọi hệ phược của khách trần
phiền não. Không phiền não, nên không còn tạo nghiệp. Không
còn tạo nghiệp, nên không thế lực gì lôi kéo để tái sinh
trong dòng xoáy sinh tử. Thanh văn và Bồ tát ở đây thực
sự đã chứng nhập Niết-bàn. Nhưng vì các ngài không an trú
trong Niết-bàn nên vẫn hiện thân trong ba cõi. Không bằng
thế lực lôi kéo của nghiệp, mà lưu chuyển theo tâm nguyện
đại bi.
Hiện
thân trong ba cõi, các ngài không khác với mọi chúng sinh khác.
Hoặc ở Dục giới hành các nghiệp phước thiện. Hoăc tu
tập các thiền để thị hiện trong các cõi Sắc và Vô sắc.
Hoặc tu các Bồ-đề phần, các phẩm trợ đạo, để hướng
dẫn các chúng sinh lần lượt chứng nhập Thánh đạo. Hoăc
thị hiện Thanh văn, hoặc thị hiện Độc giác, hoặc thị
hiện Bồ tát. Đó là sở hành vô trụ của Bồ tát. Bồ tát
quán sát như vậy để vĩnh viễn chiến thắng bịnh.
[1]
Chương ii. Phương tiện, hiện thân bệnh.
[2]
Chương iii. Chúng đệ tử.
[3]
Chương iv. Bồ tát.
[4]
Xem đoan sau, Chương ix. Pháp môn bất nhị.
[5]
Anāthapiṇḍikasuttam, S.v. 380. Sau đó, A-nan cũng đến thăm
bịnh Cấp Cô Độc, thuyết pháp và an ủi (S.iv. 387).
[6]
Du-già sư địa 43 (T30n1579,tr. 530a11): hai loại ái ngữ gọi
là “nhất thiết ái ngữ” trong bốn nhiếp sự.
[7]
Du-già sư địa 43 (T30n1579,tr. 530c03): 9 loại ái ngữ trong 4
nhiếp sự, vì an lạc cho đời này và đời sau.
[8]
Tạp A-hàm 40 (T02n0125,tr. 766c20): “Phật nói... Ta nay ở giữa
chư thiên và nhân loại, bước đi một mình, không bạn hữu.
Nhưng Ta có thể chăm sóc hết thảy mọi người bịnh, giúp
đỡ người không ai giúp đỡ, đem ánh sáng đến cho kể mù...”
[9]
Quyển 446 (T7n220,tr. 253b03)
[10]
Bản Phạn, Gaṇḍa (Vaidya, tr. 416): “kiyaddūrād ārya āgacchasi?”
[11]
Bản Phạn, dẫn thượng: anāgata-gati-gataḥ. Xem Ch.iv, cht. 27
trên. Hoa nghiêm bản 40 (T9n278,tr. 782c01): Bồ tát vô lai thú
菩薩無來趣, “Bồ tát không đến mà đi đến.” Trong đây
để rơi mất chữ gata: đã đi.
[12]
Dẫn thượng: bodhisattvānāṃ gatiḥ acalanāsthānagatiḥ... anutpādānirodhagatiḥ,
anucched’ āśāśvatagatiḥ. Hoa nghiêm bản 40 (T9n278,tr. 782c02):
“Không hành, không trụ mà đi đến... Không khởi, không y
mà đi đến. Không thường, không đoạn mà đi đến.”
[13]
Xem Ch.iii, cht. 20 đoạn trên.
[14]
Vakkali-suttam, S.iii. 120.
[15]
Hoa nghiêm bản 80 (T10n279,tr. 183a29)
[16]
Skt. sarvasattvānavadhīṣṭakalyamitrasya...; bản Phạn, Daśabhūmika,
đoạn này không có trong các bản Hán.
[17]
Trung luận, phẩm ii. Quán khứ lai. MK.ii. gatāgataparikiṣa.
[18]
Tham chiếu Pali, Suttanipāta, 530: anuvicca papañcanāmarūpaṃ ajjhattaṃ
bahiddhā ca rogamūlaṃ, “Biết rõ danh sắc hí luận, là gốc
rễ của bịnh nội và ngoại. Sớ giải (ii. 432) nói: imassa
nāmarūparogassa mūlaṃ avijjābhavataṇhādiṃ ... anuvicca, “hiểu
rõ vô minh và hữu ái các thứ là gốc rẽ của bịnh thuộc
danh (tâm bịnh) và sắc (thân bịnh).”
[19]
“Thế nào là sự tập khởi của khổ? Tham ái về tồn tại
tương lai, cùng có mặt với hỷ và tham, ước muốn nơi này
hay nơi kia, đó là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.” (Sammadiṭṭhi-suttam,
M.i. 48: Katamo cāvuso dukkhasamudayo? Yāyaṃ taṇhā ponabhavikā
nandī-rāga-sahagatā tatratatrābhinanīni seyyathidaṃ kāmataṇhā
bhavataṇhā vibhavataṇhā).
[20]
Trung A-hàm (51.kinh Bản tế, T01n0026,tr. 487b05).
[21]
A-la-hán bằng chính trí mà đắc giải thoát, gọi là tuệ
giải thoát (Pali: paññā-vimutti). A-la-hán chứng đắc cả diệt
tận đinh, bấy giờ gọi là câu phần giải thoát, giải thoát
gồm cả hai phần:à huệ (Pali: ubhatobhāga-vimutti; Cf. Mahānidāna-suttam,
D.ii. 71).
[22]
Cakkavattī-suttam, D.iii. 75: asītavassasahassāyukesu, bhikkhave,
manussesu tāyo ābādhā bhavissanti, icchā, anasanaṃ, jarā.
[23]
Saṅgīti, D.iii. 211: sabbe sattā āhāraṭṭhikā.
[24]
Có bốn loại thức ăn: đoàn thực hay thức ăn vật chất
hoặc thô hoặc tế (kabaliṃkāro āhāro oḷāriko vā sukkhume
vā); xúc thực hay thức ăn bằng sự tiếp xúc (căn và cảnh)
(phasso), ý tư thực hay thực ăn bằng ý chí (manosañcetanā);
thức thực (viññānaṃ), thức ăn là các thứ phiền não.
Cf. S.ii. 11 (āhāra), 98; M.i. 261; Tạp A-hàm 15 kinh 371.
[25]
Cf. A.i. 120 (Gilāna-sutta): Có ba hạng người bịnh - người
sẽ không bao giờ bình phục; người sẽ bình phục bất kể
được chăm sóc tốt hay không; người bình phục hay không
tùy thuộc sự chăm sóc.
[26]
Cf. A. iii. 143 (Upaṭṭhaka-suttam.1): Người bịnh có năm pháp
thành khó nuôi (gilāno dupaṭṭhako) - làm việc không thích
đáng (asappāyakārī), không biết ước lượng vật thích đáng,
không uống đúng thuốc, không nói thật bịnh cho người khán
hộ biết.
[27]
A. iii. 144 (Upaṭṭhaka.2), năm điều cần có của người khán
hộ: biết pha chế thuốc, biết vật thích đáng hay không thích
đáng, không cho vật không thích đáng, đưa cho vật thích đáng,
khán hộ với từ tâm, không vì tư lợi.
[28]
Ariyapariyesana-sutta (kinh Thánh cầu), M.i. 317: “Tỳ kheo,
thế nào là Thánh cầu? ...tìm cầu sự không già... không bịnh...vô
thượng an ổn, Niết-bàn.” Cf. Māgaṇḍīya (M.i. 508): ārogyaparamā
lābhā, nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ, không bịnh, lợi tối thượng;
Niết-bàn, lạc tối thượng.
[29]
A.iii. 142 (Gilāna-sutta): Phật dạy tỳ kheo bịnh và yếu có
thể tự điều phục bằng 5 pháp để chiến thắng bịnh và
chứng đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại – an trụ với quán
bất tịnh trên thân (asubhānupassī kāye viharati), vi nghịch
tương đối với thức ăn (āhāre paṭikūlasaññī), bất lạc
tưởng đối với hết thảy thế gian (sabbaloke anabhiratasaññī),
vô thường tưởng đối với hết thảy các hành (sabbasaṅkhāresu
aniccānupassī), tưởng về sự chết (maraṇasaññā panassa ajjhattaṃ
sūpaṭṭhitā hoti).
[30]
Cf. Abhi.kośa (Thakur, tr. 27): ātmany asati katham ādhyāmikaṃ bāhyā
vā/ ahaṃkāra-sanniśrayatvāc cittam ātmety upacaryate, “Trong khi
không có tự ngã, làm sao có nội hay ngoại? Vì cơ sở tác
thành cá thể tôi nên tâm được giả danh là tự ngã.” Trong
định nghĩa này, Skt. ādhyāmika, nội hay bên trong, là từ phái
sinh của ātman (tự ngã) với tiếp đầu từ là adhi. Do đó,
y trên ý niệm về sự tồn tại của tự ngac mà phần biệt
nội và ngoại.
[31]
Thanh văn sinh Dục giới, y trên Dục giới thân mà quán bốn
Thánh đế. Nhận thức về bốn Thánh đế thuộc Sắc và Vô
sắc đều do loại suy từ Thánh đế thuộc Dục giới. Câu-xá
23, tr. 121b: “Lý chân thật của các pháp được chứng tri
tối sơ, gọi là pháp trí (dharmajñāna). Trí nhận thức cảnh
sau này cùng loại tự với trước đó, được gọi là loại
trí (anvayajñāna).”
[32]
Địa thứ sáu, Hiện tiền địa (Abhimukhī), Bồ tát tu tập
huệ ba-la-mật. Địa thứ bảy, Viễn hành địa (dūraṅgamā),
tu tập phương tiện ba-la-mật.
[33]
Bất động địa; Bồ tát chứng vô sinh pháp nhẫn (anutpattika-dharma-kṣānti),
tu tập nguyện ba-la-la-mật (praṇidhāna-pāramitā).