CHƯƠNG
VI:
BẤT
TƯ NGHỊ
I.
TRỤ VÀ VÔ TRỤ
1.
Xá-lợi-phất
Tôn
giả Xá-lợi-phất là hình ảnh phản diện của nhừng gì
được diễn giải bằng ngôn ngữ trong Duy-ma-cật. Cũng như
trong nhiều kinh điển Đại thừa khác, Xá-lợi-phất là hình
ảnh phản diện của Văn-thù. Trong Pháp hoa, Văn-thù báo hiệu
Phật sẽ công bố Nhất thừa. Nhưng chính Xá-lợi-phất thỉnh
Phật diễn nói những điều mà từ lâu Phật không nói. Những
điều ấy, theo cách nhìn từ Pháp hoa, đã là mối xung đột
nội tâm gay gắt trong hàng Đại Thanh văn.
Tất
nhiên, bậc Thánh đã chứng bất động tâm giải thoát, không
còn một pháp nào có thể làm dao động tâm tư các ngài. Nhưng
nếu theo đó mà suy luận các ngài thờ ơ với những gì tốt
hay xấu xảy ra cho mọi người chung quanh, có thể trong cung
cách nào đó người ta đã nhìn các vị Thanh văn như những
Thánh giả vị kỹ, chấp chặt lấy an lạc giải thoát cá
nhân, không còn biết đến đau khổ của người đời.
Nhưng chính Pháp hoa đã cho thấy những gì ẩn kín bên dưới
cái phong thái lãnh đạm ấy. Ở đây, Tôn giả thấy rằng
Niết-bàn mà ngài đã chứng đắc thất sự không thể là
cứu cánh. Còn cứu cánh vĩ đại, bao la vô tận nữa, cần
đạt đến, cùng với tâm nguyện đại bi vô biên. Từ chỗ
đó, chính Xá-lợi-phất là người gõ cửa để mở ra cánh
cửa dẫn vào thế giói bao la của Phật trí. Không ngang qua
nhân cách và trí tuệ của Xá-lợi-phất, hạng phàm phu thấp
kém còn chìm ngạp trong dục vong ô nhiễm, đừng có tự hào
mình đủ tầm nhìn để nhìn thấy hình ảnh vĩ đại của
đức Phật. Có thể một vài người học Đại thừa, tự
thấy mình hiểu Duy-ma-cật, ngang bằng Văn-thù, khi giảng đến
Xá-lợi-phất đã tỏ ra ngạo mạn, cho rằng trí tuệ Thanh
văn thấp kém, chẳng hiểu gì cả.
Lại
nữa, trên hội Hoa nghiêm, trong tinh xá Kỳ-hoàn, người phát
hiện ra Văn-thù chính là Xá-lợi-phất. Rồi tôn giả dẫn
số đông các tỳ kheo trẻ, là những đệ tử cộng hành,
nghĩa luôn luôn theo gót thầy, đến yết kiến Văn-thù. Các
tỳ kheo này sau khi đảnh lễ Văn-thù, họ suy nghĩ: “Mong
rằng với công đức lễ bái này, chúng ta sẽ hiểu biết
thật tướng của pháp như Hoà thượng Xá-lợi-phất.” Trong
cách nhìn của họ, không có sự hơn kém giữa Bồ tát Văn-thù
và Hoà thượng bổn sư của họ là Xá-lợi-phất về mặt
trí tuệ, nhận thức thật tương của các pháp. Nhưng họ
sẽ theo gót Văn-thù. Dưới sự hướng dẫn của Văn-thù,
một thế hệ tỳ kheo trẻ sẽ lên đường, mang ngọn đèn
chánh pháp đi cùng khắp thế gian.[1]
Nơi
mà các tỳ kheo trẻ được Thầy Xá-lợi-phất giới thiệu
đến với Văn-thù là Thiện trụ lâu các.[2] Đó là biểu
tượng cho cảnh giới trong đó tâm hoàn toàn an trụ, đứng
vững. Cũng như các tỳ kheo trẻ này đã hoàn toàn đứng vững
trong Thánh đạo. Nhưng rồi sau đó, Văn-thù rời khỏi chỗ
này. Bồ tát lên đường, đi vào chỗ vô trụ xứ.[3]
2.
Giải thoát
Một
điều không thể không đề cập đến ở đây. Và cũng có
thể được đề cập đến nhiều chỗ nữa. Như đã biết,
tên gọi khác của Duy-ma-cật sở thuyết là Giải thoát bất
tư nghị. Tựa đề thứ hai này cũng có thể được hiểu,
do những sự việc thần kỳ mà Duy-ma-cật làm được kể
trong kinh, nên kinh có tên như vậy. Nhưng có lẽ trên tất
cả những thần kỳ khác, đó là sự giải thoát ra khỏi những
giới hạn ràng buộc của thân thể. Duy-ma-cật bắt đầu
thị hiện phương tiện bằng cách nằm bịnh. Người ta nói
đến những ràng buộc của gia đinh, của xã hội. Để giải
thoát ràng buộc này cũng dễ thôi, đối với một số người.
Đi tìm chỗ ẩn dật, xa lánh. Nhưng sự ràng buộc của thân
xác, với những ham muốn bất trị của nó; từ ham muốn kiêu
xa, phóng dật, cho đến những ham muốn tâm thường nhất,
như ăn và ngủ nghỉ. Những ham muốn nhỏ nhoi ấy được
coi như tự nhiên, như là ràng buộc của định mệnh tất
nhiên. Cũng có khi một vị đại tướng thất trận chỉ vì
không khống chế nỗi cơn buồn ngủ, hay một cơn sổ mũi.
Những chuyện vặt vãnh thường nhật đó, chỉ khi nào làm
sụp đổ cả một cơ đồ, kéo theo hàng vạn sinh mệnh, khi
ấy mới nhận thức được ý nghĩa ràng buộc và giải thoát
của nó. Nhưng thế gian không ai bận tâm đến những chuyện
nhỏ nhặt đó. Vì cho đến mức đó, chỉ có thể nói đơn
giản, đó là thiên mệnh. Vì thiên mệnh đã định như vậy,
nên khi bắt đầu hành quân, đại tướng chợt sổ mũi. Nếu
thật sự có thiên mệnh, thì thiên mệnh đã sử dụng phưong
tiện, sử dụng sợi dây thật vô giá trị, để trói buộc
sinh mệnh cả hàng vạn người.
Cho
nên, dù vào tận núi thẳm, rừng sâu, người cũng không bứt
được sợi dây trói ấy. Nó quấn theo cổ như bóng với hình.
Với một tỳ kheo, điều đó có thể không quan trọng. Vì
bất quá ông không thành chánh giác ngay trong đời này thôi.
Nhưng với một người thế tục, mà địa vị càng cao, thì
sự thắt chặt bất ngờ của sợi dây chuối đó càng trở
nên nguy hiểm. Giải thoát được mối nguy hiểm ấy, quả
thật là chuyện bất khả tư nghị, không ai nghĩ đến.
Cũng
trong ý nghĩa tương tự, khi A-nan tán thán những điều kỳ
diệu, vị tằng hữu, xảy ra trong cuộc đời đức Thích tôn.
Cuối cùng, Phật bảo A-nan, còn có điều kỳ diệu hy hữu
hơn nữa nơi Phật mà A-an nên biết. Đó là: khi các cảm thọ
xuất hiện, Như lai biết chúng; khi chúng tồn tại, Như lai
biết chúng; khi chúng biến mất, Như lai biết chúng.[4] Các
cảm thọ đó đơn giản là những cảm giác thông thường
khi nóng hay lạnh chợt đến, rồi chợt đi. Trong từng phút
giây, chẳng mấy ai ý thức sự xuất hiện hay biến mất của
chúng. Chẳng có gì kỳ diệu. Nhưng với Phật, đó là đièu
kỳ diệu hơn cả việc thần thông biên hóa mà người đời
khi nhìn thấy thì “lông tóc dựng ngược.”
Những
hành động ly kỳ của Duy-ma-cật về sau, nếu chưa được
nhìn thấy từ phiên bản của ngài Xá-lợi-phất, chỉ là
trò ảo thuật của thuật sỹ thượng thặng thôi.
3.
Trụ xứ
Bồ
tát hành đạo vô trụ xứ. Thanh văn tu tập, cần phải an
trụ tâm. Vì hướng đi khác nhau; đích đến đã khác
nên chỗ dừng cũng khác. Do đó có ý nghĩa khác nhau liên hệ
đến khái niệm trụ và vô trụ.
Kinh
Kim cang mở đầu với câu hỏi của Tu-bồ-đề: “Người
đã khởi hành trên cỗ xe Bồ tát, làm thế nào để tâm được
đứng vững?”[5] Khi cỗ xe đã lăn bánh khởi hành, người
đánh xe cần biết đích đến, tức biết chỗ phải dừng.
Đó là vấn đề trụ xứ của Bồ tát.
Nơi
khác, cũng trên hội Bát nhã, Tu-bồ-đề hỏi Phật: “Bồ
tát muốn chứng đắc Vô thượng Bồ-đề nên an trụ ở đâu?”
Phật đấp: “Nên an trụ tâm bình đẳng nơi hết thảy hữu
tình.”[6]
Trong
ý nghĩa như vậy, câu hỏi của Xá-lợi-phất mang ý nghĩa
hướng đạo rõ rệt. Thành ra, khi mở đầu của chương này,
ngài Xá-lợi-phất hỏi một câu hỏi, mà với nhiều người
đọc kinh, xem ra ngớ ngẩn. Vì ngớ ngẩn cho nên bị Duy-ma-cật
chỉ trích: “Các Bồ tát và Thanh văn sẽ ngồi ở đâu đây?”[7]
Duy-ma-cật vấn nạn liền: “Nhân giả đến đây vì pháp,
hay đi tìm chỗ ngồi?”[8]
Nhân
trả lời của Xá-lợi-phât, “Vì cầu pháp mà đến,” Duy-ma-cật
phân tích ý nghĩa cầu và vô vầu. Tự căn bản nhận thức,
đó là phân tích ý nghĩa trụ và vô trụ của Bồ tát. Như
trong kinh Kam cang, Tu-Bồ-đề hỏi Phật, người đã khởi hành
trên cỗ xe Bồ tát thừa, cần phải an trụ tâm, tu tập tâm,
và nhiếp hộ tâm như thế nào;[9] Phật giảng: “Bồ tát
không an trụ nơi vật thể mà hành bố thí. Vô trụ mà hành
bố thí. Không trụ sắc mà hành bố thí. Không trụ thanh...”[10]
Trong
giảng luận của Duy-ma-cật, bất đầu từ chỗ vô cầu hay
vô trụ đối với phàm phu địa, vượt qua giới hạn của
uẩn, xứ, giới, là tổ hợp giả hợp thành thân và tâm này;
cùng lúc vô cầu đối với cả ba cõi, là không gian tồn tại
của thân và tâm này. Đấy là, khởi điểm, sơ nghiệp Bồ
tát tự giải phóng khỏi những ràng buộc của tổ hợp thân
tâm này cùng với không gian của nó. Trên một phương diện,
Bồ tát hành vô trụ. Nhưng trong bản chất, sơ nghiệp Bồ
tát tự giải phóng để đặt chân lên cổ xe Đại thừa,
hướng đến đích Vô thượng Bồ-đề. Đó là Bồ tát hướng
đến an trụ Phật thừa. Đối với tam giới, là vô trụ.
Nhưng với Phật thừa, là an trụ. Vì vậy, theo yêu cầu của
Xá-lợi-phất, trưởng giả Duy-ma-cật sẽ dọn chỗ ngồi
không chỉ riêng cho các Thanh văn, mà cho cả các Bồ tát.
II.
BẤT TƯ NGHỊ
Những
gì siêu việt tri thức thường nghiệm, siêu việt khả năng
suy lý và tư duy của năng lực trí tuệ, những cái ấy được
gán cho phẩm tính “bất khả tư nghị”: không thể nghĩ,
không thể luận bàn đến. Như Đại trí độ nói: “Ngôn
ngữ tận cùng, tâm hành dứt tuyệt; không sinh không diệt,
pháp như Niết-bàn.”[11] Đó là tả tính chân thật của mọi
tồn tại, mệnh danh là thật tướng. Thật tướng như vậy
siêu việt ngôn ngữ, siêu việt tư duy, là thực tại siêu
nghiệm, vì không phải là cảnh giới mà tri thức thường
nghiệm có thể vươn đến.
Những
điều thần kỳ mà Duy-ma-cật thực hiện trong chương này,
và trong nhiều chương sau nữa, nói một cách chính xác, không
phải là bất khả tư nghị, mà chỉ là sự thể hiện năng
lực thần thông biến hóa. Dù rằng ông nói, ông có khả năng
nắm gọn thế giới này trong tay, rồi liệng nó bay vượt
qua nhiều thế giới xa xôi khác. Đó là điều mà các đệ
tử Phật, các Thanh văn rất coi thường. Dù rằng năng lực
thần thông biến hóa ấy vượt xa gấp bội phần vị đại
đệ tử thần thông đệ nhất trong hàng Thanh văn là Mục-kiền-liên.
Quả thật, những hành động thần kỳ ấy trong cái nhìn của
Xá-lợi-phất, cũng như các Thanh văn khác tại hiện trường,
không có một chút giá trị gì.
Một
thời, khi Phật dừng chân tại Tỳ-lan-nhã, trên đường từ
Xá-vệ đến Tỳ-da-ly. Ở đó, gặp lúc mất mùa, đói kém,
các tỳ kheo khất thực không được. Mục-liên thỉnh cầu
Phật cho phép tôn giả chuyển ngược hạ phương thế giới
này thành thượng phương, để các tỳ kheo có thức ăn. Vì
hạ phương ấy rất sung túc. Nhưng Phật không cho phép.[12]
Như ông phú hộ cho người ăn mày một đấu gạo, chẳng có
gì đáng nói là hy hữu. Một người cùng khổ giúp cho người
đói bát cơm, đấy mới đáng nói là sự thần kỳ của tình
yêu. Cho nên, Phật không cho phép Mục-kiền-liên dùng thần
thông để cứu đói các huynh đệ của mình.
Thần
thông biến hóa, dù có ly kỳ đến mức như Duy-ma-cật mô
tả, dù có khả năng biến một người hành khất thành một
đại chuyển luân vương, nhưng chắc chắn không thể biến
một tướng cướp bàn tay đang đẫm mấu thành một Thánh
giả A-la-hán. Cho nên, Phật bác bỏ loại thần thông này.
Duy-ma-cật nói rằng Bồ tát có thể hóa thân làm Phật, là
Phạm thiên, vv. Hóa thân làm Phật thì Ma vương cũng biến
hóa được. Còn về Phạm thiên, cũng đã từng bị một
tỳ kheo làm cho phải bẽ mặt, mà tỳ kheo này lại chưa phải
là Thánh giả, vì không trả lời nổi một câu hỏi về chỗ
tận cùng của tồn tại vật chất.[13] Các luận sư A-tì-đàm
nhân đó bình luận: ông Chúa tể Tam giới này vô tri nhưng
phách lối, “Ta là Brahma, là Mahābrahma, là Chúa tể, là đấng
Sáng tạo, Hóa công, Toàn năng, Toàn hiện, Cha của hết thảy
sinh loại.”[14]
Vị
tỳ kheo không biết rõ ở đâu bốn đại chủng này diệt
tận vô dư, cho nên có thể chưa phải là vị A-la-hán.[15]
Chỉ với một tỳ kheo phàm phu như vậy, mà ai hiện thân Phạm
thiên, cũng chẳng có gì đáng kinh ngạc. Vậy thì, có gì đáng
kinh ngạc nơi những hành vi Bồ tát mà Duy-ma-cật diễn tả
rất ly kỳ, khiến cho Đại Ca-diếp cũng phải khâm phục?
Kinh
ngạc, vì đó là sự thể hiện từ thể tính quốc độ của
chư Phật.[16] Nói cách khác, đó là sự phát hiện những biến
hóa kỳ diệu của mọi sự hữu tồn tại trong thể tính của
quốc độ Phật. Sự hữu đó, hoặc là một hạt cát, một
ngọn núi lớn, hay cả một khối tinh vân. Khi chúng được
nhìn từ thể tính quốc độ Phật, nghĩa là khi yếu tính
tồn tại của chúng được phát hiện, yếu tính cùng với
thể và dụng, với những năng lực tương tác, giao hỗ, tương
tức, tưong nhập; khi những điều này được phát hiện, như
nhà khoa học phát hiện một quy luật vật lý, thì khi ấy
Bồ tát có thể đặt cả mười đại thiên thế giới trên
đầu một sợi lông; hay chỉ cần làm vỡ một hạt cát là
có thể hủy diệt cả thế giới.
Nói
là thể tính quốc độ Phật, là nói đên Phật tính, hay bản
tính Phật, tồn tại trong tất cả mọi sự hữu. Giả sử
nói, Thần linh đã sáng tạo nên thế giới này. Thế giới
được tạo thành từ một nguyên vật liệu nào đó; có thể
nó là hư vô. Dù là hữu, hay dù là vô, yếu tố nguyên khởi
để tạo nên thế giới này được gọi là bản tính.[17]
Tất nhiên, các quan điểm của mọi khuynh hương của Phật
giáo đều bác bỏ sự tồn tại của một bản tính như vậy.[18]
Nhưng trong một ý nghĩa ước lệ, ý niệm về tự tính như
là điểm tựa để tư tưởng y trên đó mà tư duy, chiêm nghiệm
về bản chất tồn tại của thế giới. Khi nó là đối tượng
của tư duy, bản tính dù được quan niệm như là bản thể
tối sơ, siêu nghiệm, tự hữu, vẫn không tồn tại đọc
lập. Nó tồn tại, được nhận thức, vì tồn tại trong quan
hệ tác dụng, quan hệ tương tác, với vô số cái khác. Đó
gọi là quan hệ duyên khởi. Hoa nghiêm nói là “trùng trùng
duyên khởi.” Pháp hoa nói đó là “Phật tính.” A-hàm gọi
nó là “Pháp trụ, pháp vị.”
Những
điều kỳ diệu mà Duy-ma-cật mô tả là những biểu hiện
của công năng tồn tại của các pháp, hay những thế lực
tương tác của các sự hữu, trong quan hệ tương tức tương
nhập, được thị hiện bằng những thần thông du hý của
Phật;[19] được phát hiện từ tự thể quốc độ Phật,
hay từ Phật tính.[20]
Chỉ
những Bồ tát khi lên hàng thập địa, gọi là Pháp vân địa,
mới có năng lực hiển thị những điều như vậy.
Bồ
tát bước vào Thập địa, sau khi trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp,
đã tích lũy vô lượng vô biên hành trang phước đức và
trí tuệ, đã đạt đến tính thể vô hạn của đại bi, có
khả năng thiện xảo để phân tích và giải phẩu chủng loại
thế giới.[21]
An
trụ nơi Pháp vân địa, Bồ tát biết như thật nguyên nhân
tập khởi của các cõi, của hư không giới, của Niết-bàn
giới. Biêt rõ trí tuệ mà các Như lai theo đó hội nhập tất
cả vô tận thời gian;[22] như hội nhập một kiếp vào a-tăng-kỳ-kiếp,
hội nhập a-tăng-kỳ kiếp vào một kiếp, đặt hiện tại
vào quá khư-vị lai; đặt quá khứ-vị lai vào hiện tại.
Bằng
năng lực của trí tuệ ấy, Bồ tát có thể làm cho thế giới
chật hẹp trở nên rộng lớn; thâu thế giới vĩ đại thành
thế giới nhỏ xíu; dựng ngược thế giới đang tồn tại
như chúc xuống; lật úp thế giới đang tồn tại như ngữa
lên;[23] đặt tất cả Tu-di, núi non, sông biển vao một hạt
bụi mà hình thể hạt bụi vẫn không thay đổi; đưa tất
cả vô lượng chúng sinh trong thế giới này đặt vào một
thế giới khác, chúng sinh trong ấy không hề cảm thấy bị
quấy rầy.
Những
năng lực tự tại siêu nhiên, ly kỳ như vậy, được Duy-ma-cật
giới thiệu, được mô tả trong Hoa nghiêm, phát xuât từ đâu?
Hoa nghiêm[24] nói: “Cũng như từ ao A-nậu-đạt phát xuât
bốn con sông lớn. Bốn con sông chảy khắp Diêm-phù-đề,
không bao giờ khô cạn, rồi cuối cùng đổ vào biển cả.
Với Bồ tát cũng vậy. Phát xuất từ tâm Bồ-đề, tuôn chảy
các con nước đại nguyện của thiện căn, bằng bốn nhiếp
sự mà sung mãn chúng sinh, cuối cùng đổ vào biển Nhất thiết
trí.”
Khi
tình yêu và tri thức dung hợp thành một nhân cách nơi một
con người, con người ấy có thể làm nên những chuyện phi
thường trong thế gian. Cũng vậy, từ bi và trí tuệ, từ nguồn
đại nguyện, tuôn chảy vào đại dương Phật tính, Bồ tát
thực hiện những thần thông du hý bất khả tư nghị.
III.
TOÀ SƯ TỬ
1.
An tọa
Đức
Thích tôn sau khi rời bỏ khổ hạnh lâm, nhận bát sữa của
Sujātā, tắm mát trong dìng sông Nerañjarā, rồi đi đến dưới
gốc cây Bồ-đề, nhận bó cỏ cát-tường của người cắt
cỏ Sotthiya và trải ra làm chỗ ngồi. Trong cái nhìn của các
mục tử tình cờ đi ngang qua, đó đơn giản chỉ là một
chỗ ngồi lót cỏ, chứ không có ý nghĩa gì khác. Nhưng trong
con mắt của các Đại Bồ tát, đó là Kim cang tòa, hay Sư
tử tòa mà trên đó một Đại Chúng sinh đang an tọa để
chiến đấu và chiến thắng thế gian. Vị tướng quân ngồi
trên lưng ngựa, trên bành voi, hay trên cỗ xe, chiến thắng
một vương quốc, thay thế bạo lực thống trị này bằng
bạo lực thống trị khác. Vị tướng quân chiến thắng đã
oai hùng, thì con ngựa chiến cũng trở thành con chiến mã anh
dũng. Con tuấn mã xích thố, sau khi Quan Vân Trường bị chiến
bại, không còn dũng tướng nào tương xứng, thì nó cũng chỉ
sống vất vưởng như con ngựa thường, để rồi héo mòn
mà chết trong hoài niệm quá khứ oai hùng.
Vị
Đại sỹ ngồi trên đệm cỏ ấy, khi được hỏi, “Ông
là ai mà cốt cách siêu phàm như vây?” Ngài đáp, Ta không
là Thượng đế, không là Thần linh, mà chỉ là một con người,
nhưng là con người đã chiến thắng thế gian. Ngài đã chiến
thắng thế gian, nhưng không có ngai vàng để ngự trị, không
có thần dân để được tôn vinh. Con người ấy, sống cuộc
đời đơn độc, lang thang từ rừng đến chợ chỉ với ba
mảnh y, một bình bát. Thế mà, khi Pasenadi đánh tan đại quân
hùng mạnh của Magadha, bắt sống ông vua trẻ Ajātasattu dẫn
trước Ngài. Ngay lúc ấy, cả người chiến lẫn kẻ chiến
bại nhận ra sự yếu đuối của chính mình trước sức mạnh
vô biên của bậc Đại giác, của đấng Đại hùng..
Rồi
ba trăm năm sau nữa, một đại hoàng đế trẻ, A-dục đại
đế, sau khi thâu tóm trong vòng tay quyền lực của mình một
đế quốc rộng lớn, chợt nhận thức đấy cũng chỉ là
đợt sóng phù du, cho nên đã đến quỳ xuống trước đệm
cỏ để mong tìm sự nương tựa nơi chỗ vững mạnh hơn.
Chỗ ngồi đó không chỉ là đệm cỏ nữa, mà là toà kim
cang, tòa sư tử. Những từ ngữ thông thường ấy chỉ là
ngôn ngữ cách điệu để gợi lên hình ảnh đại hùng đại
lực của vị đã ngồi trên đó. Đệm cỏ vẫn là đệm cỏ.
Đệm
cỏ, muôn đời vẫn là đệm cỏ. Nhưng người ngồi trên
đó đã đi sâu vào Kim cang đại định, thân và tâm bất động,
kiên cố như kim cang mà không có bất cứ sức mạnh, quyền
lực nào trên thế gian có thể làm dao động; đệm cỏ đột
nhiên trở thành tòa kim cang. Người ngồi trên đó, sau khi
chứng nghiệm chân lý sâu xa rồi công bố chân lý ấy cho
những ai có tai để nghe, có mắt để thấy, thì lập tức
thế gian phải bị rung chuyển, ngai vàng trở thành đôi dép
bỏ; thành quách, cung điện phút chốc tan biến như ảo ảnh,
mong manh như hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ ban mai. Như
sư tử, sau khi ra khỏi hang, vươn minh cất tiếng rống, thì
tất cả thú rừng nghe thấy đều hoãng sợ, bỏ chạy tán
loạn. Chỗ ngồi của ngài nguyên là đệm cỏ chợt trở thành
tòa sư tử.
Duy-ma-cật,
chủ nhân của căn phòng vuông vức một trượng, đã tiếp
đón khách từ mười phương, gồm tám nghìn Bồ tát, năm trăm
Thanh văn, trên chỗ ngồi như vậy.
2.
Quán chiếu
Bước
vào căn phòng trống không, Xá-lợi-phất chợt có ý nghĩ:
Rồi các vị khách quý này ngồi ở đâu? Một câu hỏi mang
tính quy ước trong trật tự giao thiệp của xã hội, nhưng
khi xuất hiện trong trường lực tương tác của các trình
độ nhận thức sai biệt, nó đột nhiên làm đảo lộn trật
tự của tồn tại và làm bùng vỡ lý tính của nhận thức.
32 nghìn chiếc ghế được vận chuyển từ một thế giới
Tu-di tướng xa xăm, có lẽ cách xa đến mấy vạn Ngân hà
vũ trụ, đến bố trí vừa vặn trong căn phòng nhỏ hẹp.
Chỉ một cái ghế ấy cũng đã lớn hơn toàn cõi Diêm-phù-đề,
huống gì đây lại với số lượng lớn như vậy mà “không
làm chật hẹp thêm thành Tỳ-da-li, cõi Diêm-phù-đề và bốn
thiên hạ.” Trong cái nhìn của nhận thức thường nghiệm,
hoạt cảnh huyễn hoặc ấy thật không thể tưởng tượng.
Nhưng trong cảm thức của một nghệ sỹ, mà chỉ với một
tiếng than dài cũng đủ làm lạnh buốt cả thái hư, thu cả
bốn đại dương vào trong trái tim của Mẹ, thì những gì
đang diễn ra ở đây chỉ do sự thay đổi vị trí chiêm quan
thực tại. Bởi vì con cá dưới lòng sông không làm sao hiểu
nổi chuyển kể đầy tính hoang đường của con rùa sau những
chuyến du hành trên đất liền. Cũng vậy, quả đất hình
cầu và xoay tròn là sự thực không cần bàn cãi đối với
cả trẻ nít thế kỷ 20, nhưng là sự dối trá không thể
tha thứ đối với những nhà thông thái bậc nhất của Âu
châu trung cổ.
Để
có thể thâm nhập tự tính mầu nhiệm của tồn tại, ta cần
phải thay đổi tập quán nhận thức vốn chỉ giới hạn trong
tầm tai mắt. Cho nên, khi Xá-lợi-phất cần chỗ ngồi, cần
một vị trí quan sát thích hợp nhất để thấy và nghe những
gì sẽ được hiển thị trong ngôn ngữ siêu việt của các
bậc Đại sỹ, Duy-ma-cật bèn giới thiệu ngay quá trình biến
đổi tư duy trước khi xuất hiện sự bùng vỡ và giao thiệp
giữa các vũ trụ tinh vân.
Tất
nhiên, Xá-lợi-phất, cũng như chúng Bồ tát và các Đại Thanh
văn theo Văn-thù đến đây để nghe pháp, vì cầu pháp. Để
đáp ứng yêu cầu đó, Duy-ma-cật nêu lên hai nội dung nhận
thức: vô cầu và vô trụ. Định hướng bằng vô cầu và
đạt thành bằng vô trụ.
Nếu
là một người học tập tính Không, người ấy quán chiếu
thực tại trong mối quan hệ hỗ tương, thấy rằng không có
gì tự hữu, mà tự tính vốn Không, vượt qua hành xứ của
tâm, vượt qua lý tính của ngôn ngữ. Nếu là một người
tập Du-già duy thức, ngưới ấy tiền hành bằng chuỗi trừ
khiển, giảm trừ, loại bỏ những gì là hư dối, bất thực
do vọng tưởng gán ghép lên thực tại để quán chiếu Chân
như tính.
Quá
trình quán chiếu mà Duy-ma-cật giới thiệu với Xá-lợi-phất
như sau:
a.
Quán thân. Dù theo hệ quán chiếu nào, khởi điểm đều
từ thực tế sinh hoạt thường nhật, trong nhận thức thường
nghiệm. Những gì đang tồn tại, đang hiện diện đó, thân
tâm và ngoại giới, là thực tại kinh nghiệm không thể chối
bỏ dễ dàng.
Cho
nên, khởi điểm cần quán chiếu thân mạng. Trưởng giả
Duy-ma-cật nói, “Người cầu pháp thì không tham luyến thân
mạng.” Ý nghĩa của nó thật đơn giản, không khác hơn một
nhà Nho noi “Buổi mai nghe Đạo, chiều chết cũng đành.”
Nhưng trong quá trình tu tập để thực chứng Chân như, sự
“không tham luyến thân mạng” không chỉ là một phát biểu,
một nhận xét, mà là nội dung của của tu tập. Muốn đạt
đến chỗ “không tham luyến thân mạng” thì như Duy-ma-cật
đã giảng cho quyến thuộc trước đó, “Các nhân giả, thân
này[25] là vô thường, yếu đuối, cũng chẳng bền lâu; là
pháp chóng mục nát, không đáng tin cậy. Nó là sự khổ, là
sự ưu não, là nơi tập hợp của các loại tật bịnh. …
thân này không phải là chỗ đáng nương tựa cho người minh
trí. Thân này như bọt biển, không thể vốc nắm. Thân này
như bong bóng nước, không tồn tại lâu. …”[26] Trong thực
tế tu tập, đối tượng hiện thực để quán chiếu là 5
uẩn, 12 xứ, 18 giới. Đây là các khoa mục phân loại thân
tâm và vũ trụ thích hợp cho từng căn cơ. Giai đoạn thứ
nhất là con đường siêu xuất thế gian.
b.
Quy y Tam bảo. Sự quan sát này chỉ trong giới hạn nhận
thức thuần lý. Vì tính mong manh của tồn tại, nên ta cần
chỗ tựa an toàn. Phật nói, “Vì sợ hãi nên con người tìm
đến quy y nơi thần núi, thần rừng, thần cây, thần miễu…”[27]
Nhưng một vị Thánh giả Dự lưu thì đã tìm thấy chỗ nương
tựa an toàn, với niềm tịnh tín bất động, bất hoại nơi
Phật, Pháp, Tăng. Duy-ma-cật nói, “người cầu Pháp không
bám chấp Phật mà cầu, không bám chấp Pháp mà cầu, không
bám chấp Tăng mà cầu.” Đây là giai đoạn thứ hai,
quán sát Thánh đạo.
c.
Tu tập Thánh đế. Từ trên bất hoại tín mà tu tập
các Thánh đế. Hàng Thanh văn tu tập Thánh đế sinh diệt,
vì đối tượng quán chiếu là pháp vô thường, khổ, không,
vô ngã trên các uẩn, xứ, giới. Hàng Bồ tát, được thúc
đẩy phát triển tâm đại bi, mà đại bi luôn luôn vận chuyển
song hành với đại trí, nên quán chiếu Thánh đế bằng Chân
như tính; tức là quán Thánh đế vô tác.
Tuần
tự tu tập trên đây phù hợp với Tâm kinh Bát nhã, trong đó,
nền nhận thức là “tự tính vốn Không”; rối từ đó
tiến hành chuỗi phủ định: không tồn tại sắc, v.v., cho
đến, không trí, cũng không đắc. Từ vô đắc, Bồ tát y
chỉ Bát-nhã ba-la-mật để thâm nhâp thực tướng, cuối cùng
chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.
Thực
tướng đó, Duy-ma-cật mô tả: pháp vốn tịch diệt, vô nhiễm,
không hành xứ, không thủ xả, không xứ sở, vô tướng. Vô
tướng cho nên vô trụ. Vô trụ cho nên siêu việt nhận thức.
Kinh
nói, sau pháp thoại ngắn của Duy-ma-cật, năm trăm chư thiên
đạt được sự thanh tịnh của con mắt pháp ở trong các
pháp. Trong hàng Thanh văn, đó là chứng quả Dự lưu. Trong
hàng Bồ tát, đó là nhập sơ địa. Trong cả hai trường hợp,
đó là sự thay đổi nhãn quan, thấy những điều mà trước
đây chưa hề thấy, vượt ngoài tập quán nhận thức tự
nghìn đời.
Khi
nhận thức từ thế giới thường nghiệm bùng vỡ, trật tự
vũ trụ bị đảo lộn, và sụp đổ. Nhưng không phải là
sụp đổ để đi đến huỷ diệt; mà là sự biến mất của
những ảo tưởng để thấy những gì chưa từng thấy, nghe
những gì chưa từng nghe. Trên cơ sở ấy mà thế giới Ta-bà
này cùng với thế giới Tu-di tướng xa xôi kia được thấy
có mối quan hệ giao thiệp.
IV.
TỰ TẠI
Sau
khi giới thiệu khách quý các toà sư tử, và hướng dẫn khách
an tọa, Duy-ma-cật giới thiệu thính chúng về môn giải thoát
bất tư nghị. Nội dung của môn giải thoát này trước đó
đã thể hiện thực tướng của nó. Thực tướng được hiển
thị ở đây là sự giao thiệp của hai thế giới. Một thế
giới bé nhỏ chỉ bằng hạt cải so với thế giới kia to
lớn như núi chúa Tu-di. Một thế giới vận hành trong trường
lực hấp dẫn của Newton, và thế giới kia là vũ trụ bốn
chiều di chuyển theo tốc độ ánh sáng. Thực tướng ấy siêu
việt tâm hành, ngôn ngữ. Nhưng, như Tăng Triệu nói trong lời
tựa, chúng sinh mê ngủ, phi ngôn ngữ thì không sao tỏ ngộ.
Vì vậy, cần có sự minh giải. Sự minh giải áy được thể
hiện thành ba phương diện của thực tại, mà nói theo Cát
Tạng,[28] đó là bất tư nghị cảnh, bất tư nghi trí và bất
tư nghị giáo; hoặc nói theo tông Thiên thai: chân tính, thực
huệ, phương tiện.[29]
Những
thị hiện của Duy-ma-cật ở đây nêu rõ cảnh giới bất
khả tư nghị. Thị hiện ấy thực chất không phải là phép
lạ, mặc dù được nói là thần thông biên hóa. Nó chỉ là
sự biểu hiện của chân tính, của thể tính chân thực của
tất cả tồn tại, chỉ có thể được nhận thức bằng thực
huệ hay trí tuệ siêu việt, vượt ngoại vô hạn tính của
không gian và vô tận tính của thời gian. Kinh nói, “Bồ tát
trụ nơi giải thoát này có thể đặt ngọn Tu-di hùng vĩ trong
một hạt cải mà không hề thay đổi kích thước của hạt
cải. Tướng trạng nguyên thủy của núi chúa Tu-di vẫn như
cũ. Bốn vị Thiên vương cùng với chư thiên Đao-lị cũng
không biết mình đã được đặt trong một hạt cải. Chỉ
những ai cần được độ mới thấy Tu-di lọt vào trong hạt
cải.”
Hoặc,
lại nữa, “có chúng sinh chỉ có thể độ được nếu vui
sướng với sự tồn tại lâu dài trong thế gian này, Bồ tát
này có thể dùng thần lực của ngài kéo dài bảy ngày thành
một kiếp khiến cho họ thấy là một kiếp. Hoặc có chúng
không thích ở lâu trong thế giới này để được độ, Bồ
tát có thể rút ngắn một kiếp thành bảy ngày khiến cho
chúng sinh ấy thấy chỉ là bảy ngày.”
Vậy
thì, không gian bấy giờ không còn như là khoảng hư không
giữa hai sự vật, không còn là khoảng cách của một vật
di chuyển từ điểm này đến điểm khác. Thời gian cũng không
còn là chuỗi sinh diệt tiếp nối trước sau. Bởi vì không
còn bị hạn chế bởi các giới hạn vô hạn và vô cùng của
không gian và thời gian mà sở hành của Bồ tát trở nên tự
tại vô ngại. Sở hành đó là phương tiện, là sự thực
hành, thực chứng giáo pháp. Từ những gì được thực chứng
rồi đem phô diễn, tuyên thuyết.
Từ
thực chứng đên tuyên thuyết; và từ tuyên thuyết mà đạt
đến thực chứng, như vậy là mối quan hệ của Bồ tát với
thế giới, và môi trường hành đạo. Y trên tông chỉ của
Kinh mà nói, tất cả thị hiện và thuyết minh của Duy-ma-cật
ở đây đều là những thể hiện từ bản thể thanh tịnh
của cõi Phật.
V.
NHÂN CÁCH CA-DIẾP
1.
Trên ngọn cỏ úa
Đại
Ca-diếp, nhân cách khắc kỹ, mà đời sống khi được nhìn
đến chỉ là chuỗi ngày im lặng, một thế giới héo úa của
những chiếc lá vàng. Những ai đang sống buông mình trong tham
đắm vật dục, khi đối diện với Đại Ca-diếp có lẽ không
tránh khỏi rùng mình kinh hãi, hoặc kinh ngạc. Hình ảnh cuộc
đời ấy tương phản với những gì mà Duy-ma-cật thị hiện.
Bằng nhận thức thường nghiệm trong thế giới Saha này, mà
ở đó tri thức bị bao trùm bởi giới hạn khắc nghiệt,
trơ cứng của thời gian và không gian, thì Duy-ma-cật và Đại
Ca-diếp là hai nhân cách mâu thuẫn, biểu tượng cho sự lôi
kéo của hai thế lực khó điều hòa giữa tính cách tại thế
và xuất thế, giữa chấp nhận và khước từ; giữa hai giá
trị mà cao hay thấp trở thành những thế lực xung đột xã
hội. Ông trưởng giả ấy hình như sống cuộc đời phóng
đãng, chen chúc trong các phòng trà, quán rượu, dù được
thuyết minh là đến để đưa người lầm lạc về chỗ thanh
cao. Nhưng trong con mắt nhìn khắc kỹ, đó không hơn là những
lời biện hộ. Và kia là vị Sa-môn, đơn độc trong rừng
sâu, lang thang với ba mãnh y lam lũ, xạc xài; tuy là hình ảnh
của đạo đức thanh cao nhưng không khỏi bị chỉ trích là
trốn đời, ích kỹ với sự an lạc cá nhân, nhắm mắt làm
ngơ trước mọi thống khổ của nhân sinh. Cho nên, sau khi nghe
pháp môn giải thoát bất tư nghị của Bồ tát mà Duy-ma-cật
vừa thị hiện và thuyết minh, đột nhiên cất tiếng khóc
than, âm thanh chấn động cả ba nghìn đại thiên thế giới.
Ai là bậc đủ tầm vóc trí tuệ để nghe ra đó không phải
là tiếng khóc than của những tâm hồn tuyệt vọng, mà tiếng
rống sư tử đang làm khiếp đảm đám thú rừng khiếp nhược?
Bằng
giải thoát bất tư nghị mà Bồ tát nhét cả núi Tu-di vào
lòng hạt cải; gom nước cả bốn đại dương lại mà chứa
trong một lỗ chân lông. Cũng bằng giải thoất bất tư nghị
ấy, là sao để thấy tính thể huy hoàng của thế giới trên
đầu ngọn cỏ úa?
Một
thiền sư nói: Cung điện Ma có gì mà bận tâm? Đấy cũng
là cõi Phật với mùa xuân bất tuyêt.
2.
Ma giới và Phật giới
Có
hai vị Cao tăng luận đạo. Một vị hỏi: “Đề-bà-đạt-đa
về sau có thành Phật không?” Vị kia đáp: “Sao thành được?
Vĩnh viễn thọ khổ báo trong ngục A-tì.” Người hỏi im
lặng.
Sau
đó, một mình ngài với thị giả; nhân vắng khách, đệ tử
thị giả hỏi sư phụ: “Ngài ấy hình như thiếu từ tâm?”
Sư phụ vẫn im lặng.
Đề-bà-đạ-đa
vốn là thân thích của Phật, do tham vọng mà quyết tâm tu
tập đến đỗi Xá-lợi-phất rất khâm phục và ca ngợi.
Nhưng Đê-đà-đạt-đa không tu tập để giải thoát như các
đệ tử Phật khác, mà bằng tất cả ý chí phi thường của
một vương tử đã tự huấn luyện cho mình thành một bản
lãnh siêu phàm để thể hiện quyền lực thông trị thế gian
bằng bạo lực. Đề-bà-đạt-đa là biểu tượng nhân cách
của một đệ tử Phật quyết tâm dựng thế giới này thành
Ma cung, chứ không phải là Phật quốc. Những ai chống cự
Ma quân, muốn làm sụp đổ cung điện của Ma, huỷ diệt vương
quốc của Ma, những vị ấy thấy rằng Đề-bà-đạt-đạt
không có chút hy vọng gì thoát khỏi ngọn lửa dữ của ngục
A-tỳ, dù chỉ trong một thoáng sát-na. Ma vương là nỗi ám
ảnh đầy kinh sợ của những người tu Phật.
Tuy
vậy, từ một góc nhìn khác, những người trì tụng Pháp
hoa thấy rằng, cho đến một thời gian nào đó, Đề-bà-đạt-đa
cũng thành Phật. Vì sao vậy? Đức Phật đại từ đại bi;
Ngài không nhẫn tâm nhìn một chúng sinh vĩnh viễn chìm đắm
mà không tìm phương tiện cứu độ. Đề-bà-đạt-đa là nhân
cách biểu tượng cho nghịch hành Bồ tát đạo. Bồ tát nhìn
những ai đến xúc nhiễu mình, cản trở chí hướng hành đạo
của mình như là ân nhân, như là chướng ngại thử thách
cho mình vượt qua, để thành tựu nhẫn ba-la-mật, và tinh
tiến ba-la-mật.
Vì
vậy, Duy-ma-cật nói với Tôn giả Đại Ca-diếp:
“Lại
nữa, Đại Ca-diếp, vô lượng Bồ tát khắp mười phương
có khi có người đến xin cho tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt,
tủy, não, máu, thịt, da, xương, chòm xóm, thành ấp, nàng
hầu hay vợ con, nô tỳ, voi, ngựa, xe cộ, vàng, bạc,
lưu ly, xa cừ, mã não, hổ phách, chân châu, võ sò, quần áo,
đồ ăn thức uống; những người đến xin như vậy phần
lớn đều là Bồ tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghị;
dùng phương tiện lực để thử khiến cho chí nguyện được
kiên cố. Vì Bồ tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghị
có đại uy lực để thúc ép Bồ tát và cho chúng sinh thấy
những việc khó làm như vậy. Phàm căn trí thấp kém không
có uy lực đó để thúc ếp Bồ tát làm như vậy. Cũng như
cái đạp của voi chúa không phải là điều mà con lừa có
thể kham. Đó chính là cánh cửa dẫn vào phương tiện của
trí tuệ của Bồ tát đã trụ giải thoát bất khả tư nghị.”
Vậy
thì, trong cách nhìn của Đại Ca-diếp, trong vị thế Thanh
văn mà một số các nhà Đại thừa thiên lệch chỉ trích
là “hôi thân diệt trí”, là cho thân mình như tro tàn, trí
mình rỗng tuếch; hoặc “tiêu nha bại chủng”, là hạng
làm cho mầm non thành Phật bị đứt, hạt giông Phật bị
mục rã; trong cáhc nhìn của đại Thanh văn ấy, những thị
hiện của Duy-ma-cật vừa xảy ra có vẻ như thách thức cả
bậc đại trí như Xá-lợi-phất, đấy chỉ là trò ảo thuật
không đáng quan tâm. Nhưng điều kỳ diệu khiến Đại Ca-diếp
cất tiếng rống sư tử, mà những kẻ mà thính giác khiếm
khuyết nghe như tiếng kêu gào than khóc; điều kỳ diệu ấy
là, trong mảnh xiêm y rách nát trùm bọc thân hình khô héo
của thê gian này, là biểu tượng của một thế giới siêu
việt, chỉ nhỏ bằng đầu sợ lông nhưng chợt được phát
hiện là dung chứa cả đại thiên thế giới; qua đó là nhân
cách siêu việt mà Duy-ma-cật đã cúi đầu vì sự thị hiện
nghịch hành duy chỉ hàng Bồ tát đại sỹ mới có thể kham
nổi.
[1]
Hoa nghiêm bản 60 (T9n278, tr. 686c10).
[2]
Skt. Pratiṣṭhānakūṭāgāra, nghĩa là, ngôi nhà có cơ sở
vững chắc. Cơ sở vững chắc cho sinh hoạt của Thanh văn
là bốn niệm trụ (Pali: cattāro satipaṭṭhānā), mà Phật
nói là “con đường độc đạo khiến chúng sinh thanh tịnh,vượt
qua các ưu bi, diệt trừ khổ não, đạt đến chính trí, chứng
nghiệm niết-bàn.” ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo sattānaṃ visuddhiyā
sokapariddavāraṃ samatikkanāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya
ñāyassa adhi-gamāya nibbānassa sacchikiriyāya. D.ii. 290.
[3]
Gaṇḍa: ... bhikṣūn anuttarāyāṃ samyaksaṃbodhau pratiṣṭhāpya
anupūrveṇa janapada-caryāṃ caran, “Văn-thù Vương tử sau khi
đã đặt các tỳ kheo an trụ trong Vô thượng bồ đề, lần
hồi du hành trong nhân gian.”
[4]
Trung A-hàm 8 (kinh 32. Vị tằng hữu pháp, T01n0026, tr. 471c20).
Cf. Accharya-abbhuta-sutta, M.iii. 124.
[5]
Vajracchedikā: tatkathaṃ bodhisattvayānasaṃprasthitena kulaputrena
vā kuladuhitrā vā sthātavyaṃ... cittam ?
[6]
Đại bát nhã 313 (T6n220, tr. 597a29).
[7]
Cát Tạng (T38n1781, tr. 962a14) bình giải: “Nói theo hành tích,
với pháp thân đại sỹ, thân tâm không hề mệt mỏi. Thanh
văn mang hình hài do kết quả của nghiệp, tâm tuy không kết
phược, nhưng thân có nhọc nhằn. Nói theo bản nguyện, cả
hai vị theo đại tiểu khác nhau nhưng cùng trợ nhau hoá vật.
Tịnh Danh dọn trống căn nhà để đãi khách. Xá-lợi-phất
nghĩ đên chỗ ngồi để phát động giáo thuyết.”
[8]
Bình giải của Cát Tạng, đã dẫn: “Hình hài có an trụ,
thì diệu pháp mới nhập thần. Cho nên, nghĩ đến chỗ ngồi,
cũng chỉ vì pháp mà thôi.”
[9]
Vajracchedikā: tatkathaṃ...sthātavyaṃ kathaṃ pratpattavyaṃ
kathaṃ cittaṃ pragra-hītavyam?
[10]
Vajracchedikā: na bodhisattvena vastupratiṣṭhitena dānaṃ
dātavyaṃ...bodhisattvo’ pratiṣṭhito dānaṃ dādati.
[11]
Quyển 1 (T25n1509, tr.61b11).
[12]
Luật Pali, Vin.iii. 7.
[13]
Kevaṭṭa-sutta, D.i. 215: kattha nu kho ime cattāro mahābhūtā aparisesā
nirujjhanti. Phân tích ý nghĩa câu hỏi, xem Tỳ-bà-sa 129 (T27n1545,
tr. 670b13).
[14]
Xem Câu-xá 4 (T29n1558, tr. 020c28).
[15]
Tì-bà-sa 129 (T27n1545, tr. 670b26): tỳ kheo này tên là Mã Thắng
(Aśvajit), một vị A-la-hán. Pali không nói tên. Chỉ kể: thủa
xưa, trong chúng tỳ kheo này, có một tỳ kheo... (đã dẫn).
[16]
Hoa nghiêm bản 60 (T10n279, tr. 207c22). Daśabhūmika (Vaidya, tr,62):
có một tam-muội mà khi Bồ tát nhập vào đó thì thể tính
của quốc độ Phật được thị hiện cho thấy (sarvabuddhakṣetrasaṃdarśaṇa).
[17]Skt.
prakṛti, Hán thường dịch là “tính” hay “tự tính.”
Từ triết học căn bản của Saṃkhyā; được quan niệm như
là nguyên chất, bản chất hay bản thể nguyên thủy từ đó
sinh ra tất cả (Kim thất thập luận, T54n2137, tr. 1245c11).
[18]
Visuddhimagga (Mya. 2. 156; Nanamoli xvii.38): các nhà chủ trương
Pakati (Skt. prakṛti: tự tính; chỉ các nhà Số luân Samkhyā)
nói tác nhân tối sơ của thế giới không có tác nhân (akāraṇaṃ
mūlakāraṇam lokassa). Trung luận xv.8; Madhy. xv.8-9, trong đó
coi prakṛti như là từ đồng nghĩa với svabhāva (Hán dịch:
tự tính).
[19]
Daśabhūmika (nt., tr.57): tathāgatavikurvitāni saṃdarśya. Đại
trí độ 7 (T25n1509, tr.110c8): “Bồ tát tự tại xuất nhập
các tam muội, gọi là hí. Không phải do ái kết mà gọi là
hí. Hí ở đây có nghĩa là tự tại.
[20]
Pháp hoa, bản Skt., k.ii. 102: sthitikā hi eṣā sada dharmanetrī
prakṛtiś ca dharmāṇa sadā prabhāsate, “pháp nhãn này thường
trú, luôn luôn rọi sáng tự tính bằng pháp.” Bản Hán, La-thập
hiểu prakṛti (tự tính) ở đây là Phật tính, nên dịch:
“Phật chủng tùng duyên khởi.”
[21]Hoa
nghiêm, đã dẫn (T10n279, tr, 205a23). Daśabhūmika, tr. 55: suparigṛhītamahā-puṇyajñānasaṃbhāraḥ,
mahākaruṇavaipulyādhigatḥ loka-dhātuvibhaktivaimātryakovi-daḥ.
[22]
Hoa nghiêm, bản 80: chư Phật sở hữu nhập kiếp trí. Daśa
(nt., tr. 59): tathāgatānaṃ kalpapraveśasamavasaraṇa-jñānāni.
[23]
Các dạng thế giới tồn tại nhìn từ chỗ người quan sát;
Daśabhūmika (nt., tr.61): vyatyastāvamūrdhamatalādīnāṃ... Hoa
nghiêm bản 80 (T10n279, tr. 207b9): loạn trụ, thứ trụ, đảo
trụ, chính trụ.
[24]
Bản 80 (T10n279, tr. 208c12).
[25]
VCX.: “Thân được cấu thành bởi bốn đại chủng này.”
[26]
Phẩm ii, “Phương tiện”
[27]
Pháp cú 188-191.
[28]
Duy-ma kinh nghĩa sớ. Do cảnh phát trí. Nhân trí mà thuyết
giáo. Rồi từ giáo mag ngộ lý. Nhân lý mà phát trí. Quá trình
tu chứng này tạo thành vòng tròn hoàn chỉnh.
[29]
Trạm Nhiên, Duy-ma kinh lược sớ (tr.667c05).