CHƯƠNG
X:
NHỮNG
GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA BỒ TÁT HÀNH[1]
I.
LÝ TƯỞNG VÀ HIỆN THỰC
Khi
nhà triết học khám phá ra quy luật biện chứng, hình ảnh
thế giới thay đổi.
Trước
khi học triết học, rồi tư duy trên cơ sở những gì được
lưu truyền qua các thế hệ triết gia, ông cũng như mọi sinh
vật khác bị ném vào một thế giới được biết là đã
tồn tại từ một khởi điểm thời gian nào đó, hay không
từ một khởi điểm nào cả. Thế giới ấy luôn luôn biến
động. Cho đến một lúc, trong ông, và cũng là trong một kỹ
nguyên nhất định của tư duy, một khát vọng thúc đẩy càng
lúc càng sôi nổi. Khát vọng vĩnh cửu. Như một đứa trẻ
khi biết rằng sau số mọt là số hai, và cứ thế con số
lớn dần, nó bắt đầu đi tìm sự tồn tại của con số
vô hạn. Cũng vậy, nhà triết học, trong quá trình tư duy,
cho đến một lúc, nhận thức đằng sau những hiện tượng
biến thiên bất định của thế giới tồn tại một thế
giới vĩnh cửu. Có khi ông gọi đó là thế giới ý niệm.
Có khi ông gọi đó là Hữu thể, hay Tuyệt đối thể.
Thế
nhưng, một phi lý kỳ dị luôn luôn sẵn sàng làm sụp đổ
mọi công trình tư duy, dù đó là công trình được gầy dựng
qua nhiều thế kỷ. Ông tưởng mình đã nắm được ý niệm
như là lý tính bất biến. Nhưng cái ý niệm tuyệt đối và
bất biến ấy kéo theo nó một tập hợp các ý niệm, như
một đống hạt ác-xoa luôn luôn dính chùm nhau. Ý niệm tam
giác trong thế giới của lý tính không tuyệt đối đơn nhất,
mà là tập hợp của những điểm, đoạn, góc. Mổi ý niệm
là tập hợp của những ý niệm. Cho đến khi nào ý niệm
ấy là một Nhất thể tuyệt đối, không là tập họp của
các ý niệm khác nữa, bấy giờ cái ý niệm tối hậu ấy
bỗng nhiên biến nhất. Chừng nào triết gia còn chiêm nghiệm
thế giới của các ý niệm trong tính thể tĩnh tại, bấy
giờ ý niệm, dù là tập hợp của các tập hợp con, vẫn
được nhận thức như là tồn tại bất biến. Nhưng khi triết
gia nhìn nó trong thế giới vận động không ngừng, ý niệm
ấy tức thì tan rã, sụp đổ. Song, ngoài thế giới biến
dịch vô thường ấy, không tồn tại thế giới tĩnh tại,
thường hằng nào khác để làm căn cứ cho nhận thức phát
khởi.
Như
vậy, sau khi khám phá quy luật biện chứng, triết gia cũng
khám phá tính hiện tượng của tồn tại. Nghĩa là, thức,
như là chủ thể của nhận thức, không hề là thực thể
độc lập và biệt lập ngoài đối tượng của nó. Thức
tồn tại với yếu tính là vươn đến đối tượng của nó.
Vả, cái gì không hiện thực, cái đó không có tác dụng.
Cho nên, đối tượng của thức là thế giới biến dịch,
vận động. Thăng hoa những gì tồn tại trong biến dịch thành
thế giới thường hằng, đó là bản chất của trí phân biệt,
nó nối những đốm lửa quay liên tục thành một vòng lửa.
Không có thực tại thường hằng nào đằng sau hay bên dưới
thực tại biến dịch, không ngừng vận động.
Vận
động; cái đang tồn tại luôn là cái đang trở thành. Tất
nhiên không phải biến dịch để trở thành cái khác, tự
thể trở thành tha thể. Sự trở thành cái khác là ngoại
hiện. Nó trở thành chính nó, để như là chính nó. Nhưng
nó không tồn tại như một tự ngã bất biến. Vậy, nó là
gì? Chỉ có thể nói, nó không là nó, hay không là gì cả,
cho nên nó chính là nó. Cách trả lời thâm thiết nhất là
sự im lặng. Chúng ta đã thấy sự im lặng của Duy-ma-cật
như là đỉnh cao của quá trình đi tìm tuyệt đối thể, đi
tìm cái bất nhị, không hai: không phải nó, cũng không phải
không là nó, nhưng chính là nó.
Từ
chỗ im lặng đó, một câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn được hỏi:
sau sự im lặng ấy là gì? Nghĩa là, thế giới của sự im
lặng ấy là gì, khi mà ở đó mọi biểu hiện của ngôn ngữ
bị cắt đứt, mọi hình thái tư duy đều vắng bặt? Tất
nhiên là không có câu trả lời minh nhiên. Nhưng chúng ta có
thể hiểu được rằng đó là thế giới để sống. Như một
người trầm mình trong dòng nước mát, để cho toàn thân được
thấm nhuần cảm giác mát mẻ vi diệu, khi ấy không còn câu
hỏi “nước là gì?” Cũng vậy, sau sự im lặng của Duy-ma-cật,
thế giới đột nhiên trở lại với những sinh hoạt nhật
thường của chúng sinh.
Bậc
Thánh giả đặt cái thế giới bất nhị ấy vào ngay trong
sinh hoạt thường nhật không phải là Duy-ma-cật, không phải
là Văn-thù, mà lại là Xá-lợi-phất. Khi mà Duy-ma-cật im
lặng, Văn-thù tuyên dương và năm nghìn Bồ tát bước vào
cửa pháp bất nhị, liền ngay khi ấy Xá-lợi-phất tự hỏi:
“Sắp đến giờ ăn, các Bồ tát này sẽ ăn ở đâu đây?”
Ngài không hỏi các Thanh văn, mà hỏi các Bồ tát, những vị
vừa thâm nhập thế giới Tuyệt đối bất nhị.[2]
Các
nhà chú giải nhận thức ý nghĩa vi diệu trong sự im lặng
của Duy-ma-cật và tuyên dương của Văn-thù mà liệt ý nghĩa
của Xá-lợi-phất vào hạng căn cơ thấp kém.[3] Nhưng ở
đây chúng ta nên nhìn vấn đề từ một góc độ khác. Trong
quá trình kiến thiết cõi Phật thanh tịnh, Bồ tát tự trang
bị cho mình một căn bản tư tưởng để hành đạo. Căn bản
ấy là pháp môn bất nhị, mà ý nghĩa tinh yếu của nó là,
thế giới của chúng sinh là tịnh độ của Phật. Vì uế
và tịnh không là hai thực tại riêng biệt. Như Thiên nữ
nói: “Tham dục, thù hận, và ngu si, chính là giải thoát.”
Tất nhiên, đấy là nhận thức thuần lý. Vậy, phải bắt
đầu từ đâu để thể hiện tư duy thuần lý ấy ngay trong
sinh hoạt thường nhật? Câu hỏi của Xá-lợi-phất kéo tư
duy thuần lý đang có cơ trở thành không tưởng trở về với
thực tế thường nhật.
Sinh
hoạt thường nhật ở đây trước hết phải nói đến sự
ăn. Phật nói, “Tất cả chúng sinh đều tồn tại bởi thức
ăn.”[4] Vậy, khi Bồ tát hành đạo giáo dưỡng các hữu
tình để cho thành tựu các thiện căn, trước tất cả tất
nhiên là cung cấp các loại thực phẩm để các chúng sinh
tồn tại. Bởi vì sự nghiệp của Bồ tát là tịnh Phật
quốc độ, thành tựu chúng sinh. Bằng lý tưởng tịnh Phật
quốc độ, Bồ tát hành đạo cho một thế giới an bình, với
tất cả điều kiện thuận tiện để khuyến khích ý chí
hướng thượng, khích lệ tinh thần cầu học Vô thượng đạo.
Đó hẵn là một thế giới mà thiên nhiên không đày đọa
các sinh loại, không tàng ẩn các tại họa hay thảm họa bất
ngờ. Ở đó thiên nhiên sẵn sàng cung cấp vật thực để
chúng sinh duy trì sự sống, phát triển các quan năng; là những
điều kiện cơ bản cho các tu tập thiền định. Trong bốn
loại thức ăn mà Phật nói, đây là loại thức ăn thứ nhất,
đoạn thực.[5]
Nói
tóm lại, để cung cấp đoạn thực cho chúng sinh, Bồ tát
xây dựng các cơ sở kinh tế, bao gồm cả việc xây dựng
cầu đò, đường xá. Đây là phần tài thí và vô úy thí
trong ba loại bố thí ba-la-mật của Bồ tát.
Ngoài
đoàn thực, chúng sinh cũng cần được nuôi dưỡng bằng sự
xúc chạm. Mắt cần nhìn sắc; tai cần nghe tiếng. Nếu không
được tiếp xúc với cảnh, căn sẽ thóai hóa.[6] Nhưng nếu
tiếp xúc với các cảnh đưa đến khổ thọ, tức những giác
khó chịu, không như ý, căn sẽ bị tổn hại. Nếu thường
xuyên nghe âm thanh chát chúa, tai có nguy cơ điếc. Các căn
tổn hại, khuyết tật, các đối tượng để tu tập thiền
định do không được tiếp nhận rõ ràng sẽ gây nhiễu loạn
tâm trí. Cho nên, Bồ tát xây dựng tịnh độ với thiên nhiên
ưu đãi, cho đến tiếng chim hót, tiếng gió thổi, cùng các
loại hoa, hương, thảy đều thuận tiện cho sự tu tập thiền
định. Nói theo ngôn ngữ thông tục, tịnh độ của Bồ tát,
trong điều kiện tốt đẹp của xúc thực, là môi trường
mỹ cảm, một thiên nhiên đầy cảm hứng nghệ thuật. Tất
nhiên nó không đưa đên thác loạn, mà dẫn đến trạng thái
tập trung tư duy thiền định, để làm nền tảng cho sự phát
triển trí tuệ, quán sát yếu tính chân thật của tồn tại.
Loại
thực phẩm thứ ba, ý tư thực, hay tư niệm thực. Thức ăn
để duy trì sự sống là hy vọng. Một đám người bị đắm
thuyền, chơi vơi giữa đại dương bao la, nhìn thấy đằng
xa đống bọt nước mà tương là đất liền, họ cố bơi
đến. Khi đến nơi, thấy rõ đấy chỉ là đông bọt nước,
mất hy vọng, họ đuối sức, buông thả cho chìm lĩm, và chết
đuối. Bồ tát nuôi sống các chúng sinh trong cõi tịnh độ
của mình bằng ý chí hướng thượng, bằng tâm Bồ-đề kiên
cố.
Sau
hết, thức thực, là thức ăn cho dòng tương tục tồn tại
từ đời này sang đời khác.[7] Bởi vì tịnh đọ của Bồ
tát là thế giới tồn tại của chúng sinh, không phải dành
riêng cho các Thánh giả. Các chúng sinh trong đó chết rồi
tái sinh, lưu chuyển không ngừng. Bồ tát hướng dòng tương
tục ấy đến Đại Niết-bàn.
Với
hai loại thực phẩm trước, Bồ tát thực hành bố thí ba-la-mật
với tài thí và vô úy thí. Với hai loại thực phẩm sau, Bồ
tát thực hành pháp thí. Nói cách khác, theo ngôn ngữ thông
tục, với hai loại thực phẩm trước, tịnh độ Bồ tát
là thế giới tự nhiên hài hòa, mà sông, núi không là chướng
ngại; đá sỏi, gai, thép các thứ không trở thành công cụ
trừng phạt, không trở thành vũ khí để tàn sát. Với hai
loại thực phẩm sau, tịnh độ của Bồ tát là môi trường
xã hội an bình, đạo đức, thuận tiện cho những phát triển
tinh thần.
Bây
giờ chúng ta quay trở lại phương trượng của Duy-ma-cật.
Giả sử trong lúc các bậc đại trí giả đang thảo luận
các đề tài đạo lý cao siêu, khi ấy chợt có một người
nói đến chuyện ăn uống, người ấy tất bị xem thường.
Song, chúng ta cũng biết rằng kinh Kim cang Bát nhã được thuyết
sau khi Phật và các Tỳ kheo đi khất thực và ăn xong như mọi
ngày. Nhìn từ nội dung của Kim cang, tư tưởng Đại thừa
không thể là những mạn đàm không tưởng. Tất cả bắt
đầu từ thực tế sinh hoạt thường nhật. Cho nên, ở đây,
ý nghĩ của Xá-lợi-phất lại mở ra một thế giới khác,
thực tế và sinh động.
Duy-ma-cật
trả lời cho ý nghĩ của Xá-lợi-phất: “Phật dạy tám giải
thoát. Nhân giả đã thọ hành. Há còn lẫn lộn giữa sự
muốn ăn và nghe pháp sao?” Tám giải thoát, bắt đầu bằng
sự siêu việt Dục giới, không còn cần thiết đến đoạn
thực. Cho đến cuối cùng, diệt tận định, ở đó vượt
qua cả ba giới, không còn tồn tại bất cứ loại thức ăn
mang tính hữu lậu nào nữa. Xá-lợi-phất là vị Thanh văn
bậc nhất trong các vị chứng diệt tận định. Đối với
Ngài, các thức ăn hữu lậu không còn cần thiết. Vả lại,
ý nghĩ của Xá-lợi-phất chỉ nhắm đến đoạn thực, loại
thực phẩm chỉ tồn tại trong Dục giới.[8] Các Thanh giả
từ A-na-hàm trở lên vì sẽ không tái sinh Dục giới nữa,
nên loại thực phẩm này không còn cần thiết. Đối vói các
Thanh văn, Phật dạy quán sát bốn loại thức ăn này để
thoát ly chúng và như thế để chấm dứt khổ: “Có bốn
loại thức ăn giúp ích chúng sinh, khiến được nuôi lớn
và sống còn ở đời, đó là: một đoạn thực, hai là xúc
thực, ba là ý tư thực, bốn là thức thực. Nếu các Tỳ-kheo
nào đối với bốn loại thức ăn này mà có tham, có hỷ,
thì ắt phải có ưu bi, có trần cấu. Nếu đối với bốn
loại thức ăn này mà không tham, không hỷ, thì ắt không có
ưu bi, cũng không có trần cấu.”[9]
Như
vậy, điều rất có ý nghĩa là Xá-lợi-phất chỉ nghĩ đến
“các Bồ tát này” sẽ ăn cài gì, chứ không hỏi về các
Thanh văn. “Các Bồ tát này” là năm nghìn vị vừa mới
chứng pháp nhẫn vô sinh, mà quả vị chứng đắc đang ở
hàng kiến đạo, tức vừa mới thấy chân lý. Trong hàng Bồ
tát, họ là các Bồ tát Sơ địa.[10] Trong hàng Thanh văn, họ
tương đương các vị Tu-đà-hòan. Tất cả những vị này
đều còn tái sinh Dục giới. Hoặc do nghiệp báo, hoặc do
bi nguyện. Còn trở lại Dục giới nên còn cần đến các
loại thức ăn mà chính yếu là đoạn thực.
Dù
bằng nghiệp lực, hay bằng bi nguyện, dù ở hàng Sơ địa
hay Thập địa, hết thảy Bồ tát đều trở lại thế gian,
do đó các ngài không khước từ giá trị dinh dưỡng của
các loại thức ăn. Không như các Thanh văn quyết nhập Niết-bàn
ngay trong đời này, không tái sinh nữa, thì thức ăn các loại
là những thứ không còn cần thiết, nên chấm dứt.
Trong
một giới hạn nhất định, sự gán ghép bốn loại thực
phẩm với sự nghiệp xây dựng Phật quốc thanh tịnh của
Bồ tát có vẻ khiên cưỡng. Nhưng từ chỗ suy nghĩ đến
sự ăn của Xá-lợi-phất mà những điều thần biến xảy
ra tiếp theo đó, tất cả đều tập trung trên ý nghĩa của
thức ăn; thế thì sự khiên cưỡng ở đây có thể chấp
nhận được. Bởi vì giới hạn của ngôn ngữ, nên khi cần
làm rõ một điều này không thể không nói đến một vài
điều khác.
Để
đáp ứng nghi vấn của Xá-lợi-phất, Duy-ma-cật giới thiệu
một thế giới có tên là Chúng hương. Ở đó, tất cả mọi
thứ, lâu đài, hoa viên, mặt đất, tất cả được tác thành
bởi hương. Điều này quả thật khó nhận thức bởi chúng
sinh trong quốc độ của chúng ta đây. Hương là đối tượng
của tỉ căn hay khứu giác. Nó cũng được kể là một trong
ba thành tố tạo nên đoạn thực.[11]
Thực
phẩm nơi thế giới đó được mô tả là có mùi thơm cực
kỳ vi diệu, lan tỏa đến vô lượng thế giới khác. Khi một
phần cơm ăn dư của đức Phật Hương Tích của thế giới
được mang về trong phương trượng của Duy-ma-cật, cả thành
Tỳ-da-ly đều thưởng thức mùi hương chưa từng có. Những
người thọ dụng cơm này, từ nhà Duy-ma-cật, rồi trở về
trong vườn xoài nơi Phật đang ngự, mà mui hương vẫn còn
thơm phức. Duy-ma-cật nói cho A-nan biết công dụng của loại
thực phẩm hương này: với hạng phàm phu, cơm tồn tại đến
7 ngày mới tiêu hết. Hạng ấy chỉ hấp thụ được phần
vật chất của nó, nhưng không thể tiến cao hơn nữa. Đối
với các Thanh văn, nếu chưa bước vào chính vi tức chưa dự
vào hàng Thánh giả, mà ăn cơm này, cho đến khi nào chứng
nhập Thánh quả, rời địa vị phàm phu, bấy giờ cơm mới
tiêu. Cho đến những vị đã chứng pháp nhẫn vô sinh mà ăn
cơm này thì khi nào đạt đến vị nhất sinh bổ xứ, tức
còn một đời nữa sẽ thành Phật, bấy giờ cơm ấy mới
tiêu. Loại thực phẩm như vậy quả là phương tiện hành
Phật sự.
Diễn
tả theo một hướng khác, thực phẩm như vậy là một loại
hình ngôn ngữ chuyển tải tất cả ý nghĩa mầu nhiệm của
đạo lý. Đối với thế giới của chúng ta, ngôn ngữ trước
hết là sự kết hợp các âm vận,[12] hoặc đơn âm hoặc
đa âm, từ đó quy ước ý nghĩa và nội hàm của sự vật
hay sự việc.
Khi
một đối tượng nhận thức được lưu trữ trong kho chứa
của thức để sau này có thể truy cập như là hoài niệm
hay kinh nghiệm, nó được lưu trữ với một tên gọi hay danh.
Ảnh tượng được lưu trữ của nó bấy giờ là công năng
tiềm thế, tồn tại ở đó cho đến khi hội đủ điều kiện
thì tái hiện trở lại. Công năng ấy được gọi là danh
ngôn tập khí, tức chủng tử được tích lũy dưới
dạng danh ngôn.
Một
người phàm phu, chưa hề nghe nói đến Thánh đạo. Đối với
người ấy, trong kho chứa không hề tồn tại công năng tiềm
thế nào có thể tái hiện như là năng lực dẫn người ấy
tiến đến Thánh đạo vô lậu. Nhưng sau một lần nghe nói
đến một ý nghĩa nào đó liên hệ Thánh đạo; tất nhiên
những gì liên hệ đến Thánh đạo được nghe đó chỉ thuần
là danh ngôn. Một danh ngôn luôn luôn vẫn là kết hợp nhiều
ảnh tượng nhận thức. Thánh đạo vừa được nghe là điều
chưa hề xảy ra trong bất cứ quá trình nhận thức nào trước
đó. Nhưng, cũng giống như một người chưa hế thấy, cũng
chưa bao giờ nghe ai nói đến sư tử là cái gì. Một lần,
lần đầu tiên, được một người nói đến danh sư tử,
với những mô tả chi tiết. Sự môt tả trung thực và sống
động, do người nói hiểu rõ các tính chất của sư tử,
và cũng nắm vững nghệ thuật diễn tả tức phương tiện
thuyết giáo thiện xảo; bấy giờ các ảnh tượng rời rạc
trong nhiều đoạn khác nhau từ ký ức của người nghe liên
hệ đến ảnh tượng sư tử được ráp nối lại. Ảnh tương
ấy được lưu trữ bằng một danh ngôn. Từ đó về sau, nhiều
lần nghe, nhiều lần tư duy về tồn tại của sư tử, về
bản tính cũng như sinh hoạt của sư tử, nhiều lần như vậy,
cho đến khi danh ngôn tập khí về sư tử đầy đủ điều
kiện để tái hiện, người ấy có thể biết rõ sư tử là
gì mà không cần tận mắt thấy.
Người
được nghe về Thánh đạo cũng vậy. Luận Câu-xá[13] nói:
“Pháp uẩn mà đức Mâu-ni nói tính số đến 80 nghìn. Tùy
quan điểm, hoặc thể của nó là ngữ tức thanh, mà liệt
vào sắc uẩn; hoặc cho rằng thể của nó là danh, mà liệt
vào hành uẩn.” Điều này muốn nói bản chất của ngôn
ngữ diễn đạt Thánh đạo trong thế giới này là âm thanh.
Phật, Bồ tát, các Thanh văn vận dụng ngôn ngữ như là phương
tiện để đưa người đến giải thoát và giác ngộ. Nhưng
trong các thế giới khác, phương tiện thuyết giáo, phương
tiện để chuyển tải tư duy về Thánh đạo, không nhất thiết
phải là ngôn ngữ. Cho nên, sau khi được Duy-ma-cật giải
thích thực phẩm được mang về từ cõi Chúng hương chính
là phương tiện chuyển tải Thánh đạo, là một loại hình
ngôn ngữ, thì A-nan tán thán là điều chưa từng có, chưa
từng nghe. Nhân đó, Phật nói với A-nan: Có cõi Phật lấy
ánh áng của Phật làm Phật sự. Ánh sáng như vậy là một
loại hình ngôn ngữ khác chuyển tải Thánh đạo. Có cõi lấy
y phục, ngọa cụ của Phật làm Phật sự. Có cõi lấy hoa
viên, điện đài làm Phật sự. Cho đến, có bốn loại Ma,
có tám vạn bốn nghìn cánh cửa phiền não; Phật lấy ngay
các thứ đó làm Phật sự, như là phương tiện chuyển tải
Thánh đạo để đưa tất cả đi vào cửa giác ngộ.
Sau
khi giới thiệu loại thực phẩm vi diệu tối thượng từ
thế giới Chúng hương, Duy-ma-cật hỏi trong số các Bồ tát
vị nào có thể đến đó thỉnh một phần cơm về cho đại
chúng ở đây dùng. Tất cả im lặng. Nhân đó, có nhận xét
đặc biệt của Duy-ma-cật mà qua văn dịch có vẻ khinh bạc:
“Nhân giả, đại chúng này há không đáng hỗ thẹn sao?”[14]
Và câu trả lời của Văn-thù cũng là lời cảnh giác tương
xứng: “Phật dạy, chớ khinh người chưa học.” Chi tiết
này quả thật thú vị nếu nhìn từ góc độ quan hệ xã giao
thông thường, trong sự thù tiếp, trao đổi chủ khách. Bình
giải sự kiện này, Khuy Cơ nêu lên bốn lý do: Thứ nhất,
khách đãi chủ là lẽ thường; cho nên không có trương hợp
khách đi lấy cơm về cho chủ đãi. Văn-thù ngạc nhiên về
yêu cầu của Duy-ma-cật, nên khiến đại chúng im lặng.[15]
Thứ hai, các Đại sỹ cầu pháp, không quan tâm đến chuyện
ăn uống, nên không đáp ứng yêu cầu cầu Duy-ma-cật. Thứ
ba, các Bồ tát còn bị ô nhiễm nhiểm bởi thức ăn, nên
tuy được yêu cầu mà không đáp ứng. Sau hết, để Duy-ma-cật
tự mình thể hiện thần thông du hý tam-muội.
Dù
sao, hai vị Đại sỹ này luôn luôn khiến các sinh hoạt thường
nhật, xem có vẻ tầm thường, chuyển tải ý nghĩa chân lý
siêu việt. Đó là mối quan hệ của hai phương diện nhìn
về một thực tại, chân đế hay chân lý tuyệt đối, và
tục đế, hay chân lý quy ước.
II.
NHỮNG GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT
Long
Thọ nói, giáo pháp của Chư Phật y trên hai chân lý, tương
đối hay thế tục đế, và tuyệt đối hay thắng nghĩa đế.
Những ai không phân biệt được hai chân lý này, không thể
hiểu thấu giáo pháp thâm sâu.[16] Cho nên, từ chỗ quy ước
trong mối quan hệ giao tiếp thường nhật, trao đổi của hai
vị Đại sỹ mà phong cách ngôn ngữ có vẻ nghịch thường
đối với hàng trưởng giả bấy giờ dẫn vào thế giới
mà ở đó những giá trị cũng nghịch thường so với những
gì được chúng ta nhận thức bằng các giác quan thường nhật.
Quả
thật, chúng ta vốn chỉ quen với những giá trị được nhận
thức bởi mắt, tai thường nghiệm. Vượt qua giới hạn đó,
là thế giới huyễn hoặc, không tưởng. Chúng ta giống như
những con cá trong câu chuyện cổ, nghe những gì con rùa kể
sau chuyến du lịch dông dài trên đất liền, tất cả đều
là bịa đặt. Giới hạn ấy còn khắt khe hơn nữa, khi những
gì người khác nhận thức và tư duy khác với ta. Tất cả
mọi nền văn minh đều cố nâng nhận thức cá biệt của
các thành viên của nó lên tầm cao hơn, phổ quát hơn, những
giá trị được chấp nhận bởi nhiều cá thể hơn. Một nhà
thiên văn học Trung hoa khi nhìn lên những ngôi sao gần nhau
bên kia bờ sông Ngân; ông liên kết chúng lại thành hình ảnh
cô gái dệt lụa. Ông gọi đó là chòm sao Chức nữ. Ông có
thể cười thầm, khi nghe một nhà thiên văn Hy lạp, cũng nhìn
chòm sao đó, gọi đó là một cây đàn thất huyền. Cho nên,
chúng ta không mong đợi tấm lòng bao dung quảng đại của
một người mà suốt đời nhận thức không ra khỏi lũy tre
làng.
Người
hành Bồ tát đạo vì vậy thường được hướng dẫn chu
du bằng trí tưởng tượng qua nhiều thế giới hệ khác nhau;
để thấy vô vàn sai biệt nhưng cũng thấy tính bình đẳng
qua vô vàn sai biệt ấy.
Trong
kinh Hoa nghiêm,[17] Bồ tát Kim Cang Tạng nương oai thần của
Phật thuyết minh mười địa của Bồ tát. Khi giới thiệu
địa thứ nhất, trong đó Bồ tát bắt đầu dự hàng Thánh
giả, tự khẳng định mình là một thành viên trong gia tộc
của Như lai, của tất cả Như lai chứ không phải chỉ một
Như lai. Để đạt được điều đó, trước hết, Bồ tát
kia cần phải thành tựu mười đại nguyện, mà mỗi nguyện
đều hướng đến tất cả Như lai, tất cả chúng sinh, tất
cả đại dương thế giới, quảng đại như hư không. Tất
cả chúng sinh, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc có tưởng
hoặc không có tưởng, hoặc thai sinh, hoặc thấp sinh, vô lượng
vô biên sai biệt. Tất cả mọi hình thái thế giới: hoặc
thế giới cực kỳ nhỏ bé, hoặc cực kỳ to lớn, hoặc đứng
thẳng, hoặc đứng nghiêng, hoặc lộn ngược, hoặc bằng
phẳng, hoặc tròn, hoặc vuông, trùng trùng như trong mạng lưới
của Đế Thích. Tất nhiên, lớn hay bé, thẳng hay nghiêng,
hay lộn ngược, hay bằng phẳng, đều so với vị trí đứng
của chúng sinh trong thế giới hệ này. Nguyện của Bồ tát
chỉ có thể lớn, tâm tư chỉ có thể bao dung, nếu vị ấy
biết rằng từ vị trí đứng thẳng của mình mà ở nơi kia,
trong thế giới phương trên hay phương dưới, tồn tại các
chúng sinh đang di chuyển với trạng thái chúc đầu xuống;
biết vậy mà vẫn không cho là nghịch thường, là điên đảo.
Từ đó mới có thể chấp nhận những giá trị cá biệt ở
đó cũng bình đẳng như ở đây; hết thảy bình đẳng như
hư không.
Cho
nên, khi Duy-ma-cật thị hiện thần thông du hý, khiến chó
đại chúng từ nơi phương trượng của mình trong thấy thế
giới Chúng hương, mà các vật liệu xây dựng đều là hương.
Và rồi, một hóa thân Bồ tát lại vượt qua vô sô thế giới
để đến đó; nếu khi nhìn hoạt cảnh ấy mà các đại chúng
ở đây thảy đều ngạc nhiên, thấy đều chưa từng tháy,
khó tin, khó biết, khó chấp nhận đó là hiện thực. Điều
cũng là tự nhiên.
Rồi
trong thế giới kia, khi hóa Bồ tát xuất hiện; các đại chúng
ở đó cũng kinh ngạc, thấy điều chưa từng thấy: ở đâu,
thế giới nào, lại tồn tại sinh vật ý hon, bé như một
vi sinh vật so với thân thể cực đại ở đây? Tuy bé nhỏ
như thế, nhưng sao lại có thần thông quảng đại như thế,
vượt qua bao nhiêu thế giới hệ để đến đây, điều mà
Bồ tát cực đại thân ở đây không ai làm được? Sau khi
biết được có thế giới như vậy, các Bồ tát này muốn
được hướng dẫn đến đó. Trước khi các Bồ tát ấy lên
đường, đức Phật Hương Đài của thế giới Chúng hương
giáo giới họ: Hãy thu lại mùi hương, hãy thu nhỏ thân thể,
và cẩn thận chớ sinh tâm khinh mạn. Đó có thể là bài học
khởi đầu cho việc giao lưu văn hóa liên vũ trụ cho các Bồ
tát. Nhưng đại chúng vẫn còn khó tin tồn tại những thế
giới khác trong đó có sinh vật thông minh như ở trong trái
đất này. Vậy, hãy gác qua không gian vũ trụ vô cùng tận
ấy, mà xem đó chỉ là mổ tả hình tượng, để hướng dẫn
mở rộng tầm nhận thức vốn chật hẹp của chúng ta vì
chỉ biết cái gì là tồn tại và chân lý, nếu cái đó phù
hợp với quy luật nhận thức của ta.
Điều
mà chúng ta có thể học được từ hoạt cảnh thị hiện
thần thông của Duy-ma-cật, là hãy tưởng tượng một sứ
đoàn truyền giáo, đi đến một địa phương xa lạ, trong
đó sắc dân được đánh giá là xấu xí hơn, vì màu da không
trắng trẻo, thân không cao lớn; tư duy cũng thấp kém hơn,
vì không tín ngưỡng tồn tại đâu đó một đấng Chí tôn
nhân từ những đôi khi cũng hung bạo nếu loài người chống
lại ý định của ngài bất kể ý muốn ấy là thế nào.
Trong cách đánh giá ấy, cái gì sẽ xảy ra? Những cuộc tàn
sát không thương tiếc, do bên này hay bên kia. Chấp nhận những
giá trị dị biệt trong những nền văn hóa dị biệt, đó
là điều kiện cơ bản cho một thế giới hòa bình. Đó là
bài học lịch sử viết bằng máu của nhân loại.
Thế
thì, điều cần thiết với một vị Bồ tát, sau khi đã đi
vào cánh cửa bất nhị, bấy giờ điều cần làm là làm sao
để mở rộng tâm tư bình đẳng đến mọi chúng sinh trong
vô vàn thế giới sai biệt? Cho nên, Phật Hương Tích sau khi
căn dặn các Bố tát những điều cần làm để đến tiếp
xúc với thế giới Ta-bà, Ngài kết luận: “Bởi vì mười
phương quốc độ đều như hư không.” Hư không vốn quảng
đại, vô hạn, bình đẳng; tâm tư của Bồ tát cũng vậy,
quảng đại, vô lượng, bình đẳng. Bằng tâm tư đó mà đi
trên Thánh đạo.
Trong
thế giới bên kia, bài học cho các Bồ tát lên đường đi
vào thế giới vô tận là vậy. Bên này, Duy-ma-cật cũng khuyến
giáo đại chúng: “Đừng ăn cơm này với ý hữu hạn; vì
như vậy sẽ khó tiêu.” Ông lại nói thêm: “Đừng lấy
đức trí nhỏ mà đo lường phước huệ vô lượng của Như
lai. Nước của bốn đại dương còn có thể khô cạn, chứ
cơm này vô tận… Tại sao? Vì đó là thức ăn còn dư của
người đã thành tựu công đức của vô tận giới, định,
huệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.”
Vượt
qua định kiến hình thành từ nhận thức thường nghiệm,
giới hạn các quan năng, để tiến tới những giá trị tâm
linh phổ quát; đó là thuận tự trong quá trình tu dưỡng để
khai phóng tâm tư. Cho nên, tiếp theo sau đó, Duy-ma-cật hỏi
các Bồ tát từ nước Chúng hương về sự thuyết pháp và
tu tập trong thế giới đó. Các Bồ tát này thuyết minh: “Như
lai ở quốc độ chúng tôi không thuyết pháp bằng ngôn ngữ,
mà chỉ dùng các hương thơm khiến cho tất cả trời và người
có thể thâm nhập luật hành. Mỗi Bồ tát ngồi dưới những
cội cây hương, cảm nhận mùi hương vi diệu của cây mà
chứng nhập tam-muội Nhất thiết công đức tạng. Ai chứng
được tam-muội này tất đầy đủ các phẩm chất mà Bồ
tát có.”
Sự
nghe pháp, và sự tu tập như vậy quả thật đơn giản. So
với thế giới của chúng ta, có quá nhiều điều cần phải
học, quá nhiều điều cần phải làm. Như thuyết minh của
Duy-ma-cật cho các Bồ tát từ cõi Chúng hương: “Chúng sinh
trong cõi này cang cường, khó chuyển hóa, nên Phật giảng
thuyết bằng ngôn ngữ cứng rắn để điều phục. Ngài nói:
Đây là địa ngục. Đây là súc sinh…Đây là tà hành của
thân; đây là quả báo của tà hành của thân…cho đến…
Đây là hữu lậu, đây là vô lậu. Đây là chính đạo, đây
là tà đạo. Đây là hữu vi, đây là vô vi. Đây là thế gian,
đây là niết-bàn…”
Do
cách ăn và những gì được dùng làm thức ăn; do biểu hiện
ngôn ngữ mà những gì cần học, nhiều điều cần tu không
giống nhau; từ đó hình thành những giá trị cá biệt. Nhưng
không vì vậy mà có sự phân biêt hơn kém. Không phải cao
đẹp hơn, hay cao thượng hơn, vì nhỏ bé mà xinh xắn dễ
thương, hay to lớn mà thô kệch; không phải hay vì lời nói
khắc khổ, dài dòng, hay nhẹ nhàng mà ngắn gọn. Mọi giá
trị sai biệt đều bình đẳng. Từ đó phát hiện, qua những
giá trị sai biệt, tồn tại những giá trị phổ quát giữa
các thế giới hệ khác nhau. Cho nên, nghe xong, các Bồ tát
từ cõi Chúng hương đều cất tiếng ca ngợi: “ Thật chưa
từng nghe. Đức Thế tôn Thích-ca Mâu-ni Phật đã ẩn đi vô
lượng khả năng tự tại, hóa độ chúng sinh bằng pháp mà
người nghèo ưa thích. Các Bồ tát ở đây cũng nhẫn nại
những khó nhọc, bằng vô lượng đại bi mà sinh nơi cõi Phật
này.”
Thật
vậy, các vị này thoạt tiên nhận xét chúng sinh ở cõi Ta-bà
thuộc loại “nghèo khó nhưng ương ngạnh.” Sau đó tỏ ra
hối hận vì nhận xét này, khi được nghe Phật Thích-ca thuyết
pháp. Họ nói: “Bạch Thế tôn, lúc mới nhìn thấy thế giơi
này chúng con có ý tưởng nó thấp kém, bây giờ hối hận,
chẳng còn ý đó nữa. Vì sao? Vì các phương tiện diệu dụng
của chư Phật thật là bất khả tư nghị.”
Phát
biểu này mang ý nghĩa xác nhận giá trị phổ quát. Giá trị
phổ quát đó là tính bình đẳng giữa tất cả mọi quốc
độ trong tất cả mười phương thế giới. Như Phật đã
nói với A-nan: “Hết thảy Chư Phật đều bình đẳng về
hình sắc, uy quang, vẻ đẹp, tướng hảo, chủng tộc, giới,
định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến…”
Tính
bình đẳng được ví dụ như hư không. Hư không ở đây không
phải là khoảng không gian trống không giữa các vật thể
hữu hình mà mắt thường có thể phân biệt hoặc sáng hoặc
tối. Tính bình đẳng của hư không không có nghĩa là xóa
hết tất cả dấu vết sai biệt để còn lại một thực tại
trống không. Tất cả vẫn tồn tại ở đó; khi mọi vật
sinh, hư không không tăng; khi các thứ biến mất, hư không
không giảm. Không sinh, không diệt, không tăng, không giảm,
là những yếu tính để có thể nhận biết hư không.
Để
đạt đến tính bình đẳng như hư không đó, đức Phật Thíach-ca
Mâu-ni đã thuyết minh cho các Bồ tát Chúng hương về môn
giải thoát của Bồ tát gọi là “Tận Bất tận.”[18] Tận,
tức kiệt tận, xóa sạch hết mọi thứ cho đến khi tất
cả không còn gì.
Thế
nào là tận? Các pháp hữu vi đều có xu hướng suy hao, tàn
hoại, kiệt tận. Hoặc tuổi thọ cạn hết, hoặc phước
đức cạn hết, như có hạng chư thiên kia, do sự kiệt tận
ấy mà chết nơi đó để tái sinh nơi đây. Hoặc Tỳ-kheo
kia tu tập cho đến khi dứt sạch hết các lậu hoặc ô nhiễm,
vị ấy trở thành vô lậu, tâm giải thoát, huệ giải thoát,
ngay trong đời này bằng thắng trí, tự thân chứng ngộ và
an trú.[19] Nói tóm lại, để đạt đến Niết-bàn giới vô
vi, Tỳ kheo cần phải làm cạn kiệt tất cả khát ái, ly dục.
Pháp như vậy được nói tối thượng trong tất cả các pháp
hữu vi và vô vi.[20] Nghĩa quy ước của tận và vô tận là
như vậy.
Theo
nghĩa đó, Khi Duy-ma-cật được Văn-thù hỏi, “Bồ tát nên
nhìn đời như thế nào”; đáp: Bồ tát nhìn đời như nhà
ảo thuật nhìn vật ảo hay người ảo mà mình tạo ra.[21]
Thanh văn hay Bồ tát đều khởi đi từ một thế giới quy
ước như vậy. Bởi thế gian này chỉ là tuồng huyễn hóa,
không thực, nên Bồ tát đi tìm một cái gì đó chân thực
không hư dối. Khởi điểm như vậy là chối từ thế giới
đang tồn tại trước mắt. Như người đi tìm lõi cây, bóc
dần các lớp vỏ ngoài, cho đến khi tìm tìm thấy cái gì
là lõi cây chắc thực.
Đó
là cái nhìn lạnh lùng về thế giới, nhân sinh. Bởi vì, mọi
pháp trong thế giới Ta-bà này, có vị ngọt của sắc thì
đồng thời cũng có tai họa của sắc. Cho nên, đức Phật
dạy: Biết thân này như bọt nước, các pháp như quáng nắng,
như ảo ảnh; ai hiểu rõ điều đó, thoát khỏi cảnh giới
của Tử thần.[22] Trên giường bịnh, Duy-ma-cật cũng giảng
giải cho khách đến thăm bịnh chân lý như vậy về nhân sinh:
“Thân này như đống bọt, không thể vốc nắm. Thân này
như bong bóng nước, không tồn tại lâu dài. Thân này như
quáng nắng bốc từ khát vọng yêu thương. Thân này như cây
chuối, ruột không lõi chắc. Thân này như huyễn, hình thành
bởi ý nghĩ điên đảo...”[23]
Dù
vậy, thân này đang tồn tại, và cần được nuôi dưỡng
để tồn tại. Nó được nuôi dưỡng bởi bốn loại thực
phẩm, mà chính yếu ở đây là đoạn thực, thực phẩm vật
chất. Thực tế là, lọai thực phẩm ấy sau khi được hấp
thu nó bài tiết ra những thứ ghê tởm. Cho nên Phật thí dụ,
người thâu nạp đoạn thực, như kẻ lữ hành qua hoang mạc
phải ăn thịt đứa con duy nhất thân yêu để sống. Sau khi
ăn thịt con, nó vừa đi vừa kêu khóc: “Con tôi đâu? Con
tôi đâu?”[24]
Nhưng
trong thế giới Chưng hương, loại thực được hóa thân Duy-ma-cật
mang về cho đại chúng, không để lại hậu quả đáng tởm
như vậy. Mà thực phẩm ấy, tuy cũng là loại đoạn thực,
dù được ăn bởi kẻ phàm phu, vẫn lưu lại mùi hương vi
diệu, không đáng nhàm tởm. Đoạn thực ở đó được nhận
thức như là phương tiện thuyết pháp của Phật.
Giữa
hai thế giới, giá trị của cùng loại thực vật không giống
nhau. Vậy thì, trong mỗi thế giới riêng biệt, các pháp tồn
tại với giá trị riêng biệt, đặc thù của chúng. Để vượt
lên những giá trị quy ước này, Duy-ma-cật khuyến cáo đại
chúng không nên ăn cơm từ cõi Chúng hương bằng ý hữu hạn,
bằng tâm ý bị ràng buộc trong giới hạn phương vực. Vượt
lên giới hạn cá biệt của thế giới là để tiến lên nhận
chân giá trị phổ quát, nhận thức tính bình đẳng của tất
cả.
Nền
tảng để đạt đến giá trị phổ quát, tính bình đẳng
ấy là gì? Đức Phật Thích-ca nói với các Bồ tát từ cõi
Chúng hương: “Bồ tát không kiệt tận hữu vi, không an trú
vô vi. Thế nào là không kiệt tận hữu vi? Không rời đại
từ, không xả đại bi, sâu sắc phát tâm cầu Nhất thiết
trí không quên lãng; giáo hóa chúng sinh không hề biết mệt
mỏi…”
Cũng
như trong đời sống thường nhật, ta đến với một người
bằng tất cả tấm lòng yêu thương chân thật, thì cá tính
dù thế nào cũng không là bước tường ngăn cách giữa ta
và người. Ở đây cũng vậy, bằng tâm đại bi, Bồ tát đến
với thế gian không phải để cào bằng mọi giá trị của
thế gian; nhưng để tự mình thấy và chỉ cho mọi người
thấy đâu là giá trị chân thực. Như vậy cho nên Bồ tát
không giữ chặt cái thấy của mình để cưỡng đặt lên
những người khác. Chúng sinh trong thế giới Chúng hương có
thân thể cao lớn, đồ sộ, luôn luôn toát ra mùi hương vi
diệu. Chúng sinh trong thế giới Ta-bà này thân hình bé xíu,
lại thường tiết ra mùi hôi hám. Nhưng chân lý của cái đẹp
không thuộc về thế giới kia hay thế giới này. Không san
bằng hết mọi dị biệt của hữu vi để đạt đến cái
vô vi bình đẳng. Như vậy Bồ tát không tận hữu vi, không
trụ vô vi.
Từ
thế giới Chúng hương xa xôi kia, mà mọi thứ được làm
bằng hương kia, đến nới Ta-bà ô trược này, để học môn
giải thoát Tân-Vô tận, để rồi trở về quốc độ kia với
tâm tư như hư không, vì Phật tính vốn bình đẳng như không
trong tất cả mọi loài, mọi quốc độ, với sự tôn kính
vô cùng đối đức Phật ở đây, đồng cảm vô hạn với
các Bồ tát thị hiện trong thế giới này, và yêu thương
không cùng tận với hết thảy chúng sinh chìm ngập trong cõi
Tà-bà đầy thống khổ nhưng cũng cực kỳ ương ngạnh này.
Không
tận hữu vi, Bồ tát chấp nhận sự tồn tại của dị biệt
giữa các loại chúng sinh mà kiến thiết quốc độ thanh tịnh.
Không trụ vô vi, Bồ tát nhận thức tính bình đẳng như hư
không trong tất cả các loại chúng sinh, nên mọi giá trị
cá biệt đều được kính trọng như là giá trị phổ quát.
Không tận hữu vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh
không bằng hận thù tranh chấp. Không trụ vô vi, nên Bồ tát
xây dựng quốc độ thanh tịnh bằng tình yêu và sự kính
trọng giữa các loại chúng sinh.
III.
NHÂN CÁCH SIÊU VIỆT
Bài
pháp mà đức Thích Tôn giảng cho các Bồ tát Chúng hương
về môn giải thoát gọi là “Tận-Vô tận” là nội dung
mà Bồ tát cần học tập để theo đó sống và hành động
với tâm tư mở rộng, bao dung, vượt lên mọi giới hạn quốc
giới, chủng tộc, thiết lập những giá trị phổ quát để
tất cả mọi cộng đồng sinh loại cùng tồn tại trong ý
nghĩa bình đẳng, tương thân và tương kính. Tuy nhiên, những
giá trị phổ quát cũng vẫn còn là giá trị quy ước. Chúng
được nhận thức trong mối quan hệ giữa bên này và bên
kia, dù được nói là siêu việt cả hai bên. Chân lý được
nhận thức từ mối quan hệ là chân lý tương đối. Đó là
hiện thực được nhìn từ những mặt đối lập: tịnh và
uế, chết và tái sinh… Các triết gia tư biện suy lý sẽ
đưa các mặt đối lập của thực tại này đi đên một chỉnh
thể thống nhất bằng quá trình biện chứng. Hiện thực tự
phủ định chính nó để trở thành phi thực. Hiện thực không
tự phủ định, không là một mâu thuẫn nội tại, hiện thực
ấy sẽ không trở thành cái gì cả. Nó không trở thành cái
khác với nó hiện hữu, hiện thực như vậy là im lìm bất
động, không trở thành. Cái gì không đang trở thành, cái
đó không đang là gì cả. Thực và bất thực, cặp mâu thuẫn
này được nâng lên thành tổng đề, là Thực tại Tuyệt
đối bất nhị.
Long
Thọ nói: “Cái gì là duyên khởi, tôi nói cái đó là tính
Không. Tính Không ấy là giả danh. Và chính nó cũng là trung
đạo.”[25]
Mỗi
xã hội bao gồm nhiều cá thể. Mỗi cá thể quan hệ hỗ tương
cùng tồn tại. Quy luật tồn tại đó phù hợp với điều
mà Long Thọ nói là tính Không. Tính Không ấy vẫn là khái
niệm quy ước tức giả danh. Nhưng nhìn từ điểm thống nhất
của hai mặt thực tại, hay của mọi tồn tại, hỗ tương
quan hệ, thì tính Không ấy là giá trị phổ quát mà trên
nền tảng đó mọi thành viên xã hội cùng tồn tại trong
hỗ tương quan hệ. Giá trị phổ quát đó, nói một cách rộng
rãi, là nền tảng cho mọi xã hội dị biệt cùng tồn tại,
là điều mà Long Thọ nói là Trung đạo.
Giá
trị phổ quát của xã hội ấy luôn luôn được biểu hiện
nơi một người, hiện thân nơi một nhân vật lịch sử. Đó
là kinh nghiệm lịch sử. Do đó để nhận thức một cách
minh nhiên và thâm nhập giá trị phổ quát, người ta chiêm
nghiệm lịch sử qua từng nhân vật đại biểu. Ở đây, nếu
ta nói, giá trị phổ quát là điều mà Long Thọ gọi là trung
đạo; thì trung đạo ấy được nhân cách hóa, được hiện
thân như là Như lai. Như lai là Tuyệt đối thể của tồn
tại. Nhưng cứ từng thời điểm đặc thù Như lai xuất hiện
để biểu trưng giá trị đặc thù của thời điểm lịch
sử ấy. Bởi vì, Như lai, trước hết là nguyên lý như thực
của tồn tại nó như là chính nó. Cái gì tồn tại nó như
là nó, cái đó luôn luôn như vậy là như vậy, không biến
đổi.[26]
Đây
là ý nghĩa cho đoạn kinh, sau khi các Bồ tát Chúng hương trở
về quốc độ của mình, ở đây đức Phật Thích-ca hỏi
Duy-ma-cật: “Khi Ông muốn thấy Như lai, Ông thấy Như lai
như thế nào?”[27] Duy-ma-cật trả lời: “Khi con muốn thấy
Như lai, khi ấy con thấy Như lai bằng sự không thấy. Con thấy
Như lai không sinh từ tiền tế, không đến từ hậu tế, không
tồn tại trong hiện tại.”[28]
Ông
nói tiếp: “Bởi vì tự tính Như của sắc là phi sắc; tự
tính Như của thọ là phi thọ. Cho đến, tự tính Như của
thức là phi thức.”
Như
lai như vậy là thực tại của thắng nghĩa, chân lý tuyệt
đối. Tùy nhân duyên, tùy điều kiện thích hợp, bởi thời
gian và phương vực, Như lai xuất hiện trong muôn vàn sai biệt.
Thì ở đây, trong thế giới quy ước, Duy-ma-cật là ảnh chiếu
từ cảnh giới thắng nghĩa ấy. Cho nên, không phải ngẫu
nhiên hay vô tình mà Xá-lợi-phất lại hỏi Duy-ma-cật: “Ông
thác ở đâu mà tái sinh nơi này?” Duy-ma-cật hỏi trở lại:
“Pháp mà Thượng tọa tự thân chứng ngộ, pháp ấy có chết
đi và tái sinh chăng?”[29]
Đoạn
đối đáp này cũng có ý nghĩa đặc thù. Trước hết, Xá-lợi-phất
hỏi Phật: “Cư sỹ Duy-ma-cật này chết từ cõi Phật nào
mà tái sinh đến cõi Phật này?” Phật không trả lời mà
bảo Xá-lợi-phất nên hỏi thẳng Duy-ma-cật. Rồi hỏi đáp
xảy ra như đã dẫn.
Bởi
vì trong đoạn dịch của La-thập không có việc Xá-lợi-phất
trước hỏi Phật, cho nên các bản chú giải Trung hoa dựa
trên bản dịch này không biết đến ý nghĩa trực tiếp và
gián tiếp trong vấn đáp này.
Đối
với hàng Thanh văn, thân Phật là thân ngũ uẩn, chịu chi phối
của quy luật sinh diệt. Vì vậy mới có sự kiện Phật bịnh
và A-nan đi xin sữa bò và nhân đó mà có Duy-ma-cật chất
vấn.[30] Cũng theo ý nghĩa đó Xá-lợi-phất muốn biết Duy-ma-cật
chết ở đâu mà sinh ở đây, có sinh có chết.
Được
Phật khuyến khích, Xá-lợi-phất hỏi thẳng ý nghĩ của mình
với Duy-ma-cật, nhưng lại không nhận được câu trả lời
tương ứng với câu hỏi. Ông giải thích: “Chết là tướng
gián đoạn của các hành. Sinh là tướng tiếp nối của các
hành.”[31] Điều đó khẳng định sống và chết là những
hiện tượng tiếp nối như những con sóng trên đại dương.
Khẳng định này được thấy trong tất cả kinh điển Phật
giáo, nguyên thủy cũng như Đại thừa. Tuy nhiên, trong khẳng
định của Duy-ma-cật còn hàm chứa tính đồng nhất giữa
hai thế giới mặc dù trên mặt hiện tượng cả hai cách biệt
bởi không gian, và cả thơi gian. Cho nên, trong ý nghĩa cứu
cánh, Duy-ma-cật không thuộc về thế giới này, cũng không
thuộc về thế giới kia.
Trong
đối thoại này, chúng ta cần có nhận thức về quan điểm
Ba thân trong giáo nghĩa Đại thừa. Nếu hỏi về Pháp thân,
thì như Duy-ma-cật đã trả lời Phật: “Thấy Phật bằng
sự không thấy.” Bởi vì Như tính của sắc là phi sắc.
Pháp thân Phật là Như tính. Không thể nhìn Phậ bằng sắc;
không thể nghe Phật bằng âm thanh; ai hành như vậy là hành
tà đạo, không thể thấy Phật. Phật được thấy từ Pháp
thân; vì thân Phật là Pháp thân. Nhưng Pháp tính thì vượt
ngoài nhận thức. Trong kinh Kim cang, Phật nói như vậy.[32]
Thân Phật, như là pháp tính, như vậy là thân tịch diệt,
tuyệt đối vắng lặng, không dao động như đại dương không
chút gợn sóng. Thân như vậy không thể thấy, không thể diễn
đạt. Bồ tát là con chân thật của Phật, lưu xuất từ thân
như vậy, từ pháp tính như vậy, nên Duy-ma-cật không thể
trả lời ngài xá-lợi-phất là sinh ở đâu và chết ở đâu.
Thế
nhưng, như mặt trăng bất động giữa hư không, mà ảnh của
nó hiện khắp nơi; nơi nào có nước, nơi đó có trăng; tỏ
hay mờ tùy theo nước trong hay đục, nước lặng hay nước
sóng. Cung vậy, Pháp thân Phật bất động, tịch tĩnh, nhưng
tùy theo cơ cảm, tùy thời và tùy chốn, được thấy xuất
hiện, rồi biến mất. Đó là thân Ứng hóa tùy theo loại,
tùy theo thời. Đó là thân mà hết thảy phàm phu có thể thấy,
có thể nghe; nhờ đó mà được biết pháp, thấy được đạo,
để dẫn đến chứng đắc giải thoát, niết-bàn. Cho nên,
tuy Duy-ma-cật không trả lời, thì Phật trả lời thay: Duy-ma-cật
từ một thế giới có tên là Diệu hỷ; ở đó có Phật hiệu
là Vô Động. Ông từ đó mà đến nơi này.[33] Để minh giải
ý nghĩa đến và đi, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác,
Duy-ma-cật nói với Xá-lợi-phất: Ánh sáng mặt trời luôn
luôn đến nơi nào có bống tối, không phải vì ánh sáng mặt
trời có xu hướng cọng tồn với bóng tối. Nhưng nơi nào
bóng mặt trời xuất hiện, nơi đó bóng tối đi mất. Đó
là ý nghĩa Bồ tát từ tịnh độ đi đến uế độ.
Dù
là tịnh độ hay uế độ, dù ở đây hay ở kia, thảy đều
là biểu hiện từ phương tiện trí của Phật. Cho nên, thân
Phật và quốc độ Phật cùng tương ứng, như trăng với nước.
Thế giới Diệu hỷ, được giả thiết là bản nguyên bản
khởi của Duy-ma-cật, trong tự tính, tồn tại như là pháp
tính, thì thế giới đó không đến, không đi, không sinh, không
diệt. Nhưng khi thế giới thị hiện cho chúng sinh thấy, nơi
đó cũng có sự hiện diện của loài người, loài trời, cũng
có các hàng Thanh văn, Bồ tát, thì nơi đó, một cách tương
ứng, cũng tồn tại những núi, những sông, mặt trời, mặt
trăng, các vì sao, v.v. Thế giới có đến, có đi. Nếu Duy-ma-cật
tự thân đã từ đó mà đến, thì Ông cũng có thể mang cả
thế giới ấy đến nơi đây. Khi ấy, cả thế giới Diệu
hỷ to lớn, huy hoàng tráng lệ kia, bỗng chốc nằm gọn trong
lòng tay của Ông, và tất các đại chúng đang hiện diện
trong vườn xoài của kỹ nữ Am-ba-bà-lị đều có thể chứng
kiến. Trong khi đó, những ai trong cõi Diệu hỷ mà có thần
thông, đều cảm nhận thế giới này bị lệch ngoài quỹ
đạo của nó; tất cả đều kinh sợ. Như vậy, dù thế giới
Diệu hỷ là cõi tịnh độ, nhưng đó không phải là thế
giới vĩnh hằng. Nó có thể bị chuyển dịch, tất bị chi
phối bởi quy luật sinh diệt, vô thường. Các Thanh văn, Bồ
tát trong đó chợt kinh sợ, cho nên các vị ấy cũng không
phải đang tồn tại trong cảnh giới vô vi. Họ cũng chịu
quy luật sinh diệt như thế giới mà họ đang sống.
Duy-ma-cật
từ đó đến. Các đại chúng ở đây cũng có thể tái sinh
đến đó, nếu nhân duyên thích hợp. Đến điểm này thì
ý nghĩa bình đẳng giữa các quốc độ được nâng lên một
tầng nhận thức nữa. Và ở trong ý nghĩa đó, giá trị phổ
quát bấy giờ được nhận thức từ bản thể luận, từ
trong tự tính bản nguyên của nó.
Cho
đến đây, lý tưởng Bồ tát đạo, kiến thiết một thế
giới Phật tính, mà tự tính là bình đẳng như hư không,
đã được trình bày đến điểm tận cùng lý tính của nó.
Vậy
rồi, vườn xoài của kỹ nữ, và những vương tôn công tử
đến tìm lạc thú kia, tất cả sẽ trở thành là cái gì,
trong khoảng không gian vô cùng, thời gian vô tận này?
Mỗi người lại quay trở lại bên giường bịnh của Duy-ma-cật
để tự tìm cho mình một câu trả lời. Một câu trả lời
quyết định cho đời này và cả nhiều đời sau.
[1]
Chương này tổng luận cả ba phẩm, các bản Hán, phẩm 10,
Chi Khiêm, La-thập: phẩm Hương tích; Huyền trang phẩm Hương
đài; phẩm 11, cả ba bản: Bồ tát hành; phẩm 12, Chi Khiêm,
La-thập: Kiến A-súc Phật; Huyền Trang: Quán Như lai. Phạn
bản VKN: phẩm ix: Nirmitabhojanaparivarto nāma navamaḥ, Tib.: sprul
pas zhal zas blangs paḥi leḥu ste dgu poḥi (mang đến thực phhẩm
biến hóa), phẩm thứ x: Kṣayo’kṣayo nāma dharmaprābhṛtaparivarto
daśamaḥ, Tib.: zad pa dang mi zad pa zhes bya baḥi chos kyi rdzongs
kyi leḥu ste bcu paḥo (Tặng phẩm pháp được gọi là tận
và bất tận), phẩm xi: Abhiratilokadhātvānayana-akṣobhyatathāgathadarśanaparivarta
ekādaśaḥ, Tib.: ḥjig rten gyi khams mngon par dgaḥ ba blangs pa
dang de bzhin gshegs pa mi ḥkhrugs pa bstan paḥi leḥu bcu gcig paḥo
(đưa đến thế giới Abhirati và thấy Phât Akṣobhya).
[2]
Chỗ này Huyền Trang dịch khác với La-thập: “Sắp đến
giờ ăn. Các vị Ma-ha-tát này thuyết pháp mà chưa đứng dậy,
Thanh văn chúng ta cũng các Bồ tát sẽ ăn ở đâu.” La-thập
dịch sát với Phạn bản hơn: kālaḥ paryantībhūtaḥ/ ime ca
mahāsattvā nittihanti kutraite paribhokṣyante, thời gian săp hết
rồi, mà các vị Ma-há-tát này không đứng dậy. Họ sẽ ăn
ở đâu.”
[3]
Duy-ma kinh chú 8 (tr. 399c): La-thập nói, độc nhất Xá-lợi-phất
có ý nghĩ này vì ba lý do. Một, thể do nghiệp kết thành
cần được nuôi dưỡng. Hai, tư tưởng đoạn tuyệt với
cảnh giới quảng đại, tâm hướng đến pháp không sâu. Ba,
suy từ những gì mình cần mà cho rằng người khác cũng vậy.”
[4]
Tập dị 8, tr. 400b2. Saṅgīti, D.iii. 228.
[5]
ĐĐoàn thực團食, hay đoạn thực 段食, Thành duy thức luận
thuật ký, tr. tr. 367a8; Câu-xá 10, tr. 55a8. Hoặc chùy thực
揣食, Thành thật luận 2, tr. 251a2.
[6]
Tỳ-bà-sa, 129, T27n1545, tr. 674a1: thức ăn trưởng dưỡng
các căn, tăng ích các đại chủng.
[7]
Tạp a-hàm 15, kinh 272: Phật bảo Phả-cầu-na (Pali Phagguna):
“Ở đây Ta nói thức là thức ăn, vậy ngươi nên hỏi như
vầy: ‘Do nhân duyên gì mà có thức ăn là thức?’ Ta sẽ
đáp: ‘Thức ăn là thức, có thể chiêu cảm hữu trong vị
lai khiến cho nó tiếp tục sanh; do có hữu nên có sáu nhập
xứ; do sáu nhập xứ làm duyên nên có xúc.’” Pali, S. ii
tr.13 Phagguna: viññāṇāhāro āyatiṃ punabbhavābhinibbattiyā
paccayo, tasmiṃ bhūte sati saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso’
ti.
[8]
Tỳ-bà-sa, 130, T27n1545, tr. 676a20: Dục giới có đủ cả 4 loại
thực phẩm mà chính yếu là đoạn thực. Sắc giới có ba,
trong đó xúc thực là chính. Vô sắc giới cũng có ba
mà ba bậc dưới tư thực là chính; phi tưởng phi phi tưởng
xứ, thức thực là chính.
[9]
Tạp A-hàm 15, kinh 375; xem thêm các kinh 372-379. Cf. Pal: S. ii.
tr. 103 (Atthirrāga). Dẫn và giải thích của Tỳ-bà-sa
130, T27n1545, tr. 677a17.
[10]
Đại bát nhã 449, T07n220, tr. 264b23: “Bồ tát bằng tự tướng
Không mà quán sát tất cả các pháp, đã nhập chinh tính ly
sinh của Bồ tát (=chứng nhập Sơ địa), không có gì là khả
đắc, không có gì được tạo tác, tuyệt đố không sinh khởi.
Do tuyệt đối không sinh khởi, nên đắc phát nhẫn vô sinh.”
[11]
Tỳ-bà-sa 129, T27n1545, tr. 674b22 : thể của đoạn thực gồm
ba xứ (āyatanāni): hương, vị và xúc.
[12]
Mỗi vật được chỉ định bằng một danh (nāma). Các danh
kết hợp thành cú (pada). Các nhà Hữu bộ liệt danh vào hành
uẩn. Các nhà Kinh bộ liệt trong sắc uẩn vì cho rằng thể
của danh là thanh (śabda). Cf. Câu xá 5 , T29n1558, tr. 29a23.
[13]
Câu-xá 1, T29n1558, tr. 6a29.
[14]
Bản Phạn gần nghĩa với La-thập. Bản dịch của Huyền Trang
làm cho câu văn có vẻ hài hòa hơn.
[15]
Trí Khải, Cát Tạng, cũng bình giải đồng quan điểm.
[16]
Trung luận, k. xxiv.8-9.
[17]
Hoa nghiêm, bản 60, quyển 23, tr. 545b09; bản 80, quyển 34, tr.
181c10. Cf. Daśabhūmika, tr. R. 15.
[18]
Skt. kṣayākṣayo nāma bodhisattvānām vimokṣaḥ.
[19]
Định cú Pali, nói về Tỳ kheo đắc A-la-hán: idha, bhikkhave,
bhikkhu āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
[20]
Cf. A. ii. 34: yāvatā, bhikkhave, dhammā saṅkhatā
vā asaṅkhatā vā, virāgo tesaṃ aggamakkhāyati, yadidaṃ … taṇhākkhayo
virāgo nirodho nibbānaṃ.
[21]
Phẩm vii “Quán chúng sinh.”
[22]
Dhp. 46.
[23]
Phẩm ii “Phương tiện.”
[24]
Tạp A-hàm 15, kinh 373, tr. 102b18. Pāli, Puttamaṃsa, S.ii.98.
[25]
MK. xxiv. 18: yaḥ pratītyasamutpādaḥ śūnyatāṃ tāṃ pracakṣmahe/
sā prajñaptỉ upādāya pratipat saiva madhyamā. Hán dịch của
La-thập: 眾因緣生法 </l><l>我說即是無 </l>
<lb
n="0033b12"/><l>亦為是假名 </l><l>亦是中道義. Cách
dịch khiến các nhà giải thích phổ thông hiểu rằng: pháp
sinh bởi nhân duyên, pháp ấy là không, là giả danh, và trung
đạo. Nhưng trong Phạn bản, không phải pháp duyên khởi là
giả danh và trung đạo; mà tính Không là giả danh và trung
đạo. Bởi, đại từ sā trong nữa tụng dưới là giống cái
không thể thay thế từ pratītyasamutpādaḥ (duyên khởi) vốn
là giống đực. Tất nhiên nó (sā) thay thế từ śūnyatām
(tính Không) trong nữa tụng trên), vì từ này giống cái. Xem
giải thích của Candrakīrti, Prasannapada.
[26]
Candrakīrti, Prasannapadā, tr. 265: tathābhāvo’vikāritvaṃ
sadaiva sthāyitā.
[27]
VKN: yadā tvaṃ kulaputra tathāgatasya darśanakāmo bhavasi kathaṃ
tvaṃ tathāgataṃ paśyasi?
[28]
VKN: yadāhaṃ bhagavaṃs tathāgatasya darśanakāmo bhavāmi tadā
tathāgatam apaśyanayā paśyāmi pūrvāntato ‘jātam aparantato saṃkrāntaṃ
pratyutpanne dhvany asamhitaṃ paśyāmi.
[29]
VKN: sthavireṇa dharmaḥ sākṣātkṛtaḥ kaccit tasya dharmasya
cyutỉ upapattir vā?
[30]
Xem phẩm iii “Chúng đệ tử.”
[31]
Các bản Hán dịch có hơi khác với Phạn, VKN: cyutir iti…
abhisaṃskāralakṣaṇapadam etat upapattir ity abhisaṃskāraprabhanda
…, chết là hình thái của các tác hành; sự tiếp nối của
các tác hành.
[32]
Vajracchedikā: ye māṃ rūpeṇa cādrākṣurye māṃ ghoṣeṇa
cānvayuḥ | mithyāprahāṇaprasṛtā na māṃ drakṣyanti te janāḥ
||1|| dharmato buddhā draṣṭavyā dharmakāyā hi nāyakāḥ | dharmatā
ca na vijñeyā na sā śakyā vijānitum ||2|| Bài kệ thứ hai trong
Phạn bản, không có trong bản dịch của La-thập. Hán dịch
của Huyền Trang: 應觀佛法性 即導師法身 法性非所識 故彼不能了.
[33]
Khuy Cơ, tr. 1107a: “Phật hiệu A-súc, đây dịch là Vô Động.
Tám gió không nhiễu, bốn Ma không xâm, thương an trú, không
biến đổi, nên gọi là Vô Động. Vì để hóa độ chúng
sinh, Ông từ đó tái sinh nơi đây.”