|
cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Làm
Vừa Ðủ là Trung-Ðạo
Gấp
thì đứt, chậm thì lỏng.
Không
chậm, không gấp mới thành công.
Pháp
môn tham thiền, cần hồi quang phản chiếu ở mọi thời mọi
lúc một cách tự nhiên. Mình không được quá gấp rút, cũng
không được quá chậm chạp; nên có câu nói rằng:
Khẩn
liễu băng, mạn liễu tông
Bất
khẩn bất mạn tài thành công.
Nghĩa
là:
Gấp
thì đứt, chậm thì lỏng
Không
chậm, không gấp mới thành công.
Không
gấp không chậm là trung đạo; đi đứng nằm ngồi đều không
rời "cái nầy," xa rời khỏi "cái nầy" tức là sai lầm. "Cái
nầy" là cái gì? Ðó chính là Trung-đạo liễu nghĩa.
Tham
thiền không được đi vào cực đoan, không được quá lố
cũng không được thiếu hụt; quá lố hay thiếu hụt đều
không phải là Trung-đạo. Không rơi vào "không," cũng không
rơi vào "hữu," không rơi vào hai biên tế, mới gọi là Trung-đạo.
Nên nói rằng: "Trung-đạo chính là phi không phi hữu" (chẳng
không mà cũng chẳng có), cũng có nghĩa là chân không diệu
hữu. Không chấp trước chân không, nhưng cũng đừng quái
ngại diệu hữu. Chân không diệu hữu đều không thể nắm
bắt, cũng không thể xả bỏ. Nắm cũng không được, bỏ
cũng không xong, đó chính là cảnh giới của chân không diệu
hữu.
Người
dụng công cần phải có thủy có chung (có đầu có đuôi)
thì mới thành tựu được. Rằng: "Quán triệt thủy chung."
Không thể một ngày tu rồi mười ngày nghỉ nhất bộc thập
hàn nghĩa là một ngày hơ ấm, mười ngày bỏ lạnh. Không
được gặp chuyện khó khăn liền thối lui, đi được nửa
đường rồi bỏ cuộc, người như vậy là kẻ không có chí
khí. Cổ nhân nói:
Tu
Ðạo bất phạ mạn, chỉ phạ trạm.
Nghĩa
là:
Người
tu đạo không sợ chậm, chỉ sợ đứng một chỗ.
Lúc
thường dụng công tham thiền, mình nên chú ý vào thoại đầu,
dùng Kim-cang bảo kiếm (tức là trí huệ) để chặt hết vọng
tưởng. Vọng tưởng hết, thì trí huệ hiện tiền. Có trí
huệ quang minh, mới phá tan vô minh hắc ám. Vô minh phá trừ
rồi, mình thoát khỏi Tam-giới, hết sinh tử, lúc đó mới
ra khỏi vòng tròn định mạng (thập nhị nhân duyên).
Người
dụng công tu đạo cần có tâm nhẫn nại. Bất luận trường
hợp khó khăn gian khổ nào, cũng cần nhẫn thọ. Nhẫn nại
thì mới tới được bờ bên kia. Vì vậy trong khi đả thiền
thất đừng nên sợ khổ. "Khổ tận cam lai" nghĩa là đắng
hết, ngọt lại. Nếu mình chưa lặn xuống tận đáy, mình
sẽ không bao giờ vươn lên tận chóp đỉnh. Căn nhà cao hằng
ngàn trượng đều từ nơi mặt đất xây lên, không phải
xây lên trong hư không. Bởi thế cần hạ thủ tham thiền nơi
chốn căn bản, tức là trừ bỏ vọng tưởng. Nếu mình có
thể ngừng vọng tưởng, thì lúc đó:
Tâm
thanh, thủy hiện nguyệt,
Ý
định, thiên vô vân.
Nghĩa
là:
Lòng
trong suốt, trăng hiện bóng nước.
Ý
an định, trời xanh không mây.
Khi
lòng thơi thản, trăm nạn tiêu hết. Ý yên định, mọi chuyện
an bình. Rằng:
Tâm
chỉ niệm tuyệt chân phú quý.
Tư
dục đoạn tận chân phước điền.
Nghĩa
là:
Tâm
ngừng, niệm dứt là giàu sang thật.
Lòng
tư dục cạn, ruộng phước mới chân.
Tham
thiền tức là dứt hết vọng, chỉ còn sự chân thật (khử
vọng tồn chân). Cũng giống như sàng cát đãi vàng vậy; ở
trong cát mà tìm vàng đó là chuyện rất khó khăn. Tuy nhiên,
nếu mình muốn tìm vàng thì phải tìm trong cát, tất phải
có lòng nhẫn nại. Quý-vị có muốn hiểu rõ Phật tánh của
mình không? Muốn được minh tâm kiến tánh chăng? Vậy thì
phải nhẫn nại tu hành, nhẫn nại tham thiền, nghiên cứu,
lâu dần thì tất nhiên sẽ quán thông, sẽ khai ngộ; "ồ!
Thì ra là vậy."
Khi
tham thiền thì mình đừng để ý đến chuyện khác, cứ một
mực tham câu "Niệm Phật là Ai?" Phải tìm cho ra "Ai" đó, chỉ
khi nào tìm ra rồi thì lúc đó mới ngừng tham. Công phu mình
đã đến chỗ thuần thục rồi, thì tự nhiên sẽ gặt hái
được kết quả tốt.
Khi
ngồi trong thế kiết già, đem chân trái gác lên đùi phải,
đem chân phải gác lên đùi trái. Ðó là vì chân trái thuộc
về dương, chân phải thuộc về âm. Cho nên khi ngồi thiền,
chân trái (dương) thì ở phía trên, chân phải (âm) thì ở
phía dưới, đó cũng giống như là vô cực sinh thái cực,
thái cực sinh lưỡng nghi (tức là âm và dương). Tuy ý nghĩa
như vậy; nhưng để cho tiện, quý-vị muốn bỏ chân trái
ở dưới, chân phải ở trên cũng được; bởi vì Pháp thì
không nhất định, tùy theo thói quen của mỗi người, không
cần phải chấp trước một phương pháp, một tư thế cố
định nào cả. Ðể chân trái ở trên chân phải là một phương
pháp mà thôi, không phải là một quy luật tuyệt đối; rằng
quý-vị phải tuân theo như vậy.
Nói
tóm lại, kiết già phu tọa là thế mình dễ nhập định nhất.
Nếu mình có thể nhập định trong lúc đi thì ngồi hay không
ngồi đều không thành vấn đề. Cảnh giới lúc nhập định
thì không có một chút vọng tưởng nào, trong tâm một niệm
chẳng nẩy sinh, bụi trần chẳng nhiễm. Nếu có thể đi đứng
nằm ngồi không sinh một niệm nào, không nhiễm ô bụi trần
thì đó là lúc dụng công đấy. Không nhất định ngồi mới
gọi là dụng công tham thiền.
Phật
Pháp rất Bình Ðẳng
Trong
Phật-giáo một phần công,
một
phần tội đều chẳng bao giờ sai lạc.
Phật-pháp
rất thâm áo. Khi ở trong Phật-pháp mình không cảm thấy chỗ
nào tốt, khi ở ngoài Phật-pháp mình cũng chẳng thấy chỗ
nào xấu. Song, trong Phật-giáo một phần công, một phần tội
đều chẳng bao giờ sai lạc. Ðạo Phật hết sức tự do,
bình đẳng, chẳng có chuyên chế, cũng chẳng đi vào chỗ
cực đoan.
Tại
sao nói là hết sức bình đẳng? Bởi vì tất cả chúng sinh,
bất luận là ngạ quỷ địa ngục, hung thần ác thú, kẻ
dữ người xấu, nếu phát tâm tu hành, quay đầu về bến,
đều có thể thành Phật. Không giống như thuyết ngoại đạo
rằng: "Kẻ ác người xấu thì vĩnh viễn là xấu ác, không
có cách gì có thể độ được. Hoặc rằng mãnh hổ ác thú
vì tánh tình vô cùng tàn bạo, sẽ không được cứu vớt."
Ðời
nhà Minh bên Trung Quốc có vị Ðại-sư tên là Liên Trì. Ngài
có một đệ tử là con cọp, thường hay ở bên cạnh để
hộ vệ Ngài. Nhưng vì cọp là loài ác thú, nên mọi người
thấy đều sợ hãi. Do đó, Ðại-sư mới dạy con cọp nầy,
rằng mỗi lần đi ra đi vô thì không được đi thẳng; con
cọp liền nghe lời Ngài, khi ra vô đều đi lui. Nên mọi người
không còn sợ, vì biết là cọp thiện. Con cọp nầy cũng biết
đi khắp nơi để hóa duyên cho Liên Trì Ðại-sư. Khi người
ta thấy con cọp thiện này tới, ai nấy đều tranh nhau bố
thí cúng dường. Thành ra cọp cũng có thể quy y Tam-bảo, hộ
trì Phật-pháp, và có thể thành Phật vậy.
Phật-giáo
hết sức là tự do, bởi vì giáo lý trong Kinh Phật chỉ khuyên
dạy người ta làm thiện tránh ác. Làm ác thì tự mình thọ
quả báo. Nhưng Phật-giáo cũng không bắt ép người ta làm
chuyện tốt, cũng không dọa rằng: "Nếu không nghe lời, chuyên
tạo ác nghiệp thì bị bỏ vào tù." Bởi vì mọi thứ đều
do tâm tạo, thiên đường hay địa ngục đều do tư tưởng
và nghiệp lực của mình tạo thành. Phật-pháp dạy người
ta rằng: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành." Nghĩa
là đừng làm chuyện ác, chỉ làm tất cả điều lành, đồng
thời xiển minh đạo lý nhân quả, không sai lạc được dù
đối với việc nhỏ như sợ tóc, để người ta nhận thức
được chân lý siêu xuất luân hồi.
Ðại
Thiện Ðại Ác
Vượt
Ra Ngoài Số Mạng
Vận
mệnh có thể sửa đổi,
khả
năng sửa đổi ở trong tay mình.
Xưa
kia có một vị họ Viên hiệu Liễu Phàm, tên Học Hải, là
một danh nho đời nhà Minh, lúc nhỏ chàng hay đọc sách nhưng
phụ thân muốn chàng học nghề thuốc để tế thế cứu người,
cho nên chàng liền cải đổi học y. Về sau, chàng gặp một
vị tướng số râu dài nói với chàng rằng: "Ngài có số
làm quan, ngài nên đọc sách để có thể làm quan lớn. Vào
ngày đó tháng đó thì ngài sẽ đậu tú tài; năm đó tháng
đó ngày đó ngài sẽ được làm huyện quan, bổng lộc rất
nhiều, bao nhiêu đó... Rồi năm nọ tháng kia ngài sẽ được
thăng quan tiến chức bỗng lộc bao nhiêu bao nhiêu... Cho đến
năm năm mươi bốn tuổi, ngày 14 tháng 8 nửa đêm ngài sẽ
mệnh chung, suốt đời không có con cái gì cả." Do vậy cho
nên Viên Học Hải mới đổi môn học, thì quả đúng như
lời toán số, mười phần linh nghiệm. Bởi vì mệnh vận
đã định rồi cho nên chàng chẳng cần tinh tấn, chẳng cầu
tiến bộ. Suốt ngày chỉ du sơn ngoạn thủy.
Một
hôm nọ chàng tới núi Thê Hà, tại đó có một vị thiền
sư tên là Vân Cốc. Khi chàng tới bái kiến vị thiền sư
này; Thiền-sư Vân Cốc liền đưa cho chàng một bồ đoàn.
Hai người ngồi đối diện như vậy suốt ba ngày, thiền sư
cảm thấy rất là kỳ lạ, hỏi rằng: "Ngài từ đâu tới?
Có thể ba ngày đêm ngồi bất động chẳng có vọng tưởng,
hẳn rằng ngài là một vị kỳ nhân tu đạo."
Họ
Viên đáp: "Bởi vì tất cả mọi sự đều do vận mệnh an
bài, nên tôi chẳng tham chẳng cầu, chẳng có vọng tưởng
gì cả."
Vị
thiền sư nghe nói liền tiếp lời: "Tôi tưởng ngài là một
bậc phi thường, nhưng hóa ra ngài chỉ là một kẻ phàm phu
tục tử."
Họ
Viên nghe thế, lấy làm không vui, mới hỏi rằng: "Sao thiền
sư nói tôi chỉ là một kẻ phàm phu tục tử?"
Thiền
sư trả lời: "Nếu không phải là phàm phu thì tại sao lại
bị vận mệnh trói buộc?"
Họ
Viên liền hỏi: "Vận mệnh trốn thoát được chăng?"
Thiền
sư đáp rằng: "Ngài là kẻ thư sinh đọc sách, sao lại không
biết trong Kinh Dịch có một câu nói rất rõ là: "Thú kiết
tỵ hung," nghĩa là tới chỗ tốt, tránh chỗ xấu. Nếu mà
số mạng không thể trốn được thì làm sao tới chốn an
tường, tránh xa điềm dữ.
Họ
Viên nghe thấy liền đại ngộ, lập tức đổi tên mình thành
Liễu Phàm. Ý nói rằng từ ngày hôm nay về sau mình không
còn là kẻ phàm phu nữa. Từ đó về sau, chàng luôn làm việc
thiện, tích phước tích đức khiến những điều mà vị tướng
số nói không còn linh nghiệm nữa. Viên Liễu Phàm sống đến
hơn tám mươi tuổi, có ba người con. Bởi vậy vận mệnh
không phải là nhất định, điều tốt xấu kiết hung cũng
không phải nhất định. Cổ nhân nói rằng: "Quân tử tạo
mệnh." Người có đạo đức, chính nhân quân tử thì có thể
sửa đổi được vận mệnh, siêu xuất khỏi số mệnh mình.
Tại
sao có điều chẳng lành xảy ra? Ðó là vì trong tâm mình chẳng
lành, mình luôn trồng những thứ nhân ác thì đương nhiên
sẽ gặt những thứ ác báo. Nếu như mình có thể sửa đổi
lỗi lầm, làm lành tránh dữ, thì mình có thể thú kiết tỵ
hung. Từ chuyện này mà suy ra rằng vận mệnh có thể thay
đổi, mà chính năng lực thay đổi đó lại ở trong tay mình.
Rằng: "Ðại thiện đại ác, vượt ra ngoài số mạng."
Xin
Bồ-tát Làm Tiêu Ðộc Cho Toàn Cầu
Dùng
cam lồ và nước pháp tẩy trừ độc khí trên thế giới.
Ðộc tiêu một phần, thế giới bình an thêm một phần.
Tại
sao ta đả Ðịa Tạng Thất? Bởi vì hiện tại thế giới
có quá nhiều tai nạn, nên chúng ta cần Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát
dùng sức bổn nguyện làm tiêu mọi tai nạn.
Ðịa
Tạng Bồ-tát rất tôn trọng đạo hiếu, bởi vì Ngài đời
đời kiếp kiếp luôn là người con hiếu thảo với cha mẹ.
Ðây không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì chính từ sự
khốn khổ gian nan mà Ngài tu luyện thành đạo. Cha mẹ Ngài
không tin Tam-bảo, nhưng Ngài phải thuận ý họ, dùng mọi
thứ thiện xảo phương tiện để khuyến dụ các vị đó
sinh lòng chính tín nơi Tam-bảo. Nơi nào Ngài tới, Ngài đều
làm hạnh Bồ-tát, chẳng lộ hình tướng, không chấp trước.
Không có hình tướng là bởi vì Ngài không kể công, không
tự mình khen đức hạnh. Cũng giống như khi cứu độ chúng
sinh, Ngài lại nói rằng là chúng sinh tự độ, không muốn
chúng sinh cám ơn Ngài, đảnh lễ Ngài.
Khi
Ngài ở địa vị Bồ-tát, Ngài không nghĩ rằng mình cao minh
hơn các vị Bồ-tát khác; hoặc là mình có thệ nguyện vĩ
đại, có lòng từ bi rộng lớn hay có thần thông quảng đại
hơn hết. Ngài không có những tư tưởng đó. Mọi việc làm
của Ngài, nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh đều
coi như vô sự: Việc mình đem hết sức hết lòng ra làm mà
không thấy mình có làm, không sinh lòng kiêu hãnh, cũng không
làm kẻ khác chú ý. Ngài chỉ nghĩ rằng đó là bổn phận
của Ngài, Ngài không kể lể công trạng, vì thế Ngài cảm
động được tất cả chúng sinh, khiến họ tán thán xưng
dương ca ngợi Ngài, thậm chí cả Phật cũng khen ngợi Ngài
nữa. Phật không tùy tiện khen ngợi kẻ khác, chỉ khi nào
có kẻ xứng đáng thì Phật mới khen mà thôi. Bởi vì Ðịa
Tạng Bồ-tát không kể công, Ngài cũng không tuyên truyền
công đức của mình nên cảm ứng đạo giao. Cảm ứng đạo
giao đó không phải do dùng thủ đoạn, hay mánh khóe mà được.
Nó tới một cách tự nhiên. Người tu Ðạo chúng ta phải
học tinh thần thề nguyện vô biên của đức Ðịa Tạng:
Ðịa
ngục vị không, thệ bất thành Phật.
Chúng
sinh độ tận, phương chứng bồ-đề.
Nghĩa
là:
Ðịa
ngục chưa trống, thề chưa thành Phật.
Chúng
sinh độ hết, mới chứng bồ-đề.
Hàng
năm chúng ta đả thất, bởi vì muốn thế giới tiêu trừ
độc khí. Hiện tại không khí rất ô nhiễm, vũ trụ đầy
các thứ khí độc, mà tất cả những phương pháp đều không
thể trừ được nó, chỉ có cách là chúng ta phải chí tâm
thành khẩn, cầu chư Phật Bồ-tát phóng quang, tiêu trừ những
thứ độc khí đó, làm khí độc vô hình vô ảnh đó tiêu
tan đi. Nên ở Vạn Phật Thánh Thành, mọi việc làm, đều
có quan hệ đến sự an nguy của toàn thế giới. Ở trong đạo
tràng này, quý-vị còn không thành tâm, thì thế giới ắt
tăng thêm nguy hiểm hơn!
Nhân
loại tạo ra quá nhiều ác nghiệp và sức người khó tiêu
trừ chúng được. Hôm nay nhân ngày vía Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát,
chúng ta đồng tâm, hết sức chí thành niệm "Ðịa Tạng Vương
Bồ-tát"; kỳ vọng rằng có thể cảm động được lòng từ
bi của Bồ-tát, khiến Ngài giúp thế giới được tới chỗ
bình an vô sự. Có được cảm ứng nầy hay không, đều do
sự thành tâm của quý-vị cả. Sức của một người thì
không đủ, phải cần sức lực của đại chúng. Cho nên nói:
Ðại chúng chí thành, hợp tâm hợp lực, cùng nhau cầu đảo
cho thế giới hòa bình.
Bây
giờ trong tâm quý-vị đã hiểu rằng, thế giới đầy tai
ách này chẳng có hòa bình. Bởi vậy hiện tại các đạo
tràng trên thế giới đều cầu đảo sự hòa bình. Ðầu tiên
cả là do Phật-giáo Giảng Ðường, Kim Sơn Thánh Tự đề
xướng, sau đó những nơi khác ở Hương Cảng, Ðài Loan đều
làm theo; đó cũng chứng minh rằng thế giới đang lâm vào
tình trạng rất khó khăn nguy hiểm. Tuy nhiên, chơn chính cầu
đảo cho hòa bình thế giới thì có đạo tràng ở Vạn Phật
Thánh Thành. Tại sao vậy? Bởi vì ở đây tổ chức pháp-hội
gì, đều không hy vọng có đại thí chủ tới cúng dường
tiền bạc, mỗi năm tổ chức một cách âm thầm; cứ tới
ngày giờ là tổ chức. Chẳng cần biết là có trai chủ hay
không; cứ theo thường lệ mà tiến hành, coi đó là bổn phận
của mình, không tự hào, không mảy may tính toán chuyện lợi
hại gì. Mình chỉ hy vọng rằng Phật sẽ phóng quang gia bị
sớm tiêu trừ tất cả những độc khí trên thế giới. Quán
Âm Bồ-tát dùng nước cam lồ, quán đỉnh khiến chúng sinh
tai tiêu bệnh trừ, tội diệt phước sinh. Ðịa Tạng Bồ-tát
dùng nguyện lực quảng đại của Ngài làm chúng sinh ly khổ
đắc lạc, tiêu tan hết tai nạn ách chướng. Niệm Quán Âm
Bồ-tát, niệm Ðịa Tạng Bồ-tát tức là giúp cho thế giới
được tiêu độc, nhưng không cần dùng thuốc sát trùng, chỉ
cần dùng nước cam lồ pháp thủy để tiêu trừ độc khí
trên thế giới. Tiêu đi một phần thì thế giới có thêm
một phần bình an. Khi độc khí không còn nữa, lúc đó chúng
sinh sẽ được hưởng phước, nhân loại sẽ được an lành!
Giảng
ngày 4 tháng 9 năm 1982,
nhân
dịp Ðại Tạng Thất tại Vạn Phật Thành.
Phật
Pháp Là Gì?
Tu
đạo tức là "quay ngược lại."
Thế
nào là Phật-pháp? Phật-pháp tức là thế gian pháp. Song nó
là pháp mà người thế gian không muốn làm. Người đời ai
cũng bận rộn lăng xăng, mà phát xuất điểm không ngoài lòng
ích kỷ riêng tư, chỉ lo bảo vệ thân mạng và của cải
chính mình. Phật-pháp thì đại công vô tư (chỉ có công ích
không có tư lợi) đem lợi ích đến mọi người. Khi học
Phật-pháp, trong mọi việc làm mình hãy nghĩ đến người
khác. Hãy xem nhẹ cái "tôi" này, quên mình vì người và chớ
làm kẻ khác bực dọc phiền não. Ðó chính là Phật-pháp.
Song phần lớn người ta không nhận thức rõ ràng được điểm
này. Vì thế trong Phật-giáo xảy ra đủ thứ tranh chấp, cãi
vã, phiền não, thị phi. Chẳng khác gì, hoặc tệ hơn, chốn
trần tục của người đời nữa. Những người này một đằng
học Phật, một đằng tạo tội nghiệp. Vừa lập chút công,
lại vừa tổn chút đức. Do đó, chẳng những họ không mang
lợi ích cho đạo Phật, mà ngược lại làm tổn hại đạo
Phật. Việc ấy đức Phật gọi rằng: "Con giòi trong thân
sư tử, gặm nhấm thịt sư tử."
Là
đệ tử Phật, nếu mình ích kỷ, tự lợi, không biết nhìn
xuyên suốt (khán phá), không chịu buông bỏ (phóng hạ), thì
sao tương ưng với Phật-pháp được? Người học Phật cần:
Chân
nhận tự kỷ thác
Mạc
luận tha nhân phi
Tha
phi tất ngã phi
Ðồng
thể danh đại bi.
Nghĩa
là:
Tự
nhận rõ mình lỗi.
Chớ
nói người khác sai.
Họ
sai tức mình sai.
Ðồng
thể là đại bi.
Muốn
hiểu chân lý đạo Phật thấu đáo, trước tiên mình cần
tự tu nhẫn nhục, bố thí. Thế mới đưa tới thành tựu.
Mình cần "xoay ngược lại," tức là phải tách biệt với
người đời, không a dua theo trào lưu. Tu đạo mình cần "Ðổi
ngược lại." Nghĩa là sao? Tức là: "Nhường cho người việc
tốt, tự mình lãnh việc xấu." Buông bỏ bản ngã hẹp hòi
để hoàn thành Ðại Ngã.
Phàm
là đệ tử của tôi, các vị đều là máu thịt nơi thân
tôi. Bất luận là máu thịt nào bị cắt xén, tôi cảm thấy
đau đớn lắm. Bất kỳ nơi nào chảy máu, đều làm tổn
thương nguyên khí của tôi. Do đó các vị hãy đoàn kết với
nhau. Vì muốn làm Phật-giáo rạng rỡ vẻ vang, các vị cần
chịu đựng những chuyện thiệt thòi mà không ai chịu nổi,
phải nhẫn những thứ nhục nhã mà không ai nhẫn nổi. Phải
để lòng dạ rộng rãi, làm gì cũng cần thật thà. Mình không
thật thà thì Phật Bồ-tát biết hết đó. Làm sao mình lừa
bịp chư Phật Bồ-tát được. Các vị hãy kiểm thảo lỗi
lầm của mình, thành tâm sửa đổi điều sai trái, chân chính
nhận thức những thái độ, hành vi điên đảo, không hợp
đạo lý của mình. Cứ thành thật, quên phứt mình đi để
phục vụ toàn thể Phật-giáo và xã hội.
Bất
kỳ một tổ chức, một xã hội nào trên thế giới cũng đầy
dẫy chuyện tranh chấp, đấu tranh vô cùng phức tạp. Chúng
ta hãy cải thiện tình trạng này trong các chùa thuộc Tổng
Hội Phật Giáo Pháp Giới như Vạn Phật Thánh Thành, Kim Sơn
Thánh Tự, Kim Luân Thánh Tự... Tuy mình không thể sửa đổi
hoàn hảo ngay lập tức, hãy từng bước sửa đổi tới lúc
hết sức hoàn thiện, triệt để và rốt ráo. Bất kỳ lúc
nào mình cũng cần giữ gìn hành vi và chí nguyện cao thượng
để triển khai rạng rỡ Phật-giáo. Ðó là trách nhiệm cần
có của mỗi Phật tử. Nếu Phật-giáo không hưng thạnh, đó
là do mình chưa tận tình làm tròn trách nhiệm. Chớ nên đẩy
trách nhiệm lên kẻ khác. Nếu làm được thế, chẳng bao
lâu Phật-giáo nhất định rạng rỡ, lan rộng khắp mọi nơi
trên thế giới.
Là
đệ tử Phật, phải chăng mình cầu Phật gia bị hằng ngày?
Cầu Phật giúp mình phát tài, thăng quan hoặc khai trí huệ?
Phải chăng mình chỉ cầu Phật giúp mình, chẳng hề suy nghĩ
tự hỏi mình có cống hiến, đóng góp gì cho Phật-giáo chăng?
Mình có chân thật chăng? Ðây là điểm mà mình phải thường
hồi quang phản chiếu.
Lúc
quy y, các vị phát bốn nguyện rằng:
1)
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ: Hãy tự hỏi mình: "Ta
độ được ai chưa?" Nếu đã độ rồi thì hãy độ thêm
nữa. Nếu chưa độ ai hãy phát tâm độ chúng sanh.
2)
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn: Phiền não thì nhiều
vô cùng tận. Chỉ cần ta biến đổi chúng hóa ra bồ đề.
Mình đã biến đổi chúng chưa? Nếu chưa, thì hãy mau mau biến
đổi chúng.
3)
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học: Hãy tự kiểm thảo:
"Ta có học Phật-pháp chăng? Ta có ra sức vì đạo Phật chưa?
Phải chăng ta học một cách cứng ngắc, không biết làm sao
vận dụng nó, rồi một ngày tu luyện, mười ngày bỏ bê?"
4)
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành: Trong thiên hạ không
có pháp môn gì siêu thoát và cứu cánh hơn đạo Phật cả.
Song ta đã chân chính phát tâm thành Phật chưa? Không những
ta phải thành Phật mà còn phải độ hết thảy chúng sanh
thành Phật nữa.
Nhìn
lại quá khứ, đức Phật Thích Ca đã tu phước tu huệ suốt
ba A-tăng-kỳ kiếp, vun trồng tướng hảo cả trăm kiếp. Ngài
đã từng xả thân mạng để đổi lấy nửa câu kệ pháp.
Tinh thần ấy thật vĩ đại quá! Sự chân thành cầu Pháp
của Ngài thật cao thượng! Mình phải bắt chước tinh thần
ấy.
Ðã
hơn 3, 4 năm nay, mỗi tháng tôi đều đến Kim Luân Thánh Tự
ở Los Angeles. Tôi cảm thấy các vị chưa đắc được lợi
ích chân chính của Phật-pháp; cũng chưa thật sự thể hội
được tinh thần vĩ đại của Phật-pháp. Các vị đã đặt
mình ra ngoài Phật-pháp, chưa thâm nhập gì cả.
Nếu
muốn Phật-giáo hưng thạnh, mình phải sửa đổi từ chính
bản thân mình trước. Hãy đem lòng chân thật, hy sinh nổ
lực vì đạo Phật. Chớ nên biết có phạm vi nhỏ hẹp quanh
mình. Phải lấy pháp giới làm bản thể; chỗ ứng dụng,
chốn hành động của mình bao trùm hư không. Rằng: "Hãy sinh
cái tâm không dựa, không trước vào đâu cả." (Ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm). Nếu ai cũng làm như vậy thì Phật-giáo
sẽ rạng rỡ lắm.
Vô
Qui Củ Bất Thành Phương Viên
Không
Nhẫn chịu được cũng phải gắng nhẫn chịu. Ðừng sợ
đau, đừng đi loanh quanh luẩn quẩn. Nếu không thì sẽ không
đạt được định.
Trong
thời gian đả thiền thất, mọi người phải hiểu qui củ
thiền đường. Khi chưa đánh mõ thì không ai được chạy
hoặc đi cả. Nếu mình không giữ qui củ, không nghe theo hiệu
lệnh tức là phạm qui củ. Trong thiền đường có quy luật
của thiền đường. Sau khi khai tịnh, vị sư Duy-na phải nhìn
xem mọi người đã mang giầy dép xong chưa, sau đó mới gõ
một tiếng khánh. Chờ mọi người đứng lên rồi, thầy Duy-na
mới đánh tiếp hai tiếng mõ. Hai tiếng mõ chưa đánh, dù
mọi người đã đứng lên, không ai được phép đi cả. Ðó
là qui củ rất đơn giản. Quý-vị phải hiểu nó. Nếu vừa
khai tịnh mà đánh mõ ngay, người còn chưa đứng lên thì
làm sao đi? Nếu phải chờ thêm ba phút nữa cũng không sao.
Vì có nhiều người ngồi lâu bị tê chân, đứng lên còn
không được thì làm sao đi? Ðó là tri thức rất là phổ
thông trong thiền đường mà quý-vị cần phải hiểu.
Tôi
biết có nhiều người ngồi lâu chân bị tê rồi khóc ròng.
Khóc thì chẳng có ích lợi gì cả. Càng khóc thì càng đau.
Cái chân nó đâu có nói rằng: "Nếu bạn khóc thì tôi sẽ
hết đau!" đâu.
Nhiều
người cho rằng ngồi thiền là điều rất tốt. Kỳ thật,
ngồi thiền là nhẫn chịu sự khổ. "Càng tốt" tức là "càng
khổ" vậy. Mọi người ở đây, hai giờ rưỡi sáng đã dậy
rồi, ban ngày chỉ có một giờ để nghỉ ngơi rồi tiếp
tục công phu cho đến mười hai giờ đêm. Mỗi ngày chỉ ngủ
có hai, ba tiếng đồng hồ. Ðó là dụng công mà quên tánh
mạng của mình. Cũng có thể nói là "Xả tử hoán sinh" (vất
cái chết, đổi lấy sự sống). Rằng:
Xả
bất liễu tử, hoán bất liễu sinh,
Xả
bất liễu giả, thành bất liễu chân.
Nghĩa
là:
Không
bỏ được cái chết,
sao
đổi được cái sinh.
Không
bỏ được cái giả,
sao
thành được cái thật.
Quý-vị
nếu không chịu được khổ làm sao hưởng được phước.
Nên muốn đến được chỗ chân chính công phu thì phải nhẫn
khổ nại lao, phải nghiến răng chịu chân đau. Thật sự cái
đau nầy có thể chẳng đau. Song vì mình muốn đau nên nó
mới đau, nó bắt mình phải chịu khổ. "Nhẫn bất năng nhẫn"
đó là nhẫn cái đau của chân này. Khi đau, nếu mình không
nhẫn nại được, thì coi như mình không vượt qua được
thử thách. Mình nhất định muốn đem toàn thân, tất cả
cơ quan nầy phá hủy nó đi. "Cơ quan" tức là ám chỉ sự
đau khổ của thân, hoặc chỉ chỗ đau nhức, hoặc chỉ chuyện
phiền não. Nếu ngay lúc đau đớn mình có thể nhẫn chịu,
không sinh phiền não, đó chính là công phu. Nếu như không
nhẫn được, thì coi như không vượt qua thử thách. Có người
đến đây, chỉ một ngày cũng không chịu nổi, cứ muốn
trốn đi. Quý-vị hiện giờ đã vượt qua nhiều ngày, là
chuyện không phải tầm thường đâu.
Phần
đông các cô đều sợ đau chân. Song ở chỗ này chịu đau
khổ được như vậy, nhất định là đã trồng được thiện
căn thâm hậu, thì tương lai chủng tử bồ-đề nầy nhất
định sẽ nẩy mầm, đạt được kết quả. Cho nên nói rằng
"công bất đường quyện" nghĩa là công làm không uổng, mình
dụng công bao nhiêu, sẽ đạt được bấy nhiêu, không sợ
thời gian trôi qua lãng phí đâu.
Tu
hành cần phải có "sinh nhẫn" nghĩa là nhẫn những thứ mà
khó nhẫn. "Pháp nhẫn" là nhẫn sự sinh diệt tướng của
các Pháp. Nhẫn chịu không được cũng phải gắng nhẫn chịu,
đừng sợ đau, đừng đi loanh quanh luẩn quẩn, nếu không
thì sẽ không đạt được định. Cần nhất là phải nhìn
thấy các Pháp đều là không, nhìn thấu suốt và buông bỏ
được. Từ nơi sinh nhẫn và pháp nhẫn, mình sẽ ngộ được
đến vô sinh pháp nhẫn. Ðó gọi là "Bất kiến hữu thiểu
Pháp sinh, Bất kiến hữu thiểu Pháp diệt." Nghĩa là: Chẳng
thấy có chút Pháp gì sinh. Chẳng thấy có chút Pháp gì diệt.
Khi
Ðắm Trước Hương Vị Thiền
Thì
Mọi Chuyện Ðều Sai Lầm
Mình
chỉ chờ đợi thiền vị đến,
một
khi chờ đợi thì quên dụng công.
Tọa
thiền đừng tham đắc vị thiền. Thế nào là vị thiền?
Ðó tức là cảm giác sung sướng của thiền. Ngồi một thời
gian khá lâu, tự nhiên mình sẽ có cảm giác rất là tự tại,
thoải mái và sung sướng vô cùng. Nếu mình tham trước cảnh
giới tự tại sung sướng đó, thì không dễ dàng mà tiến
bộ. Mình sẽ ngưng trệ, cứ khởi ý tìm lại thiền vị đó.
Nếu như cảnh giới đó qua rồi, lại đi tìm cầu rằng: "Khi
nào thì tôi sẽ có được cảnh giới như vậy nữa? Cảnh
giới vô nhân, vô ngã, vô chúng sinh, vô thọ giả, vô phiền,
vô não, hết sức tự tại an lạc đó, đến lúc nào thì tôi
được nữa?...." Khi chờ đợi thiền vị nầy đến, thì mình
sẽ quên dụng công, đây gọi là chấp trước vào vị thiền.
Người
tọa thiền cần vô quái vô ngại, vô tham vô cầu, vô hỉ
vô ưu, vô khủng vô bố. Nên đem thân mình ví như là hư không
trong Pháp-giới vậy, không cần phải chấp trước tham cầu.
Nếu có tham cầu thì sẽ rớt vào đệ nhị nghĩa.
Sau
đây là bốn cảnh giới:
1.
Sơ Thiền Thiên, Ly Sinh Hỷ Lạc Ðịa: Nghĩa là mình sẽ ly
khai được phiền não của chúng sinh, đắc được món ăn
thiền, sung mãn Pháp hỷ an lạc, ra khỏi sự mê đảo của
chúng sinh và hướng tới con đường bồ-đề của thánh nhân.
Ðạt tới cảnh giới thiền này thì không được mạo xưng,
không được tự mình nói ra, mà phải được một vị thiện-tri-thức
ấn chứng cho.
Cảnh
giới này có cách để chứng minh: Tức là khi hơi thở của
mình ngừng lại không còn hô hấp nữa, nhưng không phải là
chết, đây tức là nhập định hay nhập sơ thiền. Sơ thiền
này khác hẳn với sự ngủ nghỉ, quý-vị đừng cho rằng
ngủ tức là nhập định. Ngủ không những là còn hô hấp,
mà nhiều người còn ngáy pho pho khiến kẻ khác nghe như sấm
vậy. Bởi vậy sự hô hấp của quý-vị đã ngừng hay chưa,
những vị thiện-tri-thức nhìn sẽ biết ngay. Có kẻ nói rằng:
"Tôi cảm thấy là tôi không còn hô hấp nữa." Ðó tức là
giả, tức là mạo xưng. Nếu mà biết thì mình vẫn chưa nhập
được sơ thiền. Nên không thể đem nhãn hiệu giả ra rao
bán được.
Nếu
muốn phân tích tường tận e phải viết cả khối sách. Nếu
nói nhiều quá, sẽ sinh ra chướng ngại cho quý-vị. Nên nói
một chút thôi, để tránh quý-vị đừng sinh ra tâm cống cao
tà kiến, rằng mình đã nhập vào sơ thiền; cho mình như vậy,
tức là lừa dối kẻ khác.
2.
Nhị Thiền Thiên, Ðịnh Sinh Hỷ Lạc Ðịa: Cảnh giới này
thì cao hơn một bước, không những hô hấp đã đoạn rồi,
mà mạch tim cũng ngừng lại. Cảnh giới này không phải mình
có thể biết hoặc là có thể nói ra. Nếu nói mình đã đạt
cảnh giới đó, thì thử hỏi làm sao cảm thấy nó? ắt hẳn
mình chưa hề nhập định, rồi lại mạo xưng để lừa người
khác chăng?
3.
Tam Thiền Thiên, Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa: Tới được cảnh
giới này thì hô hấp và mạch tim đều ngừng lại, đến
ý niệm cũng không còn. Tới cảnh giới này thì mình ra khỏi
sự hoan hỷ, xả đi vị thiền, không còn đắm trước gì
nữa. Cảnh giới nầy so với sơ thiền và nhị thiền thì
cao hơn nhiều, lúc bấy giờ thì mọi sợi tóc mình cũng sinh
ra hoan hỷ khác thường, lông mày con mắt đều tươi cười
hết sức vui sướng vô ngần.
3.
Tứ Thiền Thiên, Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa: Ðến lúc nầy
tất cả mọi thứ đều là không, "nhất niệm bất sinh toàn
thể hiện" Nghĩa là khi một niệm chẳng dấy lên, chân tâm
bản thể hiện bày. Tới được chỗ:
Thiên
đàm hữu thủy thiên đàm nguyệt.
Vạn
lý vô vân vạn lý thiên.
Nghĩa
là:
Ao
hồ ngàn nước, ngàn trăng hiện.
Vạn
dặm không mây, vạn dặm xanh.
Ở
cảnh giới nầy thì mọi nơi đều thuyết Pháp cho mình nghe.
Bởi vì "Lạc hoa lưu thủy diễn Ma-ha," nghĩa là hoa rơi, nước
chảy đều như nói Pháp Ðại-thừa. Cảnh giới nầy mình
không biết được nó đâu, và cũng không được nói rằng:
"Tôi đến được Tứ Thiền Thiên rồi." Nếu vậy là mình
sinh ra đại ngã mạn, nói ra lời hết sức láo lếu. Ðiều
nầy cũng cần phải có vị thiện-tri-thức ấn chứng cho mình
thì mới đúng được.
Tại
sao gọi thiện-tri-thức là người có con mắt sáng? Bởi vì
vị đó có thể nhìn và biết ngay công phu của mình đã đến
trình độ nào rồi. Nếu mình muốn khảo nghiệm Ngài, thì
cứ thử xem! Ngài chẳng quan tâm gì đến điều đó cả. Nếu
là chân chính thiện-tri-thức thì không có cách gì bị chúng
ta khảo nghiệm đặng. Ngài không vì lẽ bị hỏi mà liền
nói toạc ra đâu. Chỉ cần mình thân cận với Ngài sau một
thời gian lâu, thì Ngài sẽ nói cho mình biết. Nhưng chưa chắc
là Ngài nói rõ hết đâu. Có lúc Ngài dùng ví dụ hoặc chỉ
thuyết vài câu đơn giản mà thôi. Cho nên mình không thể
đi đâu cũng đánh chuông nổi trống mà nói rằng: "Tôi đã
thành Phật rồi!" Nói như vậy là hết sức láo lếu, làm
trò hề, tương lai sẽ đọa địa ngục, bị cắt lưỡi. Ðó
là điều hết sức đáng thương xót vậy.
Giảng
vào tối ngày 18 tháng 11 năm 1982
tại
Vạn Phật Thánh Thành

|