|
cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Tham
Thiền Cần Có Con Mắt Biết Chọn Pháp
Nếu
không nhận thức được pháp môn chân chính, thì có thể đi
vào con đường tà đạo.
Người
học Phật-pháp cần phải có Trạch-pháp-nhãn, tức là con
mắt biết chọn Pháp; biết cái nào là Pháp, cái nào không
phải Pháp; cái nào đen, cái nào trắng, cái nào thiện, cái
nào ác. Phải nhớ đừng nhận lầm cái giả là thiệt, đen
cho là trắng, trắng cho là đen, hoặc lấy thiện làm ác, lấy
ác làm thiện. Ðó đều là điên đảo. Khi mình muốn nhận
thức những Pháp như vậy, cần phải có con mắt gọi là Trạch-pháp-nhãn.
Trước
tiên hãy rũ bỏ ngã tướng. Nếu có ngã tướng thì sẽ sinh
ra đủ thứ chướng ngại, cũng không có trí huệ nữa. Có
ngã tướng thì tự sinh ra tâm ích kỷ, rồi tiếp theo đó
sinh ra tâm tư lợi, tâm truy cầu, tâm tham lam. Khi cầu không
được, tham không xong, thì lại sinh ra tâm đấu tranh, cùng
người tranh cường luận thắng.
Nếu
như không có "ngã tướng," thì có cái gì gọi là "ngã"? Ai
là cái ngã? Cái ngã này là ai? Quý-vị suy nghĩ, tham nó. Như
tham câu "Niệm Phật là Ai?" Câu "Niệm Phật là Ai?" nầy là
tham chớ không phải để niệm. Nếu mình niệm tới niệm
lui thì vô ích, mình phải tham nó. Tham thì tựa như lấy cái
dùi đục mà dùi; dùi mãi tới lúc nào đâm thủng nó được
thì tức là mình triệt ngộ.
Nhất
thời bất minh bạch, nhất thời đô yếu tham;
Thời
thời bất minh bạch, thời thời đô yếu tham.
Nghĩa
là:
Lúc
nào chưa hiểu rõ, lúc đó cần phải tham.
Mọi
lúc chưa hiểu rõ, mọi lúc cần phải tham.
Tham
thiền cũng không phải đoán mò, nếu như mình cứ đoán rằng
"Tôi niệm Phật à? Anh niệm Phật? Người đó niệm Phật?
Ai niệm Phật?" Ðoán tới đoán lui đều đoán không đúng.
Mình cần phải tìm ra "Ai." Chữ "Ai" nầy chính là Kim-cang-vương
Bảo-kiếm, tức là lưỡi kiếm trí huệ. Nếu dùng lưỡi
kiếm trí huệ nầy mà chặt đứt hết các vọng tưởng khác,
thì trí huệ tự nhiên hiện tiền.
Nếu
không nhận thức, không hiểu rõ pháp-môn tham-thiền, mà cho
rằng pháp-môn nầy cũng giống như pháp-môn niệm Phật, nghĩ
rằng niệm càng nhiều càng tốt (thay vì tham) thì đó là điều
hết sức là sai lầm. Không cần niệm cho nhiều, chỉ cần
kéo hơi cho dài, tham cho nhiều, mấy giờ đồng hồ cũng được.
Thậm chí tham đến tám vạn đại kiếp cũng không gián đoạn,
thì đó mới là chân chính tham thiền.
Tại
sao phải tham câu "Niệm Phật là Ai?" Chữ "Ai" nầy cũng là
đã nhiều lời. Nhưng vì chúng ta giống như con khỉ, lúc nào
cũng muốn tìm cái nầy cái nọ để làm. Do đó chữ "Ai" để
mình đi tìm, thì vọng tưởng mới hết. Nghĩa là dùng chữ
"Ai" nầy giống như lấy độc trị độc. Tham thiền tức là
quét sạch bụi (vọng tưởng). Khi mình không còn vọng tưởng
thì mới đúng là "thời thời thường phất thức." Nghĩa là
lúc nào cũng quét sạch. Tại sao cần phải quét bụi? Bởi
vì không muốn cho tâm bám đầy bụi, mình muốn "quét sạch
tất cả mọi Pháp, xa rời tất cả mọi tướng." Ðó là pháp-môn
tham thiền.
Nếu
mình không có con mắt chọn Pháp, không hiểu biết được
chân pháp, thì mình không biết thế nào là tham thiền. Không
biết tham thiền thì chỉ phí công lao tu tập. Nếu không nhận
thức được pháp môn chân chính thì có thể đi vào con đường
tà đạo, nên Trạch-pháp-nhãn, con mắt biết chọn pháp, rất
quan trọng.
Giảng
tối ngày 4 tháng 12 năm 1982
tại
Vạn Phật Thánh Thành
Ðắc
Nhất Vạn Sự Tất
Ai
hiểu được số không này, thì người đó có thể tu hành
chứng quả.
Chư
Pháp tùng duyên sinh,
Chư
Pháp tùng duyên diệt.
Ngã
Phật Ðại Sa-Môn,
Thường
tác như thị thuyết.
Nghĩa
là:
Các
Pháp do duyên sinh,
Các
Pháp do duyên diệt.
Ðức
Phật Ðại Sa-Môn,
Thường
nói lý như vậy.
Tất
cả mọi Pháp đều do nhân duyên sinh ra, rồi cũng do nhân duyên
tiêu diệt. Ðó là đạo lý luân hồi, cũng là đạo lý: "Vật
cực tắc phản, bỉ cực thái lai." Nghĩa rằng vạn vật hễ
biến thiên đến cực điểm phía nầy rồi thì sẽ quay đầu
để tới cực điểm phía kia. Khi bế tắc cùng cực thì rồi
sẽ hanh thông. Ðó là Pháp tương đối trên thế gian nầy
vậy.
Pháp
tương đối ví như sự tốt đẹp đến cực điểm rồi sẽ
biến thành xấu, xấu đến cực điểm lại biến thành tốt.
Cũng như con người sinh ra là điều tốt, nhưng khi chết đi
lại là điều xấu, điều hủy hoại. Sinh, trụ, dị, diệt;
sinh xong rồi sẽ trụ, trụ rồi sẽ biến dị, biến dị rồi
sẽ hủy diệt. Sinh, lão, bệnh, tử cũng đồng đạo lý như
vậy; sinh ra rồi từ từ sẽ già, già rồi có bịnh, bịnh
rồi sẽ chết. Ðó là thứ pháp nhân duyên. Con người ai cũng
sống, thích sống, và ai cũng phải chết, nhưng lại sợ chết.
Nếu mình không thích sống mà cũng không sợ chết, thì đó
là một loại định lực. Như người ta thường hay sợ quỷ,
nhưng tại sao lại sợ? Bởi vì quỷ thì xấu xa hung ác, có
thể hại người và làm chết người. Cho nên, người ta đều
sợ quỷ, đó là hiện tượng sợ chết mà thôi. Nếu như
mình không sợ chết, thì mình không sợ bất cứ cái gì. Bất
luận là quỷ thần, yêu ma, quái vật, mình cũng không sợ;
không gì làm cho mình sợ cả. Còn sự sợ hãi là còn chưa
có định lực. Hết mọi sự sợ hãi thì đó mới là chánh
định, chánh thọ, mới có định lực. Có định lực thì
con người mới:
Túng
ngộ phong đao thường đản đản,
Giả
nhiêu độc dược dã nhàn nhàn.
Nghĩa
là:
Ðứng
trước mũi kiếm vẫn ngang nhiên,
Dù
ép độc dược cũng bình thường.
Ý
rằng nếu có người đem dao tới chặt đầu mình, hoặc là
dùng độc dược để giết hại, mình cũng không lo sợ, trong
tâm không hề giao động. Ðó là vì sao? Vì mình đã thoát
khỏi sinh tử "Sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu." Nghĩa
là "xong xuôi những việc cần làm, từ đây chẳng phải đầu
thai làm gì." Cho nên nói nếu được "một" thì mọi sự đều
xong.
Nhưng
được "một" đây cũng vẫn chưa hẳn là đủ, phải làm cho
"một" nầy trở về bản nguyên của nó: trở về số không.
Số không là đạo lý rất linh diệu, khó có thể diễn bày
được. Ai hiểu được số không này, thì người đó có thể
tu hành chứng quả. Làm sao để hiểu số không nầy? Trước
hết phải hiểu số một. Bởi vì "Ðắc nhất vạn sự tất,"
nghĩa là được một thì vạn sự đều xong. Cái một này
xa rời ngôn ngữ, văn tự, ra khỏi tâm sở duyên, quét sạch
tất cả Pháp, xa rời tất cả tướng. Lại nói rằng: "Nhất
pháp bất lập, vạn sự giai không." Nghĩa là chẳng lập một
pháp gì, mọi sự thảy đều không. Quý vị muốn tới cảnh
giới và đạo lý này, thì trước hết phải tới "một," quý
vị đừng coi thường số "một" này.
Thiên
đắc nhất dĩ thanh,
Ðịa
đắc nhất dĩ ninh,
Nhân
đắc nhất dĩ thánh.
Nghĩa
là:
Trời
được "Một" nên trong,
Ðất
được "Một" nên yên,
Người
được "Một" thành Thánh.
Tại
sao trời che phủ được vạn vật? Là vì trời được số
"một" này. Tại sao mặt đất làm chỗ dựa cho vạn vật?
Là vì đất được số "một" này. Nếu như đất mất số
một thì đất sập, núi băng, động đất, nước biển nổi
trào, đủ thứ tai họa phát sinh. Nếu nơi nào mất số "một"
này, thì nơi đó sẽ sinh ra đủ thứ tai họa. Nếu số "một"
này không mất thì mọi nơi trên mặt đất đều bình an.
"Nhân
đắc nhất dĩ thánh." Nếu con người thật sự tới được
số "một" này thì có thể ra khỏi luân hồi, chứng thánh
quả, khai trí huệ. Bởi vì con người mất số "một" nên
kẹt trong luân hồi, xoay chuyển trong lục đạo, chịu đủ
thứ phiền não vô minh. Tám vạn bốn ngàn phiền não đều
do mất số "một" này mà sinh ra. Muốn về lại "một" thì
trước tiên phải biến phiền não thành Bồ-đề, biến sinh
tử thành Niết-bàn; dễ như trở bàn tay vậy, không khó khăn
lắm đâu! Song vì lẽ gì ta chẳng biến phiền não sinh tử
thành Bồ-đề Niết-bàn được? Bởi vì do mình đã mất đi
số "một" này, và chạy tới số hai, ba, rồi đến số mười,
từ số mười tới số một trăm, rồi vô tận; nên trăm ngàn
vạn ức thứ phiền não mới sinh ra. Bởi thế số "một" này
rất quan trọng. Tuy nhiên, bởi vì mình đã mất số "một"
này, muốn trở về nó không phải là dễ. Từ số "một" mà
muốn phản bổn hoàn nguyên, trở lại số không thì lại càng
khó khăn hơn nữa.
Tôi
nói cho quý-vị một ví dụ đơn giản khác. Lúc nào gọi là
"một"? Còn lúc nào gọi là "không?" Ðối với con gái, từ
một tới mười bốn tuổi, đối với con trai từ một tới
mười hai tuổi, trong giai đoạn đó, chưa mất đi số "một."
Thời gian nào là số "không?" Từ lúc nhập thai cho đến lúc
sinh ra, đó là giai đoạn mình ở trong số "không." Lúc đó
thì tất cả những thứ phiền não vọng tưởng, tham, sân,
si đều không có. Cho tới lúc biết ăn, đói rồi sinh lòng
tham ăn, giận dữ, ngu si bắt đầu phát sinh; nhưng lúc nầy
cũng chưa mất đi số "một," đây chính là khởi đầu cuộc
sống làm người. Từ số "không" biến thành "một," thì số
"một" này vẫn còn là số rất hoàn chỉnh, vì nó là sự
bắt đầu của mọi sự. Cho tới khi trải qua những diễn
biến trong đời, những thứ khác sẽ cộng thêm vào số "một"
này, để biến thành hai, hai thành ba, ba thành bốn, và cứ
thế tăng lên, càng tăng thì gánh nặng càng lớn, và con người
càng trở nên ngu si hơn.
Tánh
tức là số "không," số "không" cũng tức là tánh. "Không"
tánh có nghĩa là chẳng có gì cả, chính là:
Bổn
lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai?
Nghĩa
là:
Xưa
nay chẳng có vật gì,
Thì
sao có chỗ bụi trần bám vô.
Tu
hành cần phải tu đến chỗ "hồ tôn xích tử," nghĩa là tâm
như đứa con nít, tâm không có bất cứ điều gì. Giống như
đứa con nít vậy, tức là phản lão hoàn đồng. Song, phản
lão hoàn đồng không phải là nói rằng mình đi uống sữa,
mà chính là muốn mình không còn tham, sân, si, mạn, nghi. Ðây
mới gọi là phản bổn hoàn nguyên; chẳng khác gì với tri
kiến của đứa con nít, rất là thiên chân, không tà lự,
không một chút giải đãi lười biếng, cũng không có tâm
tham tiện nghi, hoặc là tâm thị phi. Ðó chính là "Bổn lai
vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai" vậy.
Tu
Ðạo mình cần hiểu rõ đạo lý này thì mới có thể chân
chính giác ngộ. Tại sao mình phải nghe giảng kinh? Bởi vì
mình muốn phản bổn hoàn nguyên. Tại sao lại muốn tu hành?
Cũng vì muốn phản bổn hoàn nguyên, quét sạch mọi vẫn đục
trong tâm. Chớ dụng công nơi nhân ngã thị phi. Nếu có ai
nói câu gì trái ý thì mình thấy khó chịu, không vui. Ðụng
một sợi tóc, mình cũng hết sức đau đớn khó chịu. Nhỏ
một giọt mồ hôi để làm lợi cho thiên hạ thì cũng chẳng
chịu làm. Ðó đều là tinh thần hết sức ích kỷ, không
thể tu Ðạo được.
Người
tu Ðạo cần phải vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả (không thấy có mình, không thấy có người, không thấy
có chúng sinh, không thấy có thọ mạng). Vô ngã không có nghĩa
là mình không làm mà kêu kẻ khác làm giùm mình. Vô nhân không
có nghĩa là tới lúc ăn uống lại nói: "ồ! Vì vô nhân, tôi
ăn thêm một chút cũng chẳng can gì, tức là không có ai khác."
Cho dù lúc nầy mình không còn nhân tướng (chẳng thấy có
kẻ khác) đi nữa, nhưng kẻ khác vẫn còn nhân tướng kia
mà. Lúc tranh chấp, đánh lộn, thì lại "vô chúng sanh tướng."
Hoặc lúc ăn thịt thì lại "Vô thọ giả tướng." Tức là
miếng thịt không có thọ mạng. Tất cả đều là kiến giải
sai lầm. Như vậy thì nên làm thế nào?
Thế
nào là kiến giải đúng:
1.
Vô Ngã Tướng (không thấy có mình): Tức là không cống cao
ngã mạn, không tính toán lợi lộc cho mình.
2.
Vô Nhân Tướng (không thấy có người): Nghĩa là mình không
chướng ngại, không làm chuyện bất lợi cho kẻ khác.
3.
Vô Chúng Sinh Tướng (không thấy có chúng sinh): Nghĩa là coi
vạn vật đều đồng một thể với chính mình.
4.
Vô Thọ Giả Tướng (không thấy có thọ mạng): Mọi chúng
sinh có quyền sống, bởi thế chúng ta không thể đoạt hoặc
giết hại bất kỳ sinh mạng nào kể cả người và động
vật.
Do
đó, khi tu Ðạo, bất kỳ lúc nào, đừng vì mình mà mong cầu,
đừng vì mình mà tính toán. Hãy luôn nghĩ đến kẻ khác.
Giảng
ngày 5 tháng 12, năm 1982
tại
Vạn Phật Thánh Thành
Lục
Ðại Tông Chỉ
tức
là Ngũ Giới
Lúc
dụng công, phải biết đề khởi, phải biết buông bỏ, làm
chuyện gì phải ra chuyện đó.
Người
thích niệm Phật thì tham gia Phật-thất, người thích tham
thiền thì tham gia Thiền-thất. Người không thích niệm Phật
cũng chẳng thích tham thiền, thì có thể tham gia "thất làm
biếng" hoặc là "thất ngủ khò." Thất làm biếng hay thất
ngủ khò nghe có vẻ mới lạ nhưng thực sự nó hết sức
là có lý.
"Thất
làm biếng": Dù bạn biếng nhác không thể làm biếng được.
Tuy bạn không làm gì cả, nhưng trong tâm lúc nào cũng có chuyện
làm, đó là nghĩ vẩn vơ, vọng tưởng. Lúc thì trên trời,
khi thì dưới đất, lúc làm ác quỷ, khi đọa địa ngục,
lúc làm người, khi làm trời. Ở nơi cái tâm mà chế tạo
ra đủ thứ máy móc vật liệu trong lục đạo luân hồi. Khi
cơ quan nầy đã phát động rồi, thì chuyển tới chuyển lui,
muốn làm biếng cũng chỉ lãng phí sức lực và tinh thần
mà thôi. Từ đó mình càng thêm mệt mõi, càng lười biếng
hơn rồi cảm thấy mọi việc chẳng có ý nghĩa, không có
mùi vị gì cả.
Còn
"thất ngủ khò" thì sao? Ngủ song đầu óc lại mộng mị.
Có lúc mộng phát tài giàu có, có lúc mộng nghèo cùng khốn
khổ, có lúc mộng làm quan, có lúc mộng đi xin ăn, có lúc
mộng thấy cọp hoặc rắn độc. Vì mộng nên ngủ cũng không
an lạc, muốn đả thất ngủ khò cũng không xong.
Vì
mình không biết dụng công, nên bất luận làm gì cũng không
tốt. Người biết dụng công thì làm gì cũng tốt, tham thiền
hay niệm Phật đều tốt, ngay cả làm biếng hay ngủ nghỉ,
người đó cũng dụng công được.
Ở
Vạn Phật Thánh Thành có năm tông phái: Thiền, Giáo, Mật,
Tịnh, và Luật. Quý-vị muốn tu pháp môn nào cũng được,
cứ tự do lựa chọn đừng ngại. Nếu muốn làm biếng, muốn
ngủ cũng được. Vì do làm biếng mà mình không đi ăn cắp,
đó là trì giới. Tuy ngủ mà mình không đi giết người, không
sát sinh, thì đó cũng là trì giới. Niệm Phật, Tham-thiền,
hoặc là học Giáo, tập Luật hay tu Mật-tông đều là trì
giới cả. Do thế khi mình học năm giáo phái, chính là mình
đang trì Ngũ-giới: Không sát sinh, không ăn cắp, không tà
dâm, không nói dối, và không uống rượu. Dụng công tức
là không phạm giới. Tuy bên ngoài mình không biểu hiện là
có hành trì giới luật (kẻ khác tuy không thấy mình trì giới),
thật ra trì mà không có hình tướng trì. Mình chẳng cần
dùng danh từ trì giới để hình dung khi đang giữ giới; lối
dụng công như vậy rất tốt.
Bởi
vì lý do đó, nên ở Vạn Phật Thánh Thành quý-vị được
tự do lựa chọn pháp môn tu hành, không ai quản thúc mình
cả. Bởi vì quốc gia nầy là quốc gia dân chủ, nên đạo
tràng nầy càng phải thực hành chủ nghĩa dân chủ, và tự
do cá nhân. Vì vậy đã nhiều ngày qua quý-vị muốn dụng
công tu pháp gì đều được cả, chỉ cần chuyên tâm tu hành,
làm chuyện gì phải ra chuyện đó, làm gì phải làm cho tốt,
chuyên tâm chú ý là đủ.
Lại
nữa, Vạn Phật Thánh Thành có Sáu Ðại Tông-chỉ:
1.
Không Tranh: Nếu không tranh sẽ không dẫn đến sát sanh. Sát
sanh là do tâm tranh hiện lên tác quái. Khi tranh thì chỉ muốn
mình thắng, đối phương thua, dù có chết hại vô số.
2.
Không Tham: Không tham thì sẽ không trộm cắp. Tại sao lại
đi ăn cắp đồ của người khác? Là bởi mình có tâm tham
lam. Nếu bạn không có tâm tham lam, thì có kẻ tặng, bạn
cũng không lấy. Lòng tham mà trừ thì nhất định không phạm
tội ăn cắp.
3.
Không Truy Cầu: Không truy cầu thì sẽ không khởi ý niệm
dâm dục. Dâm dục là do mình có mong cầu. Con gái mong con trai,
con trai mong cầu bạn gái, đó là thứ truy cầu kẻ đối phương.
Không những chỉ cầu thôi mà còn truy, theo đuổi nữa, giống
như cái khoan, cứ nhắm về phía trước mà khoan. Nếu không
có sở cầu, thì làm sao còn ý niệm tà dâm? Một chàng trai
tuấn tú, một cô gái xinh xắn bất quá chỉ là hai bị thịt
hôi hám mà thôi. Tại sao tham luyến chứ? Nếu không có sở
cầu thì mình không sao phạm giới dâm này.
4.
Không ích Kỷ: Không ích kỷ sẽ giúp mình chẳng nói láo.
Người ta nói dối vì sợ mất đi lợi ích riêng mình, nên
tâm ích kỷ mới tác quái. Rồi mình mới đi lừa người khác,
nói lời dối trá, muốn người khác không biết được bộ
mặt thật của mình.
5.
Không Tư Lợi: Không tư lợi sẽ giúp mình không phạm tửu
giới. Con người vì sao uống rượu? Là vì muốn hưởng thụ,
muốn thân thể mình sung sướng. Nhưng sung sướng làm tâm
mình mê loạn khủng hoảng; cứ tưởng rằng đã trở thành
thần tiên, tiêu dao trên trời vậy. Khi đã say rượu thì lại
chửi rủa người khác, muốn làm gì thì làm, tăng trưởng
thêm lòng dâm dục. Có người muốn đem rượu lại trợ cho
huyết khí được lưu thông sảng khoái. Nhưng uống rồi thì
mọi sự đều quên hết. Cũng đồng một loại với hút thuốc
phiện, xì ke, ma túy. Ðó đều do tâm tự lợi hoành hành;
cho nên mới đi uống rượu.
6.
Không Vọng Ngữ:
Như
vậy, Lục Ðại Tông-chỉ chính là Ngũ-giới. Tại sao không
nói Ngũ-giới? Là vì danh từ Ngũ-giới nghe quen rồi, nên khi
nghe không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng
ngữ, không uống rượu thì người ta thường nói: "Tôi biết
rồi, bạn nói mãi lời nầy làm chi?" Bởi vậy nên đổi thành:
không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự
lợi, và không nói dối. Những danh từ này ai ai cũng nghe qua,
cũng đã biết rồi. Nhưng rất ít người thật sự thực hành
chúng, vậy tôi lại nhắc lại rằng:
Không
tranh, tức là không sát sinh;
Không
tham, tức là không trộm cắp;
Không
cầu, tức là không dâm dục;
Không
ích kỷ, tức là không vọng ngữ;
Không
tự lợi, tức là không uống rượu.
Giảng
ngày 5 tháng 12, năm 1982
tại
Vạn Phật Thánh Thành.
Biểu
Hiện của Ðức Hạnh
Tu
đạo nghĩa là tu đạo đức chơn chính, không chướng ngại
ai, cũng không sợ ai chướng ngại mình.
Lúc
bắt đầu tu, người học Phật-pháp phải gieo hạt giống
xuống đất. Sau khi hạt giống được gieo, nó có thể nẩy
mầm lớn lên chăng? Xem nhân duyên có đủ hay không. Hạt giống
thuận lợi nẩy nở khi tất cả trợ duyên đều đầy đủ.
Nếu chẳng đầy đủ thì hạt giống có thể bị tiêu hủy.
Nếu xét khi mình phát Bồ-đề tâm, trồng chủng tử Bồ-đề
xuống rồi, hãy xem chủng tử đó trồng được xuống sâu
hay không, có kiên cố lắm không?
Nếu
mình trồng đủ sâu, đủ kiên cố chắc thật, thì tương
lai chủng tử sẽ sinh căn phát nhạ. Muốn được kết quả
Bồ-đề thì cần phải một thời gian tương đương, coi thử
mình sẽ dụng công như thế nào? Nếu mình dụng công tới
tấn, khai ngộ chứng quả, thành tựu giác đạo, thì có thể
coi như là gặt hái được thành công.
Từ
lúc chủng tử sinh căn phát nhạ đến lúc ra hoa kết trái;
quá trình đó trải qua một thời gian dài cần ta luôn bồi
dưỡng, tưới nước, bón phân. Phân bón là gì? Tức là đạo
đức. Người tu hành ở bất cứ mọi nơi phải nương nơi
đạo đức, lấy đạo đức làm căn bản của giới điều.
Ðạo
Nho nói rằng:
"Ðức
giả bổn dã, tài giả mạt dã." Nghĩa là đức là gốc mà
tiền tài vật chất là ngọn. Ðức hạnh là gốc của con
người, còn tiền tài vật chất là những thứ ngọn ngành.
Người tu Ðạo lúc nào cũng phải biết tiếc phước, đừng
nên phí phạm tiền bạc vật chất. Như vậy trải qua ngày
tháng lâu dài thì có thể bồi dưỡng đức hạnh của mình.
Hoa quả sinh ra rất là mau thành. Nếu như mình không ra sức
bồi dưỡng tưới nước, bón phân thì hoa quả đó rất dễ
bị khô héo rồi chết đi. Cho nên đối với người tu, điều
quan trọng nhất là phải chú trọng đến đức hạnh.
Ðức
hạnh là ở nơi rất nhỏ nhặt mà tập thành: "Vật dĩ thiện
tiểu nhi bất vi" nghĩa là đừng coi những chuyện thiện nhỏ
mà không làm, rồi chỉ chờ làm những chuyện thiện lớn.
Chuyện thiện lớn chẳng có nhiều đâu. Núi to là do từng
hạt bụi nhỏ kết tập thành, bụi tuy nhỏ nhưng kết tập
nhiều thì thành một khối núi lớn. Ðức hạnh tuy là nhỏ,
nhưng nếu mình tích tập nhiều thì cũng có thể thành một
khối đức hạnh lớn vậy.
Không
đi ngược lại đạo đức tức là đức hạnh. Không chướng
ngại kẻ khác tức là đạo đức. Bất luận làm chuyện gì,
nên xem bổn phận mình là giúp đỡ người khác. Trên phương
diện lợi ích, thời gian, văn hóa hay trí huệ, hoặc tất
cả mọi sự, nếu mình trở ngại người khác, không làm lợi
ích cho ai cả, tức là mình đã đi ngược lại với đạo
đức. Cho nên nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh
mình chớ đi ngược lại đạo đức căn bản. Nếu muốn tu
đạo, trước tiên cần bồi dưỡng đạo đức, không có đức
hạnh thì không thể tu đạo được. Có người muốn tu đạo
thì ma chướng tới tìm, bởi vì người nầy chẳng có đức
hạnh. Cho nên nói rằng:
Ðức
giả bổn dã, tài giả mạt dã.
Nghĩa
là:
Ðạo
đức là gốc, tiền tài là ngọn.
Ðạo
đức giống như mặt trời mặt trăng, giống như trời đất,
và cũng giống như tánh mạng con người vậy. Không có đạo
đức thì mình không có tánh mạng, không có mặt trời mặt
trăng, và cũng chẳng có thiên địa. Thế nào là đạo đức?
Tức là lấy việc làm lợi ích cho người khác làm chủ, không
chướng ngại người khác làm tông chỉ, trong tâm lại sung
mãn Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
1.
Nhân: Là tâm nhân ái không muốn sát hại sinh mạng kẻ khác.
2.
Nghĩa: Lòng nhận thức biết làm chuyện gì phải, và làm hết
sức đứng đắn, đúng với trung-đạo, không có thái quá
cũng không có thiếu sót, không nghiêng về bên phải cũng chẳng
lệch qua phía trái, luôn luôn trung-đạo. Hiểu biết nghĩa
lý thì không ăn cắp. Người có nghĩa khí thì không bao giờ
ăn cắp đồ vật kẻ khác.
3.
Lễ: Là lễ thứ lễ mạo, lễ tiết. Nếu mình có lễ tiết
thì không làm những chuyện gian dâm. Ăn cắp và tà dâm đều
là thứ không hợp với lễ nghĩa, đi ngược lại với luân
thường.
4.
Trí: Người có trí huệ thì không bao giờ uống rượu, hay
hút thuốc xì ke, ma túy, những thứ độc dược. Người ngu
si thì mới làm những thứ điên đảo nầy.
5.
Tín: Người có thành tín thì không bao giờ nói dối cả.
Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, đó gọi là Ngũ-thường. Hễ mình có
đầy đủ Ngũ-thường này tức là có đạo, có đức. Cho
nên đạo đức là do từ nơi tâm sinh ra. Nhưng khi phát ra thì
nó có nhiều hình thái: có xanh, vàng, đỏ, trắng, và đen.
Ðó là biểu hiện của đức hạnh, là ánh sáng của đức
hạnh. Cho nên ông Hàn Dũ trong bài Nguyên Ðạo có một đoạn
văn nói rằng: "Bác ái chi vị Nhân. Nhân nhi nghi chi chi vị
Nghĩa. Do thị nhi chi yên chi vị Ðạo. Túc hồ kỷ vô ỷ ư
ngoại chi vị Ðức." Nghĩa là lòng bác ái tức là lòng Nhân.
Lòng nhân đúng cách (hợp lẽ) thì gọi là Nghĩa. Nhờ đó
mà tiến tới gọi là Ðạo. Ðầy đủ nơi mình không dựa
vào bên ngoài nên gọi là Ðức." Ông Mạnh Tử cũng nói rằng:
"Nhân nghĩa lễ trí căn ư tâm, kỳ sinh sắc dã, túy nhiên
kiến ư diện, áng ư bối, thí ư tứ thể, tứ thể bất ngôn
nhi dụ." Nghĩa là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí sinh gốc rễ trong tâm
mình. Màu sắc của nó chiếu soi nơi vẻ mặt, sáng soi nơi
lưng, vận dụng nơi tay chân. Tứ thể không cần nói nhưng
biểu hiện đã rõ. Người có đức thì không những biểu
hiện nơi khuôn mặt của mình, mà ngay trên lưng của mình
cũng lưu lộ ánh sáng đức độ, thậm chí cho đến tay chân
cũng có thể biểu hiện ra đạo đức đó. Ðức tướng nầy
không cần nói mà tự nó phát hiện ra, khiến ai ai cũng thấy
một cách rõ ràng. Sự biểu hiện của đức hạnh chân chính
đó là do công phu dụng công. Ðức hạnh nầy mình không thể
giả trang được, nếu như hư dối thì chỉ tạm thời thôi,
chớ không thể vĩnh viễn lừa dối người khác được.
Tu
đạo nghĩa là tu chơn chính đạo đức, không chướng ngại
kẻ khác, cũng không sợ người khác chướng ngại mình. Ai
chướng ngại mình thì mình đều tiếp nhận cả. "Nghịch
lai thuận thọ" (chuyện đến nghịch ý mình, song cứ tùy thuận
thọ nhận), ai đối với mình không có từ bi, vô lý, đều
là thiện-tri-thức của mình. Nếu mình có thể "nghịch lai
thuận thọ" thì mới thấy được công phu nhẫn nhục của
mình. Ðừng để lời nói của kẻ khác động tâm mình. Có
những người làm như "bất động" vì không biết hổ thẹn,
đó là không đúng. Mình phải tu "bất động," tức là phải
nhẫn nhục những điều mà người ta không nhẫn nhục nổi.
Vậy mới gọi là chân chính công phu, còn ngược lại mình
phải từ đầu mà luyện tập.
Trong
Lão-giáo nói: "Tam hoa tụ đỉnh, ngũ khí triều nguyên," nghĩa
là biểu hiện của đạo đức viên mãn rồi. Những tín đồ
trong Phật-giáo nghe qua danh từ nầy thì cho là ngoại đạo.
Kỳ thật thế nào gọi là ngoại đạo? Thế nào là nội đạo?
Tên nầy chẳng có gì là ngoại hay nội đạo cả. Ðó chỉ
dùng để hình dung kết quả thành tựu của sự tu hành. "Tam
hoa" có nghĩa là tinh, khí, thần, ba thứ nầy đã biến hóa
trở thành một thứ quang hoa. "Ngũ khí" tức là Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín, năm khí nầy đã hoàn toàn viên mãn, nên gọi
là ngũ khí triều nguyên.
Trong
Phật-giáo, khi đạo đức đã viên mãn rồi thì sẽ đạt
được Ðại-viên kính-trí, Bình-đẳng Tánh-trí, Diệu-quán
Sát-trí, Thành-sở tác trí. Tức là Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ
Nhãn, Lục Thông, không thiếu một thứ nào. (Tam Thân: pháp
thân, báo thân, hóa thân; Tứ Trí: Ðại viên cảnh trí, Bình
đẳng tánh trí, Diệu quán sát trí, Thành sở tác trí; Ngũ
nhãn: Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, thiên nhãn, nhục nhãn;
Lục thông: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông,
thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông). Thiếu một
thứ tức là không đạt tới được cảnh giới viên mãn.
Cho nên Phật-giáo vạn đức trang nghiêm, có thể bao quát tất
cả mọi tôn giáo, mà mọi tôn giáo chỉ là một bộ phận
của Phật-giáo. Vì vậy tôi thường nói: "Phật-giáo cũng
như đại học, Lão-giáo và những tôn giáo cao siêu khác thì
coi như trung học, các tôn giáo thế gian như Nho-giáo chỉ ở
trình độ tiểu học mà thôi."
Tại
tiểu học, trung học hay đại học mọi người đều là học
sinh; trong thế giới các tôn giáo, tín đồ là những nhân
sĩ của tôn giáo. Vì thế mình không thể phân môn biệt loại,
phân chia ngăn cách, cho tôn giáo mình là tốt, tôn giáo khác
là xấu: "Nhập giả nô chi, xuất giả ô chi" nghĩa là theo
thì thuộc phe mình, không theo mình thì bị chê bai, thái độ
quan niệm đó là sai lầm. Tất cả mọi tôn giáo đều là
một bộ phận của Phật-giáo. Quan điểm này mới đúng. Bởi
vì đức Phật nói: "Tất cả chúng sinh đều có đức tướng
trí huệ của Như Lai, đều có thể thành Phật." Tất cả
chúng sinh đều có Phật tánh. Vậy thì ngoại đạo cũng là
chúng sinh, cũng có cơ hội thành Phật, thì làm sao mình lại
bỏ ngoại đạo ra ngoài Phật-giáo được? Phạm vi của Phật-giáo
thì bao trùm tận hư không, biến pháp giới, không có biên
tế, không có rào cản ngăn cách chia rẽ, không có mình và
người. Cho nên người học Phật phải có tâm lượng quảng
đại, đừng quá nhỏ hẹp.
Ở
trong đạo Lão, người có đức hạnh thì có một sự biểu
hiện mà người khác nhìn vào có thể biết, như là tóc trắng
như hạc, mặt mày nhan sắc hết sức hồng hào tươi tốt,
trẻ trung. Ðó là vì sao? Là bởi vì đạo đức của họ cảm
chiêu biến hóa mà thành. Tuy là đầu bạc nhưng tóc không
bị khô cằn, lại có khí rất là quang nhuận, một sợi tóc
của họ có thể phóng quang. Người có công phu, có khai ngũ-nhãn
rồi khi nhìn sẽ biết ngay.
Phật-giáo
thì còn cao hơn một tầng nữa bởi vì không những tóc phóng
quang, mà toàn thân, mỗi chân lông đều phóng quang. Mỗi một
lỗ chân lông của họ đều khác với những người phàm phu.
Người có công phu tu hành trong Phật-giáo thì có thể làm
tóc trắng biến thành đen, răng rụng rồi mọc trở lại.
Người trong đạo Lão cũng có những kẻ làm răng rụng mọc
lại, song họ không thể làm toàn thân, mỗi lỗ chân lông
phóng quang được, đó là chỗ khác biệt với Phật-giáo vậy.
Quý-vị muốn coi người nầy có phải là thiện-tri-thức hay
không? Không cần phải có ngũ-nhãn, chỉ cần mình có tu luyện
thì sẽ nhìn và biết được người đó phải là thiện-tri-thức
không? Người đó có đức hạnh không. Người không có đức
hạnh thì mặt mũi ghê tởm, xấu xí làm ai cũng sợ hãi, lánh
xa.
Giảng
tối ngày 17 tháng 12, năm 1982
Tại
Vạn Phật Thánh Thành
Thiền
Thất Hối Ngữ
Người
tu hành lão luyện vì muốn liễu sinh thoát tử, nên họ giữ
lấy câu thoại đầu một cách khẩn thiết, không một giây,
một phút nào mà họ không dụng công.
Lần
nầy Vạn Phật Thánh Thành đả thiền thất, và lại đả
Phật thất, song trình độ chưa phải là chân chính đả thiền
thất hay Phật-thất; bất quá quý-vị chỉ tập luyện mà
thôi. Tại sao vậy? Bởi vì tập khí lỗi lầm từ vô lượng
kiếp đến nay khiến mình lười biếng quen rồi, tất nhiên
bây giờ chơn chính tu đạo, thì rất khó có thể làm được
liền. Chùa Cao Mân ở Trung Quốc mỗi lần đả thiền thất
thì quy luật của họ là không người nào được nói chuyện
cả; một phút, một giây cũng không được làm biếng nghỉ
ngơi. Trong thiền đường không thể tùy tiện đi lui đi tới,
đi vô đi ra; cho dù mình có chết đi, thì thi thể cũng không
được đem ra ngoài chôn, mà sẽ bị vất dưới ghế mà thôi.
Bây
giờ ở đây đột nhiên kêu người ta dụng công như vậy,
thì không thể được. Từ xưa ở Chùa Cao Mân những người
tu hành lão luyện, đều đem tánh mạng đạo). Từ nơi chỗ
rốt ráo này mà phát sinh ra nào Phật, nào Bồ-tát, nào Thánh,
nào Trời, nào Ðất, nào Tiên.
Người
dụng công phải chuyên tâm trì chí, không nên bị cảnh giới
làm cho chuyển động. Tham thiền cần phải nhớ đạo lý trong
Kinh Kim Cang: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" tức là hãy
để tâm vận hành ở chổ nó chẳng có trụ trước. Ðó là
đạo lý căn bản mà Ngài Lục Tổ Huệ Năng khai ngộ. Nhưng
có bao nhiêu người nghe qua rồi, tụng qua rồi được khai
ngộ? Nên khi tôi giảng Kinh Kim Cang, tôi nói: "Kinh văn thì
như vậy, nhưng khai ngộ có mấy ai?"
Lục
Tổ Ðại Sư là người không biết chữ nghĩa gì hết, hằng
ngày lên núi đốn củi đem về bán, nhưng khi nghe một câu
kinh Ngài liền khai ngộ. Ðó là vì trong nhiều kiếp trước
Lục Tổ Ðại Sư đã hết sức chân thật tu hành, nên khi
nghe qua câu Kinh Kim Cang thì liền khai ngộ. Tại sao chúng ta
bây giờ nghe qua nhiều lần mà vẫn chưa khai ngộ? Là vì từ
xưa mình chưa có tu hành, chỉ thích coi truyền hình, xem xi-nê,
đi nhảy đầm, ăn uống vui chơi, chưa từng nghiên cứu qua
kinh điển.
Kinh
Kim Cang lại còn dạy rằng: "Vô ngã tướng, vô nhân tướng,
vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng." Trong lúc tọa thiền
thì mình có ngã tướng, có nhân tướng hay không? Có chúng
sinh tướng hay không? Có thọ giả tướng hay không? Nếu muốn
chẳng có thì mình phải tìm cách quét sạch đi bốn tướng
đó; khiến ba cái tâm biến mất đi, tức là tâm hiện tại,
tâm quá khứ, tâm vị lai. Ba tâm nầy không thể nắm bắt
được thì tứ tướng đó làm sao mà có.
Kinh
Kim Cang lại nói rằng:
Nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh.
Như
lộ diệc như điển, ứng tác như thị quán.
Nghĩa
là:
Tất
cả pháp hữu vi, như mộng mị huyền ảo,
Như
bọt bèo bóng tối, như sương đọng,
như
điện chớp, phải thấy suốt như vậy.
Nhược
dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã
Thị
nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai.
Nghĩa
là:
Nếu
thấy ta có sắc tướng, tìm Ta nơi âm thanh
Kẻ
đó đi đường tà, chẳng thấy được Như Lai.
Khi
chúng ta tọa thiền, đừng để âm thanh làm cho ta động tâm,
đừng tùy theo sắc tướng mà làm ta xoay chuyển. Có người
tu hành đã lâu rồi, nhưng khi có được cảnh giới thì chấp
trước vào cảnh giới, đó là sai lầm. Mình phải "Thính nhi
bất văn, thị nhi bất kiến." Nghĩa là nghe nhưng không lọt
vào tai, nhìn mà không có thấy. Không nghe, không thấy thì
sẽ không bị cảnh giới chuyển lay.
Giảng
ngày 18 tháng 12 năm 1982
Viên
Mãn Mười Tuần Thiền
Không
kể khi xưa ra sao, chỉ cần từ nay về sau mình thay đổi triệt
để, thành con người mới.
Kim
nhật viên mãn thập thiền thất,
Cải
đầu hoán diện phát Bồ-đề.
Thường
triển Kim-cang Trí-huệ-kiếm,
Tung
hoành Nam Bắc dữ Ðông Tây."
Nghĩa
là:
Hôm
nay viên mãn mười tuần Thiền,
Bồ-đề
tâm phát, đổi mặt mày.
Thường
tuốt gươm báu Kim-cang trí,
Tung
hoành ngang dọc khắp bốn phương.
Hôm
nay là ngày cuối của mười tuần thiền thất, chúng ta khi
xưa thế nào không cần biết, chỉ cần từ nay về sau làm
một người mới, thay đổi triệt để, từ đầu tu luyện
lại, dứt hẳn lòng tham lam quỷ quái hồi xưa là được rồi.
Không nên như lúc xưa, chỉ toàn dụng công phu nơi nhân ngã
thị phi, mà cần phải phát đại Bồ-đề tâm.
Mình
phải luôn luôn tuốt bảo kiếm Kim-cang-vương Trí-huệ. Ðừng
có ngu si; không ngu si tức là không làm những chuyện điên
đảo sai lầm. Thế nào là điên đảo? Là có vô minh ngu tối,
hôn muội, u ám. Mình lúc nào cũng phải cầm cây kiếm Kim-cang
trí huệ nầy tung hoành nam bắc, tiêu dao thiên hạ, muốn tới
chỗ nào thì tới, đạt được cảnh giới không có mình,
không có người, không ràng buộc, ra ngoài thị phi, hết sức
tự tại.
Giảng
ngày 16 tháng 11 năm 1983

|