ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA thường khuyên rằng phương cách tốt đẹp
nhất để sống cuộc đời mình là sống ở một nơi biệt
lập cô tịch, từ bỏ cuộc đời này và tám pháp thế gian,
và thiền định nhất tâm về con đường tiệm thứ dẫn tới
Giác ngộ. Việc phát triển những sự thấu suốt con đường
dẫn tới Giác ngộ là điều tuyệt hảo. Nhưng không phải
ai cũng có thể làm được điều này.
Đối
với những người có một nền giáo dục Phật Pháp nhưng
không thể sống một cuộc đời như thế thì chọn lựa tốt
thứ hai là giảng dạy Pháp cho người khác. Mặc dù những
người như thế không thể thực hành sự hoàn toàn từ bỏ,
họ thực hành càng nhiều càng tốt trong mức độ có thể
và giảng dạy cho người khác. Đối với những người không
có một nền giáo dục Phật Pháp cần thiết để giảng dạy
người khác, chọn lựa thứ ba là thực hành càng nhiều càng
tốt và phụng sự mọi người trong xã hội.
Không
có sự chọn lựa. Bởi bạn không thích những vấn đề nên
không có sự chọn lựa: bạn phải thực hành Pháp. Đây là
sự kết luận. Pháp là phương tiện duy nhất để cản ngăn
các vấn đề và mang lại sự an bình trong tâm thức. Không
có điều gì khác. Nếu bạn không thích đau khổ thì không
thể nào thoát khỏi việc thực hành Pháp. Thực hành Pháp
có nghĩa là từ bỏ những nguyên nhân của các vấn đề,
chúng ở trong tâm bạn, và tạo ra những nguyên nhân của hạnh
phúc, chúng cũng ở trong tâm bạn.
Mọi
vấn đề của cuộc đời này và những đời sau đến từ
nghiệp bất thiện và tư tưởng ái ngã, và từ cội gốc,
tư tưởng chấp ngã, sự vô minh bám chấp vào cái ta như thực
sự hiện hữu. Nếu bạn muốn thôi kinh nghiệm những vấn
đề trong hiện tại và tương lai, bạn phải tịnh hóa nghiệp
tiêu cực đã tạo nên và từ bỏ việc gây thêm ác nghiệp.
Đó là việc thực hành Pháp. Đó là cách bạn giải quyết
những vấn đề của cuộc sống.
Chẳng
hạn như ta có thể mắc một căn bệnh nan y không thể chữa
lành bằng bất kỳ cách điều trị thông thường bên ngoài
nào. Điều này có nghĩa là chướng ngại rất to lớn, và
thường thì ta chỉ có thể hồi phục bằng cách thực hành
Pháp thật lâu dài và mãnh liệt. Nếu ta có thiện nghiệp
gặp được một Lạt ma có thể ban cho một sự chỉ dạy
đúng đắn về việc thực hành Pháp và những giáo huấn thiền
định, thì khi ấy ta có thể hồi phục. Có nhiều ví dụ
về những người bị mắc bệnh mà trải qua một thời gian
dài việc điều trị bằng thuốc men không có hiệu quả nhưng
họ đã hồi phục nhờ thực hành Pháp. Có những người khỏi
bệnh ung thư nhờ thực hành thiền định.
Ví
dụ như một trong những ông chú của tôi bị bệnh trong nhiều
năm. Mặc dù ông đã tới Tây Tạng và gặp nhiều thầy thuốc,
nhưng không ai giúp được gì. Cuối cùng, ông tới thăm một
thiền giả sống ở Charok, gần Động Lawudo, là nơi thỉnh
thoảng tôi tới. Thiền giả này đã khuyên chú tôi rằng bệnh
của ông là do những nghiệp chướng nên ông cần phải thực
hành tịnh hóa rất nhiều. Sau đó chú tôi thọ nhận những
giáo huấn về các thực hành chuẩn bị – lễ lạy, quy y,
và v.v.. – từ Lạt ma đó và từ vị Lạt ma già khác vẫn
sống ở Charok.
Trong
khi làm các thực hành chuẩn bị, chú tôi dần dần khỏi bệnh.
Ông đã thực hiện 700.000 lễ lạy. Cùng thời gian đó ông
cũng chăm sóc cho bà của ông bị mù. Ông mang thực phẩm lại
cho bà cụ, dẫn bà ra ngoài đi vệ sinh, đưa bà trở vào nhà,
và làm mọi sự như thế. Ông đã chăm sóc bà trong nhiều
năm.
Có
nhiều câu chuyện như thế. Khi những phương tiện bên ngoài
không thể trợ giúp cho vấn đề hiện tại của chúng ta,
thì một lần nữa ta phải nương tựa nơi Pháp. Ta phải thực
hành Pháp, không chỉ để khỏi phải kinh nghiệm những vấn
đề trong những đời sau mà cũng để ngăn chặn những vấn
đề trong hiện tại của chúng ta. Tóm lại là chúng ta phải
thực hành Pháp.
Cho
dù bạn có là Phật tử hay không, bạn không có cách nào khác
để giải quyết những vấn đề của cuộc sống và để
chúng không thể xảy ra một lần nữa. Cho dù bạn trải nghiệm
bao nhiêu vấn đề chăng nữa thì bạn cũng phải thực hành
Pháp. Mặc dù có thể bạn không có thời giờ để nhập thất
dài hạn hay nghiên cứu rộng rãi, bạn phải làm những gì
bạn có thể để thực hành Pháp bởi bạn không muốn gặp
những vấn đề và sự bất hạnh. Mặc dù bạn có thể có
nhiều vấn đề về bệnh tật hay những mối quan hệ, bạn
không thể sử dụng điều này như một cái cớ để từ bỏ
việc thực hành Pháp. Bạn phải làm những gì có thể; bạn
phải thực hành Pháp.
Mặc
dù hiện tại bạn không có nghiệp để từ bỏ cuộc đời
này, sống một cuộc đời khổ hạnh giống như một vài thiền
giả, nhưng điều quan trọng là phải phát triển ước muốn
sống một cuộc đời như thế. Đừng nghĩ: “Tôi không thể
sống như thế, vì vậy đâu là mục đích của việc lắng
nghe giáo lý này?” Có nhiều lợi ích. Mặc dù hiện thời
bạn không thể thực hành, việc phát triển ước muốn có
thể thực hành trong tương lai là hạt giống khiến cho sau
này bạn có thể thực sự thực hành Pháp thuần tịnh, sống
một cuộc đời khổ hạnh, từ bỏ tám pháp thế gian. Theo
cách này, bạn sẽ có thể thành công trong việc thể nhập
con đường dẫn tới Giác ngộ.
Điều
tối quan trọng là đọc lam-rim. Mặc dù bạn có thể nghiên
cứu Madyamakavatara,(1) Abhisamayalankara,(2) hay những bản văn
triết học khác một cách rộng rãi, trừ phi bạn chú tâm
vào lam-rim, bạn sẽ không thấu hiểu ý nghĩa của pháp thế
gian. Trừ phi bạn chú tâm vào những bản văn như Mở rộng
Cánh Cửa Thánh Pháp, nó mang lại giáo huấn về thực hành
Pháp nhập môn rất đơn giản này, bạn sẽ sai lầm khi nghĩ
rằng chỉ có một ít hành động là hoạt động thế tục.
Sự chú tâm vào giáo huấn này rất ích lợi cho việc thực
hành của ta.
Trong
mỗi ngày chúng ta có rất nhiều cơ hội để thực hành sự
từ bỏ, tích tập công đức, và thành tựu sự Giác ngộ.
Mỗi ngày chúng ta có thể tích tập rất nhiều công đức
khi ta làm những thực hành Bổn Tôn. Có rất nhiều vấn đề
liên quan: động lực vào lúc bắt đầu, những sự cúng dường,
việc phát triển từ tánh Không như Bổn Tôn. Thậm chí chúng
ta tích tập rất nhiều công đức trong việc thực hành một
sadhana.
Thiền
định về tánh Không dù chỉ một giây cũng tịnh hóa trọng
nghiệp tiêu cực của mười ác hạnh. Người ta nói rằng
việc chỉ ước muốn thiền định về tánh Không cũng tịnh
hóa những nghiệp tiêu cực đó và tích tập nhiều công đức.
Việc chỉ ước muốn nghe các giáo lý Prajnaparamita (3) là đã
tịnh hóa trọng nghiệp tiêu cực nhiều kiếp mà ta đã tích
tập trong những đời quá khứ. Cũng thế, như đã đề cập
trong Bồ Tát Hạnh, việc thiền định về Bồ Đề tâm có
những lợi ích vô hạn về mặt tịnh hóa; nó là một trong
những phương tiện mạnh mẽ nhất để tịnh hóa. Và về
mặt tích tập công đức rộng lớn thì Bồ Đề tâm là phương
pháp thiện xảo nhất.
Tôi
nghĩ rằng các thực hành Pháp được giảng trong Mở rộng
Cánh Cửa Thánh Pháp thì rất quan trọng. Chúng là nơi nương
tựa chính yếu trong cuộc sống và cực kỳ hữu hiệu cho
tâm thức. Chúng giúp ngăn cản hầu như mọi vấn đề. Việc
đọc, suy tưởng về, và đặc biệt là thực hành Mở rộng
Cánh Cửa Thánh Pháp là giải pháp cho những vấn đề.
Đối
với các cư sĩ, bản văn này phác thảo tâm lý học cần thiết
để giải quyết những vấn đề, đặc biệt là vào những
thời điểm bạn cảm thấy cuộc sống của bạn trở thành
địa ngục; khi bạn kinh nghiệm đau khổ tới nỗi bạn muốn
tự tử. Là cư sĩ, bạn không thể hiến dâng toàn bộ cuộc
đời bạn cho sự tham muốn theo sau. Cuộc sống trở nên có
quá nhiều thứ để ham muốn. Bạn sẽ thường xuyên bất
hạnh nếu buông thả mọi sự cho sự tham muốn và mối quan
tâm thế tục. Điều này chỉ làm cho đời sống của bạn
và những người khác cực kỳ khốn khổ. Ngay cả trước
khi bị tái sinh trong địa ngục, bạn cũng tạo ra loại địa
ngục khác trong cõi người cho bản thân bạn. Và không chỉ
bản thân bạn khốn khổ, bạn cũng đưa rất nhiều chúng
sinh khác vào địa ngục; bạn gây cho những người khác nhiều
vấn đề.
Dĩ
nhiên thực hành Pháp là nơi nương tựa đích thực trong cuộc
sống, điều này không phải nghi ngờ gì nữa. Việc tu tâm
không chỉ giúp mang lại sự an bình cho tâm bạn, mà cả sự
bình an trong tâm thức của nhiều người khác. Khi bạn an bình
và hòa hợp, bạn không quấy rầy cuộc sống và sự thực
hành của người khác. Việc tu tâm cũng rất quan trọng cho
những ai muốn thực hành lam-rim, bởi không có nó thì không
có sự phát triển con đường dẫn tới Giác ngộ. Với sự
tu tâm, là cái cắt đứt mối quan tâm thế tục, việc phát
triển của tâm trong con đường lam-rim xảy đến một cách
tự động. Tôi nghĩ là nó đặc biệt quan trọng cho những
người thực hành nhập thất, dù dài hay ngắn hạn. Tu tâm
là một sự hỗ trợ tuyệt hảo cho việc nhập thất. Bằng
cách trợ giúp để giữ tâm an tĩnh và ngăn cản những
chướng ngại, nó khiến cho việc nhập thất thành công.
Đối
với tăng ni, tôi cho rằng việc tu tâm là thực hành căn bản.
Không có thực hành này ta không thể tiếp tục sống cuộc
đời xuất gia; ta gặp khó khăn khi tiếp tục thực hành giới
hạnh. Không chỉ có thế, thực hành này là một trong những
sự hỗ trợ chính yếu cho việc phát triển tâm, việc thể
nhập con đường lam-rim. Đặc biệt là đối với những tăng
và ni, giáo lý này là nền tảng của sự thực hành, được
nghe và đọc nhiều lần, và được nhớ tưởng. Đây là nơi
nương tựa đích thực, sự bảo hộ chân thực.
Tóm
lại điều cực kỳ quan trọng là phải thực hành Pháp, có
nghĩa là không để cho những mê lầm hoàn toàn áp đảo bạn.
Cho dù bạn có bao nhiêu vấn đề và khó khăn chăng nữa, bạn
vẫn cần thực hành Pháp. Bạn phải thực hành; bạn phải
nỗ lực. Nhờ việc kiểm soát sự tham muốn một lần, hai
lần, ba lần, bốn lần trong một ngày, bạn không tạo ác
nghiệp, và bạn không cho phép những tư tưởng tiêu cực khác
phát khởi. Bạn cần thực hành Pháp, thậm chí để có được
sự an bình trong đời bạn từ khoảnh khắc này sang khoảnh
khắc khác. Hãy thiền định về sự vô thường và cái chết
như nền tảng, sau đó tu hành tâm bạn trong lam-rim. Hãy nỗ
lực tích tập công đức và tịnh hóa nghiệp tiêu cực càng
nhiều càng tốt.
LẬP
QUYẾT ĐỊNH THỰC HÀNH
Ngay
cả khi chúng ta tìm ra thời gian để thực hiện một vài hoạt
động Pháp, chính tư tưởng tám pháp thế gian không cho phép
việc thực hành Pháp của ta trở thành Pháp thanh tịnh. Bởi
nó gây nên sự lười biếng, tư tưởng này khiến chúng ta
không thể thực hành Pháp, hay trì hỗn việc thực hành.
Nó làm suy yếu tâm ta đến nỗi ta không thể lập một quyết
định thực hành.
Toàn
bộ vấn đề nằm ở sự quyết định. Không có sự quyết
định, sự phát triển không thể xuất hiện. Vị thầy dạy
chữ cái đầu tiên của tôi, người có thánh hiệu là Aku
Lekshe, thường bảo tôi rằng toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ
không thể lập quyết định thực hành Pháp. Ngài đã dạy
điều này ngay lần đầu tiên ngài dạy tôi chữ cái; và lần
cuối cùng chúng tôi sống với nhau trước khi ngài qua đời,
ngài vẫn nói tới điều này khi ngài bàn về Pháp.
Việc
không thể lập quyết định này trở thành nguồn mạch của
những vấn đề và chướng ngại. Tâm của riêng bạn tạo
nên sự khó khăn. Tâm bạn gây khó khăn cho việc thực hành
và phát triển những sự thấu suốt con đường. Nếu lập
quyết định thực hành thì không có những khó khăn; sẽ có
khó khăn nếu không lập quyết định. Không có những khó
khăn từ khía cạnh của Pháp, từ khía cạnh của con đường.
Không có những khó khăn ngoại tại. Khó khăn trong việc thực
hành Pháp đến từ tâm bạn, từ việc bạn không thể lập
quyết định cần thiết. Và điều khiến bạn không thể lập
quyết định đó là tư tưởng tám pháp thế gian.
Khi
bạn tự cách ly bản thân bạn khỏi tư tưởng tám pháp thế
gian xấu ác thì việc thực hành của bạn không gặp những
khó khăn. Khi bạn không thể sống xa lìa tư tưởng này, khi
bạn là bằng hữu của tám pháp thế gian, thì có những khó
khăn. Không có Pháp bị khó khăn tự bản chất của nó; sự
khó khăn không thực sự hiện hữu. Chính tâm bạn tạo nên
khó khăn. Ngoại trừ việc bạn không thể lập quyết định
thực hành, còn thì không có khó khăn nào hết.
Nếu
bạn có thể lập quyết định không theo đuổi sự tham muốn
và lập tức thực hành Pháp, thì có sự an bình; nếu bạn
không thể thì không có an bình. Nếu bạn lập quyết định
ngay tại nơi này, ngay chính giây phút này, thì lập tức có
sự an bình. Khi bạn không lập quyết định này, không có
sự an bình. Nếu bạn lập quyết định, an bình là điều
bạn có thể kinh nghiệm tức thì, ngay trong giây phút này.
Không có chọn lựa nào khác; không có giải pháp nào khác./.
Trích
trong nguyên tác:
“The
Door to Satisfaction The Heart Advice of a Tibetan Buddhist Master’ by
Lama Thubten Zopa Rinpoche
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
Madhyamakavatara (Phạn). Phụ lục của “Luận thuyết về Trung
Đạo” của Nagarjuna (Nhập Trung Luận) của Đạo sư Ấn Độ
thế kỷ thứ bảy Chandrakirti (Nguyệt Xứng); một trong những
bản văn triết học được nghiên cứu trong các tu viện Tây
Tạng.
(2)
Abhisamayalankara(Phạn). Trang nghiêm Chứng Đạo, của Di Lặc;
một bản văn triết học được nghiên cứu trong các tu viện
Tây Tạng, nó bao gồm những chủ đề như tánh Không, những
phẩm tính của một vị Phật, và tất cả những giai đoạn
của con đường dẫn tới Phật Quả.
(3)
Prajnaparamita (Phạn). Sự Toàn thiện của Trí tuệ; các giáo
lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong đó giảng về trí
tuệ của tánh Không và con đường của Bồ Tát.