Khuôn
mặt chó bun của Ngài có thể liên tục thay đổi sự biểu
lộ từ phẫn nộ sang bi mẫn chói ngời và qua vẻ hân hoan
như trẻ con một cách nhanh chóng; Ngài tự gọi mình là một
“Lạt ma hành khất” và một “trưởng tử của Vajrapani”
(Kim Cương Thủ.) Những mâu thuẫn hiển nhiên này chỉ là
những khía cạnh của một sự phô diễn trí tuệ được liên
tục biểu hiện tuỳ theo nhu cầu của các đệ tử bởi một
trong những Lạt ma vĩ đại nhất còn sống của Tây Tạng,
H.H. Orgyen Kusum Lingpa.
Đứng
trước sự hiện diện của His Holiness là xúc chạm vào khuôn
mặt của xứ Tây Tạng cổ xưa, huyền bí trong năng lực nguyên
tuyền của nó. Ở nơi Ngài ta không chỉ kinh nghiệm toàn bộ
sức nặng của một truyền thống không đứt đoạn, mà còn
cả một sự bao la của cái thấy xoá sạch phòng tuyến ngăn
chia giữa những gì thường được gọi là thầàn thoại,
và thực tại; cả hai đơn thuần được diễn tả ở những
mức độ khác nhau trong phạm vi của ý thức.
Với
sự tự hào kim cương của một bậc đã chứng ngộ thực
hành Pháp qua vô số cuộc đời, His Holiness thuật lại một
cách thực tế sự tiếp nối của những Hoá Thân phi thường
của Ngài: “Vào thời của Gesar xứ Ling (vị anh hùng trong
sử thi Tây Tạng), tôi là một trong ba mươi chiến sĩ chủ
lực của ngài; tôi mạnh tới độ có thể nhặt một con voi
với một bàn tay và vì thế là một trong số ít người không
bị tử thương trong những cuộc chiến tranh được tiến hành
giữa xứ Hor và Jang. Tên tôi là Jamtrul Yulai Topgyir bởi tôi
mặc áo giáp bằng ngọc lam rắn chắc. Tôi cũng là thành tựu
giả Ấn Độ Trilwupa và Lhalung Palgyi Dorje, người đã giết
Vua Langdarma (kẻ huỷ diệt Phật Giáo, bị giết bởi một
mũi tên vào năm 842). Trong đời Machig Lapdron (nữ hành giả
nổi tiếng và là người sáng lập trường phái Chod), tôi
là một trong những đệ tử chính của Bà, có tên là Shang
Murthi Nyongpa Rangzin, hay Kẻ Cuồng điên Bí mật-tự-Bản chất
xứ Shang.”
Trong
đời này His Holiness sinh năm 1933 tại Achak Drayu trên ngọn
núi linh thiêng Amnyi Machen Nyendop, nó được gọi là ngọn Kailash
(Ngân Sơn) ở miền Đông Tây Tạng. Sự ra đời của Ngài
được tiên tri trong Kinh điển bởi Dodrup Chen đệ nhất, Jigme
Trinley Oser, bởi terton Nyima Dragpa; và bởi Dzogchen Rinpoche thứ
năm, ngài Migyur Namkhai Dorje. Một ngagpa thế hệ-thứ tư, His
Holiness là con trai của bậc lão thông Kim Cương thừa Washi
Lama Lhundrup Gyatso và yogini Padma Lhamso. Thân phụ Ngài mất khi
Ngài lên ba tuổi, vào lúc đó His Holiness nhận những giới
nguyện quy y và lễ cắt tóc từ Ban Thiền Lạt ma thứ chín,
Thubten Chokyi Nyima.
Ngài
tự mô tả mình trong thời niên thiếu là “rất nghịch ngợm,
xấu xa như đám trẻ sinh động!” Tuy nhiên, Ngài tiến bộ
trong việc học tập với một số vị Thầy linh thánh, kể
cả Ngài Ahkon Khenchen Losang Dorje, một geshe rabjampa đã hoàn
thành việc nghiên cứu hơn một trăm Kinh điển quan trọng
nhất, và His Holiness đã là đệ tử chính của vị này trong
hơn bốn mươi năm; hai Hoá Thân của Dodrup Chen Rinpoche thứ
tư, Thubten Trinley Palzangpo và Rigzin Jalu Dorje; Gyaltrul Wangpo,
Khenchen Lobsang Namtak là người đã ban cho Ngài sự truyền dạy
Dzogchen Nyingthik, và Ngài đã sống nhiều năm với vị Thầy
này; và Palyul Chogtrul Rinpoche mà từ vị này Ngài nhận lãnh
các trao truyền Namcho và Tatna Lingpa. Thêm vào đó, từ năm
mười ba tuổi, His Holiness bắt đầu nhận lãnh, trong những
khoảng thời gian đều đặn, các linh kiến của Guru Padmasambhava
và Vajrayogini. Cả hai vị này tiếp tục truyền dạy các giáo
huấn và tiên tri cho Ngài.
Thân
mẫu Ngài mất khi Ngài mười sáu tuổi, (…) và Ngài vui thích
khi thuật lại “Khi tôi gặp những gia trưởng keo kiệt, tôi
cố tình hát những bài ca kim cương du dương và não nuột
làm họ khóc lóc, suy sụp, vì thế họ kết thúc bằng việc
liên tục cho tôi những món ăn ngon nhất của họ!” Ngài
cũng kể lại những ngày Ngài là một chodpa (hành giả thực
hành pháp Chod), nếu những người bạn hành giả của Ngài
nghe phong thanh về thời gian và địa điểm thực hành Chod
của một yogi, họ sẽ luôn luôn chơi sỏ anh ta. “Những yogi
này lập tức có những phản ứng sai lầm,” Ngài lưu ý.
“Thật là vui nhộn.” His Holiness không dừng lại ở những
trò đùa nghịch như thế: một lần, khi một nhà sư khác đang
thực hiện pháp Chod, với sự hóm hỉnh của mình, cậu bé
Kusum Lingpa làm kinh hoàng vị yogi tương lai bằng cách thọc
bàn tay qua một cái lỗ trong căn lều và giật tóc ông ta!
Vào
khoảng thời gian này, His Holiness đi hành hương Lhasa và Samye,
ở đó Ngài có các linh kiến về tất cả những đời
quá khứ và tương lai của mình. Chính lúc đó Ngài nhận ra
rằng trong tương lai Ngài sẽ tái sinh là Sangpa, trưởng tử
của vị Nhiếp Chính thứ hai mươi lăm của Shambhala. Lòng
dũng cảm hiếm có của Ngài sẽ giúp cho Ngài chiến thắng
trong một đánh bom kéo dài bảy ngày do con người trên trái
đất này ném xuống các cư dân của Shambhala. Ngài cũng thọ
nhận một tiên tri là trong hơn một trăm đời Ngài sẽ khám
phá một ngàn cuốn sách được liên kết với những kho tàng
ẩn dấu ở năm phương hướng.
Không
lâu sau đó, His Holiness bắt đầu khám phá những kho tàng tài
bảo, các thực hành có khả năng ban tặng sự thịnh vượng
trong những thời đại suy hoại. Sau này, năm ba mươi hai tuổi,
Ngài khám phá một kho tàng thân của Đức Phật Vairocana (Tỳ
Lô Giá Na) mà hiện nay Ngài đang ban tặng nó cho các đệ tử
ở Tây phương, đó là thực hành Jambhala Orgyen. Với sự xác
quyết của một bậc đã chứng ngộ sự thực hành, His Holiness
nói rằng sự khám phá terma (kho tàng tâm linh được chôn dấu)
này lập tức đảo ngược vận mệnh của Ngài, đem lại sự
sung túc bất thường, và có thể thực hiện tương tự đối
với bất kỳ ai tuân thủ nó một cách tinh tấn. Từ lúc đó,
Ngài nổi tiếng là một trong những terton (bậc khám phá terma)
còn sống, đã khám phá ba loại terma: những terma được nhận
lãnh trực tiếp từ tâm; những terma “điên” có thể hiển
lộ trong vị yogi như cách hành xử không theo quy ước; và
terma bí mật chỉ có thể khám phá bởi một bậc là sở hữu
chủ của tất cả mười tám bộ (gia đình) terma.
Giữ
vững lập trường không trộn lẫn Pháp với những vấn đề
thế tục, His Holiness trải qua hơn hai mươi ba năm bị giam
giữ trong một trại giam của Trung Quốc ở Tây Tạng, Ngài
thích nhấn mạnh tới những sự ban phước của Đức Padmasambhava
và Vajrayogini mà nhờ đó Ngài cảm thấy Ngài có thể tới
Tây phương và ban những giáo lý. “Những Lạt ma khác ở
Tây Tạng vĩ đại hơn tôi nhiều,” Ngài nói, “nhưng tôi
là một người thăm viếng Châu Mỹ và là một thành phần
của những sự việc ở đây.” Mặc dù hiện nay Ngài có
trọng trách đối với năm tu viện ở Tây Tạng, tu viện chính
nằm ở Golok trong miền đông Tây Tạng, His Holiness bắt đầu
nhận những lời mời vào năm 1994 để giảng dạy tại các
trung tâm Giáo Pháp Châu Mỹ của các ngài Chagdud, Gyaltrul, và
Trungpa Rinpoche, và tại Kunzang Palyul Choling, được điều hành
bởi nữ tulku người Mỹ Ahkon Norbu Lhamo. Trong chuyến trở
lại Hoa Kỳ vào mùa xuân năm nay, Ngài cũng thành lập một
trung tâm nhỏ ở Crestone, Colorado và một trung tâm ở Los Angeles
mà Ngài hướng dẫn cùng với trưởng nam của Ngài là Tulku
Hungkar Dorje, là vị từng được công nhận là tái sinh của
Do Khyentse Yeshe Dorje, mà His Holines sẽ là một Lạt ma vĩ đại
hơn ông ta. His Holiness đã đích thân bổ nhiệm đệ tử của
Ngài là Kelly Lynch làm giám đốc trung tâm. Trong thời gian thăm
viếng Châu Mỹ, His Holiness đã giảng dạy trên ba ngàn người
và đã ban các giới nguyện quy y cho hơn năm trăm người.
Lối
giảng dạy của His Holiness thiên nhiều về trực giác. Ngài
có thể ban những nhập môn chính thức hay thuật lại những
câu chuyện của Tây Tạng xa xưa. Sau một buổi tối vui nhộn
bất ngờ, Ngài kết luận: “Khi tôi còn trẻ, tôi có nhiều
cuộc gặp gỡ ngồ ngộ với những người được gọi là
hành giả Pháp thuần tịnh và những trò đùa nghịch được
rút ra từ họ, vì thế thỉnh thoảng khi tôi đang giảng dạy,
những câu chuyện này xuất hiện trong tâm tôi. Tôi thích kể
những câu chuyện này bởi tôi thích cười. Ngày mai chúng
ta sẽ cố gắng có thêm những bài giảng, nhưng nếu những
câu chuyện này lại xuất hiện thì tôi không thể kiểm soát
được mình!”
Nhưng
Ngài có thể dễ dàng biểu lộ một cách thế phẫn nộ, đưa
ra lời khuyên dạy nghiêm khắc cho những hành giả đang rơi
vào sự tự mãn. Khi Ngài có một ước muốn mạnh mẽ, Ngài
sẽ trở lại vấn đề một cách liên tục và sinh động tới
nỗi ta dễ tin rằng Ngài là một Hoá Thân của Đức Vajrapani
(Kim Cương Thủ); một trường năng lực tỏa ra từ Ngài khiến
ta có thể sờ mó được. Tại một trung tâm Giáo Pháp, Ngài
đã khiển trách tăng đoàn trong ba buổi tối liên tiếp về
mọi sự hình thành giờ giấc mà họ đang giữ (“Quý vị
nên thức dậy và bắt đầu thực hành vào lúc 4 giờ sáng;
ngủ tới 8 giờ sáng và thức khuya thì không tốt”) đối
với toàn bộ hiệu quả của tổ chức. Đó là một trong những
trách nhiệm của Ngài, Ngài khám phá, tẩy trừ những chướng
ngại, đặc biệt là tại những trung tâm Giáo Pháp. Nhưng
vào lúc kết thúc, Ngài thình lình cười rạng rỡ và nói:
“Tôi nghĩ tôi đã quá khó khăn với quý vị; bây giờ tôi
sẽ kể cho quý vị nghe một vài chuyện vui!”
Quả
thực là vẻ chói sáng của His Holiness là điều được cảm
nhận một cách mạnh mẽ, ngay cả giữa sự biểu lộ phẫn
nộ được kiểm soát của Ngài. (Thực thú vị là từ ngữ
Tây Tạng để chỉ sự phẫn nộ, dragpo, bao hàm sức mạnh
hơn là sự giận dữ.) Nhìn vào mặt Ngài khi ta được Ngài
ban phước, ta hiểu được ý nghĩa của thuật ngữ lòng bi
mẫn không-bị cụ thể hóa. His Holiness không chỉ ban tặng
lòng từ; Ngài trở thành lòng từ ái, và mặc dù hành giả
có thể nhận lãnh sự trừng phạt nghiêm khắc khi cần thiết,
nhưng họ sẽ không bao giờ bị bỏ rơi.
His
Holiness cũng có thể khiêm tốn, bình phàm, và sắc sảo thật
tâm lý. Mới đây, lời khuyên dạy tâm huyết của Ngài cho
các đệ tử là: “Các Lạt ma vĩ đại là những vị nghĩ
về bản thân mình một cách khiêm tốn và không tự đặt
mình trong một địa vị đặc biệt, nhưng hạ mình hoà nhập
với mọi người, và thậm chí còn thấp thỏi hơn mọi người,
như một Lạt ma hành khất. Nếu quý vị sống như một Lạt
ma hành khất, quý vị thực sự ở một vị trí làm lợi lạc
chúng sinh.” Một vấn đề khác: “Là bất tịnh nếu không
nhận ra chân tánh của tâm. Đó là lý do tại sao những gì
ở trong tâm quý vị thì bất tịnh như những thứ xuất hiện
trong nhà vệ sinh! Nếu ngay cả người bạn tốt nhất của
ta có thể thấy được những gì trong tâm ta, thì thật là
bối rối. Và nếu mọi người có thể thấy được những
gì trong tâm ta, chúng ta sẽ ở trong một trạng thái giằng
xé liên tục!” Ngài cũng ban lời dạy về những thực hành
cho người chết và về thái độ đúng đắn đối với những
của cải như một chuẩn bị cho cái chết của bản thân ta.
“Ở Mỹ, khi người nào chết, điều quan trọng nhất là
loại y phục nào quý vị sẽ mặc cho tử thi để làm dễ
chịu những ai nhìn thấy nó. Tôi có thể quả quyết với
quý vị là điều này có hại cho tâm thức bardo bởi nó không
giải thoát tâm thức khỏi sự bám luyến. Là những hành giả
Phật Giáo, hãy làm điều đức hạnh như trì tụng thần chú
Mani (Lục Tự Đại Minh) hay thực hiện những Bổn Tôn an bình
và phẫn nộ trong các vị thần trong bardo. Khi quý vị ở trong
bardo, điều tôi nói sẽ trở nên chân thực trong tâm quý vị
và khi ấy quý vị sẽ hiểu rõ là người ta có thiện tâm
đối với người thân của họ vào lúc chết hay không. Đối
với tâm thức bardo thì điều tốt đẹp là không để lại
sau lưng quá nhiều của cải bởi điều đó gây nên sự bám
luyến. Giờ đây hãy sử dụng tài sản của quý vị vào những
mục đích đức hạnh. Đừng tích luỹ quá nhiều hay có những
dự án to lớn cho tương lai. Đây không phải là con đường
của Dzogchen (Đại Viên Mãn). Quý vị nên có một tâm thức
được hướng tới hiện tại hơn nữa.”
His
Holiness thật rộng lượng tràn đầy tâm linh và cảm xúc,
Ngài ban phước cho tất cả, từng người một, bất kể những
khoá giảng kết thúc muộn tới đâu hay Ngài mệt nhọc ra
sao. Nói chung, Ngài ban tặng gấp đôi so với giáo lý xuất
hiện trên lịch giảng dạy chính thức. Và nhìn ngắm Ngài
trong những giờ Ngài “nhàn rỗi” là một sự nhắc nhở
về nỗ lực không ngừng nghỉ mà những bậc thực hành các
giới nguyện Bồ Tát đã làm. Khi Ngài không tích cực giảng
dạy hay ban những chỉ dạy tâm linh, Ngài lần chuỗi hột
và trì tụng các thần chú, hoặc tìm kiếm người nào đó
để làm lợi lạc. Trong khi chờ đợi tại một phi trường
ở bờ biển miền đông, Ngài nhìn lướt qua đám đông, đôi
mắt ngài dừng lại nơi một phụ nữ ngồi đối diện với
Ngài. Bởi Ngài không nói tiếng Anh, Ngài bắt đầu ra hiệu
để thu hút sự chú ý của bà ta, thấu hiểu rằng ngay cả
sự tiếp xúc thoáng qua cũng có thể gieo trồng một chủng
tử sẽ nở rộ trong những đời sau.
His
Holiness là một sức thuyết phục của chân tánh, một kho tàng
sống của những truyền thống tâm linh cao quý nhất của Tây
Tạng, một terton và siddha (thành tựu giả) vĩ đại, không
nên bỏ lỡ Ngài.
Nguyên
tác: A Treasure for Our Time, by Victoria Huckenpahler
http://www.wolfenet.com/~markho/k_lisnoln.html
Bản
dịch Việt ngữ của Liên Hoa