PHẦN
BA
QUYẾT
TÂM GIẢI THOÁT KHỎI SANH TỬ
Buông
bỏ những hoạt động sanh tử
Những
hành động
Nói
năng
Đi
đây đó
Ăn
Suy
nghĩ
Những
sở hữu
Ngủ
Nhu
Cầu Khẩn Thiết phải Thực Hành
Làm
chủ tâm thức
Những
bài kệ kết thúc
Hồi
Hướng Công Đức
Lời
Kết
Chú
thích
Về
Patrul Rinpoche
Về
đức Dilgo Khyentse Rinpoche
Buông
bỏ những hoạt động sanh tử
Điểm
đầu tiên của sự từ bỏ là bỏ lại mọi hoạt động sanh
tử đàng sau để nhất tâm thực hành Pháp.
Những
hành động
65.
Ích gì mọi việc con làm ? Quá bận rộn mà chỉ tạo thêm
sanh tử –
Hãy
nhìn mọi điều con đã từng làm, vô nghĩa biết bao nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên ngừng cố gắng làm mọi sự ;
Dừng
mọi hoạt động, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Chỉ
có một vị Phật mới có thể tính đếm được bao nhiêu
lần các bạn đã sanh ra trong sanh tử luân hồi từ vô thủy,
và chỉ một vị Phật mới có thể nói lúc nào sanh tử bắt
đầu. Có nói trong Pháp Cao Cả của sự Nhớ Lại Rõ Ràng
rằng nếu các bạn có thể chồng chất tất cả thân thể
các bạn đã có trong những đời quá khứ làm loài côn trùng,
đống ấy còn cao hơn cả núi Tu Di ; và nếu các bạn có thể
gom góp lại mọi hạt nước mắt buồn đau các bạn đã đổ
ra, chúng sẽ tạo thành một đại dương lớn hơn bất kỳ
đại dương nào trên trái đất. Trải qua mọi cuộc đời
không thể tính đếm hết này, mọi thứ các bạn đã làm
chỉ là kéo dài thêm nỗi khổ của các bạn mà không đem
lại cho các bạn dầu chỉ một gang tay tiến gần hơn với
giải thoát. Tại sao ? Bởi vì cho đến bây giờ, mọi hành
động của các bạn đều gây tai hại, hay tốt nhất thì cũng
là vô ích.
Những
chúng sanh hữu tình thì thường trực bận rộn. Những con
người chúng ta luôn luôn bận rộn tranh giành với người
khác, mua, bán, làm ra, huỷ hoại. Những con chim thì luôn luôn
bận rộn xây tổ, ấp trứng, nuôi nấng chim con. Những con
ong luôn luôn bận rộn tích tập phấn hoa, làm mật. Những
con thú khác thì luôn luôn bận rộn nuôi nấng, săn bắt, canh
chừng sự nguy hiểm, dạy dỗ con cái. Các bạn càng làm, các
bạn càng phải làm và sự khó khăn của các bạn càng tăng
lên – nhưng kết quả sau cùng của mọi sự quần quật và
phiền phức của các bạn sẽ không tồn tại lâu hơn một
hình vẽ bằng ngón tay trên mặt nước của các bạn. Khi các
bạn biết rõ sự làm nản lòng và phù phiếm của bấy nhiêu
hoạt động vô nghĩa thì rõ ràng rằng sự đảm đương thật
sự xứng đáng duy nhất là thực hành Pháp.
Nói
năng
66.
Ích gì mọi điều con nói ? Tất cả chỉ là chuyện tầm phào
vô định –
Hãy
nhìn nó đem lại phóng dật không thích đáng biết bao nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên giữ im lặng ;
Hoàn
toàn ngưng lại nói năng, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Khi
người ta ở cùng nhau và nói chuyện, hầu hết điều họ
nói là hoàn toàn vụn vặt vô nghĩa. Cuộc nói chuyện của
họ, chủ yếu hứng khởi từ những luyến bám và ác cảm,
chỉ dùng để tăng thêm những thức tình độc hại của họ.
Mọi thứ nói chuyện vô bổ này làm xao động tâm thức, khiến
tư tưởng lất phất như nhiều lá cờ giấy trong gió.
“Miệng
là cửa của tội lỗi,” châm ngôn nói thế. Lắm lời, nói
dối, lời thô bạo, và chuyện lê đôi mách, tất cả gây
ra những phóng dật không cùng và loạn động bên trong ; và
ngay cả tài năng hùng biện khúc chiết và hấp dẫn cũng chỉ
thường hơn đưa đến sự mất thì giờ và rối rắm. Đây
là điều tại sao có nói trong Mật thừa rằng dùng chỉ một
tháng trì tụng thần chú trong khi vẫn giữ im lặng thì nhiều
lợi lạc hơn để cả một năm trì chú mà có lẫn lộn với
những nói chuyện bình thường. Được làm một cách thích
đáng mà không có sự trà trộn của bất cứ hình thức lời
nói nào khác, như trong trường hợp thứ nhất, sự trì tụng
thần chú giữ được năng lực trọn vẹn của nó và cuối
cùng đưa đến một nhìn thấy sáng rõ chân lý vượt trên
mọi lời nói, vì manÏi là âm vang tự nhiên của chân lý không
thể diễn tả này. Bởi thế sự thực hành của các bạn
sẽ tiến bộ nhanh chóng nếu các bạn trừ bỏ chuyện phiếm
không cùng của đời sống hàng ngày bằng cách giữ một lời
thệ nguyện im lặng, và thốt lên không cái gì khác ngoài
thần chú sáu âm.
Đi
đây đó
67.
Ích gì sự chạy lòng vòng ? Đến và đi chỉ làm con mệt
mỏi –
Hãy
nhìn sự lang thang của con đã đem con xa khỏi Pháp biết bao
nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên dừng lại và buông xả tâm thức con
;
Ở
lại, vô tư và thoải mái, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Chạy
lòng vòng đây đó, chỉ làm chúng ta mệt mỏi vô cớ. Chúng
ta luôn luôn lao đến để xem cái gì đang xảy ra đâu đó
và dính dấp vào mọi loại biến cố trong thế giới bên ngoài.
Nhưng tất cả thời gian ấy nên để nhìn vào bên trong hơn,
vào sự chuyển động của những tư tưởng của chúng ta và
đủ để chúng ta làm chủ chúng.
Cho
đến bây giờ các bạn đã lang thang lòng vòng, lạc loài trong
nhiều cõi khác nhau của sanh tử nơi đó không có chút gì
khác ngoài khổ đau. Gom góp nghiệp và trải nghiệm sự khổ
sở từ kết quả của nó, các bạn đã lạc càng ngày càng
xa khỏi Pháp. Không tốt hơn sao nếu bây giờ ở lại trong
một nơi yên tĩnh tốt cho tham thiền ? Thiền định về vị
thầy thiêng liêng và những giáo lý thiêng liêng cho đến khi
ý nghĩa thật sự của Pháp hoàn toàn tràn ngập tâm thức
các bạn là cách duy nhất để làm cho cuộc đời người hiếm
hoi và quý giá này thực sự xứng đáng. Nếu các bạn có
thể làm điều ấy, dù chỉ trong một thời gian ngắn, đó
là một ân sủng lớn lao.
Ăn
68.
Ích gì mọi thứ con đã ăn ? Tất cả chúng chỉ trở thành
cứt đái –
Hãy
nhìn sự ngon miệng của con không thể thỏa mãn biết bao nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên tự nuôi mình bằng thức ăn của samadhi
(định) ;
Hãy
thôi mọi thứ ăn uống, và hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Bất
cứ thứ gì chúng ta ăn, dù ngon lành hay vô vị bao nhiêu, rồi
cũng chỉ thành phân thải, thế thì tại sao khát khao nó đến
thế ? Tốt hơn là xem thức ăn chúng ta ăn như một đồ cúng,
nhờ đó tích tập công đức thay vì làm mạnh thêm sự bám
luyến của chúng ta.
Khi
các bạn ăn, hãy quán tưởng đồ ăn và thức uống của các
bạn như là cam lồ thanh tịnh và trước hết cúng dường
nó cho Tam Bảo. Rồi tưởng rằng chư Phật chuyển lại cho
các bạn thực phẩm các bạn đã dâng cúng các ngài, hãy ăn
nó như một ban phước. Khi hết bữa ăn, hãy quán tưởng các
bạn là Quán Thế Âm và thức ăn các bạn vừa ăn được
chuyển hóa thành cam lồ, nó chảy tràn từ hai tay và từ toàn
thân các bạn đến làm nhẹ bớt sự đói khát của tất cả
chúng sanh trong cõi ngạ quỷ ; hành vi ăn bình thường như
vậy trở thành một cách để tích tập công đức. Bằng cách
hội nhập Pháp vào mọi hành động của các bạn, mỗi một
phương diện của đời sống hàng ngày có thể được chuyển
thành một sự thực hành làm phong phú hiểu biết của các
bạn.
Tại
sao mong muốn những bữa ăn thịnh soạn ? Cố gắng thỏa mãn
sự khát khao của các bạn thì giống như uống nước muối
: càng uống càng khát thêm. Hãy nhìn bao nhiêu thời gian, công
sức và tiền bạc người ta đã tiêu chỉ cho một bữa ăn
ngon ! Thay vì mọi thứ đó, hãy bằng lòng với thức ăn giản
dị và thỏa thích trong cam lồ của samadhi,(68) sự thiền định
của an định và quán chiếu, nó sẽ đem lại thỏa mãn sâu
xa và gỡ những che chướng khỏi các bạn. Nhận biết nguồn
gốc của sự nuôi dưỡng chân thật, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Suy
nghĩ
69.
Ích gì mọi tư tưởng của con ? Chúng chỉ đem đến thêm
mê lầm –
Hãy
nhìn mọi mục tiêu con đã trù tính được thành tựu ít biết
bao nhiêu.
Giờ
đây đối với những quan tâm của đời này, tốt hơn con
chớ nghĩ quá xa ;
Dẹp
bỏ mọi kế hoạch của con, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Không
kéo dài những tư tưởng quá khứ hay chờ đón những tư tưởng
tương lai, hãy hộ trì một tỉnh giác trong sáng về khoảnh
khắc hiện tại. Khác đi thì không thể có sự chấm dứt
cho sự tiếp nối của những vọng tưởng. Như Gyalse Thogme
minh triết và thánh thiện đã nói, “Mọi cái gọi là những
thứ vui buồn này giống như hình vẽ trên mặt nước ; việc
gì phải chạy theo chúng ? Nếu các bạn thực sự phải có
điều gì để suy nghĩ, bấy giờ hãy chiêm nghiệm như thế
nào mọi sự được kết tập sẽ mất đi và mọi sự được
xây dựng sẽ tan rã.”
Sự
phù phiếm của việc hoạch định cho tương lai không thể
dự kiến được minh họa bằng câu chuyện người cha của
Mặt Trăng Tuyệt Vời.
Một
đêm nọ một nông dân trước khi đi ngủ, cột một bao lúa
lớn vừa thu hoạch xong và treo nó trên một xà nhà ngay trên
giường mình. Anh ta nằm ngả lưng trên đệm, hai tay kê sau
đầu, nhìn bao lúa. “Chắc chắn ta sẽ có thể bán lúa này
để có một số tiền. Với số tiền đó ta sẽ có cơ hội
có một hôn nhân tốt đẹp với một người đẹp đẽ...
Khi làm đám cưới xong, sẽ không lâu ta sẽ có một đứa
con trai xinh xắn... Ta hãy suy nghĩ, mình sẽ đặt tên cho nó
là gì đây ?” Thấy mặt trăng tròn chiếu rực rỡ qua khung
cửa sổ anh ta đột nhiên có một ý tưởng. “Biết rồi
! Ta sẽ gọi nó là Mặt Trăng Tuyệt Vời...” Nhưng ngay lúc
đó một con chuột đã gặm xong sợi dây treo bao lúa. Cái bao
nặng rơi xuống người anh nông dân, chấm dứt đời anh và
những dự định của anh.
Chớ
để tâm thức các bạn lạc mất trong suy tính. Hãy bỏ hoàn
toàn mọi kế hoạch cho những quan tâm bình thường của cuộc
đời này, và nhớ mỗi phút giây trôi qua là một cơ hội
để thực hành Pháp nó sẽ đem lại điều gì, hãy hướng
mỗi tư tưởng của các bạn về Quán Thế Âm. Thay vì nhượng
bộ cho sức mạnh của vọng tưởng, hãy lấp đầy tâm thức
các bạn với tình thương và bi mẫn cho tất cả chúng sanh
; và thay vì tự làm mình kiệt sức một cách vô ích khi cố
gắng đáp ứng mọi mục tiêu bình thường của các bạn,
hãy an trụ trong tánh bình đẳng thản nhiên đến từ thiền
định sâu xa.
Thực
hành như vậy, dù ít ỏi như chỉ một giờ, là một đối
trị hiệu quả với những phiền não che ám và chắc chắn
củng cố sự tiến bộ của các bạn trên con đường. Thế
nên, cắt đứt mọi hy vọng, kế hoạch và mong mỏi, chúng
chỉ làm khuấy động tâm thức, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Những
sở hữu
70.
Ích gì mọi thứ của con ? Tài sản chỉ là bám chấp –
Hãy
nhìn con sẽ bỏ lại đàng sau những gì con có sớm biết bao
nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên chấm dứt sự bám níu sở hữu của
mình ;
Thôi
chiếm hữu và tích trữ sự vật, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Những
sở hữu, như mọi thứ vật chất khác, phải tan rã không
sớm, thì muộn. Thịnh vượng gây ra lo lắng không cùng và
mọi loại tâm thái xấu xa. Có châm ngôn rằng, “Giàu có
của bạn càng tăng, khổ não của bạn càng lớn.” Các bạn
có thể tiêu pha toàn bộ cuộc đời mình để tích chứa sở
hữu và tiền bạc cho đến khi các bạn giàu như chính Thần
Tài – và rồi thình lình cái chết sẽ cướp của các bạn
tất cả. Hãy xem số phận của rất nhiều những nhà cai trị
quyền uy và triều đại thịnh vượng rồi bị sụp đổ bởi
mưu đồ, thảm họa, biến động, chiến tranh và mọi thứ
khổ đau khác mà họ hình như hấp dẫn tới.
Không
đau đớn sao khi thấy ai đó rẻ rúng trong chốc lát một hạt
ngọc quý báu như thể nó là một hòn đá tầm thường, rồi
vứt nó đi ? Thế đấy, vậy mà còn khổ sở hơn khi thấy
những người nào có cơ hội quý báu để thực hành Pháp
mà lại phung phí đời họ vào sự theo đuổi mê lầm những
mục tiêu vô nghĩa. Sử dụng cuộc đời làm người này cho
những cái khác với mục đích thật sự của nó thì cũng
giống như đổ đầy một bình chứa bằng vàng với cứt đái.
Chớ
phung phí hay sử dụng sai cơ hội quý báu này. Chớ tiêu phí
hết thời gian của các bạn để gom góp sự vật, chúng hoàn
toàn không cần thiết. Tốt hơn rất nhiều khi dùng nó để
xây dựng công đức của sự thực hành tâm linh.
Dù
trì tụng một ít manÏi hay thực hành trong chốc lát sẽ cho
các bạn giàu có trong kho tàng tâm của các bậc giác ngộ.
Thấu hiểu rằng không có sự giàu có nào của thế gian sẽ
đem lại lợi ích thật sự cho đời này lẫn đời sau, hãy
trì tụng thần chú sáu âm với tinh tấn, sùng mộ và niềm
vui.
Ngủ
71.
Ích gì mọi thời gian con ngủ ? Tất cả chúng chỉ được
tiêu phí trong sự mê mờ mù mịt –
Hãy
nhìn cuộc đời con trôi mất trong lười biếng dễ dàng biết
bao nhiêu.
Giờ
đây tốt hơn con nên bắt đầu nỗ lực toàn tâm ;
Ngày
và đêm, cự tuyệt mọi phóng dật, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Vào
tuổi bảy mươi, các bạn sẽ đã tiêu pha 70 lần 365 đêm,
hay hơn hai mươi năm, chỉ để ngủ như một xác chết. Giấc
ngủ bình thường không chỉ không ích lợi gì cho việc thực
hành Pháp của các bạn ; nó cũng làm mạnh trở lại xu hướng
nghiệp của các bạn đối với vô minh, đến độ mà sự
lười biếng quá độ cũng đủ gây ra sự tái sanh trong những
cõi thấp của sanh tử. Bởi thế quan trọng nhất là các bạn
bỏ đi sự lười biếng và tập trung mọi nỗ lực nhất tâm
vào sự thực hành Pháp.
Cũng
quan trọng là sử dụng những phương tiện để chuyển hóa
giấc ngủ bình thường thành một thực hành nó sẽ làm tăng
thêm sự tiến bộ của các bạn trên con đường. Trước khi
đi ngủ ban đêm, hãy nghĩ về điều các bạn đã làm trong
ngày. Sám hối mọi hành động xấu, và quyết định không
lập lại chúng. Nhớ lại việc gì tốt các bạn đã làm,
hãy hồi hướng mọi công đức các bạn đã tích tập được
trong ngày cho sự giải thoát nhanh chóng của tất cả chúng
sanh. Rồi theo tư thế “sư tử,” nằm dài trên phía phải
với bàn tay phải để dưới má phải và cánh tay trái duỗi
trên sườn trái ; đây là tư thế đức Phật nằm khi nhập
parinirvana. Tiếp theo, quán tưởng Quán Thế Âm bằng cỡ bằng
ngón tay cái, ngồi trên một hoa sen đỏ bốn cánh trong tim
các bạn. Những tia sáng tuôn ra từ ngài, tỏa đầy thân thể
các bạn, căn phòng các bạn và dần dần toàn cả vũ trụ,
làm chảy tan mọi sự vào một khối ánh sáng rực rỡ. Hãy
rơi vào giấc ngủ trong khi duy trì quán tưởng này.
Nếu
các bạn có thể dùng giấc ngủ cho sự thực hành theo cách
này, sự thực hành ban ngày sẽ liên tục hòa lẫn với sự
thực hành của ban đêm. Tương tự, khi các bạn có thể sử
dụng những phương tiện để chuyển hóa mọi hoạt động
hàng ngày của các bạn thành thực hành, sau-thiền-định sẽ
liên tục hòa lẫn vào thiền định ; cái này sẽ nâng cấp
cái kia và sự tiến bộ của các bạn sẽ nhanh chóng. Kiên
trì cả ngày lẫn đêm, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Nhu
cầu khẩn thiết phải thực hành
72.
Không còn thời gian, không còn thời gian nữa! Không còn thời
gian để ở yên
Khi
cái chết thình lình ập xuống trên con, con sẽ làm gì ?
Giờ
đây tốt hơn con hãy bắt đầu thực hành ngay Thánh Pháp ;
Giờ
đây, nhanh chóng, cấp bách – hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Các
bạn có thể chắc chắn rằng cái chết rồi sẽ đến, nhưng
các bạn không bao giờ chắc chắn nó đến khi nào, ở đâu
hay như thế nào – có thể là ngay ngày hôm nay. Cái chết
không rung động trước mọi quyền lực và đạo quân trong
thế giới, không động lòng bởi những khẩn khoản hùng biện
nhất, trơ trơ với sắc đẹp lộng lẫy nhất, không nao núng
bởi sự hối lộ hậu hĩnh nhất. Không có cái gì có thể
tắt dừng cái chết, dù chỉ một khoảnh khắc. Khi thời của
các bạn đã đến, chỉ có một thứ sẽ có ích dụng cho
các bạn : bất kỳ Pháp gì các bạn đã làm. Hãy luôn luôn
nhớ đến cái chết. Như những đạo sư Kadampa đã nói, “Chính
là thiền quán về cái chết sẽ trước tiên xoay tâm thức
bạn về Pháp, rồi thôi thúc những cố gắng thực hành của
bạn, và cuối cùng cho phép bạn nhận ra cái chết như là
Pháp thân.”
Tuy
nhiên, phút giây chết không phải là thời gian để bắt đầu
thiền định. Bây giờ là thời gian đó, khi tâm thức các
bạn khỏi bận bịu và thân thể các bạn khỏi bệnh tật.
Hãy bắt đầu ngay bây giờ, và dù nếu cái chết giáng xuống
các bạn một cách không ngờ trước, các bạn cũng đã được
chuẩn bị, không hối tiếc hay sợ hãi.
Chớ
bao giờ quên cuộc đời này sẽ chấm dứt nhanh chóng bao nhiêu,
như một tia sấm chớp mùa hè hay một cái vẫy tay. Bây giờ
các bạn có dịp may thực hành Pháp, chớ có phung phí chỉ
một khoảnh khắc nào cho việc gì khác, mà với tất cả năng
lực và tinh tấn hãy trì tụng thần chú sáu âm.
73.
Con có thể nói đến những năm, những tháng hay những ngày
–
Hãy
nhìn sự vật biến chuyển từng khoảnh khắc như thế nào,
ngay giờ đây !
Mỗi
khoảnh khắc trôi qua đem con gần hơn đến cái chết ;
Giờ
đây, ngay trong một niệm này, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Không
có gì ở yên ; từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác
mọi sự đều biến chuyển. Mùa xuân các hạt nảy mầm ;
mùa hè mầm đọt thành lá, cuống và hoa ; mùa thu hạt chín
và được thu hái ; và mùa đông đất lại sạch sẽ chuẩn
bị cho mùa năm sau. Như mặt trăng tròn và khuyết theo từng
tháng, như mặt trời mọc và lặn trong một ngày, mọi sự
đều chịu sự biến đổi không ngừng. Buổi trưa có thể
thấy cả ngàn người ca hát và khiêu vũ trong hội chợ, nhưng
buổi tối toàn thể hội trường im ắng và trống không. Trong
thời gian đó, mỗi người tham dự đã vuột mất vài giờ
để gần hơn với cái chết.
Cũng
như mỗi sự vật luôn luôn chuyển đến gần hơn sự tan rã
sau cùng của nó không thể tránh nổi, đời các bạn cũng
vậy, như một ngọn đèn sáp đang cháy, sẽ nhanh chóng tiêu
hết. Thật điên rồ khi nghĩ rằng các bạn có thể trước
hết làm xong mọi công việc của mình và rồi rút lui để
dùng những quảng đời còn lại cho việc thực hành Pháp.
Các bạn có thể chắc chắn rằng các bạn sẽ sống bao lâu
? Cái chết không giáng xuống người trẻ cũng như người
già sao ? Bởi thế, bất kể các bạn đang làm gì, hãy nhớ
đến cái chết và giữ tâm thức các bạn chuyên chú vào Pháp.
Trong cách ấy, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
74.
Vì
cuộc đời con tuột đi như mặt trời lặn chìm mất nơi xa,
Cái
chết đến gần như những cái bóng dài ra của buổi chiều.
Bây
giờ cái để lại của đời con sẽ biến mất nhanh như những
chiếc bóng cuối cùng phai lạt.
Không
còn thời gian để phung phí nữa – hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Ngay
từ khoảnh khắc sanh ra, các bạn đã bị kết án tử hình
phải chết. Không có bác sĩ lỗi lạc nào có thể ngăn chặn
nó. Cái chết tiến tới không ngơi ngớt về phía các bạn
như bóng của những ngọn núi phía tây lúc hoàng hôn, nuốt
chửng mọi sự vào bóng tối trên đường đi của nó. Đức
Phật đã diễn tả, như mẫu mực của tốc độ, một người
có thể bắt tất cả bốn mũi tên đang bay được bắn đồng
thời về bốn hướng bởi bốn tay cung mạnh mẽ. Ngài nói,
còn nhanh hơn thế là sự đi đến của cái chết.
Một
lần nọ, đức Phật đi ngang qua chỗ bốn người lực lưỡng
đang cố gắng di chuyển một hòn đá khổng lồ. Với chỉ
một cử động không gắng sức của chân, Phật hất tung khối
đá lên không, và nó bể tan từng mảnh. Ngạc nhiên, mấy
người ấy hỏi làm sao ngài có sức mạnh kỳ lạ như vậy,
và Phật trả lời rằng đó là nhờ tích tập công đức.
Họ hỏi ngài có thể có ai còn mạnh hơn ngài. “Có,” Phật
trả lời, “Cái chết – và bởi vì cái chết, Ta sẽ phải
bỏ ngay cả cái thân với tất cả tướng hảo này.” Đức
Phật đã luôn luôn dạy rằng tham thiền về cái chết và
vô thường là sự động viên mạnh nhất để thực hành Pháp.
Làm
chủ tâm thức
75.Thần
chú sáu âm, dù hoàn hảo như Pháp,
Cũng
trì tụng không kết quả khi nói chuyện gẫu và nhìn đó đây
;
Và
bám lấy con số biến trì tụng là rõ ràng trượt điểm chủ
yếu.
Trông
chừng tâm thức một cách không xao lãng, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Thần
chú sáu chữ có năng lực trừ diệt mọi phiền não tiêu cực
của các bạn và đem đến cho các bạn lợi lạc không thể
tưởng tượng, nhưng nó không thể hiệu quả trọn vẹn nếu
các bạn không trì tụng nó với sự tập trung thích đáng.
Khi các bạn trì tụng nó, nếu các bạn bị xao lãng bởi những
cảm giác thân thể, những vật khác nhau để nhìn ngó, chuyện
rỗi với những người khác, hay những tư tưởng lang thang
của các bạn, thì năng lực của thần chú, giống như vẻ
óng ánh của một miếng vàng dính cáu bẩn, sẽ không bao giờ
được cảm thấy. Dù nếu những hạt của chuỗi hạt các
bạn chuyển qua những ngón tay của các bạn với tốc độ
rất nhanh, một vẻ bề ngoài trống rỗng của sự thực hành
như vậy liệu có ích gì ? Điểm chủ yếu không phải là
tích tập một con số trì tụng khổng lồ với bất cứ giá
nào, mà là đạt được một cái hiểu sâu hơn của sự thực
hành và mục đích của nó.
Để
thu hoạch quả trọn vẹn của sự trì tụng manÏi, quan trọng
là giữ thân các bạn trong tư thế đúng mà không có những
cử động bất an nào ; chỉ giới hạn ngữ của các bạn
vào sự trì tụng thần chú mà thôi, không nói chuyện gì khác
; và giữ tâm thức các bạn tập trung vào quán tưởng, không
để cho nó xao lãng bởi những kỷ niệm quá khứ hay những
dự phóng tương lai.
Hãy
mong mỏi thi đua với Jetsun Milarepa, ngài đã bỏ mọi hoạt
động rộn ràng và những phóng dật vô ích của cuộc đời
bình thường, dẹp đuổi biếng nhác và phiền não tiêu cực
ra khỏi tâm thức, và hoàn toàn hiến mình cho sự thực hành
Pháp. Nếu các bạn thực hành theo cách này, không nghi ngờ
gì dòng tâm thức của các bạn sẽ được ban phước bởi
tất cả chư Phật và chư Bồ tát.
76.
Nếu
con kiểm tra tâm thức của con trở đi trở lại,
Bất
cứ điều gì con làm sẽ trở thành con đường toàn hảo.
Trong
tất cả hàng trăm giáo huấn trọng yếu, đây là cái tinh
túy cốt lõi ;
Hãy
nấu chảy mọi sự thành một điểm chủ yếu độc nhất
này, và hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Điểm
chính yếu bao trùm của Phật Pháp là làm chủ tâm thức. Nếu
các bạn làm chủ tâm thức, các bạn sẽ có chủ quyền trên
thân và ngữ, thế là khổ đau của chính các bạn và của
những người khác phải đến chỗ chấm dứt. Nhưng nếu các
bạn để cho tâm thức chứa đầy phiền não tiêu cực, bấy
giờ dù những hành động của thân và những lời các bạn
nói có vẻ hoàn hảo, các bạn cũng đang xa khỏi con đường.
Làm
chủ tâm thức được thành tựu nhờ sự tỉnh giác thường
trực mọi tư tưởng và hành động của các bạn. Hãy kiểm
tra trở đi trở lại tâm thức các bạn, và ngay khi những
tư tưởng xấu khởi lên, hãy chữa lành chúng bằng những
đối trị thích hợp. Khi những tư tưởng tốt khởi lên,
hãy làm mạnh thêm chúng bằng cách hồi hướng công đức
chúng mang lại, mong muốn rằng tất cả chúng sanh được an
lập trong giác ngộ tối hậu. Giữ gìn cái chánh niệm thường
trực này trong những thực hành chỉ (an định) và quán (quán
chiếu), cuối cùng các bạn sẽ có thể duy trì sự nhận biết
của trí huệ ngay giữa những hoạt động và xao lãng phóng
dật bình thường. Chánh niệm tỉnh giác như thế là nền
tảng cốt lõi, sự chữa lành cho mọi phiền não của sanh
tử.
Sự
thực hành Pháp đem các bạn đến chỗ các bạn có thể duy
trì sự tỉnh giác thường trực như nhau hoặc trong hay ngoài
những thời thực hành. Đây là điểm tinh túy của tất cả
những giáo huấn tâm linh ; không có nó, dầu các bạn có trì
tụng nhiều thần chú và lời cầu nguyện đến đâu, dầu
nhiều ngàn lễ lạy và đi nhiễu các bạn làm, khi nào tâm
thức các bạn còn xao lãng phóng dật thì không có thứ nào
giúp cho các bạn giải thoát khỏi những phiền não che ám
của các bạn. Không bao giờ quên điểm tối yếu này, hãy
trì tụng thần chú mani.
NHỮNG
BÀI KỆ KẾT THÚC
77.Phần
nhất, sự tố cáo buồn rầu của ta về những cách thức
của thời đại suy đồi này,
Là
một sự khiển trách ta có ý định giành cho chính ta.
Sự
thương cảm buồn rầu này đã tác động sâu xa đến ta ;
Bây
giờ ta tặng nó cho con, nghĩ rằng con cũng cảm thấy như vậy.
Phần
thứ nhất của lời dạy này chỉ ra mức độ con người trong
thời đại suy đồi này đã rơi vào dưới sự chao đảo của
những hành động và thức tình của họ, nêu lên sự mất
hướng của cuộc đời bình thường và miêu tả hậu quả
phá hoại của cách ứng xử của con người về hạnh phúc
mà họ đang tìm kiếm. Phù hợp với giáo lý lần thứ nhất
của Phật, nếu các bạn thấy biết rõ ràng rằng sanh tử
bị khổ đau thấm khắp, bấy giờ quyết tâm giải thoát khỏi
nó sẽ an lập vững chắc trong tâm thức các bạn như viên
đá đặt nền thiết yếu cho sự thực hành Pháp của các
bạn. Chính là để đem lại sự thay đổi thái độ này mà
Patrul Rinpoche đã biểu lộ sự buồn rầu và mệt mỏi chán
ngán ngài cảm thấy với những cách thức của sanh tử.
78.
Nếu
đó không phải là trường hợp của con, và con tin tưởng
hoàn toàn vào sự hùng vĩ của cái thấy và thiền định của
con,
Những
ý kiến khôn ngoan làm thế nào phối hợp cái thế gian và
cái tâm linh,
Và
sự thiện xảo khéo léo giải quyết những vấn đề cho sự
thỏa mãn của tất cả –
Nếu
con có tất cả những thứ đó, bấy giờ ta gởi con những
lời tạ lỗi của ta.
Patrul
Rinpoche đã kết án sự ứng xử điên đảo và lừa dối của
người ta trong thời đại đen tối này, không phải trong một
tinh thần thù hận, mà là để phát hiện và sửa chữa những
khuyết điểm của chính bản thân ngài. Ngài cũng hy vọng
rằng bằng cách nói ra, ngài cũng có thể khuyến khích những
người khác thức tỉnh với những vọng tưởng của thời
đại này và nhận biết rằng Pháp là con đường duy nhất
đến giải thoát.
Ý
định đàng sau phần thứ nhất, bởi thế, là xoay tâm thức
điên đảo về với Pháp. Nhưng rồi Patrul Rinpoche thêm rằng
người đọc nào đã vượt khỏi những cách thức cong vạy,
méo mó của thời đại chúng ta và đã đạt được sự xác
tín và thành tựu hoàn hảo trong cái thấy, thiền định và
hành động của những kinh và tantra, tâm thức họ luôn luôn
đặt trên tư tưởng cao cả làm lợi lạc cho những người
khác, và họ đã thành công hội nhập tinh túy của Pháp với
sự dấn thân vào những công việc của thế gian, trong trường
hợp này, ngài tạ lỗi vì đã lạm quyền ban tặng lời khuyên
bảo không thích hợp này.
79.Phần
hai, sự luận giải của ta an lập cái thấy và thiền định
–
Bởi
vì dĩ nhiên ta không có kinh nghiệm chứng ngộ nào cả –
Mà
chỉ sắp xếp cái gì ta đã hiểu nhờ những lời dạy
Từ
dòng phái quý báu của cha và con toàn tri.
Cấu
trúc nền tảng của mọi giáo lý của Tiểu thừa, Đại thừa
và Kim Cương thừa là sự giải thích về cái thấy, thiền
định và hành động. Patrul Rinpoche khiêm tốn từ chối đã
có kinh nghiệm nào về ba cái này. Dĩ nhiên thật ra ngài đã
nghiên cứu và hòa nhập một cách thấu triệt những lời
dạy của Longchen Rabjam và Jigme Lingpa, “cha và con” của dòng
Đại Toàn Thiện. Rồi ngài đã đạt đến chứng ngộ toàn
diện và đem lại lợi lạc không thể nghĩ bàn cho chúng sanh.
Trong bài giảng này ngài sắp xếp những điểm trọng yếu
của con đường Phật giáo : làm thế nào nhận ra vọng tưởng
vô minh, phá hủy sự thống trị của nó, và cuối cùng chuyển
hóa nó thành trí huệ.
80.
Phần
ba, sự cổ vũ của ta cần buông bỏ mọi sự và thực hành,
Vì
con có thể dễ dàng trượt ngoài điểm chủ yếu, nó thật
dễ vuột.
Nhưng
bởi vì nó hoàn toàn không mâu thuẫn với những lời dạy
của chư Phật, Bồ tát,
Nên
thật sự tốt đẹp cho con khi đem nó vào thực hành.
Chiêm
nghiệm những thống khổ không cùng của sanh tử sẽ làm cho
các bạn cảm thấy buồn bã và ghê sợ, và cảm giác này
sẽ phát triển thành một ham muốn mạnh mẽ thoát khỏi mọi
thứ đó. Sự quyết tâm buông bỏ sanh tử này bấy giờ sẽ
dẫn các bạn đến kết luận rằng điều tốt nhất các bạn
có thể làm cho chính mình và những người khác là thực hành
Pháp. Các bạn đã tự đặt nhiều mục tiêu trong đời sống,
nhưng bây giờ để cho sự tốt đẹp của chính các bạn,
các bạn phải chọn cái gì trong chúng là quan trọng và khẩn
cấp nhất. Nếu các bạn chấp nhận Pháp một cách hoàn toàn
đứng đắn, các bạn sẽ thấy rằng thực hành Pháp không
phải là cái gì có thể trì hỗn được. Bao nhiêu người
trong thế giới này sẽ chết trong giờ tới ? Các bạn có
thể chắc rằng mình không là người trong số đó ? Dầu trường
hợp nào, chắc chắn không có gì có thể đạt được từ
sự phung phí thời gian các bạn có, dù cho cuộc đời các
bạn có dài lâu chăng nữa.
81.Bài
giảng này, đức hạnh trong lúc bắt đầu, khoảng giữa và
lúc chấm dứt,
Được
viết ra trong hang Đỉnh Chiến Thắng Núi Trắng của bậc thành
tựu,
Cho
một người bạn cũ mà sự khẩn cầu không thể cưỡng lại
được nữa,
Bởi
lão già rách rưới Apu Hralpo này, đang bị thiêu cháy bởi
năm độc.
Do
sự yêu cầu kiên trì của một trong những đệ tử, bản
văn này được tạo ra bởi Patrul Rinpoche, Orgyen Jigme Choškyi
Wangpo, ở Trakar Tsegyal, hang Đỉnh Chiến Thắng Núi Trắng,
trong xứ Kham, miền đông Tây Tạng, không xa Datsedo, trên biên
giới cũ giữa Tây Tạng và Trung Hoa.(69) Patrul Rinpoche sống
ẩn cư với năm đệ tử trong nơi chốn đẹp đẽ này với
những vách đá cao màu trắng đầy những hang động tự nhiên.
Ở đây ngài cho nhiều sự chỉ dạy, như bản văn này là
một, trong ánh sáng của kinh nghiệm thiền định của chính
mình.
Apu
Hralpo là tên quen thuộc của Patrul Rinpoche. Apu trong tiếng miền
đông Tây Tạng là một cách thức thưa gởi tôn trọng. Theo
truyền thống văn học, Apu cũng có thể được giải thích
như sự phối hợp của những chữ A, biểu tượng của tánh
Không vô sanh, và Pu, nghĩa là “con”, ám chỉ đến tình thương
của Patrul Rinpoche cho tất cả chúng sanh như họ là con ruột
của ngài. Vì lòng từ ái và bi mẫn của ngài với tất cả,
ngài cũng thường được gọi là Apu Tốt.
Patrul
Rinpoche chế nhạo cái tên Apu tôn kính dành cho ngài, bằng
cách tự gọi mình là Apu Hralpo, hralpo nghĩa là một người
mặc đồ cũ rách – như ngài thật sự làm thế hầu như
luôn luôn. Thật ra, có thể nói rằng Patrul Rinpoche là người
đã hoàn toàn xé rách nát cơ cấu của vọng tưởng, sự cho
rằng chủ thể và đối tượng là có hiện hữu thật sự.
Như Khenpo Shenga,(70) một đạo sư thành tựu và là một đệ
tử của Patrul Rinpoche, đã nói về ngài khi bình luận về
dòng này, “Ngài đã đốt cháy hoàn toàn năm độc trong ngọn
lửa của trí huệ.”
Hồi
Hướng Công Đức
82.Ta
đã huyên thuyên dài dòng, nhưng có sao đâu ?
Đề
tài của ta thì rất xứng đáng và ý nghĩa không sai lầm ;
thế nên công đức nó đem lại
Ta
trao tặng cho con, và cho tất cả chúng ta khắp hết ba cõi
–
Nguyện
tất cả những mong ước của chúng ta, được cảm hứng từ
những giáo lý, trở thành sự thật !
Patrul
Rinpoche tạ lỗi rằng bài giảng không tao nhã của ngài đã
dài dòng lập đi lập lại như những dây bậc đơn điệu
của một cây đàn cũ kỹ đã gảy. Tuy nhiên, ngài xác nhận,
ý nghĩa những lời ngài nói luôn luôn trung thành với giáo
lý của đức Phật, thoát khỏi lỗi lầm, và điều này khiến
cái gì ngài nói xứng đáng để nghe, xứng đáng để nghiên
cứu và xứng đáng để đem vào thực hành. Bởi thế công
đức nào đã gia tăng từ sự diễn bày ba phần của bài giảng,
ngài tiếp tục hồi hướng cho tất cả chúng sanh, để cho
khi đang theo con đường của những Bồ tát họ có thể đạt
đến mức độ tối thượng của Quán Thế Âm.
Lời
Kết
Ở
Tây Tạng, Xứ Sở của Tuyết, Phật giáo đã nở rộ hơn
một ngàn năm. Qua ba thế kỷ liên tiếp, ba nhà vua Tây Tạng
vĩ đại – Songtsen Gampo, Trisong Detsen và Tri Ralpachen – mỗi
vị đã phát triển niềm tin lớn lao vào Phật Pháp và sự
thực hành thiền định, và họ đã thiết lập ở Tây Tạng
những điều kiện cần thiết cho sự phổ biến của giáo
lý. Trải qua nhiều thế kỷ tiếp theo, người Tây Tạng đã
giữ gìn niềm tin vĩ đại của họ vào Tam Bảo và đã có
thể hội nhập ý nghĩa của Phật Pháp vào đời sống hàng
ngày của họ.
Có
đề cập nhiều lần trong ManÏi Kabum của vua Songtsen Gampo rằng
chính đức Phật giao phó sự chăm sóc dân Tây Tạng cho Quán
Thế Âm thiêng liêng, ngài ban phước cho toàn đất nước như
là Cõi Phật của Núi Potala, mọi người nam như là chính ngài,
và mọi người nữ như là Jetsun Drošlma.
Trong
những thập niên gần đây, những nghịch duyên và xung đột
kinh khủng đã xảy ra với Tây Tạng. May mắn thay, qua hoạt
động bi mẫn của chư Phật và đặc biệt của Quán Thế
Âm, năm 1959, khi Tây Tạng bị xâm chiếm, Đức Dalai Lama đã
có thể thoát an toàn qua Ấn Độ. Một xuất hóa sống thực
của Quán Thế Âm, Đức Ngài làm việc không mệt mỏi để
bảo tồn và phổ biến giáo lý thiêng liêng. Qua sự gia bị
của ngài, ngày nay Phật Pháp không chỉ trở lại sanh quán
của nó, Ấn Độ, mà những cầu nguyện của chúng ta cho Pháp
được bừng nở lại một lần nữa ở Tây Tạng cũng đang
trở thành hiện thực.
Những
giáo lý được ban cho ở đây được tập trung vào Quán Thế
Âm, bậc pháp chủ của tất cả các mạn đà la. Bởi vì ngài
là Phật của đại bi, và bởi lòng bi là tâm của những giáo
lý Phật giáo, Quán Thế Âm là bổn tôn tối thượng của
thiền định ; và sự trì tụng thần chú của ngài thì đặc
biệt đầy thần lực, chứa đựng sự ban phước lớn lao
và hiệu nghiệm trong việc làm nhẹ bớt khổ đau của chúng
sanh. Thiền định thường trực về Quán Thế Âm với lòng
sùng mộ không lay chuyển bởi thế là một cách thức hiệu
quả để tiến bộ trên con đường Đại thừa và đánh bóng
viên ngọc Bồ đề tâm.
Trong
phương diện bên ngoài hay tương đối của ngài, Quán Thế
Âm ở nơi cõi Phật của Núi Potala, nhân cách hóa lòng bi của
tất cả chư Phật. Trong phương diện bên trong hay tuyệt đối
của ngài, ngài là trí huệ đại bi vốn có của chúng ta.
Hiểu hai cái tuyệt đối và tương đối đồng hiện hữu
với nhau như thế nào thì được gọi là cái thấy.
Tuy
nhiên, chỉ bản thân hiểu biết thì chưa đủ và, nếu không
được áp dụng, thì ích lợi ít. Như với bất kỳ kỹ năng
nào, cái hiểu biết này phải được đưa vào việc làm và
hòa nhập vào thân tâm chúng ta qua tiến trình làm quen, thường
được ám chỉ là thiền định, và trong trường hợp này
cốt ở sự thực hành đích thực nhắm vào Quán Thế Âm.
Một
khi các bạn đã nhận biết cái thấy, khi các bạn thực hành
nó qua thiền định, mọi hành động, lời nói, và tư tưởng
của các bạn sẽ tự nhiên trở thành càng ngày càng tốt
lành. Cuối cùng, dầu cho nghỉ ngơi, làm việc, ăn hay ngủ,
hoặc vui hay buồn, các bạn sẽ thường trực có tư tưởng
Quán Thế Âm hiện diện trong tâm thức các bạn ; đây gọi
là hành động, hạnh.
Sau
khi nhận những lời dạy này, từ nay trở đi, các bạn cần
dệt may chúng vào trong khung vải của đời sống các bạn
đến độ chúng trở thành hòa nhập trong tất cả tư tưởng,
lời nói và hành động của các bạn. Điều này không dễ
làm, nhưng qua sự ban phước gia bị của Quán Thế Âm và hiệu
lực của thần chú ngài, các bạn sẽ lần lần tiến bộ,
chiến thắng những chướng ngại và đạt được giải thoát
như là quả của những cố gắng của các bạn.
Ở
Tây Tạng sau năm 1959, dưới những điều kiện đối xử cực
kỳ khó khăn, hàng vạn người tiếp tục thực hành Pháp một
cách âm thầm, và họ đã vươn khỏi thử thách của họ với
đức tin còn lớn hơn. Nhưng trong trường hợp các bạn, không
ai ngăn cấm các bạn cầu nguyện hay thực hành. Thế nên hãy
trì tụng manÏi, tư duy về những giáo lý, và nấu chảy chúng
hòa tan vào thân tâm các bạn bằng cách thiền định về chúng
mỗi ngày, hay ngay cả dù nó không nhiều hơn vài chốc lát.
Pháp là cái gì chính các bạn phải thực hành ; không ai khác
có thể làm điều đó cho các bạn.
Hoặc
thực hành chính thức trong một thời khóa hay mang sự thực
hành vào những hoạt động của đời sống hàng ngày, các
bạn cần nhớ ba điểm tối thượng áp dụng cho sự chuẩn
bị, bản chất và kết thúc cho bất cứ điều gì các bạn
đang làm. Sự chuẩn bị là mong muốn rằng điều các bạn
sắp làm được lợi lạc cho tất cả chúng sanh, đem lại
cho họ hạnh phúc và cuối cùng dẫn họ đến giác ngộ. Bản
chất là hoàn toàn chú ý vào điều các bạn đang làm, mà
không cho rằng chủ thể, đối tượng hay hành động có bất
kỳ hiện hữu thật sự nào. Kết thúc là hồi hướng cho
tất cả chúng sanh công đức các bạn có thể đã tích tập
qua sự thực hành hay hoạt động của các bạn. Bằng cách
đóng dấu ấn mọi thứ các bạn làm với sự hồi hướng
này, các bạn bảo đảm công đức sẽ chín thành quả của
Phật tánh cho cả chính các bạn và cho những người khác.
Trong
thời đại này xáo trộn bởi chiến tranh, nạn đói, bệnh
tật, thiên tai và khổ đau thân tâm của mọi loài, nghĩ đến
dù chỉ một phút giây về phúc lợi của những người khác
là công đức không thể quan niệm nổi. Xin hãy đem những
lời dạy này vào lòng và đưa chúng vào thực hành. Điều
này sẽ làm cho mọi điều tôi nói ở đây thực sự có giá
trị.
CHÚ
THÍCH
1.
Sanh tử, samsara (TT. ‘khor-ba) : vòng không dứt của sanh, tử
và tái sanh, thấm khắp bởi khổ đau. Cuộc đời hiện tại
này chỉ là một trường hợp trong chuỗi sanh tử.
2.
Chúng sanh hữu tình (TT. Sema-can) : nghĩa đen, “sinh vật có
một tâm thức.”
3.
Pháp (Skt. Dharma) : Pháp có nhiều nghĩa ; ở đây nó ám chỉ
những lời dạy khác nhau được Phật Thích Ca Mâu Ni và những
bậc giác ngộ khác ban cho. Pháp được dạy để chỉ cho chúng
sanh điều nên làm và điều cần tránh, để họ có thể giải
thoát khỏi sanh tử và cuối cùng đạt đến Phật tánh toàn
hảo.
4.
Cõi Phật : một lưu xuất của trí huệ một vị Phật. Có
nhiều cấp độ khác nhau tương đương với ba thân. Một số
chỉ có một vị Phật thấy được, một số những Bồ tát
cũng có thể thấy, và một số như cõi Phật Cực Lạc, những
chúng sanh bình thường tái sanh về đó có thể thấy được.
Người ta có thể bảo đảm sự tái sanh về một cõi Phật
bằng cách thường trực giữ trong tâm thức bốn điều : những
phẩm tính của chính cõi Phật, lòng mong muốn nhiệt thành
được sanh về đó, sự ham muốn an lập tất cả chúng sanh
vào phúc lạc toàn hảo, và sự tích tập công đức và trí
huệ.
5.
Quán Thế Âm (Skt. Avalokiteshvara, TT. Chenrezi) : Đức Phật của
lòng bi, hóa thần bổn tôn chính của sự thực hành được
diễn tả trong bản văn này.
6.
Ba khuyết điểm của bình chứa :
i.
Không chú tâm vào những lời dạy thì giống như một cái
bình úp ngược ; thứ gì đổ vào đấy cũng phí mất.
ii.
Quên những lời dạy thì giống như một cái bình với một
lỗ thủng ở đáy ; thứ gì đổ vào đấy sẽ chảy ra trở
lại.
iii.
Nghe với một tâm thức đầy tư tưởng xấu thì giống như
một cái bình chứa thuốc độc ; thứ gì tốt lành đổ vào
đấy sẽ bị nhiễm ô.
Sáu
dơ bẩn :
i.
Nghe với kiêu mạn, nghĩ rằng bạn cũng tốt đẹp như thầy.
ii.
Nghe mà không có niềm tin, tìm kiếm lỗi nơi thầy và lời
dạy của thầy.
iii.
Thản nhiên với những lời dạy, nghĩ rằng bạn có nhận
lấy những lời dạy hay không đều không quan trọng lắm.
iv.
Hoặc bị xao lãng bởi chung quanh hay rút vào trong đến độ
hôn trầm.
v.
Bực mình, nghĩ rằng những lời dạy quá dài hay hoàn cảnh
bên ngoài không thân thiện.
vi.
Chán nản, nghĩ rằng bạn không thể thực hành những lời
dạy đó hay đạt được chứng ngộ.
Năm
cách thức sai lầm trong sự giữ lại những lời dạy :
i.
Nhớ lời mà không nhớ nghĩa
ii.
Nhớ nghĩa mà không nhớ lời
iii.
Nhớ lời và nghĩa, nhưng không nhận ra ý định tối hậu
của chúng.
iv.
Nhớ lời và nghĩa nhưng lẫn lộn thứ tự.
v.
Nhớ nghĩa sai.
7.
Sáu ba la mật : những hành động siêu việt, hay những hoàn
thiện, dẫn ra khỏi sanh tử : rộng lượng, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, tập trung và trí huệ. Chúng là siêu việt
bởi vì chúng vượt khỏi bám luyến thường pha trộn với
rộng lượng, trì giới, nhẫn nhục... đời thường.
8.
Shantideva : Một trong tám mươi bốn thành tựu giả, ngài là
đại học giả đã viết Bodhicharyavatara, Bồ Tát Hạnh, được
nhiều người xem là bản văn Đại thừa nền tảng và chính
yếu nhất về con đường đại bi của Bồ tát.
9.
Ba Tạng (Skt. Tripitaka) : Luật (Vinaya) là kết tập những giới
luật đức Phật đã ban cho, thiết lập kỷ luật của hàng
xuất gia và tại gia. Kinh (Sutra) là những thuyết pháp của
đức Phật. Luận (Abhidharma) chi tiết hóa sự hình thành, cơ
cấu và những tiến trình của vũ trụ và chúng sanh ở trong
đó, cũng như liệt kê những mức độ khác nhau trên con đường
đi đến giác ngộ.
10.
Luận (Shastra) : trong chín loại luận kê ra dưới đây, chỉ
có loại thứ nhất, thứ sáu và thứ chín là có giá trị
; sáu loại kia không dùng.
i.
Luận về những chủ đề thích hợp.
ii.
Luận về những chủ đề không thích hợp.
iii.
Luận về những chủ đề vô nghĩa.
iv.
Luận được viết ra để có danh tiếng cho tác giả.
v.
Luận được viết ra để kích thích tranh luận.
vi.
Luận được viết ra để gợi cảm hứng thực hành tâm linh.
vii.
Luận dối gạt.
viii.
Luận không gợi ra lòng từ.
ix.
Luận giải thoát người ta khỏi những khổ đau của các cõi
thấp của sanh tử.
11.
Hinayana, hay Tiểu thừa, là dành cho những người tìm kiếm
giải thoát khỏi sanh tử chủ yếu cho chính họ. Maha-yana,
hay Đại thừa, là dành cho những người tìm kiếm giác ngộ
cho tất cả chúng sanh.
12.
Kinh thừa, Sutrayana : bộ kết tập những lời dạy của Phật
Thích Ca Mâu Ni trong những kinh, sutra. Có cả kinh Tiểu thừa
và Đại thừa. Mantrayana, Mật chú thừa : bộ kết tập những
lời dạy trong những tantra, được Phật Thích Ca Mâu Ni giảng
cũng như những vị Phật khác không chỉ xuất hiện trên cấp
độ Hóa thân, mà còn trên những vi tế và tối hậu của
Báo thân và Pháp thân. Mật chú thừa, hay thừa của những
mật chú cũng được gọi là Vajrayana, hay là Kim Cương thừa.
13.
Bốn Chân Lý Cao Cả :
i.
Chân lý của sự khổ, nó cần được thấu hiểu.
ii.
Chân lý của nguyên nhân của khổ, nó cần phải loại bỏ.
iii.
Chân lý của con đường, nó cần được đi.
iv.
Chân lý của sự dừng diệt của khổ, nó cần được hoàn
thành.
14.
Thời đại suy thoái : tương đương với thời mạt pháp, Skt.
kaliyuga ; thời đại của những mãnh vỡ, hay thời đại đen
tối, trong đó những cái còn lại của những hoàn thiện của
thời hoàng kim quá khứ xa xôi là những dấu vết đã bị
thoái hóa. Nói riêng, thời đại này được đặc trưng bởi
năm sự suy thoái ; sự ngắn ngủi của kiếp sống, sự thoái
hóa của môi trường, sự thoái hóa của những quan kiến của
chúng sanh, sự thoái hóa của những khả năng của họ, và
sự tăng trưởng của những phiền não tiêu cực. Những giải
thích xa hơn được đưa ra trong bình giải về câu thứ 5.
15.
Chandrakirti : Sinh ở Nam Ấn Độ trong một gia đình Bà la môn,
Chandrakirti trở thành một trong những đệ tử chính của Nagarjuna.
Một học giả lỗi lạc, ngài cũng đắc chứng ngộ tối thượng
và nổi tiếng bởi khả năng làm những phép lạ, như nuôi
Tăng chúng bằng cách lấy sữa từ một bức vẽ con bò hay
đẩy lùi một cuộc xâm lăng bằng cách làm cho một con sư
tử bằng đá gầm lên dữ tợn. Ngài là một vị thầy dạy
ở đại học Nalanda, nơi đó ngài đã tranh luận trong bảy
năm với Chandragomin, vị này được đích thân Quán Thế Âm
hỗ trợ.
Đoạn
trích dẫn nổi tiếng này của Chandrakirti lấy từ những câu
kệ tán thán đại bi mở đầu cuốn Madhyama-kavatara, Bổ Sung
vào Trung Đạo.
16.
Thanh Văn : người nghe những lời dạy của Phật và thực
hành theo. Bích Chi Phật : nghĩa đen, “Phật bởi tự mình”
; người tiến bộ trên con đường, trong đời này, mà không
có sự giúp đỡ của một vị thầy. Hai bậc này, cùng với
những A la hán, “những vị hủy diệt kẻ thù” – những
người đã chiến thắng kẻ thù phiền não – là Tăng của
Tiểu thừa. Mục đích của họ giới hạn trong sự giải thoát
cho chỉ chính mình, trong khi những Bồ tát mong mỏi giải thoát
cho tất cả chúng sanh khỏi sanh tử. Chính vì thái độ vị
tha và can đảm này mà những Bồ tát có thể tiến bộ qua
mười cấp độ (mười địa) của Đại thừa để đạt đến
Phật tánh toàn hảo, cấp độ tối hậu.
17.
Ba cõi của sanh tử : cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Đây
là ba trạng thái chính của hiện hữu trong sanh tử, trong đó
gồm có sáu cảnh giới :
i.
Cõi dục, gồm chúng sanh của địa ngục, ngạ quỷ, loài vật,
người, a tu la (bán thiên) và chư thiên, tất cả những chúng
sanh này có phiền não tiêu cực thô trọng.
ii.
Cõi sắc, gồm những chúng sanh chư thiên ở cấp cao, cách
sống của họ là kết quả của công đức hay của thực hành
thiền định được thực hiện trong những đời trước đó.
iii.
Cõi vô sắc, gồm những chư thiên, khác với những thiên của
cõi sắc, không có thân thể “sắc” ; có bốn cấp độ,
tương đương với bốn cấp độ của định (samadhi). Dù những
chúng sanh của hai cõi cao có một đời sống cực kỳ lâu
dài, cũng như không có những thức tình tiêu cực ở trong
cõi dục, họ cũng còn bị thấm nhiễm vô minh, bởi vì họ
chưa trừ bỏ sự tin tưởng sai lầm vào sự hiện hữu của
một cái “tôi”. Dù những thức tình thô trược đã tạm
thời được đè nén, những khuynh hướng của những thức
tình ấy chưa được nhổ sạch bởi sự quán thấy vô ngã.
Vì lý do này, những chúng sanh cõi sắc và cõi vô sắc sẽ
rơi trở lại vào sự khổ đau của những cảnh giới thấp.
Chỉ khi những thức tình tiêu cực đã bị xua tan toàn triệt
bởi sự chứng ngộ tánh Không mà người ta có thể nhận
biết thật tánh của tâm thức và đạt đến giải thoát khỏi
sanh tử.
18.
Vajrasana : Tòa kim cương ở Ấn Độ, hiện là Bodh-Gaya, Bồ
đề Đạo tràng, ở Bihar.
19.
Parinirvana : sự ra đi của một vị Phật để giáo dục chúng
sanh thêm nữa, nhất là về vô thường. Theo Mật thừa, dù
một vị Phật hay một bậc thầy giác ngộ làm tan biến thân
vật chất của ngài, tâm của ngài hòa lẫn với Pháp thân
toàn khắp, và bởi thế những ban phước gia bị của ngài
lại mạnh mẽ hơn bao giờ.
20.
Jamyang Khyentse Wangpo (1820-1892) : hóa thân của phương diện
ngữ của Rigdzin Jigme Lingpa, và là một người đương thời
với Patrul Rinpoche, ngài là một trong những đạo sư vĩ đại
nhất của thời ngài. Trong mười ba năm, ngài đi rong khắp
Tây Tạng để nhận những trao truyền nhiều lời dạy quý
báu mà những dòng phái liên tục của chúng đang sắp tắt
mất. Ngài cũng làm hồi sinh nhiều dòng phái đã tắt sau khi
nhận những truyền thọ trong những linh kiến từ nhiều vị
thầy khác nhau trong quá khứ. Jamgošn Khyentse Wangpo đã kết
tập tất cả những trao truyền này, cùng với nhiều giáo
lý quan trọng khác, vào bộ Năm Kho Tàng Vĩ Đại của ngài.
Ngài có năm hóa thân chính, gồm Jamyang Khyentse Choškyi Lodroš
(1893-1959) và Đức Dilgo Khyentse Rinpoche, mà hoạt động của
các
ngài cho chúng sanh và cho Phật Pháp thì không ngừng và bao
trùm khắp.
21.
Orgyen Jigme Choškyi Wangpo : danh hiệu của Patrul Rinpoche. Shantideva
: Đại Bồ tát được nói ở trên (chú thích 8). Shavaripa :
một đại thành tựu giả Ấn Độ đã biểu lộ mình trong
hình thức một thợ săn. Giải Thoát Tự Nhiên Khỏi Khổ Đau
: một trong những danh hiệu của Quán Thế Âm.
22.
Kun-bzang bla-ma’i shal-lung : tác phẩm nổi tiếng trong đó Patrul
Rinpoche, với văn phong đặc biệt mạnh mẽ và một sự phong
phú về những giai thoại sinh động, nêu lên sự thực hành
Pháp một cách tổng quát và những thực hành sơ bộ về Longchen
Nyingthig một cách riêng biệt. Được dịch sang Anh ngữ với
nhan đề Những Lời Dạy của Vị Thầy Hoàn Hảo của Tôi.
23.
Kalpa, kiếp : một thời kỳ dài tương đương với một chu
kỳ sống của vũ trụ, gồm hình thành, kéo dài, hủy hoại
và giai đoạn không hiện hữu tiếp sau đó.
24.
Tư tưởng giác ngộ, Bồ đề tâm (Skt. Bodhichitta) : một cách
tương đối, cảm hứng và quyết tâm đạt đến Phật tánh
viên mãn để giải thoát cho tất cả chúng sanh khỏi khổ
đau của sanh tử ; một cách tuyệt đối, tánh Không không
chia tách với đại bi và vượt khỏi mọi ý niệm.
25.
Thời đại của năm sự thoái hóa : xem chú thích 14.
26.
Mười hành động tiêu cực : ba thuộc thân (giết, lấy trộm,
tà hạnh trong tình dục) ; bốn thuộc ngữ (nói dối, nói chuyện
phiếm, vu khống, nói lời thô bạo) ; và ba thuộc tâm thức
(ác tâm, ghen tỵ và quan kiến sai lầm). Mười hành động
tích cực là cái ngược lại với mười cái trên.
27.
Mùa màng tự nhiên và con bò phong phú : những nguồn nuôi dưỡng
vô tận cho chúng sanh trong thời đại hoàng kim ở trong giai
đoạn sơ kỳ của thoái hóa, trong đó họ đã cần đến thực
phẩm thô đặc nhưng chưa phải quần quật sản xuất ra chúng.
Trong hệ thống thế giới biểu trưng của sự cúng dường
mạn đà la, mùa màng tự nhiên liên kết với châu phía bắc
và con bò phong phú với châu phía tây.
28.
Những lời nguyện Pratimoksha : tám cấp độ của những lời
nguyện tại gia và xuất gia theo Luật tạng, chúng dẫn đến
giải thoát khỏi những cõi thấp và đưa người ta trên con
đường đến giác ngộ.
29.
Cỏ Kusha : một loại cỏ có sợi nhỏ mềm ; Phật đã ngồi
trên một tọa cụ làm bằng cỏ kusha vào lúc giác ngộ, và
vì lý do đó nó có một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt và
thường được dùng trong nhiều nghi lễ Phật giáo.
30.
Năm ngành tri thức, hay khoa học : ngôn ngữ học, luận lý
học, thủ công, y học và triết học.
31.
Samaya (TT. dam-tshig) : những cam kết và giới luật của Mật
thừa, chúng tạo thành mối liên kết tối quan trọng giữa
đệ tử và guru, bạn đồng tu và sự thực hành.
32.
Guru Rinpoche : đạo sư vĩ đại Padmasambhava. Ngài và pandita
Vimalamitra là hai vị thầy Ấn Độ vĩ đại và là đệ tử
của Mật thừa được vua Trisong Detsen mời đến Tây Tạng
vào thế kỷ thứ tám để thiết lập Phật Pháp ở đấy.
Những tài năng và thần lực phi thường của các ngài, xuất
phát từ sự thông thạo những tantra, tỏ ra cần thiết trong
sự hàng phục những kháng cự và chướng ngại để truyền
bá Phật pháp, những cái mà những vị thầy tốt nhất của
Kinh điển Đại thừa trước đó đã không thể trục xuất.
33.
Năm loại tri thức siêu nhiên :
i.
Khả năng thực hiện những phép lạ.
ii.
Thiên nhãn thông.
iii.
Thiên nhĩ thông.
iv.
Tha tâm thông.
v.
Túc mạng thông (nhớ lại những đời trước).
34.
Vòng chuỗi những biến cố tương thuộc (Skt. pratya-samutpada
; TT. rten-’brel) : ngọn thác những nhân và duyên phụ thuộc
lẫn nhau khởi từ vô minh và qua chúng mà những hiện tượng
tương đối sanh khởi.
35.
Tám mối quan tâm thế gian : như Nagarjuna định nghĩa, chúng
là được và mất, sướng và khổ, khen và chê, danh tiếng
và vô danh.
36.
Mantra : nghĩa đen, “cái bảo vệ cho tâm thức”. Có nhiều
loại thần chú mantra. Những phạm trù chính yếu là những
thần chú minh giác, những dharani, và mật chú, chúng lần lượt
thuộc về phương tiện, trí huệ và tính chất bất nhị của
phương tiện và trí huệ.
37.
Mười hai ngành của những giáo lý Của Phật, mười hai loại
bộ kinh điển.
38.
Karandavyuha-sutra : Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương, một kinh nói
về Quán Thế Âm ; một trong những cuốn kinh Phật giáo đầu
tiên đến Tây Tạng, xuất hiện một cách thần diệu trên
trần cung điện của vua Lha-Thothori Nyentsen, vị vua thứ hai
mươi tám của triều đại Chošgyal, năm 433.
39.
Bốn thân (TT. sku bzhi) : Hóa thân (Nirmanakaya) hay “thân lưu
xuất” ; Báo thân (Sambhogakaya) hay “thân thọ hưởng” ;
Pháp thân (Dharmakaya) hay “thân chân lý” ; và Tự Tánh thân
(Svabhavikakaya) hay “thân tinh túy”, là sự hợp nhất của
ba thân trước.
Năm
trí huệ (TT. ye-shes lnga) : Những diễn tả năm độc được
chuyển hóa thành năm trí huệ có trong những câu 50–54 của
bản văn.
40.
Yama, Yamaraja : Thần Chết, một nhân cách hóa của định luật
nhân quả, nó xác định cái chúng sanh sẽ trở thành phù hợp
với những hành động họ đã làm.
41.
Năm tội lỗi có hậu quả tức thời : giết cha, giết mẹ,
hay một vị A la hán ; gây ra sự chia rẽ trong Tăng chúng ;
làm chảy máu một Như Lai. “Hậu quả tức thời” là do
kết quả của những tội lỗi này người ta bị rớt vào
những cõi địa ngục tức thời sau khi chết mà không trải
qua những kinh nghiệm của trung ấm.
Những
thệ nguyện của ba thừa : với Tiểu thừa, những thệ nguyện
biệt giải thoát (xem chú thích 28) hay những thệ nguyện quy
y ; với Đại thừa, những thệ nguyện Bồ tát ; và với Kim
Cương thừa, những thệ nguyện samaya (xem chú thích 31).
42.
Pháp Cao Cả của sự Nhớ Lại Rõ Ràng (Skt. Saddharma-nusmrityupashthana)
: một kinh giải thích những định luật nghiệp báo rất chi
tiết. Trong chính cuốn kinh, tiêu đề của nó được giải
thích là “để phân biệt những cái (hành động, lời nói
và tư tưởng) thích hợp với những cái không thích hợp,
và để giữ cho sự chú ý được duy trì nhắm vào sự phân
biệt này.”
43.
Bồ tát Taktu-ngu, Skt. Sadaprarudita.
44.
Bốn cái che chướng : những che chướng của thân, ngữ, tâm
thức và những nhiễm ô vi tế của cả ba cái trên phối hợp.
45.
Mạn đà la (Mandala, TT. skyil-khor) : thường được hiểu như
là hóa thần, chúng hội và môi trường chung quanh, được
quán tưởng như một sắp xếp những hình vẽ và những nguyên
tố cấu thành với ý nghĩa tượng trưng phân phối theo hình
học trong một khuôn khổ vòng tròn. Danh từ Tây Tạng nghĩa
đen là “trung tâm và chu vi”, ám chỉ hóa thần chính ở
trung tâm mạn đà la và chúng hội chung quanh ngài về phần
ngoại hình, và bản tánh bất biến bao trùm mọi hiện tượng
về phần nội dung.
46.
Năm uẩn, hay skandha : năm hợp thể tâm-vật lý, hay những
tiến trình đặc trưng cho những chúng sanh.
i.
Sắc : cách thức một đối tượng ban đầu xuất hiện với
tâm thức.
ii.
Thọ, cảm giác : tri giác định tính về đối tượng như
là tốt, xấu hay trung tính.
iii.
Đánh giá, tưởng : sự đánh giá định lượng về tri giác
ấy.
iv.
Thúc đẩy, hành : sự thúc đẩy nắm lấy cái thích và chối
bỏ cái không thích, như thế chế tạo ra nghiệp.
v.
Thức : cái ý thức về những uẩn khác và trải nghiệm khổ
đau.
Xem
thêm những câu 55–59.
47.
Mười phương : bốn hướng chính của la bàn, bốn hướng
trung gian, và đỉnh trên và đỉnh dưới.
48.
Karma Chagme Raga Asya (1613-1678) : một vị thánh vĩ đại và là
tertošn, thuộc về cả hai truyền thống Nyingma và Kagyu. Những
tác phẩm của ngài, đặc biệt những lời dạy về thực
hành ẩn tu (TT. ri-chos), đã là và vẫn còn là một nguồn
cảm hứng cho nhiều hành giả.
49.
Những thành tựu bình thường và tối thượng : Những thành
tựu bình thường, hay siddhi, là thọ mạng, sức khỏe, thịnh
vượng… cũng như khả năng thực hiện những việc kỳ diệu.
Sự thành tựu tối thượng là giác ngộ, sự chứng ngộ trọn
vẹn Phật tánh vốn sẵn của chính mình.
50.
Câu này trích dẫn từ Bát Nhã Ba La Mật là một tóm lại
khúc chiết của ba thời chuyển bánh xe Pháp của đức Phật.
i.
“Tâm” (Skt. chitta ; TT. sems) là phương diện mê lầm của
tánh giác. Trong lần chuyển bánh xe Pháp thứ nhất, đức Phật
dạy bốn chân lý : có sự khổ ; nguyên nhân của khổ là
bản ngã với những thức tình tiêu cực của nó ; cái đối
trị là con đường Phật giáo ; kết quả là sự dừng diệt
của khổ.
ii.
“Tâm không hiện hữu” ám chỉ bản tánh trống không. Trong
lần chuyển bánh xe Pháp thứ hai, đức Phật dạy rằng tất
cả mọi hiện tượng, gồm cả tâm thức, là vô tự tánh,
không có hiện hữu nội tại.
iii.
“Sự biểu lộ của nó là tánh sáng tỏ” ám chỉ phương
diện sáng ngời và tỏ biết của tâm. Trong lần chuyển bánh
xe Pháp thứ ba, đức Phật dạy rằng bản tánh trống không
không phải là một cái không trơn mà thấm khắp bởi những
phẩm tính trí huệ của Phật tánh.
Lần
chuyển bánh xe Pháp thứ nhất nói đến chân lý tương đối
của nhân quả, hay duyên sanh của các hiện tượng, vừa cả
tâm lý lẫn vật lý ; lần thứ hai trong một số phương diện
nói đến chân lý tuyệt đối và trong một số phương diện
đến chân lý tương đối ; lần thứ ba nói về chân lý tuyệt
đối.
51.
Mười lực (TT. bang bcu) :
i.
Năng lực trên đời sống.
ii.
Năng lực trên tâm thức.
iii.
Năng lực trên vật chất.
iv.
Năng lực trên nghiệp.
v.
Năng lực trên sự tái sanh.
vi.
Năng lực của nguyện vọng.
vii.
Năng lực của cầu nguyện.
viii.
Năng lực của những phép lạ.
ix.
Năng lực của trí huệ.
x.
Năng lực của Pháp.
Mười
năng lực này không nên bị lầm với mười sức mạnh (stobs
bcu).
52.
Làm chủ kho tàng bầu trời : ám chỉ khả năng vật chất
hóa những đồ vật như bầu trời, theo những nhu cầu của
chúng sanh ; đây là một trong những khả năng thuộc phạm
trù năng lực trên vật chất (chú thích 51). Sự làm chủ trên
những nguyên tố như vậy đi kèm theo sự chứng ngộ của
một đại thiền giả.
53.
Một lần một nạn đói khủng khiếp xảy ra ở xứ Magadha,
kéo dài mười hai năm. Saraha yêu cầu Nagarjuna cung cấp cho
chúng tăng của Nalanda đang thiếu mọi nhu yếu. Nagarjuna quyết
định tìm ra cách làm vàng. Ngài hái hai lá trầm, và với
những thần chú phù hợp, cho chúng năng lực chuyên chở ngài
tức tốc đến nơi nào ngài muốn. Cầm một lá trên tay và
dấu một lá kia dưới đế giày, ngài du hành qua đại dương
đến một hòn đảo có một nhà luyện kim nổi tiếng. Nagarjuna
xin nhà luyện kim chỉ dạy làm thế nào để làm ra vàng. Bấy
giờ, nhà luyện kim hiểu rằng Nagarjuna phải băng qua đại
dương bằng một kỹ thuật huyền thuật bí mật nào đó,
và hy vọng có được bí mật ấy, ông nói, “Chúng ta nên
chấp nhận trao đổi hoặc kỹ xảo hoặc sự giàu có của
chúng ta.” Nagarjuna trả lời, “Chúng ta nên trao đổi kỹ
xảo,” và cho ông cái lá cầm trong tay. Nhà luyện kim, nghĩ
rằng Nagarjuna bây giờ không còn có thể ra khỏi đảo này,
dạy cho ngài cách làm ra vàng. Nhưng khi đã học được bí
mật của nhà luyện kim, ngài ra đi, bằng cái lá trầm dấu
trong giày, và trở về Ấn Độ. Trở lại Nalanda, ngài có
thể biến một số lượng lớn sắt thành vàng, và như vậy
cung cấp cho Tăng chúng mọi nhu yếu của họ.
54.
Torma (TT. gtor-ma) : một hình thể ba chiều tượng trưng có
thể làm bằng bột, đất sét, hay chất liệu quý. Theo bối
cảnh, nó có thể được xem như một đồ cúng, hay một mạn
đà la của những hóa thần như một vũ khí để hủy hoại
những chướng ngại, hay như một đồ vật có năng lực từ
nó người ta có thể nhận những ban phước gia bị.
55.
Stupa, tháp : một cơ cấu hình học tượng trưng tâm của một
vị Phật, hay nói cách khác là Pháp thân, và tạo dựng theo
những kích thước của thân thể một vị Phật. Nó được
đựng đầy với xá lợi của những bậc thánh, những mạn
đà la, những thần chú và lời cầu nguyện được viết thành
chữ, và những tsa-tsa.
56.
Bốn yoga của Mahamudra (Đại Ấn) :
. Nhất
niệm (Skt. ekagra)
.
Đơn giản (Skt. nishprapancha)
.
Một vị (Skt. rasasama)
.
Không thiền định (Skt. abhavanam)
Bốn
yoga cũng được diễn tả chi tiết trong chương cuối của
cuốn Mahamudra : Tinh Túy của Tâm và Thiền Định của Takpo
Tashi (Boston and London : nhà xuất bản Shambhala, 1986).
57.
An định (Skt. shamatha). Quán chiếu (Skt. vipashyana), đôi khi
được dịch là “viễn tượng bao la” hay “cái thấy rộng
rãi hơn”. Chỉ và Quán trong truyền thống Trung Hoa.
58.
Năm con đường (TT. lam lnga) : Trên con đường tích tập (tshogs-lam)
và con đường kết hợp (sbyor-lam), người ta chỉ có thể
có một ý niệm về bản tánh tuyệt đối. Chỉ khi đạt đến
địa thứ nhất, như vậy đi vào con đường của sự thấy
(mthong-lam), người ta thấy bản tánh Không tuyệt đối của
những hiện tượng như nó là thế. Cái thấy này bây giờ
sâu hơn và trở thành rộng lớn hơn khi người ta tiến bộ
trên con đường của thiền định (sgom-lam) cho đến địa
thứ mười một. con đường không học nữa (mi-slob-pa’i-lam),
nó là giác ngộ viên mãn, cấp độ của Phật.
59.
Tâm bổn nhiên tương tục (TT. gnyug-ma).
60.
Xem chú thích 50.
61.
Tiệc cúng (Skt. ganachakra ; TT. tshogs) : một lễ nghi chính yếu
thường được thực hiện và là một yếu tố kinh nghiệm
có trong hầu hết mọi sadhana của Mật thừa, hoặc thực hành
trong một nhóm hay cá nhân. Trong khi quán tưởng mạn đà la
của những hóa thần, những sự cúng đồ ăn và thức uống
được chuyển hóa một cách tri giác và dâng lên như là những
chất-samaya thanh tịnh, rồi được cúng cho những hóa thần
mạn đà la, hiện thân nơi vị thầy, trước khi được những
người tham dự dùng như vừa là một sự tịnh hóa những
điều luật bị vi phạm vừa như một cử hành tôn vinh trong
bối cảnh của cái thấy thanh tịnh.
62.
Cấp độ thứ tám : địa thứ tám trong mười địa liên hệ
đến điểm mà một Bồ tát đi vào giai đoạn cuối của con
đường thiền định (xem chú thích 59).
63.
Jetsun Trakpa Gyaltsen (1147-1216) : con của Jetsun Kunga Nyingpo, ngài
trở thành một trong những vị Tổ chánh của phái Sakya.
64.
Năm cõi : trong văn mạch này, sự xếp đặt thường dùng chia
sanh tử thành sáu cõi được chuyển đổi thành năm, bằng
cách tính chung những cõi thiên và bán-thiên thành một.
65.
Năm phương diện của Quán Thế Âm : Vua của Bầu Trời, Thòng
Lọng Phong Phú, Bậc Nạo Vét Sạch những Chiều Sâu của Sanh
Tử, Bậc Đại Bi Chuyển Hóa Chúng Sanh, và Đại Dương của
những Bậc Chiến Thắng, năm danh hiệu ấy là bản tánh thanh
tịnh theo thứ tự của các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và
thức.
66.
Những phẩm tính giác ngộ của Phật tánh : vô số phẩm tính
và khả năng đặc biệt được thành tựu bởi một vị Phật
giác ngộ viên mãn được Maitreya-Asanga xếp loại trong Abhisamayalamkara
thành hai mươi mốt phạm trù khác nhau :
i.
37 pháp dẫn đến giác ngộ
ii.
4 vô lượng tâm
iii.
8 giải thoát
iv.
9 thứ đệ định
v.
10 tri giác toàn khắp
vi.
8 tri giác vĩ đại
vii.
Không có những phiền não tiêu cực
viii.
Hiểu biết qua những cầu nguyện
ix.
5 loại nhãn
x.
4 loại tri giác phân biệt hoàn hảo
xi.
4 thanh tịnh hoàn hảo
xii.
4 thần lực
xiii.
10 lực
xiv.
4 vô úy
xv.
3 sự vắng mặt của kỳ vọng
xvi.
3 loại chánh niệm được duy trì
xvii.
Trí nhớ không hư hao
xviii.
Sự phá hủy hoàn toàn mọi tập khí
xix.
Đại bi với tất cả chúng sanh
xx.
18 phẩm tính phân biệt (bất cộng)
xxi.
3 loại toàn trí
và
trong Uttaratantra thành sáu mươi bốn thuộc tính chính, gồm
:
.
10 lực
.
4 vô úy
.
18 phẩm tính phân biệt của Phật tánh
.
32 tướng chánh của Phật tánh
67.
Bhumi : “cấp độ”, địa (xem thêm chú thích 58 và 62).
68.
Samadhi : sự tập trung thuộc về thiền định, nghĩa đen là
“ở với cái sâu xa và tuyệt đối” ; bao gồm những thực
hành an định quán chiếu (xem chú thích 57).
69.
Trakar Tsegyal : Hang Đỉnh Chiến Thắng Núi Trắng ở phần trên
cuối của một thung lũng giữa Minyak và Tao, gần Gyaphak Gošn,
một tu viện được tạo lập bởi đại thành tựu giả Gyaphak
Kili Kunzang.
Datsedo
: ngày nay thường được gọi là Tatsiendo hay Tarsedo và được
biết trong tiếng Trung Hoa là Kangding.
70.
Khenpo Shenga : 1871-1927.
Về
Patrul
Rinpoche
(1808-1887)
Patrul
Rinpoche là một đạo sự giác ngộ, dù ngài sống cuộc đời
lang thang, là một trong những bậc thầy tâm linh lừng lẫy
nhất của thế kỷ vừa qua. Ký ức về ngài vẫn còn rất
sống động đến ngày nay và đem lại một nguồn cảm hứng
cho tất cả những hành giả Phật giáo của Tây Tạng.
Patrul
Rinpoche sinh năm 1808 tại Dzachuka, một vùng du mục xứ Kham
phía bắc của Shechen và Dzogchen. Trí thông minh sắc bén, từ
tâm tự nhiên, và những khả năng đặc biệt sớm được
thấy rõ. Ngài được công nhận như là tušlku (vị tái sanh)
của một đạo sư đã sống trong vùng ấy, tên là Palge Samten
Phuntshock, nổi tiếng vì đã xây dựng một bức tường một
trăm ngàn viên đá khắc thần chú OMÏ MANÏI PADME HŪMÏ. Về
sau, vài đại lama công nhận ngài là một hóa thân của Shantideva,
và ngài cũng được nói là một hiện thân về ngữ của Jigme
Lingpa. Tulku Palge trẻ tuổi – Palge là nói gọn của Patrul
– được nhậm chức như là trụ trì của tu viện của vị
tiền nhiệm đúng thời gian thích hợp.
Không
lâu sau đó, ngài gặp vị thầy chính của mình, Jigme Gyalwai
Nyugu. Vị đại sư này đã sống nhiều năm ở miền trung Tây
Tạng như là một trong những đệ tử cao cấp nhất của Jigme
Lingpa và khi trở lại xứ Kham, ngài đã để vài năm thiền
định một mình gần nơi tuyết đóng băng vĩnh cửu trong một
thung lũng hẻo lánh của Dzama Lung. Phía sườn núi đầy gió
nơi ngài ở, không có ngay cả một hang động trú ẩn nào.
Cái nhà độc nhất của ngài lõm sâu trong đất, và ngài sống
bằng cách ăn những cây và rễ hoang. Những năm trôi qua, tiếng
tăm của vị ẩn sĩ khổ hạnh lạ lùng này vang xa. Hàng trăm
đệ tử đến viếng thăm ngài, sống trong những lều gần
cạnh. Ngài là kiểu mẫu của người thực hành Pháp theo một
cuộc sống rất giản dị, quyết tâm ở yên chỗ cho đến
khi thành tựu chứng ngộ. Từ Jigme Gyalwai Nyugu, Patrul Rinpoche
đã nhận không dưới hai mươi lần những chỉ dạy về những
thực hành căn bản về Longchen Nyingthig, cũng như nhiều truyền
thọ quan trọng khác, ngài đã nghiên cứu và thực hành tất
cả với nghị lực lớn lao. Thời thiếu niên, Patrul Rinpoche
dành những thời kỳ dài du hành để gặp gỡ những vị thầy
của ngài hay cùng đi với các vị trên những chuyến đi –
nhiều người trong các vị không có chỗ ở nhất định. Ngoài
Jigme Gyalwai Nyugu, Patrul gặp và học hỏi với hầu hết đại
lama của thời đó, gồm Drodup Chen đệ nhất, Jigme Trinle OŠser
; Jigme Ngotsar ; Dola Jigme ; Gyelse Shenpen Thaye của Dzogchen ; và
đại thành tựu giả Do Khyentse Yeshe Dorje.
Do
Khyentse Yeshe Dorje là hiện thân về tâm của Rigdzin Jigme Lingpa.
Vị này đã có thiên nhãn một cách tự nhiên từ hồi nhỏ
và làm vô số phép lạ. Patrul Rinpoche cảm thấy ngưỡng mộ
mạnh mẽ vị đạo sư không ở trong quy ước thường tục
này, mà ngài xem như đích thân đức Phật. Một hôm, khi Do
Khyentse đang ở Dzachu, bậc này thấy Patrul đi gần đó và
kêu : “Ê ! Palge ! Hãy đến đây ! Hay ngươi không dám ?”
Vừa đến gần, Do Khyentse nắm tóc ngài, đánh ngài ngã xuống
đất, và lôi ngài vòng vòng trong bụi bặm. Patrul nghĩ rằng
Do Khyentse đã uống nhiều ; hơi thở ngài nồng mặc mùi bia.
Ngài nghĩ thầm : “Ngay cả một đại sư chứng ngộ như ngài
mà có thể uống rượu và đối xử như bê bối như vầy
!” Và sự diễn tả của đức Phật về những khuyết điểm
về rượu hiện đến trong trí ngài.
Ngay
lúc ấy, Do Khyentse thình lình buông tay, thả Patrul ra, và nhìn
dữ dằn vào mắt ngài. “À !” ông nói. “Ngươi có những
ý tưởng thật là vô đạo, rởm đời ! Đồ chó già !”
Ông nhổ nước miếng vào mặt ngài, đưa cho ngài thấy ngón
tay út của mình (một cử chỉ cùng cực xúc phạm), và bỏ
đi. Thình lình, Patrul thấu hiểu : “Ta đã lầm lẫn hoàn
toàn. Đây là một giáo huấn sâu xa, chỉ ra bản tánh tối
hậu của tâm thức.” Ngài ngồi xuống thiền định, và kinh
nghiệm về tánh giác không ngăn ngại tự nhiên đến với
ngài, rõ ràng trong sáng như một bầu trời không mây. Khi Jigme
Gyalwai Nyugu trước đó đã ban cho ngài sự nhập môn vào tánh
giác bổn nhiên, nó giống như bình minh ; kinh nghiệm này khi
ở với Do Khyentse đối với ngài giống như mặt trời lên
trọn vẹn. Patrul Rinpoche về sau đùa bởn về chuyện này,
nói rằng : “Chó Già là tên quán đảnh bí mật mà Do Khyentse
đã ban cho tôi.” Một số tác phẩm của Patrul được ký
tên là “Chó Già.”
Sau
cái chết của người cháu của vị tiền nhiệm, Patrul Rinpoche
quyết định sống đời còn lại không nhà và tài sản. Sắp
đặt mọi sự ở tự viện của ngài xong, ngài ra đi cho cuộc
đời lang thang.
Những
ngọn đồi và thung lung dốc và đầy cây chung quanh Tu Viện
Dzogchen có những chỗ ở và Patrul Rinpoche thường ở lại
đó trong thời kỳ đầu của cuộc sống không nhà của mình
và ngài thường trở lại đó. Ở Dzogchen ngài đã nhận nhiều
chỉ dạy