A.CHÁNH
VĂN
III-
KỆ KIẾN TÁNH
(Ðoạn
1)
Xét
theo đó thì biết, tướng ngôn ngữ ở trong cõi chúng sanh
là từ bốn thứ vọng tưởng mà sanh, rồi kia đây sân si
cũng từ ngôn thuyết như thế.
Ðến
như thần thông của Phật, thì lời nói tợ âm thanh tiếng
trống trời, ngay thẳng từ bi, vi diệu hòa nhã. Ngài diễn
nói pháp có sáu mươi bốn thứ tiếng Phạm âm, vang xa khắp
cả mười phương, mọi chúng sanh đều vui thích, nghe tiếng
ngộ đạo, đồng được giải thoát,
tức chẳng phải lời nói từ bốn thứ vọng tưởng.
Phật bảo ngài Ðại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn thuyết.
Nghĩa là như lông rùa sừng thỏ..., thế gian hiện thành ngôn
thuyết. Ðại Huệ ! Chẳng phải tánh, chẳng phải phi tánh,
chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, ngôn thuyết
có tánh, có tất cả tánh, luận ông ắt hoại.
Phần
Ký nói: "Ðây là nói các pháp tuy không, mà chẳng ngại ngôn
thuyết".
Ðời
Ðường lại dịch là: "Tuy không các pháp, mà cũng có ngôn
thuyết. Ðâu chẳng hiện thấy lông rùa, sừng thỏ, con của
người thạch nữ v.v..., ở trong đó người đời đều khởi
ra ngôn thuyết. Nó chẳng phải có chẳng phải không, mà chỉ
có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, vì có ngôn thuyết
nên có các pháp, nếu không có các pháp thì không có ngôn
thuyết. Hiện nay sừng thỏ... tuy không có mà chẳng ngại
có lời nói. Xét theo đó thì nghĩa của ông chẳng thành".
Vì vậy nói luận của ông ắt hoại, tỏ ngộ các pháp vốn
không, do duyên tụ hội mà sanh. Ðã do duyên hội mà sanh, thì
sanh vốn không, dù nói nhân nơi duyên kia sanh, cũng là giả
danh. Ðây là pháp tánh vô sanh, ngôn từ cùng lặng, năng sở
đều quên, trong lặng thường trụ, không có lời nói.
Thế
nên đức Thích Ca Thế Tôn lên pháp tòa, tự tại không lời,
im lặng giây lâu, chính là yếu chỉ trên đây. Ðại sư Ðạt-ma
chín năm ngó vách, ngồi nghiêm trang không nói, cũng đúng như
lý này. Người trí quán sâu liền chứng nơi chân thật không
tịch. Do đó, thế ngàn non đến đỉnh thì dừng, muôn sự
tiêu về thể thì bình.
Thế Tôn lại bảo ngài Ðại Huệ và các Bồ-tát:
"Chẳng phải tất cả cõi nước đều có dùng ngôn thuyết.
Ngôn thuyết là Như Lai tùy theo chúng sanh ở cõi Ta bà. Bởi
giáo thể ở phương này dùng âm thanh và nghe, nên giả tạm
làm ra văn tự, chương cú, ngôn từ thì kinh giáo mới được
an lập. Ngoài ra những thế giới của chư Phật khác, thì
diệu lý của Phật pháp chẳng liên quan đến văn tự, chẳng
dùng ngôn thuyết. Hoặc có cõi Phật dùng mắt nhìn xem mà
hiển bày tỏ ngộ pháp tánh. Hoặc có cõi làm ra tướng, hoặc
có cõi nhướng mày, hoặc có cõi chớp mắt, hoặc có cõi
mỉm cười, hoặc có cõi hơi há miệng, hoặc cõi cười nói,
hoặc cõi nhớ nghĩ cõi nước, hoặc cõi lay động... dùng
những pháp như thế mà bày cơ lộ tánh, thảy đều là Phật
sự, tiếp hóa chúng sanh".
Ðời
Ðường lại dịch: "Hoặc có cõiPhật trừng
mắt nhìn mà hiển bày pháp, hoặc cõi hiện tướng khác, hoặc
nhướng mày hoặc chớp mắt, hoặc hiện mỉm cuời, hoặc
hơi há miệng, cười nói nhớ nghĩ, lay động... dùng những
việc như thế mà hiển bày pháp, khiến mọi quần sanh tỏ
ngộ bản tánh."
Phật
lại bảo Bồ-tát Ðại Huệ: "Hãy xem thế giới này những
loài chúng sanh như ruồi, muỗi, trùng, kiến v.v... không có
ngôn thuyết mà đều làm xong việc, đâu đợi có ngôn thuyết
mới hiển bày pháp ư ?"
Ðiều
đó chứng tỏ, chẳng những các pháp không tánh, hơn nữa
ngôn ngữ cũng tánh không. Nghĩa là tướng các pháp vốn tịch
diệt, chẳng thể dùng lời nói tỏ bày. Phật Tổ từ trước
đến chỗ cùng cực, chỉ bốn mắt nhìn nhau, im lặng ấn
chứng. Ðạo vô ngôn được truyền ra, bắt nguồn từ chỗ
thấy như trên. Vì vậy, ngài Lâm Tế, Ðức Sơn gậy hét truyền
dạy. Ngưỡng Sơn tướng tròn, Thạch Củng giương cung, Ðạo
Ngô múa hốt... Các vị Tổ Sư đều cùng chung chứng đến
chỗ sâu xa. Ðây là chánh định lìa lời nói. Nghĩa là núi
sông quả đất chung chuyển
pháp luân căn bản, loài vảy, mai, lông,
cánh khắp hiện sắc thân Tam-muội. Thế nên trong chỗ thường
dùng hằng ngày của chúng sanh, thì cửa sáu căn đều là chỗ
nhập lý ngộ đạo, đâu hoàn toàn phải đợi ngôn thuyết
! Nên đức Thế Tôn đưa cành hoa chỉ cho chúng, ngài Ca-diếp
khế hội tâm Phật mỉm cười. Phật trước Phật sau chỉ
dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.
Hỏi:
- Nếu chẳng lập văn tự, lấy gì làm tâm ?
Ðáp:
- Ông hỏi tôi tức đó là tâm ông. Tôi đáp ông, tức là
tâm tôi. Nếu ông không tâm, nhân đâu biết hỏi tôi? Nếu
tôi không tâm, nhân đâu biết đáp ông ? Chính ngay khi ông
hỏi tôi, tức là tâm ông. Tâm này từ vô thủy kiếp cho đến
hiện giờ, mọi hành động, tạo tác, ở trong tất cả thời
cũng như ngay đây, đối diện hiện dùng, tùy cơ thu buông,
đối đãi thưa hỏi, chẳng phải tánh là gì ? Cái gì thưa
hỏi đây ? Nói năng đó là cái gì ? Cái gì hay biết hỏi
? Ðây chính là tánh linh giác căn bản nơi chính mình của
mọi người. Tánh tức là tâm, tâm tức là Phật, Phật tức
là đạo, đạo tức là Thiền. Thiền nghĩa là kiến tánh.
Vì vậy đưa cành hoa mỉm cười, hội được tông yếu đó
là Thiền. Bốn mắt nhìn nhau, lãnh nhận ý chỉ, đó là Thiền.
Thiền là lặng lẽ, lặng lẽ nhưng thường soi sáng, soi sáng
nhưng thường lặng lẽ, thanh tịnh trong lặng nhiệm mầu,
tròn đồng thái hư, trọn không một vật, ứng dụng tự tại;
thể tự không tịch, gọi đó là Thiền, gọi đó là Giác.
Do
tâm thường giác nên gọi Ðại Giác Thế Tôn, cũng gọi Giác
Vương Như Lai hay gọi là chủ hư không. Tức tâm là Phật,
trọn không có Phật khác. Tức Phật là tánh, trọn không có
tánh khác. Như nắm tay làm thành do bàn tay, tợ nước thành
sóng. Sóng tức là nước, bàn tay tức là nắm tay. Nên Kinh
Hoa Nghiêm nói:
Nếu
người muốn rõ biết,
Ba
đời tất cả Phật.
Nên
quán tánh pháp giới,
Tất
cả chỉ tâm tạo.
Âm
:
Nhược
nhơn dục liễu tri,
Tam
thế nhất thiết Phật.
Ưng
quán pháp giới tánh,
Nhất
thiết duy tâm tạo.
Lại
nói: Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ này đều không sai khác.
Tất cả Phật pháp, tự tâm sẵn có, thôi đem tâm tìm kiếm
bên ngoài, bỏ cha chạy đi lang thang. Tiếng Phạn gượng gọi
Phật, Trung Hoa nói là tánh giác. Tánh này chẳng lìa thân ta,
nếu người đốn ngộ được cội gốc, người này sẽ chóng
được thành Phật.
Thế
nào là cội gốc ?
Chỉ
dạy rằng: - Cội gốc chính là tâm tánh linh giác của mọi
người. Tâm này là cội nguồn của chư Phật, là đất tánh
của chúng sanh. Ðất thì sản sanh muôn vật, ngàn muôn cây
cối, cành lá hoa quả, mỗi mỗi đều nhân nơi đất mà sanh.
Tâm bao gồm muôn pháp, trăm khéo ngàn hay, huyền cơ diệu lý,
mỗi mỗi đều từ tâm dựng lập. Tâm là biển của muôn
pháp, từ nơi thật tế mà ứng hóa ra. Tánh là gốc của muôn
hạnh, tùy nơi một tâm mà biến dùng. Huệ giải tròn thông,
linh minh đầy đủ, gồm trọn muôn pháp chỉ một lý, xuyên
suốt muôn thuở chỉ một tâm. Buông ra thì lấy một làm nhiều,
thu lại thì lấy nhiều làm một. Nên lập một tâm làm tông,
mở ra thì có nhiều cửa vô tận. Mới nói: "Ba cõi chỉ là
tâm, muôn pháp chỉ là thức, một niệm chẳng sanh, các duyên
chóng dứt". Ngộ diệu lý nơi bản tâm thì tội phước đều
không, mê viên minh của tự tánh thì thiện ác đều ngại.
Ngàn dòng sông riêng khác mà đồng nguồn, muôn xe sai biệt
mà đồng lối mòn; tất cả muôn pháp đều về một tâm,
tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì mọi thứ pháp
diệt. Do đó các ngôi sao đều chầu về hướng Bắc, muôn
dòng sông trọn chảy về Ðông, hà sa diệu pháp thảy ở nguồn
tâm, đạo pháp hiện tiền, một tâm đầy đủ. Nên biết,
ngàn pháp muôn pháp, Phật Phật, Tổ Tổ từ trước chỉ lấy
tâm truyền tâm, chữ bát mở toang; lấy tâm ấn tâm, bốn
mắt nhìn nhau, hơn năm ngàn tám trăm quyển, tám mươi bốn
ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện, đều từ một chữ
tâm ấy lưu xuất, dựng lập. Dù đem tre bằng núi Tu Di làm
bút, lấy nước bốn biển cả làm mực, viết một chữ tâm
nầy vẫn chẳng hết. Kinh nói: "Diễn nói một chữ mà cả
biển mực khó chép hết". Vô lượng thu lại làm một, một
buông ra thành vô lượng. Song thái hư dù rộng mà chẳng thể
bao gồm thể kia; mặt trời, mặt trăng tuy sáng mà chẳng thể
sánh với ánh sáng kia. Tâm ấy rộng bao cả thái hư; tánh
ấy, lượng trùm khắp pháp giới, tròn lặng sáng rực, không
có Ðông, Tây, Nam, Bắc, không có bốn phía, trên dưới, không
vật có thể sánh, gượng gọi là tâm. Buông ra thì lớn không
gì ngoài, thu lại thì nhỏ không gì trong. Bởi tâm vương ẩn
hiện, gồm chứa tất cả người vật, trước trời đất,
suốt xưa nay, một mình tồn tại, một mình chiếu soi, không
hình không tướng, không xanh, vàng, đỏ, trắng, không vuông
tròn, dài ngắn, không đầu đuôi trước sau, không kiếp số,
bờ mé, giống như hư không, không có mặt mày có thể nói
phải quấy. Tuy không xanh, vàng, đỏ, trắng, vuông tròn, dài
ngắn, nhưng hay hiện ra xanh vàng đỏ trắng, vuôngtròn
dài ngắn.
Cho
nên Thiền sư Xuyên Lão nói:
Ma-ha
Ðại pháp Vương,
Không
ngắn cũng không dài.
Xưa
nay không đen trắng,
Tùy
chỗ hiện xanh vàng.
Âm
:
Ma-ha
Ðại pháp Vương,
Vô
đoản diệc vô trường.
Bản
lai vô táo bạch,
Tùy
xứ hiện thanh hoàng.
Pháp
tánh vốn tùy duyên, sắc không đều chẳng ngại. Vào sông
thì tùy khúc uốn quanh; nước thì thuận theo vật vuông tròn.
Như hạt châu ma-ni, ánh hiện ra năm màu, tùy loại đều hiện,
trọn chẳng biến đổi. Dù không hình tướng mà hay hiện
thành tất cả tướng, chân không mà diệu hữu, bất biến
mà tùy duyên. Chân không là ban đầu của tánh, diệu hữu
là ban đầu của khí. Nên biết, núi sông, quả đất, sum la
vạn tượng, tình với vô tình, cho đến niệm thô, niệm tế,
pháp nhiễm, pháp tịnh, không một vật, một trần nào ra ngoài
tâm vương. Ðây là diệu hữu.
Lại
nói: - Chẳng phải không, chẳng phải sắc, ứng hóa thành
muôn thứ mà chẳng lìa một chân thật. Tâm vương là thể
như như, trong lặng thường trụ; vốn tự viên thành, dường
như hư không; ứng vật hiện hình, như trăng trong nước. Nghĩa
là tâm vương hay ứng hiện vào trong các loài, nên nói là
thức hòa hợp. Bản tánh tâm vươngnhưgươngtrònlớnhiệncác
thứ hình sắc. Tâm vương vốn không hình tướng, tuy không
hình tướng mà hay hiện thành tất cả các tướng, nhưng lại
chẳng nhiễm tất
cả các tướng. Tướng đến thì hiện, tướng đi thì mất,
tướng tụ thì có, tướng tan thì không;
tướng tuy có đến đi, tụ tan mà tâm vương vốn tựtrongtrẻothườnglặnglẽ. Như
gương tròn lớn hay hiện tất cả vật, tuy
hay hiện tất cả vật mà chẳng nhiễm tất cả vật;
vật đến thì hiện, vật đi thì mất, vật có đếnđi
hiện mất, nhưng gương vốn tự sẵn vậy chẳng
động. Vì vậy đem gương tròn dụ tâm vương. Song tâm
vương chẳng nhiễm các vật, xưa nay thanh tịnh, trong lặng
thường trụ, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, không một vật,
không thể nắm bắt. Nên nói pháp thân thanh tịnh tức là
tánh của mọi người, báo thân viên mãn tức là trí của
mọi người, hóa thân ngàn trăm ức tức là hạnh của mọi
người.
Pháp thân thanh tịnh là sẵn thanh tịnh như vậy, là chí tôn
từ bao thuở, thấy biết rất nhiệm mầu, không gì sánh ngang,
trong lặng chân thật thanh tịnh, không hình không tướng, gọi
đó là pháp thân thanh tịnh. Pháp thân tuy không hình không
tướng mà hay hiện tất cả hình tướng. Ðã thành các hình
tướng thì gọi đó là ứng thân. Ứng thân thì có thiện
ác, tốt xấu, tùy theo nghiệp báo mà thọ lấy thân. Nghiệp
báo thiện tức có tướng tốt, nghiệp báo ác tức có tướng
xấu. Tùy nơi nghiệp báo mà thọ lấy thân, gọi là báo thân.
Báo thân, nghĩa là thân nghiệp báo một đời. Còn ứng thân
tức là thân ứng hiện ra. Sao gọi là thân ứng hiện ra ?
Tức nhân nghiệp báo cảm thành mà ứng hiện ra có thân, gọi
đó là thân báo ứng. Nghĩa là pháp thân hay
ứng vào sắc thân, ứng nơi mắt thấysắc,
ứng nơi tai nghe tiếng, ứng nơi mũi ngửi mùi, ứng
nơi lưỡi đàm luận, ứng nơi thân cảm xúc, ứng nơi ý biết
pháp, cho đến giơ tay động chân đều là ứng thân.
Hội
rằng :
Vốn
là một tinh minh. Chia thành sáu hòa hợp. Thu sáu hòa hợp lại,
vốn là một tinh minh.
Lại
nói: Sao gọi là hóa thân ? Ðã vào ứng thân, đi đứng nằm
ngồi, thấy nghe hiểu biết, làm mọi thứ việc lành, cho đến
trăm ngàn pháp môn, phương tiện diệu hạnh, tùy cơ biến
hóa, ứng dụng không cùng, gọi đó là hóa thân. Tuy riêng
có ứng và hóa, cũng đều từ pháp thân lưu xuất nên nói:
Ba thân vốn chính là một thân. Kinh nói: "Hàng thượng căn
rõ được một, thì muôn việc đều xong". Nếu như còn ngờ
vực, hãy nghiệm xét cho tường tận nơi lý.
Bởi
Chân Phật thì không hình, Chân kinh thì không quyển,
bao la pháp giới, tròn đồng thái hư, chẳng thêm chẳng bớt,
không thiếu không dư, người người sẵn đủ, kẻ kẻ viên
thành, bản tánh Di Ðà, Chân kinh Bát-nhã, kho báu nhà mình,
nguyên là vật tự có. Song tánh đạo không khác, sắc và không
nhất như, viên dung cả pháp giới, đối diện ở trước mắt,
ứng vật hiện hình như trăng trong nước.
Kệ
nói :
Chẳng
biết báu trong áo,
Vô
minh say tự tỉnh.
Trăm
hài đều rã tan,
Một
vật vững sáng mãi.
Âm
:
Bất
thức y trung bảo,
Vô
minh túy tự tỉnh.
Bách
hài câu hội tán,
Nhất
vật trấn trường linh.
Áo
là sắc thân, báu là tự tánh. Trước kia Lục Tổ Huệ Năng
đốn ngộ tự tánh, tâm châu linh bảo, bèn đáp với Ngũ Tổ
Hoằng Nhẫn rằng: "Tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh
!"
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn chẳng tự sanh diệt !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ !
Ðâu
ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Hội
rằng :
Tánh
đủ mọi lý mà ứng với muôn sự.
-
Hỏi đáp đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Tham học đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Tụng kinh đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Niệm Phật đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Nói năng đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Gậy hét đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Cơ duyên đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Thế Tôn giơ cành hoa đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Ngài Ca-diếp mỉm cười đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Lâm Tế hét, Ðức Sơn đánh, Ngưỡng Sơn tướng tròn, Thạch
Củng giương cung, Ðạo Ngô múa hốt, cơ duyên của chư Tổ
đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Bốn mắt nhìn nhau đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Trưởng Lão Câu Chi đưa ngón tay, giơ nắm
tay đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Lâm Tế phủi tay áo liền đi đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Khai hoa kết ấn đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Ði đứng ngồi nằm đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Thấy nghe hiểu biết đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Ăn cơm ăn cháo đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Uống nước uống trà đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Ðắp y ôm bát đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Nói năng hỏi đáp đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Tạo tác, làm việc đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Im im xét tư duy, nói nói động miệng đó là gì ? - Chỉ là
tự tánh.
Mật thu lại thì không dấu vết, hiển buông ra thì không cùng
tận. Bởi lược bày các cơ chỉ dạy, song đối với diệu
lý khó đem nói hết. Cần biết mặc áo ăn cơm, nói năng
đối đáp, sáu căn vận dụng, gậy đánh miệng hét, quát
mắng khảy tay, đánh phách thổi sáo, tiếng tăm cười
nói, cho đến gánh nước bửa củi, nơi nơi toàn bày lý diệu;
vo gạo thổi lửa, chỗ chỗ thảy hiện chân cơ. Trăm khéo
ngàn hay, cơ huyền lý diệu, tất cả hành động trọn là
tự tánh của mọi người hiển hiện ứng dụng.
Tỏ
rõ rằng :
Trước
kia đã có việc như trên, ngày nay đâu không việc này ! Xưa
nay thấy tánh thành Phật, chung ngộ tâm tông Bát-nhã. Tướng
mộc tuổi tác chẳng đồng, tánh hỏa trước sau như thế.
Ai biết ví dụ này, trí tuệ thật rộng sâu. Pháp tánh hằng
không, vốn không số kiếp. Trước sau chỉ một lý, người
thông suốt đồng một đường. Cần biết, một tánh linh chân,
trong lặng như thái hư; sắc thân năm uẩn thật như mộng
huyễn. Quả là trênđảnhmônđủmắt,
liềnbiếttrênhư
không không có hoa. Phật ở tự tâm, chớ tìm kiếm nơi người
được. Nên trong bài phú Cư Trần Lạc Ðạo, Tổ Ðiều Ngự
nói:
"Rõ
chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.
Chứng
thật tướng, đạt vô vi, đâu nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc".
Khiến
người người phản bổn hoàn nguyên, cho kẻ kẻ hồi quang
tự ngộ. Chỉ chín chắn quán xét sâu xa, rõ được tột người
người là Phật, ngộ tâm tông Phật Phật là người. Xin hãy
đều thẳng đó thừa đương, chớ chạy đuổi bên ngoài tìm
kiếm !
Kệ
rằng :
I-
Ngàn
kinh muôn luận trỏ tâm tông,
Bốn
mắt trừng nhau mắt tuệ thông.
Ba
thuở Như Lai truyền pháp ấn,
Một
tâm là Phật sẵn vậy đồng.
Âm
:
Thiên
kinh vạn luận chỉ tâm tông,
Tứ
mục trừng giao tuệ nhãn thông.
Tam
thế Như Lai truyền pháp ấn,
Nhất
tâm thị Phật bổn nhiên đồng.
II-
Ngộ
tâm thành Phật không thừa pháp,
Mê
tánh bôn ba kiếm ngoài tâm.
Một
niệm rỗng thênh siêu bản tế,
Giống
hệt rửa chân lên mũi thuyền.
Âm
:
Ngộ
tâm thành Phật vô dư pháp,
Mê
tánh bôn ba tâm ngoại cầu.
Nhất
niệm khuyếch nhiên siêu bản tế,
Hoàn
như tẩy cước thướng thuyền đầu.
III-
Che
trời che đất đây tâm báu,
Không
cổ không kim tự tánh châu.
Giá
trị càn khôn chưa dễ trả,
Sáng
ngời pháp giới vẫn hằng như.
Âm
:
Cái
thiên cái địa ngô tâm bảo,
Vô
cổ vô kim tự tánh châu.
Giá
trọng càn khôn thù vị đắc,
Linh
quang pháp giới nghiễm nhiên như.
IV-
Tâm
ta, tâm Phật vốn không hai,
Nhiều
kiếp nổi chìm chỉ tại mê.
Nay
đã tỏ tường mình tự nhận,
Linh
quang lặng chiếu ấy Bồ-đề.
Âm
:
Ngã
tâm bổn dữ Phật tâm tề,
Lịch
kiếp phiêu trầm chỉ vị mê.
Kim
nhật phân minh tương tự nhận,
Linh
quang tịch chiếu thị Bồ-đề.
V-
Gượng
gọi là Phật, gượng nói tâm,
Pháp
tánh sáng tròn suốt cổ kim.
Thượng
trí siêu quần xoay tự ngộ,
Như
vầy mới hiểu đạo cao thâm.
Âm
:
Cưỡng
danh vi Phật cưỡng xưng tâm,
Pháp
tánh viên minh tuyên cổ kim.
Thượng
trí siêu quần hồi tự ngộ,
Năng
như thị giải đạo cao thâm.
VI-
Ðạt-ma
Tây đến một chữ không,
Toàn
y tâm địa để dụng công.
Chín
năm ngó vách không lời nói,
Một
sớm truyền tâm Huệ Khả thông.
Âm
:
Ðạt-ma
Tây lai nhất tự vô,
Toàn
bằng tâm địa dụng công phu.
Cửu
niên diện bích vô ngôn thuyết,
Nhất
đán truyền tâm Huệ Khả sư.
VII-
Một
điểm đèn tâm đuốc tuệ sanh,
Truyền
nhau bốn mắt đã phân rành.
Nối
hương tiếp lửa luôn sáng mãi,
Soi
khắp đất trời độ hữu tình.
Âm
:
Nhất
điểm tâm đăng tuệ cự sanh,
Tương
truyền tứ mục thái phân minh.
Liên
phương tục diệm quang vô tận,
Phổ
chiếu càn khôn độ hữu tình.
VIII-
Chân
Phật, chân kinh thảy ở tâm,
Kho
báu nhà mình chớ chạy tầm.
Có
ai thử hỏi đâu là Phật ?
Ngay
khi hỏi đáp tại mắt, âm (lời).
Âm
:
Chân
Phật chân kinh tổng tại tâm,
Tự
gia bảo tạng mạc tha tầm.
Hữu
nhân thí vấn Phật hà tại,
Ứng
đối đương thời tại nhãn âm.
IX-
Chân
kinh chẳng đổi vốn như thường,
Chưa
từng mở miệng hiện tỏ tường.
Nghĩ
toan nắm bắt lầm qua mất,
Một
chữ vô sanh thẳng thừa đương.
Âm
:
Chân
kinh bất dịch bổn như thường,
Vị
tằng khai khẩu hiển đường đường.
Bất
khả nghĩ trì sai thác quá,
Vô
sanh nhất cú trực thừa đương.
X-
Không
văn không chữ đấy chân kinh,
Một
quyển trường không quá phân minh.
Miệng
nói còn xa ba ngàn dặm,
Tai
nghe thêm tiến chục vạn trình.
Âm
:
Vô
văn vô tự thị chân kinh,
Trường
không nhất quyển thái phân minh.
Khẩu
tuyên thượng cách tam thiên lý,
Nhĩ
thính tăng dao thập vạn trình.
XI-
Chân
Phật chân kinh vốn một đồng,
Tịch
quang tròn lặng suốt hư không.
Thật
tế nhất như gồm mọi lý,
Tạm
bày muôn pháp độ quần mông.
Âm
:
Chân
Phật chân kinh bổn nhất đồng,
Tịch
quang viên trạm đẳng hư không.
Thật
tế nhất như bao chúng lý,
Quyền
khai vạn pháp độ quần mông.
XII-
Lý
mầu Phật pháp không văn tự,
Cơ
huyền đạo Tổ chẳng ngữ ngôn.
Rộng
tiếp người sau thông một tuyến,
Thượng
căn mắt thấy đạo tâm còn.
Âm
:
Phật
pháp diệu lý vô văn tự,
Tổ
đạo huyền cơ mạc ngữ ngôn.
Hoằng
tiếp hậu lai thông nhất tuyến,
Thượng
căn mục kích đạo tâm tồn.
XIII-
Tâm
tông Bát-nhã ai lãnh ngộ,
Rõ
ràng tự tánh tức Như Lai.
Kẻ
kẻ viên thành đồng chứng Phật,
Người
người đầy đủ chẳng cầu ai.
Âm
:
Bát-nhã
tâm tông thùy lãnh ngộ,
Liễu
minh tự tánh tức Như Lai.
Cá
cá viên thành đồng chứng Phật,
Nhân
nhân cụ túc bất cầu ai (tha).
XIV-
Kinh,
Lục trùng trùng phương tiện biển,
Cơ
duyên Phật Tổ lưới giáo bao.
Một
tông vô trụ tâm ấn Phật,
Muôn
pháp hữu vi bọt nước xao.
Âm
:
Kinh,Lục
trùng trùng phương tiện hải,
Phật
Tổ cơ duyên giáo võng bao.
Vô
trụ nhất tông Phật tâm ấn,
Hữu
vi vạn pháp thủy phù bào.
XV-
Ba
thuở Như Lai truyền diệu chỉ,
Hai
người bốn mắt đối nhìn nhau.
Nguồn
linh nước pháp sa giới chảy,
Ðuốc
tuệ sáng thông cõi cõi nào.
Âm
:
Tam
thế Như Lai truyền diệu chỉ,