10
Mò
đến Gobancho hôm trước, ngày hôm sau tôi đã thực hành một
thí nghiệm. Tôi nhổ hai cái đanh dài khoảng năm phân ở cửa
sổ phía bắc Kim Các.
Có
hai lối vào Pháp Thủy Viện ở tầng dưới Kim Các. Cả hai
đều là cửa gấp, một hướng về phái đông, một hướng
về phía tây. Đêm nào ông lão dẫn đường cho khách đến
vãn cảnh chùa cũng lên Kim Các; thoạt tiên từ bên trong lão
đóng cửa hướng tây và từ bên ngoài lão đóng cửa hướng
đông lại rồi mới khóa. Tuy nhiên, tôi biết mình không cần
khóa cũng vẫn có thể đi vào Kim Các được. Vì ở mặt bắc
có một cửa gỗ cũ kỹ không còn dùng nữa. Nếu mình nhổ
đi độ nữa tá đinh từ trên xuống dưới thì có thể nhấc
cánh cửa này ra dễ dàng. Những cái đinh này đã long hết
cả và mình có thể lấy tay nhổ ra thật dễ dàng. Do đó
tôi đã nhổ thử hai cái đem gói trong một miếng giấy nhỏ
và cẩn thận nhét xuống dưói đáy ngăn kéo. Vài ngày trôi
qua. Hình như không ai để ý gì hết. Một tuần trôi qua. Vẫn
không có dấu hiệu gì chứng tỏ có ai nhận thấy những cái
đinh ấy đã bị nhổ đi. Đến tối hôm hai mươi tám tôi
lén lút lẻn vào trong chùa và nhét những đanh ấy vào chỗ
cũ.
Vào
cái hôm nhìn thấy Lão sư phụ khom mình trong căn trà thất
và đi đến quyết định không cần nương tựa vào sức mạnh
của môt ai khác, tôi đã tới một hiệu thuốc gần ty cảnh
sát Nishigin ở đường Chimoto Imaidegawa mua một ít thạch tín,
thoạt tiên người ta đưa cho tôi một cái chai nhỏ đựng
không đầy 30 viên thuốc. Tôi đòi lấy một chai lớn hơn
và kết cục phải trả một trăm yen để mua lấy chai 100 viên.
Sau đấy tôi tới một cửa hiệu bán đồ sắt phía nam ty
cảnh sát và mua một con dao díp lưỡi dài độ 10 cm. Mua thêm
cái bao tôi phải trả chín mươi yen cả thảy.
Tôi
đi đi lại lại trước ty cảnh sát Nishigin. Lúc đó trời
tối rồi và trên nhiều cửa sổ đã có ánh đèn sáng chưng.
Tôi để ý thấy một người cảnh sát hình sự mặc chiếc
sơ mi hở cổ, tay xách một chiếc vali nhỏ vội vàng đi vào
tòa nhà. Chẳng có ai chú ý đến tôi. Chẳng có ai chú ý đến
tôi trong suốt hai mươi năm qua và trong hoàn cảnh này, trạng
thái này tất nhiên vẫn còn tiếp tục như cũ. Trong lúc này
tôi vẫn còn là một con người tầm thường không quan trọng
một chút nào. Ở cái xứ Nhật Bản này có hàng trăm vạn,
nghìn vạn con người sống âm thầm trong xó tối chẳng được
một ai chú ý tới cả. Tôi vẫn còn thuộc về lớp người
đó. Những người này còn sống hay đã chết thiên hạ không
hề bận trí lấy mảy may và vì thế thường thấy an tâm
đối với họ. Do đó người cảnh sát hình sự cảm thấy
yên lòng và không thèm bận trí nhìn đến tôi lần thứ hai.
Ánh sáng đèn đỏ sương khói mịt mờ chiếu rọi tấm bảng
đá đeo ngay trước ty cảnh sát Nishigi; chữ sát đã rơi mất
và chẳng ai buồn nghĩ đến việc đem chữ khác thay thế.
Trên
đường về chùa tôi cứ lẫn quẩn nghĩ mãi đến những món
đồ mới mua tối hôm ấy. Đó là những món đồ làm lòng
tôi rộn rã. Mặc dù đã mua thạch tín và con dao để phòng
xa trường hợp phải tìm lấy cái chết, song tôi vẫn cảm
thấy hết sức bằng lòng đến những thứ này đến độ
tôi không khỏi băn khoăn tự hỏi phải chăng niềm vui của
một người có gia đình và đang mua đồ đạc sắp đặt kế
hoạch cho cuộc sống tương lai. Ngay cả sau khi đã về tới
chùa rồi, tôi vẫn đem hai thứ đã mua ra mà ngắm nhìn không
chán mắt. Tôi rút con dao ra khỏi bao và le lưỡi liếm dao.
Tức thời chất thép mờ đi và sau khi thấy mát lạnh đầu
lưỡi tôi cảm thấy một mùi vị dịu ngọt, xa xôi. Cái mùi
vị dịu ngọt từ trong cái thực chất khó mà đạt tới của
lưỡi thép đã lan nhẹ sang lưỡi tôi. Hình thù sáng loáng,
chất sắt bóng lộn giống như màu lam sậm của biển sâu
- chính chúng đã mang cái hương vị dịu ngọt dần dần phai
nhạt xa mờ. Sung sướng, tôi hình dung ra cái ngày mà hương
vị dịu ngọt ấy tràn lan tung tóe làm da thịt tôi ngây ngất
say sưa. Bầu trời của chết chóc sáng rực cùng lúc đó,
tôi thấy hầu như bầu trời của sự sống thì tôi đang quên
dần. Những ý nghĩ đen tối đều rời bỏ tôi. Cuộc sống
trên đời này bây giờ không còn thống khổ nữa.
Sau
chiến tranh một máy phòng hỏa tự động tối tân đã được
đặt bên trong Kim Các. Khi nào nhiệt độ bên trong Kim Các
lên tới một mức độ nhất định thì chuông báo động sẽ
reo vang trong hành lang Sự vụ thất của Lộc Uyển tự. Vào
tối ngày 29 tháng 6 bộ phận báo động bị trục trặc. Chính
ông lão dẫn đường cho khách vãn chùa đã khám phá ra. Lúc
ấy tình cờ tôi ở lại trong nhà bếp và nghe thấy tiếng
ông già báo cáo sự việc trong nhà liêu của ông Chấp sự.
Tôi cảm thấy mình khẩn trương và tập trung ý chí tinh thần
tôi sẽ căng thẳng tới mức nào, thế nhưng tôi cũng tưởng
tượng rằng dạ dầy tôi sẽ bị bỏ rơi trong tình trạng
cô độc ấy. Tôi cảm thấy nội tạng của tôi giống như
con chó khốn khỏ nào đó của tôi chưa bao giờ được huấn
luyện thuần thục. Tôi biết vậy. Tôi biết dù cho tấm lòng
tôi có thể hăng hái đến đâu đi nữa song dạ dầy và khúc
ruột của tôi - những tạng khí trơ trơ, trì độn ấy ẩn
náu trong thân thể tôi - vẫn sẽ réo đòi một đường lối
riêng rẽ va bắt đầu mơ một giấc mơ tầm thường nào đó
về cuộc sống thường nhật.
Tôi
tự biết dạ dầy tôi sẽ mộng mơ. Nó sẽ mơ đến cái bánh
mì ngọt và những chiếc bánh đậu xanh. Trong khi tinh thần
tôi mơ đến vàng bạc châu báu, thì cái dạ dầy tôi cứ
khăng khăng một mực mơ đến cái bánh mì ngọt và những
chiếc bánh đậu xanh. Dù sao đi nữa, những cái bánh ngọt
này của tôi cũng có thể làm cho thiên hạ tìm ra một cách
giải thích khi vò đầu vắt óc cố tìm ra lý do phạm tội
của tôi. Họ sẽ bảo: “Cái thằng khốn khổ này bị đói.
Nghe mới có vẻ tự nhiên thích hợp với con người làm sao!”
*
*
*
Ngày
ấy đã đến. Mồng một tháng bảy năm Chiêu Hòa thứ 25 (1950).
Như tôi đã nói trước đây không có một dấu hiệu nào cho
thấy bộ máy báo động phòng hỏa sẽ được sửa chữa trong
suốt ngày hôm ấy. Điều này được xác định lúc 6 giờ
chiều. Ông lão đưa đường lại gọi điện thoại đến nhà
máy và thúc giục họ phái người đến sửa chữa cho xong.
Người thợ máy nói rằng anh ta chẳng may bị bận quá nên
tối hôm ấy không đến được, nhưng chắc chắn anh ta sẽ
tới làm xong công việc trong ngày hôm sau.
Ngày
hôm đó khoảng một trăm du khách đến vãn cảnh chùa nhưng
vì cửa chùa đóng lúc sáu giờ rưỡi nên các đợt sóng người
đã bắt đầu giảm dần. Khi đã gọi điện thoại xong, ông
lão đưa đường đứng ngẩn người ra trước cửa nhà bếp,
lơ đãng nhìn thửa ruộng nhỏ bé ở bên ngoài. Ông đã làm
xong hết mọi công việc trong ngày.
Trời
lất phất mưa. Từ sáng đã có nhiều trận mưa rào. Cũng
có một làn gió nhẹ; tuy nhiên, vào lúc này trong năm trời
cũng không đến nỗi nóng bức, ngột ngạt cho lắm. Tôi nhìn
thấy những bông hoa nam qua nở rải rác đó đây trên cánh
đồng dưới mưa. Những cây đậu nành, trồng từ tháng trước,
đã bắt đầu nẩy mầm nhô lên dọc theo bờ ruộng đen nhánh
phía bên kia cánh đồng.
Trong
những lúc mải mê suy nghĩ, ông lão này thường có thói quen
banh hàm răng giả khấp khểnh lung lay mà nghiến trèo trẹo.
Ngày nào lão cũng tuôn ra cùng những lời chỉ dẫn cho khách
vãn cảnh nghe, nhưng vì cái hàm răng giả của lão càng ngày
người ta càng khó mà hiểu được lão muốn nói gì. Thế
là lão ta tuyệt đối không thèm để ý gì tới những lời
bao nhiêu người khuyên mời, thúc giục lão đi chữa lại hàm
răng. Lão già vừa nhìn cánh đồng vừa lẩm bẩm một mình.
Lão im lặng một lúc và tôi nghe rõ riếng răng lão va chạm
vào nhau kêu lách cách. Thế rồi lão lại lẩm bẩm. Có lẽ
lão càu nhàu vì sự chậm trễ trong việc sửa chữa chiếc
máy báo động phòng hỏa. Khi lắng nghe tiếng thì thầm khó
hiểu của lão, tôi có cảm tưởng lão đang nói với hoặc
hai hàm răng của lão hoặc cái máy báo động phòng hỏa rằng
sửa chữa bây giờ thì cũng quá muộn mất rồi.
Đêm
hôm đó Lão sư phụ có một người khách lạ ít khi thấy
tới Lộc Uyển tự. đó là Hòa thượng Kuwai Zenkai trụ trì
Long Pháp tự ở huyện Fukui, bạn học của Lão sư trong những
ngày còn tu học với nhau trong tăng đường. Vì thượng tọa
Zenkai là bạn thân của Lão sư phụ nên cũng chơi thân với
ba tôi.
Khi
thượng tọa Zenkai tới thì Lão sư phụ đi vắng. Có người
gọi điện thoại báo cho ông biết hiện có một khách quý
đang chờ; ông nói sẽ trở về trong vòng một tiếng đồng
hồ. Hòa thượng Zenkai tới Kyoto và nghỉ chân tại chùa chúng
tôi trong một hai ngày.
Tôi
nhớ trước kia Ba thường vui vẻ kể truyện về Hòa thượng
Zenkai và tôi nhận thấy Ba hết sức kính yêu ông. Vị Hòa
thượng này có dáng vẻ rất đàn ông, cả về dung mạo lẫn
tính tình và điển hình cho các Thiền tăng sừng sỏ. Ông
cao đến một thước tám, da đen sì, lông mày rậm, tiếng
nói nghe như sấm rền.
Khi
một trong những thằng bạn tới bảo tôi rằng Hòa thượng
Zenkai có ý muốn nói chuyện với tôi trong khi chờ đợi Lão
sư phụ trở về, tôi cảm thấy hơi ngần ngại. Tôi sợ rằng
con mắt đơn thuần trong sáng của vị Hòa thượng này sẽ
nhìn thấu kế hoạch của tôi hiện nay đang sắp tiến mau
tới giây phút thực hiện.
Tôi
thấy ông đang ngồi bắt chân chữ ngũ trong căn khách điện
rộng lớn trong căn nhà chính. Ông đang uống rượu mà ông
Phó ti đã nhanh nhẫu mang đến mời ông và ông đang nhấm
nháp một vài cuống rau. Thằng bạn tôi đã đứng hầu rượu
cho đến lúc tôi tới, nhưng bây giờ thì tôi thay thế hắn
ta và ngồi xuống tấm chiếu ngay trước mặt Hòa thượng
theo đúng khuôn phép; tôi bắt đầu rót rượu hầu ông. Tôi
ngồi xoay lưng ra bóng tối của màn mưa thầm lặng. Bởi thế
hoàn toàn Zenkai nhìn thấy hai bối cảnh âm u trước mắt ông
- khuôn mặt tôi và khu vườn đêm tối tăm ướt sũng vì đang
mùa mưa. Tuy nhiên, Hòa thượng Zenkai chẳng phải là người
dễ bị giam hãm trong cảnh này hoặc bất kỳ gì khác. Tuy
là lần đầu chúng tôi gặp nhau, song ông đã chuyện trò một
cách vui vẻ và cởi mở. Hết nhận xét này đến nhận xét
khác: “Trông con giống Ba con quá”. “Con đã lớn khôn rồi
đấy. Ba con lại qua đời rồi, thật buồn quá!”
Hòa
thượng Zenkai có vẻ chất phác thật thà khác với Lão sư
phụ và ông có sức mạnh mà ba tôi chăng bao giờ có được.
Mặt ông sạm nắng, cái mũi hết sức to, những múi thịt
quanh cặp lông mày rậm nhô lên châu đầu vào nhau, bởi thế
khuôn mặt ông trông như thể được nặn theo những mặt nạ
Obeshimi dành cho những vai quỉ dạ xoa trong những vở tuồng
Nô vậy.
Rõ
ràng là khuôn mặt ông không có những nét đều đặn thông
thường. Trông Hòa thượng Zenkai có thừa quá nhiều sức lực.
Sức mạnh này mặc tình phát lộ và phá hoại hết bất kỳ
sự đều đặn nào có thể có. Hai gò má ông nhô cao giống
như tranh vẽ vách núi dốc thẳng của những nghệ sĩ Trung
Hoa trường phái Nam họa.
Tuy
nhiên, trong tiếng nói oang oang như sấm, vị Hòa thượng này
vẫn có giọng dịu dàng vang âm mãi mãi trong lòng tôi. Đó
không phải là thứ dịu dàng thông thường, nhưng là vẻ dịu
dàng của những cái rễ cứng cáp, gân guốc của một thân
cây to lớn mọc bên ngoài thôi và là chỗ trú mưa nắng cho
khách lữ hành. Vẻ dịu dàng của ông không nhẵn mịn; sờ
vào thấy nó gai góc, sù sì. Trong khi đó trò chuyện, tôi cứ
phải canh chừng sợ rằng trong đêm nay, cái đêm của muôn
vàn đêm khác, quyết tâm của tôi sẽ bị cùn nhụt đi vì
va chạm với sự dịu dàng này. Tôi chợt nẩy ý nghi ngờ
rằng Lão sư phụ có thể đã hỏi Hòa thượng Zenkai riêng
về trường hợp tôi; tuy nhiên, tôi nhận thấy khó có thể
là Lão sư phụ đã cho mời Hòa thượng Zenkai lặn lội từ
huyện Fukui tới đây chỉ vì riêng tôi mà thôi. Không, vị
Hòa thượng này chỉ là một khách quý ngẫu nhiên, diệu kỳ,
sắp sửa là nhân chứng của một cuộc phá hoại khủng khiếp.
Cái
nậm rượu bằng sứ trắng đựng độ hơn nửa lít lúc này
đã cạn khô. Tôi theo thường lệ cúi đầu xin phép đi ra,
xuống bếp tìm một nậm khác. Khi trở lại với nậm rượu
hâm nóng, tôi thấy lòng tràn ngập một tình cảm mà từ trước
tới giờ tôi chưa hề biết đến. Chưa một lần nào tôi
thấy có xung động muốn được người khác hiểu mình, nhưng
đến lúc này tôi lại ước mong riêng Hòa thượng Zenkai sẽ
hiểu tôi. Hẳn ông phải nhận thấy rằng trong lúc tôi quì
gối xuống đó trước mặt ông rượu mời ông trong mắt tôi
đã bùng lên một tia sáng chân thành mà chỉ trước đó một
lát vẫn không hề có.
“Thưa
thày, Thày nghĩ gì về con?” tôi nói.
“Hừm,
Thày cho rằng con trông giống một sinh viên ngoan ngoãn, chăm
chỉ học hành. Dĩ nhiên là con đã lén lút đi vào con đường
khoái lạc nào chưa thì Thày chẳng biết. Nhưng, ấy quên mất
rồi. Bây giờ không giống như ngày xưa có phải không? Thày
không nghĩ ngày nay tụi thanh niên các con lại có đủ tiền
để sống trác táng. Khi thày và ba con cùng thày con ở đây
còn trẻ, bọn ta hay đâm đầu vào đủ mọi trò xấu xa.”
“Thưa
Thày, trong con có giống một sinh viên tầm thường không ạ?”
tôi nói.
“Giống
chứ,” Hòa thượng Zenkai trả lời, “và đó là cái dáng
vẻ tốt nhất. Trông có vẻ tầm thường lại là điều hay
hơn hết cả. Thiên hạ sẽ không còn nghi ngờ gì mình hết,
thấy không?”
Hòa
thượng Zenkai không hề có vẻ ham chuộng hư vinh. Những tăng
sĩ có địa vị cao luôn luôn bị yêu cầu phê phán mọi thứ
từ nhân vật tới hội họa và các món đồ cổ thường có
cái tật là không bao giờ đưa ra được một lời đoán định
dứt khoát về bất kỳ cái gì, vì sợ rằng sau này nếu tỏ
ra lầm lẫn sẽ bị thiên hạ chê cười. Song le, lại có một
loại Thiền tăng sẽ tức khắc đưa ra một nhận định độc
đoán về bất cứ việc gì đang được bàn cãi, nhưng họ
sẽ cẩn thận chọn lựa câu trả lời sao cho có thể hiểu
theo hai nghĩa hoàn toàn trái ngược với nhau. Hòa thượng Zenkai
không phải là người như thế. Tôi biết rõ là nhìn thấy
và cảm thấy làm sao thì ông nói làm vậy. Ông không đòi
hỏi để tìm kiếm một ý nghĩa đặc biệt nào trong những
sự vật phản ánh trong đôi mắt đơn thuần, sắc sảo của
ông. Đối với Hòa thượng thì có nghĩa hay không cũng không
thành vấn đề và hơn hẳn những cái khác, điều đã khiến
tôi thấy Hòa thượng có vẻ vĩ đại như thế ấy và khi
ngắm nhìn một vật nào đó - như khi nhìn tôi chẳng hạn
- ông không hề cố ý làm ra vẻ khác người bằng cách nhìn
đời theo một lối đặc biệt của riêng mình, trái lại luôn
luôn có một lối nhìn y hệt người khác. Đối với vị Hòa
thượng này thế giới chủ quan tự nó chẳng có ý nghĩa gì
hết. Tôi hiểu điều ông cố gắng nói cho tôi nghe và dần
dần tôi bắt đầu cảm thấy dễ chịu. Chừng nào người
khác còn thấy tôi có vẻ tầm thường thì tôi còn tầm thường
thực sự, và dù cho tôi có bạo dạn thực hiện một hành
vi dị thường đến đâu đi nữa tôi cũng cứ giữ được
cái vẻ tầm thường này giống như hạt gạo được sàng
qua một cái sàng vậy.
Chẳng
cần chút chủ tâm cố gắng nào tôi đã đi đến chỗ tưởng
tượng ra chính mình là một lùm cây nhỏ bé, thầm lặng đứng
sững trước mặt Hòa thượng.
“Bạch
Thày,” tôi nói,”có lúc nào cũng hành động theo đường
lối mà thiên hạ chờ đợi nơi mình hay không?”
“Làm
vậy không lúc nào cũng dễ dàng đâu. Tuy nhiên, bắt đầu
hành động theo một đường lối khác, thì người đời cũng
lại sẽ thấy thế là chẳng có gì là lạ lùng hết. Người
đời dễ quên lắm, con ạ.”
“Bạch
Thày,” tôi hỏi, “giữa con người của con dưới mắt người
đời và con người của con dưới mắt chính con, con người
nào thực sự vững bền?”
“Chẳng
mấy chốc cả hai sẽ cùng đi tới chỗ trừ tuyệt. Dù cho
con có cố gắng tự mình thuyết phục là con người của mình
bền vững đến đâu đi chăng nữa, cái con người của con
chẳng chóng thì chầy cũng sẽ phải trừ tuyệt. Trong khi con
tầu đang chạy thì hành khách đứng im một chỗ; nhưng khi
con tầu ngừng lại thì hành khách lại bắt đầu đi từ điểm
ấy. Chạy mãi cũng có lúc chấm dứt rồi ngừng mãi rồi
cũng có lúc chấm dứt. Cái chết mới là sự nghỉ ngơi tối
hậu, song ngay cả sự nghỉ ngơi tối hậu ấy, mình cũng không
thể biết là sẽ tiếp tục trong bao lâu nữa”.
“Xin
thầy nhìn vào trong con người của con,” cuối cùng tôi nói,
“con không phải hạng người như người đời nghĩ đâu.
Xin Thày hãy nhìn vào bản tâm của con.”
Hòa
thượng đưa chén rượu lên miệng và nhìn tôi chằm chằm.
Một sự trầm mặc đè nặng lên tôi giống như cái mái ngói
Lộc Uyển tự đen ngòm to lớn, ướt sũng nước mưa. Tôi
rùng mình run bắn người lên. Thế rồi bất thình lình Hòa
thượng nói bằng một giọng cười hết sức rõ ràng: “Chẳng
cần phải nhìn vào lòng con làm gì. Chỉ cần nhìn vào mặt
con là người ta có thể thấy hết.”
Nghe
lời nói của Hòa thượng tôi cảm thấy mình đã hoàn toàn
được hiểu thấu tới tận đáy lòng. Lần đầu tiên trong
đời tôi trở nên hoàn toàn trống rỗng. Giống như nước
thẩm nhập vào sự trống rỗng này, sự hăng hái thực hiện
cái hành vi đó lại bắt đầu vọt lên mạnh mẽ.
Lão
sư phụ trở về chùa. Lúc đó gần chín giờ tối. Như thường
lệ, một nhóm bốn đứa sẽ đóng vai cảnh bị đi tuần lần
cuối. Chẳng có vẻ gì là khác thường cả. Lão sư phụ uống
rượu với lão Hòa thượng Zenkai. Quá nữa đêm khoảng nửa
giờ một trong những thằng bạn tôi đến dẫn vị khách về
phòng riêng của ông. Sau đó Lão sư phụ đi tắm - hoặc “khai
dục” theo lối nói trong chùa - và vào lúc một giờ sáng
hôm sau, khi phiên canh đêm đã chấm dứt, ngôi chùa hoàn toàn
yên tịnh. Bên ngoài mưa vẫn lặng lẽ rơi.
Tôi
trải tấm mền trên sàn nhà. Tôi ngồi đó một mình, trầm
tư ngắm màn đêm phủ kín ngôi chùa. Bóng đêm mỗi lúc một
dày đặc hơn, nặng nề hơn. Những hàng cột lớn và khung
cửa gỗ của căn phòng nhỏ bé nơi tôi đang ngồi trông có
vẻ đang chịu đựng một cái đêm xưa cũ này một cách trang
nghiêm, khắc khổ.
Tôi
thì thầm lắp bắp trong miệng. Như thường lệ trên môi tôi
chỉ có một tiếng gọn thon lỏn làm tôi bực tức vô cùng;
chẳng khác gì khi mình thọc tay vào một cái bị tìm mãi một
thứ mà không thấy lại cứ vớ mãi một thứ khác mà mình
không muốn tìm. Trọng lượng và nồng độ của nội giới
tôi thật giống trọng lượng và nồng độ của đêm nay,
và lời nói của tôi kêu cọt kẹt giống như một thùng nước
nặng đang được kéo lên từ một cái giếng sâu của đêm
tối.
Bây
giờ chẳng còn bao lâu nữa, tôi nghĩ; mình chỉ cần làm sao
kiên tâm thêm một chút nữa thôi. Chiếc chìa khóa hoen rỉ
mở tấm cửa nằm giữa nội giới và ngoại giới của tôi
sẽ xoay yên ả trong ổ khóa. Nội giới của tôi sẽ được
quạt mát khi có một làn gió tự do nhẹ thổi giữa nó và
ngoại giới. Chiếc thùng múc nước giếng sẽ được kéo
lên, nhẹ nhàng đưa đẩy trong gió và tất cả sẽ mở rộng
ra trước tôi trong hình dạng một cánh đồng rộng lớn, bao
la và mật thất sẽ bị hủy diệt… Bây giờ nó ở ngay trước
mắt tôi và tôi sắp sửa vươn tay với lấy nó…
Tôi
thấy lòng tràn ngập hạnh phúc khi ngồi đó trong bóng tối
khoảng một tiếng đồng hồ. Tôi cảm thấy suốt đời hưa
bao giờ tôi được sung sướng đến như thế. Đột nhiên
tôi đứng lên rời bỏ bóng tối.
Tôi
lén lút mò mẫn đi về phía sau Đại Thư Viện và xỏ chân
vào đôi giày cỏ mà tôi đã dụng ý xếp sẵn từ trước.
Thế rồi dưới làn mưa lất phất, tôi cất bước dọc theo
rãnh nước đằng sau Lộc Uyển tự hướng về phía tác sự
trường. Trong tác sự trường không có gỗ xẻ rồi, song sàn
nhà thì đầy những mạt cưa mà mùi nước mưa ướt sũng
còn phảng phất khắp gian phòng. Phòng làm việc cũng còn được
dùng để chứa rơm rạ. Người ta thường mua một lúc bốn
mươi bó rơm loại này, nhưng đêm ấy trong đống rơm cũ chỉ
còn sót có ba bó thôi.
Tôi
ôm ba bó đem về men theo bờ ruộng. Nhà bếp hoàn toàn im lặng.
Tôi đi vòng vèo theo góc nhà bếp và tới phía sau cái liêu
của ông Chấp sự. Bất thình lình ánh đèn bật sáng trong
khung cửa sổ nhà xí. Tôi ngồi thụp xuống.
Tôi
nghe tiếng người khạc nhổ trong nhà xí. Nghe giống tiếng
như ông Phó ti. Rồi tôi lại nghe thấy ông đi tiểu. Nghe như
kéo dài không bao giờ dứt.
Tôi
sợ là rơm có thể bị mưa ướt hết. Trong lúc ngồi thụp
xuống tôi ôm chặt mấy bó rơm trong lòng cho rơm khỏi ướt.
Mùi hôi từ nhà xí xông ra lại bị nước mưa làm cho thêm
nồng nặc và lúc này nặng nề bám trên những cành cây dương
xỉ. Tiếng nước tiểu trong nhà đã ngưng bặt, và rồi tôi
nghe tiếng chân người va vào vách gỗ. Hiển nhiên là ông
Phó ti vẫn chưa hoàn toàn tỉnh rượu nên bước đi hãy còn
chệch choạng. Ánh đèn trong khung cửa sổ tắt ngúm. Tôi ôm
bó rơm lên và đi về phía sau Đại Thư Viện.
Tài
sản của tôi vỏn vẹn chỉ gồm có một cái giỏ mây trong
đó tôi để những đồ riêng và một cái va ly nhỏ cũ kỹ.
Tôi định tâm đốt hết cả mấy thứ này. Lúc sẩm tối
tôi đã gói hết sổ sách, áo quần cùng nhiều thứ lặt vặt
rẻ tiền khác trong hai thứ này. Tôi hy vọng người ta sẽ
nhận thấy là tôi thu xếp tất cả cận thận đến đâu.
Những thứ như bộ cọc màn rất có thể còn gây nên tiếng
động nếu tôi vác theo, và những đồ vật không bắt lửa
nữa như cái đựng tàn thuốc, cái cốc và lọ mực - những
thứ sẽ để lại làm chứng cho hành vi của tôi - tôi đã
gói kẹp vào giữa mấy cái đệm ngồi và cuốn trong một
tấm khăn tắm. Tôi để những thứ này riêng ra một chỗ.
Thêm vào đó, tôi phải đốt một cái nệm và hai cái mền.
Tôi chuyển tất cả những đống hành lý cồng kềnh này,
từng cái một, tới phía sau Đại Thư Viện, rồi đem chất
thành đống trên mặt đất. Sau đó tôi đi vào Kim Các để
nhấc cánh cửa gỗ mặt bắc ra theo cách tôi đã nói trước
đây.
Những
cái đanh, hết cái này đến cái khác, bật ra dễ dàng như
thể chúng đã được đóng vào một cái giường bằng đất
thó. Tôi đưa cả người để đỡ cánh cửa gỗ xiêu nghiêng,
mặt phiến gỗ ướt át mục nát phồng lên nhẹ nhàng cọ
nhẹ vào má tôi. Cánh cửa không đến nổi nặng như tôi tưởng.
Sau khi đã nhấc được cánh cửa ra, tôi đặt ngang xuống
đất. Bây giờ tôi có thể nhìn vào bên trong Kim Các. Bên
trong tối mịt mù.
Cánh
cửa rộng vừa đủ để mình có thể nghiêng người mà lách
vào trong. Tôi đắm mình vào bóng tối mịt mù của Kim Các.
Thế rồi một khuôn mặt lạ kỳ chợt xuất hiện làm tôi
sợ run bắn cả người. Vì tôi cầm một que diêm dang cháy,
nên khuôn mặt tôi phản chiếu trên tủ kính đựng mô hình
Kim Các.
Lúc
này không hẳn là lúc làm những việc như thế, nhưng bây
giờ tôi dừng chân đứng lại và trừng trừng nhìn mô hình
Kim Các bên trong tủ kính. Ngôi Kim Các nhỏ bé này đã được
ánh sáng que diêm tôi đang cầm chiếu sáng rực lên, hình ảnh
nó rung rinh và cái khung gỗ xinh đẹp của nó khom mình đứng
đó đầy vẻ bất an, khó chịu. Rồi bất chợt nó bị bóng
tối nuốt chửng. Que diêm tôi cầm đã tắt ngúm.
Kể
cũng lạ lùng thực, cái đốm lửa đo đỏ ở cuối que diêm
đã làm tôi hồi hộp, luống cuống và tôi đã cẩn thận
giẫm chân dập tắt nó đi, y như cái canh chàng sinh viên tôi
đã từng nhìn thấy ở chùa Diệu Tâm hôm nọ. Tôi lại đánh
que diêm khác nặng nề đó ra tận bờ ao phía đông Kim Các.
Từ đây tôi có thể nhìn thấy mỏm Dạ Bạc thạch ở giữa
ao ngay trước mặt. Tôi đứng dưới một khóm thông khó khăn
lắm mới tránh khỏi bị mưa ướt.
Bầu
trời đêm phản ánh làm cho mặt ao có một màu trắng đục
mờ. Đám cây súng dầy rậm làm cho mặt ao trông như thể
mặt đất liền và chỉ nhờ thỉnh thoảng có một vài khoảng
trống người ta mới biết là có nước dưới lớp màn dầy
đặc ấy. Chỗ tôi đứng mưa không rơi nặng hột lắm để
có thể tạo thành những gợn sóng lăn tăn. Mặt ao bốc hơi
dưới làn mưa và có vẻ hình như trải dài về phía xa xa
tới vô tận. Không khí đầy hơi ẩm.
Tôi
nhặt hòn sỏi ném xuống mặt nước. Hòn sỏi rơi đánh tõm
một cái làm cho tôi tưởng như không khí quanh tôi hình như
đã rạn nứt. Tôi khom mình ngồi trong bóng tối một lúc,
nín hơi hoàn toàn, hy vọng là nhìn sự im lặng của mình tôi
có thể đánh tan cái tiếng động mà tôi đã vô tình tạo
nên.
Tôi
nhúng tay xuống nước, những cọng hoa súng âm ấm bám chặt
vào ngón tay tôi. Thoạt tiên tôi buông cái cọc màn khỏi những
ngón tay ướt át của mình cho tuột xuống nước. Sau đó tôi
nhận chìm cái đựng tàn thuốc xuống ao làm như thể đang
cọ rửa. Tôi thả cái cốc và lọ mực xuống ao cũng theo
cách đó. Như thế là đã lo liệu xong xuôi cho tất cả những
thứ gì cần phải ném xuống nước. Bên tôi chỉ còn lại
cái nệm ngồi và tấm khăn ăn trong đó tôi gói những vật
này. Bây giờ chỉ còn có việc đem hai vật này đến trước
pho tượng Yoshimitsu và sau hết phóng hỏa đốt chùa.
Đúng
như tôi đoán trước, vào chính lúc này bỗng dưng tôi chợt
thèm ăn lạ lùng; nhưng chẳng những không làm cho tôi dễ
chịu, cơn đói lại còn khiến tôi cảm thấy như đã bị
phản bội. Tôi vẫn còn mang theo cái bánh mì ngọt và những
miếng bánh đậu xanh mà tôi tôi đã ăn dở từ hôm trước.
Tôi lau hai bàn tay ướt vào gấu áo chẽn rồi lấy bánh ra
ăn ngấu ăn nghiến. Chẳng thấy mùi vị gì cả. Dạ dầy
tôi gào thét đòi ăn và chẳng để ý tí gì tới mùi vị.
Tôi còn có thể chăm chú nhét lấy nhét để từng bánh ấy
vào miệng kể cũng lạ thực. Tim tôi đập thình thịch. Khi
nuốt xong chỗ bánh, tôi vò tay vốc nước ao mà uống.
Chỉ
còn chút xíu nữa tôi bước vào môi trường hành động. Tôi
đã chuẩn bị xong xuôi để hành động, và bây giờ tôi đang
ở mức cuối cùng của những sự chuẩn bị ấy. Bây giờ
chỉ còn có một mỗi việc là lao mình vào hành động thực
sự. Chỉ cần cố gắng chút xíu thôi là tôi có thể đạt
tới hành động ấy rồi.
Không
một lúc nào tôi lại có thể mộng tưởng là một cái vực
sâu rộng đủ để nuốt chửng đời tôi lúc này đang mở
rộng ra giữa tôi và điều tôi đã dự định làm.
Vì
vào lúc ấy tôi ngắm nhìn Kim Các Tự để vĩnh biệt nó lần
cuối. Ngôi chùa đường nét không rõ rệt mịt mờ trong bóng
tối đêm mưa. Nó đứng đó trong màn đêm dầy đặc như tthể
chính nó là kết tinh của đêm sâu. Cố gắng trợn mắt mà
nhìn tôi có thể nhận ra Cứu Cánh đính trên tầng ba, nơi
toàn bộ tòa kiến trúc bất chợt thót nhỏ lại và cả rừng
cột mảnh mai vây quanh Triều Âm động và Pháp Thủy viện.
Tuy vậy, những bộ phận bé nhỏ khác nhau của ngôi chùa trong
quá khứ đã từng làm tôi say mê rung động biết bao nhiêu
đến lúc này đã tan biến vào bóng tối một màu mờ mịt.
Tuy
nhiên, mỗi lúc tôi lại thấy những hồi niệm về cái đẹp
một mạnh mẽ hơn, nên chính cái màn tối này đã bắt đầu
tạo nên một bối cảnh mà trên đó tôi có thể mặc tình
gợi ra đủ mọi ảo ảnh. Toàn bộ những ý nghĩ của tôi
về cái đẹp ẩn núp bên trong hình thái u ám, lom khom này.
Nhờ sức mạnh của hồi tưởng, những nét đẹp khác nhau
bắt đầu lần lượt lấp lánh nhô khỏi bóng tối bao quanh;
rồi lấp lánh mỗi lúc một lan rộng hơn cho đến khi nhìn
dần dà toàn bộ ngôi chùa nhô lên trước mắt tôi dưới
chính cái ánh sáng kỳ lạ của chính thời gian chẳng ra ban
ngày mà cũng chẳng ra ban đêm. Từ trước đến giờ chưa
lúc nào Kim Các Tự lại hiện ra trước mắt tôi dưới một
dáng vẻ hoàn toàn như thế, chưa lúc nào tôi nom thấy nó
lấp lánh từng chi tiết cho đến thế. Thật như thể tôi
đã vớ một thị lực của một người mù. Ánh sáng từ chính
ngôi chùa phát ra đã làm cho tòa nhà trở thành trong suốt
và đang lúc đứng bên bờ ao tôi có thể từ bên ngoài nhìn
thấy thực rõ những bức tranh trên trần nhà vẽ các vì tiên
tấu nhạc bên trong Triều Âm động và những phần còn lại
của phiến lá vàng xưa cũ trên tường Cứu Cánh đính. Phần
bên ngoài xinh xinh của Kim Các Tự đã hòa lẫn với phần
bên trong. Đưa mắt thu lấy toàn cảnh, tôi có thể thấy rõ
đường nét sáng tỏ của chủ đề cấu tạo và sự cụ thể
hóa chủ đề ấy trong các cố gắng khăng khăng lặp đi lặp
lại, trong lối trang trí kỳ khu, trong hiệu quả của những
sự đối chiếu và đối xứng. Hai tầng dưới, Pháp Thủy
viện và Triều Âm động cùng một kích thước với nhau, và
tuy có khác nhau đôi chút song cả hai cùng có mái hiên sâu
thẳm phủ che thực giống như hai giấc mộng sóng đôi, như
những kỹ niệm của hai niềm khoái lạc chập chùng.
Hai
tầng dưới, khi tầng này vừa muốn chìm trong lãng quên thì
tầng kia liền nhẹ nhàng nhắc nhở sự hiện hữu của mình
khiến cho mộng mơ trở thành thực tại và khoái lạc hiện
hình nên kiến trúc.
Nhưng
rồi hình dáng chợt thót lại của Cứu Cánh đính ở tầng
ba, ngất ngưỡng trên hai tầng dưới giống nhau như đúc này,
lại làm sụp đổ ngay sự hiện thực vừa một lần rõ rệt
và dẫn dắt nó tuân theo nền triết học cao kỳ của một
thời đại vàng son rực rỡ. Và chót vót trên mái gỗ, con
chim phượng hoàng bằng đồng thau vàng óng đang quay mặt nhìn
đêm dài tăm tối âm u.
Tuy
vậy, nhà kiến trúc vẫn chưa thỏa mãn. Ở phía tây Pháp
Thủy viện ông ta còn xây thêm Thấu Thanh nhỏ xíu nhô ra bên
ngoài như một điếu điện. Thật như thể nhà kiến trúc
đã đem hết sức mạnh thẩm mỹ của mình để đập nát
nét cân xứng của tòa nhà. Vai trò của Thấu Thanh trong toàn
thể kiến trúc này là một sự phản kháng siêu hình. Tuy rõ
ràng là nó không vươn ra quá xa trên mặt ao, song trông như
thể nó đang vĩnh viễn chạy đi khỏi trung tâm của Kim Các
Tự. Thấu Thanh giống như một con chim cất cánh từ phần
chính của tòa kiến trúc bay vút lên cao, giống như một con
chim chỉ một lát trước đây đã giang rộng đôi cánh và
đang bay thoát về phía mặt ao, về phía tất cả những gì
thuộc về hiện thế. Ý nghĩa của Thấu Thanh là bắc một
nhịp cầu giữa những trật tự quy định thế giới và những
sự vật hoàn toàn không có quy định gì hết, như quan năng
hoàn toàn thiếu trật tự. Đúng thế. Linh khí của Kim Các
bắt đầu từ Thấu Thanh này, giống hệt một nhịp cầu đã
bị cắt đứt ở chính giữa; với nó tạo thành một lầu
gác ba tầng, rồi một lần nữa lại bay đi trốn khỏi cầu
này. Vì lẽ sức mạnh bao la của quan năng từng lấp lánh
trên mặt ao này là nguồn gốc của cái sức mạnh tàng ẩn
đã cấu tạo thành Kim Các; nhưng sau khi đã được xếp đặt
vào trật tự và ngọn tháp ba tầng xinh đẹp đã thành hình,
thì sức mạnh này chỉ còn một cách là men theo Thấu Thanh
mà trốn trở lại mặt ao, trở lại vẻ óng ả vô hạn của
quan năng, trở lại cố hương của nó. Trong quá khứ mỗi
lần nhìn sương mù buổi sáng hoặc sương mù buổi chiều
vẫn vơ trên Kính Triều trì là tôi lại bị vẫn cái ý nghĩ
này ám ảnh - nghĩ rằng đây là nơi trú ngụ của cái sức
mạnh quan năng tràn trề khởi đầu xây nên Kim Các.
Và
cái đẹp đã bao gồm những tranh giành, những mâu thuẫn cùng
những điều bất hòa ở các bộ phận của tòa nhà này -
và hơn thế nữa, chính cái đẹp đã ngự trị lên tất cả!
Kim Các đã được cây cất bằng bụi vàng trong đem tối dày
đặc, âm u giống hệt như một bài kinh đã được tỉ mỉ
khắc từng chữ một bằng chất bụi vàng lên những trang
sách xanh đậm. Tuy thế, Tôi không rõ có phải cái đẹp một
mặt đã có tính cách đồng nhất với chính Kim Các hay không,
hoặc mặt khác có tính cách đồng chất với đêm tối hư
vô đang bao quanh ngôi chùa hay không. Có lẽ cái đẹp là cả
hai thứ đó. Nó vừa là bộ phận nhỏ bé vừa là toàn thể
tòa kiến trúc, vừa là Kim Các vừa là đêm tối bao trùm Kim
Các. Nghĩ đến đây tôi cảm thấy vẻ đẹp không thể giải
thích của Kim Các, trong quá khứ đã từng day dứt, hành hạ
tôi quá nhiều, đang được giải thích một nửa rồi. Nếu
mình quan sát vẻ đẹp của từng bộ phận nhỏ bé - những
cây cột gỗ, những hàng song sắt, những cửa chớp, những
bản đường hộ, những hoa đầu song, cái mái làm theo lối
Bảo hình - Pháp Thủy viện, Triều âm động, Cứu Cánh đính,
Thấu Thanh - bóng ngôi chùa soi trên mặt ao, những cây thông,
phải, ngay cả chỗ đậu thuyền nữa - cái đẹp chưa bao giờ
có đủ trong bất kỳ một bộ phận nhỏ bé nào, vì mỗi
bộ phận nhỏ bé lại gợi ra vẻ đẹp của mỗi bộ phận
nhỏ bé kế tiếp. Chính vẻ đẹp của mỗi bộ phận nhỏ
bé tự nó đã luôn luôn chứa đầy sự bất an. Nó mơ đến
sự toàn bích nhưng nó không hề biết đến thế nào là toàn
bích và cứ luôn luôn bị vẻ đẹp tiếp theo - cái vẻ đẹp
chưa ai hay biết - lôi cuốn. Điềm báo này gắn liền với
điềm báo khác, và chính như thế những điềm báo khác nhau
của một vẻ đẹp không có thực đã làm chủ đề sâu kín
cho Kim Các Tự. Những dự triệu như thế là điềm báo của
hư vô. Hư vô là cấu tạo thực sự của vẻ đẹp này. Do
đó từ sự chưa hoàn toàn bị nằm trong những bổn phận
nhỏ bé khác nhau của cái đẹp này dự triệu của hư vô
tự động xuất hiện và tòa kiến trúc tiêm tế này, kiến
tạo bằng những tấm gỗ mảnh mai, đã run rẩy báo trước
hư vô, giống như một chuỗi hạt ngọc đeo trên cổ rung rinh
trong gió vậy.
Tuy
nhiên, chưa một lúc nào vẻ đẹp của Kim Các chấm dứt cả!
Vẻ đẹp của nó luôn luôn vang âm ở một chỗ nào đó. Giống
như một người nhăn nhó vì ù tai, dù ở nơi nào, bất cứ
lúc nào tôi cũng nghe thấy âm hưởng vẻ đẹp của Kim Các
và tôi đã thấy quen tai. Nếu mình so sánh một vẻ đẹp này
với âm thanh thì tòa kiến trúc giống như một quả chuông
nhỏ bé bằng vàng đã ngân vang đến năm thế kỷ rưỡi rồi,
hoặc giả giống như một cây đàn nhỏ. Nhưng nếu âm thanh
ấy mà tắt đi thì sao?
Tôi
thấy mệt mỏi quá chừng.
Bên
trong Kim Các trong bóng tối, tôi vẫn có thể nhìn thấy rõ
ràng Kim Các trong mộng ảo của tôi. Nó vẫn còn chưa hết
lấp lánh. Hàng song sắt của Pháp Thủy viện ở bên bờ nước
lui lại một cách hết sức khiêm cung, trong khi trên mái hiên,
hàng song sắt của Triều Âm động có các đòn tay theo lối
Thiên Trúc chống đỡ mơ màng ưỡn hẳn ngực ra về phía
mặt ao. Phản ánh trên mặt ao, các mái hiên rọi sáng lấp
lánh, và mặt nước rung rinh đã tự rập rờn phản chiếu
lên các mái hiên ấy. Khi Kim Các phản ánh mặt trời chiều
và rạng rỡ dưới ánh trăng thì chính ánh sáng của mặt
nước đã làm cho toàn thể tòa kiến trúc này trông giống
như đang bí mật bồng bềnh trôi xa và đang vỗ cánh bay. Do
phản ánh cả mặt nước đã làm cho toàn thể tòa kiến trúc
này trông như đang bí mật bồng bềnh trôi xa và đang vỗ
cánh bay. Do phản ánh của mặt nước rập rờn, những sợi
dây kiên cố buộc giàng hình thái Kim Các đã bị nới lỏng
ra, và vào những lúc đó Kim Các hình như đã được kiến
tạo bằng những vật liệu giống như gió, nước và lửa
vĩnh viễn giao động.
Vẻ
đẹp này thật không có gì sánh kịp. Và bây giờ thì tôi
hiểu vì đâu mà tôi thấy mỏi mệt gớm ghê đến thế. Vẻ
đẹp ấy đang chớp lấy cơ hội cuối cùng để ra sức nắm
lấy tôi và trói buộc tôi bằng sự bất lực đã biết bao
lần trói tay tôi trong quá khứ. Tay chân tôi co rút hẳn lại.
Một phút trước đây, chỉ còn một bước nữa là tôi đi
tới cái hành vi ấy, nhưng bây giờ một lần nữa tôi đã
thụt lùi lại mãi tít đàng sau.
“Mình
đã chuẩn bị hết rồi,” tôi thì thầm tự nhủ, “và chỉ
còn một bước nữa là đạt tới hành động. Sau khi đã mơ
tưởng hành động trọn vẹn đến như thế, sau khi đã sống
giấc mơ ấy trọn vẹn đến như thế, thì thực ra liệu có
còn cần phải thực hiện hành vi ấy nữa không? Tới mức
độ này liệu một hành vi như thế có lẽ sẽ hoàn toàn vô
ích hay chăng?”
“Có
lẽ Kashiwagi đã nói đúng khi bảo rằng điều làm thay đổi
thế giới không phải là hành động mà là nhận thức. Cùng
các loại nhận thức đã cố gắng mô phỏng hành động tới
mức tối đa. Nhận thức của tôi thuộc về loại này. Và
đó là loại nhận thức đã làm cho hành động thực sự trở
nên vô hiệu. Vậy thì, phải chăng chính cái nhận thức tối
hậu là tôi chẳng cần phải thực sự hành động đã là
lý do tất cả những chuẩn bị vô cùng chu đáo của tôi.
“Đúng,
đúng thế. Hành động bây giờ chỉ là một việc thừa thải.
Nó đã nhô ra khỏi cuộc sống, nó đã nhô ra khỏi ý chí
của tôi và lúc này đang đứng trước mặt tôi, giống như
một bộ máy bằng thép tách rời, giá lạnh chờ lúc bắt
đầu chạy máy. Xét ra như thế thì không có một chút giàng
buộc nào giữa tôi và hành động của tôi. Cho tới điểm
này từ trước đến nay Tôi vẫn còn là Tôi, từ đây trở
đi Tôi không còn là Tôi nữa. Làm sao tôi lại dám không còn
là tôi nữa nhỉ?”
Tôi
ngã người vào gốc cây thông. Lớp vỏ cây ướt lạnh làm
tôi say sưa, ngây ngất. Tôi thấy cảm giác này. Sự mát lạnh
này chính là tôi. Thế giới đã ngừng lại nguyên hình dạng;
chẳng bao giờ còn có một thèm khát nào nữa và ở chính
tôi cũng thỏa mãn hoàn toàn.
Tôi
nghĩ mình phải làm thế nào đối với sự mỏi mệt gớm
ghê này? Dầu sao tôi cũng cảm thấy gây gấy trong người
và lừ đừ mệt mỏi, hai tay tôi chẳng buồn cử động theo
ý tôi nữa. Chắc chắn là tôi ốm mất rồi.
Kim
Các hãy còn đang lấp lánh trước mắt tôi giống như cảnh
sắc của Nhật Tưởng Quan mà Shuntokumaru đã có lần nhìn
thấy. Trong màn tối âm u của cặp mắt mù Shuntokumaru đã
nhìn thấy mặt trời lặn nô đùa trên mặt biển Namba. Ông
đã nhìn thấy Awagi Ishima, Suma Akashi và cả biển Kii nữa phản
chiếu ánh tịch dương dưới một bầu trời không mây.
Toàn
thân tôi hình như đã tê liệt và nước mắt luôn tuôn trào
mãi mãi không thôi. Dù cho có ngồi mãi đấy đến sáng và
bị người ta phát hiện đi nữa tôi cũng chẳng cần. Tôi
sẽ không nói lấy một lời để bào chữa.
Cho
đến lúc này tôi đã kể lể dài dòng về trí nhớ kém cỏi
của tôi ra làm sao từ lúc tôi còn thơ ấu, tuy nhiên tôi cũng
cần nói rõ rằng một ký ức đột nhiên sống lại thường
chứa đựng một sức mạnh khởi tử hồi sinh hết sức mạnh
mẽ. Không phải là quá khứ mà thôi đâu. Có những ký ức
về quá khứ lại có những lò so bằng thép rất mạnh, và
khi chúng ta, những kẻ đang sống trong hiện tại, sờ mó vào
những lò xo ấy thì bất thình lình chúng bắn vọt ra rồi
hất tung chúng ta về tương lai.
Trong
khi thân xác tôi hình như tê dại thì tâm trí tôi đang mò
mẫm ở nơi nào đó bên trong ký ức của mình. Một vài tiếng
bồng bềnh nổi lên trên mặt rồi lại biến mất. Tôi có
vẻ như đã với tới chúng bằng đôi tay của tâm hồn, nhưng
rồi một lần nữa chúng lại lẫn trốn đâu mất. Những
tiếng ấy đang gọi tôi. Chúng đang tìm cách tiến tới gần
tôi để cổ vũ cho tôi.
“Hãy
nhìn đằng sau, hãy nhìn ra ngoài và nếu có bắt gặp thì
mi hãy giết ngay.”
Đúng.
Câu đầu tiên nghe giống như thế. Đoạn văn danh tiếng trong
một tiết của cuốn Lâm Tế Duyên Thị Chúng. Rồi những
tiếng còn lại cuồn cuộn dâng lên: “Gặp đức Phật, giết
phứt Phật đi! Gặp ông bà, giết phăng ông bà đi! Gặp La
Hán, giết béng La Hán đi! Gặp cha mẹ, giết quách cha mẹ
đi! Gặp thân quyến, giết tuốt thân quyến đi! Chỉ khi nào
làm được như thế, người mới mong đạt được giải thoát.
Chỉ khi nào làm được như thế, người mới mong thoát khỏi
những câu thúc của sự vật và mới được thung dung tự
tại.”
Những
lời nói này đã xô đẩy tôi thoát khỏi sự bất lực mà
tôi đã rơi vào. Bất chợt toàn thân tôi tăng thêm sức mạnh.
Một phần tâm hồn tôi vẫn còn nhắc nhủ tôi rằng bây giờ
mà làm việc ấy thì vô ích quá rồi; tuy nhiên, cái sức mạnh
tôi mới tìm thấy lại không hề sợ vô ích nên tôi phải
làm cho xong việc ấy.
Tôi
cuốn chặt tấm khăn tắm trải bên cạnh tôi rồi kẹp vào
nách cùng với chiếc gối. Thế là tôi đứng dậy. Tôi nhìn
về phía Kim Các. Ngôi chùa lấp lánh trong mộng ảo của tôi
đã bắt đầu nhạt mầu. Bóng tối đang dần dần nuốt chửng
hàng song sắt, và hàng cột mảnh mai cũng không còn sáng sủa
rõ ràng. Ánh sáng tan chìm trên mặt nước và phản ảnh của
nó dưới mái hiên cũng tan biến đi rồi. Chẳng mấy chốc
mọi chi tiết đều chìm ngập trong màn đêm tối tăm và Kim
Các không để lại gì ngoại trừ một đường nét mịt mờ,
mơ hồ.
Tôi
chạy. Tôi chạy quanh hướng bắc Kim Các. Chạy đã quen nên
chân tôi không còn vấp ngã nữa. Màn tối cứ mở rộng mãi
trước mắt tôi và chỉ đường cho tôi.
Từ
bên bờ Thấu Thanh tôi nhẩy sang Kim Các qua cánh cửa bản
lề ở cổng chính phía tây mà tôi đã bỏ ngỏ. Tôi ném chiếc
gối và tấm vải vào vào cái đống tôi đã sửa soạn từ
trước.
Tim
tôi đập rộn rã và hai bàn tay ướt át của tôi đang run
rẩy. Hơn nữa, bao diêm đã ướt sũng. Que diêm thứ nhất
không cháy. Que diêm thứ hai sắp cháy thì lại gẫy. Que diêm
thứ ba bùng cháy và trong lúc tôi giơ tay che gió thì nó rọi
sáng những kẻ tay tôi.
Sau
đấy tôi phải tìm những bó rơm. Bởi vì, mặc dù chính tay
tôi đã lôi ba bó rơm ra đây và đặt chúng ở ba nơi khác
nhau, nhưng tôi đã quên bẳng đi mất không nhớ đã để ở
những nơi nào. Đến lúc tôi tìm thấy những bó rơm đó thì
que diêm đã tắt ngóm. Tôi cúi khom gần chỗ các bó rơm và
lần này bật hai que diêm liền một lúc.
Ngọn
lửa vẽ nên những hình bóng phức tạp của các bó rơm; và
trong khi tiết ra cái màu sắc rực rỡ chỉ thấy ở những
miền hoang dã, ngọn lửa đã lan rộng bốn phía. Trong khi khói
cuồn cuộn bốc lên tan vào không khí thì ngọn lửa ẩn mình
trong đám khói trắng. Thế rồi, cách chỗ tôi đang đứng
một chút, ngọn lửa bất chợt bùng lên, thổi phồng cái
màn muỗi màu xanh. Tôi cảm thấy dường như tất cả chung
quanh tôi đều trở đều bất thần trở nên sống động.
Vào
lúc này đầu óc tôi hoàn toàn sáng suốt. Tôi chỉ còn có
mấy que diêm. Tôi chạy tới góc phòng khác, cẩn thận bật
một que diêm rồi châm vào bó rơm kế tiếp. Những ngọn lửa
mới bùng lên làm cho tôi vững lòng. Trong quá khứ khi đi chơi
với bạn bè và khi chúng tôi đốt lửa trại tôi luôn luôn
tỏ ra hết sức khéo tay trong việc nổi lửa.
Bên
trong Pháp Thủy viện một bóng đen to lớn lung linh đã vươn
cao lên. Ba pho tượng của đức Phật Di Đà, Quan Âm và Thế
Chí đều sáng rực. Pho tượng gỗ của Yoshimitsu lóe sáng
đôi mắt, và hình bóng pho tượng rập rờn phía sau.
Hầu
như tôi không hề cảm thấy hơi nóng. Khi nom thấy những ngọn
lửa ngùn ngụt chuyển tới cái hộp đựng tiền cúng dường,
tôi mới vững bụng là mọi việc đều trôi chảy cả.
Tôi
quên bẳng mất chất thạch tín và con dao ngắn. Bỗng dưng
tôi có ý muốn chết trong Cứu Cánh đính ngập chìm giữa
lửa đỏ. Thế rồi tôi chạy trốn ngọn lửa và leo lên cái
cầu thang nhỏ hẹp. Tôi cũng chẳng còn thì giờ để tự
hỏi vì sao cánh cửa dẫn tới Triều Âm động lại mở toang.
Ông lão quản gia có lẽ đã quên đóng cửa tầng nhì.
Khói
cuồn cuộn lùa đến sau lưng tôi. Vừa ho tôi vừa ngắm pho
tượng Quan Âm mà người ta bảo là tác phẩm của Keishin và
hình vẽ các thiên tiên đang tấu nhạc trên tràn nhà. Dần
dần làn khói lan rộng ngập Triều Âm động. Tôi chạy ngược
lên cầu thang kế tiếp và cố sức mở Cứu Cánh đính. Cánh
cửa nhất định chẳng chịu mở cho. Cửa lên tầng thứ ba
đã khóa chặt.
Tôi
đập cửa. Hẳn tiếng đập phải dữ dội lắm, tuy nhiên
vẫn không dội vào tai tôi. Tôi lấy hết sức mà đập cửa.
Tôi cảm thấy ai đó ở bên trong có thể mở cửa cho tôi
vào Cứu Cánh đính, nhưng vì khói đang lùa theo sau nên tôi
cuống quýt đập cửa đùng đùng như thể đang cố gắng tìm
nơi lánh nạn. Đằng sau cánh cửa ấy chỉ có thể là một
căn phòng nhỏ. Và vào lúc ấy tôi thấy ước mơ thống thiết
là các bức tường của căn phòng nhỏ bé ấy hẳn phủ đầy
những phiến lá vàng, mặc dù trong thực tế tôi thừa biết
những phiến lá bằng vàng ấy đã rơi rụng hết rồi. Tôi
không thể giải thích là không mơ ước căn phòng nhỏ bé
sáng sủa ấy một cách tuyệt vọng đến mực nào trong khi
đứng đó đập cửa ầm ầm. Tôi nghĩ ước gì mình tới
đó được thì đâu đấy đều yên ổn hết. Ước gì tôi
có thể tới căn phòng nhỏ bé lát những phiến lá vàng óng
ấy.
Tôi
lấy hết sức đập ầm ầm. Hai tay tôi không mạnh lắm nên
tôi đã lao cả người vào cánh cửa. Thế mà cánh cửa vẫn
không chịu bật ra.
Triều
Âm động đã tràn ngập những khói. Tôi có thể nghe ngọn
lửa kêu răng rắc dưới chân. Tôi bị ngộp khói và gần
như bất tỉnh. Vừa ho tôi vẫn vừa đập cửa đùng đùng.
Thế mà cánh cửa vẫn không chịu bật ra.
Tôi
chợt có ý thức rõ ràng là mình đã bị cự tuyệt và rồi
tôi không còn lưỡng lự nữa. Tôi lao mình xuống các bậc
thang. Tôi đâm đầu chạy qua các lớp khói cuồn cuộn trong
Pháp Thủy viện. Chắc là tôi đã chạy băng qua cả ngọn
lửa nữa. Cuối cùng khi tới cửa phía tây, tôi lao mình ra
ngoài. Thế rồi tôi cắm đầu chạy như bay như biến, chẳng
cần biết là mình chạy tới nơi nào nữa.
Tôi
chạy. Thật không sao tưởng tượng được là tôi đã chạy
xa đến thế mà không ngừng lại nghỉ chân chút nào. Tôi
chẳng nhớ rõ đã chạy qua những nơi nào nữa. Hẳn là tôi
đã băng qua cổng hậu gần ngay Củng Bắc lâu ngay phía bắc
ngôi chùa và tôi phải qua Minh Vương điện rồi ngược lên
đường mòn trên núi hai bên có cỏ gianh và cây đỗ quyên
mọc thành hàng, sau cùng lên tới tận đỉnh núi Tả Đại
Văn Tự. Phải, chính khi tới gần đỉnh núi này, tôi mới
ngả lưng nằm trong đồng cỏ bấc dưới bóng hàng cây xích
tùng và cố gắng giữ cho tim mình khỏi đập như trống làng
nữa. Đó là ngọn núi trấn bắc cho Kim Các Tự.
Tiếng
kêu của mấy con chim giật mình sợ hãi đã làm cho tôi hoàn
hồn. Hoặc đó có thể là tiếng một con chim đập cánh bay
sát mặt tôi.
Tôi
nằm ngửa mặt nhìn bầu trời đêm. Tiếng bầy chim lao mình
bay vút lên trên cá cành xích tùng và những tàn lửa mong manh,
nho nhỏ, bây giờ thì đã thưa dần, bay bồng bềnh trong bầu
trời phía trên đầu tôi.
Tôi
ngồi dậy và nhìn xuống dòng suối nhỏ chảy về phía Kim
Các Tự. Một âm thanh kỳ lạ vang ngân từ đó tới chỗ tôi
ngồi. Nghe như tiếng vô số người cùng một lượt bẻ lóng
tay kêu răng rắc.
Từ
chỗ tôi ngồi mà nhìn về cũng không thấy rõ ngay cả hình
ảnh Kim Các. Tôi chỉ còn thấy được làn khói cuồn cuộn
vươn cao và ngọn lửa bốc thẳng lên bầu trời. Những bụi
tro tản mác tạt qua tạt lại giữa những hàng cây và bầu
trời của Kim Các Tự hình như chất nặng cát vàng.
Tôi
bắt chéo hai chân ngồi ngắm cảnh ấy trong một lúc lâu.
Khi
đã hoàn hồn, tôi thấy nhiều chỗ sưng bầm, sứt sẹo trên
khắp thân mình và máu đang tuôn sối sả. Các ngón tay tôi
cũng nhuốm đầy máu, hiển nhiên là bị chảy máu từ lúc
tôi lấy hết sức đập tay thình lình vào cánh cửa trong chùa.
Tôi lè lưỡi liếm các vết thương y hệ một con thú vừa
chạy thoát khỏi các tay thợ săn đang thè lưỡi liếm máu.
Tôi
nhìn vào túi áo móc ra chai thuốc thạch tín, gói kỹ trong
chiếc khăn tay và con dao díp. Tôi ném hết xuống đáy khe nước.
Sau
đó tôi thấy trong túi bên kia còn bao thuốc lá. Tôi rút ra
một điếu thuốc và bắt đầu hút. Tôi cảm thấy giống
như một người vừa làm xong công việc đang ngồi vắt chân
nghỉ ngơi hút thuốc phì phèo. Tôi muốn sống.
Hết