KIM CƯƠNG
KINH GIẢNG NGHĨA
Người
giảng: GIANG VỊ NÔNG Cư Sĩ
Người
dịch: ÐỒ NAM Lão nhân
QUYỂN
HAI
BIỆT
GIẢI VĂN NGHĨA (TT)
Tu
Bồ Ðề ! Bồ tát ưng như thị bố thí bất trụ ư tướng.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi ! Bồ tát phải như thế bố thí,
chẳng trụ ở tướng .
Hai
chữ như thị là trỏ văn trên câu “sở vị bất trụ sắc
bố thí, bất trụ thanh hương vị xúc pháp bố thí” mà nói.
Chẳng trụ ở tướng, chẳng phải là đoạn diệt, chẳng
trụ là xả. Nhưng xả có thể cứu cánh hay không, chẳng trụ
một mảy may nào cũng chẳng phải là dễ nói. Nên kinh Hoa-Nghiêm
chia xả ra làm nhiều thứ, sau rốt nói cứu cánh xả, phải
ở trong tâm không còn chấp một chút gì, không rơi vào 2 bên
mới là cứu cánh. Ðây nói bất trụ ư tướng là gồm cả
2 bên, là nói đã chẳng trụ pháp tướng cũng chẳng trụ
phi pháp tướng. Sao có thể biết chữ tướng này có thể
gồm luôn chữ phi tướng, thì có thể dùng văn trên để chứng
minh. Ưng vô sở trụ là chẳng trụ pháp tướng. Hành ư bố
thí là chẳng trụ phi pháp tướng. Chỗ gọi là bất trụ
sắc thanh hương vị xúc pháp bố thí là chẳng trụ hữu,
bồ tát ưng như thị bố thí là chẳng trụ không. Phải biết,
chẳng trụ, không phải là đoạn diệt, chẳng trụ tức là
hành, trụ thì chẳng thể hành, hành thì chẳng thể trụ.
Kẻ tu bồ tát đạo đã đành chẳng thể trụ ở lục trần,
nhưng nếu đoạn diệt thì chẳng thể độ chúng sanh, chúng
sanh chính trụ ở cảnh giới lục trần, cho nên phải từ
chỗ đó mà độ nó. Văn trên : ưng vô sở trụ hành ư bố
thí, văn dưới liền nói : ưng như thị bố thí bất trụ
ư tướng. Ý phật muốn nói :bồ tát phải như chỗ ta nói
2 bên chẳng chấp, hành ở trung đạo. Có thể thấy vô sở
trụ chẳng phải là không hành; chẳng trụ tướng không phải
là lời nói trống rỗng, phải ở trong khoảng thực hành,
chẳng chấp hữu, chẳng chấp không mới hợp. Phá tướng
của trọn bộ kinh nên ra ở chỗ nầy. Phật ý muốn nói;
chẳng phải dạy ông là chẳng trụ ở pháp, mà dạy ông là
chẳng trụ ở tướng của pháp.
Tu
hành đã đành phải lìa trần cảnh, nhưng chẳng trụ lục
trần, có dễ gì nói? Nên bổn-chỉ của tu hành là chẳng
trụ, nhưng lúc hạ thủ lại chẳng thể diệt cảnh, ví như
niệm Phật, quán tưởng tượng Phật là sắc cảnh, thiên
nhạc, nước, chim là thanh cảnh, hoa sen thơm sạch là hương
cảnh, phạn tự kinh hành là vị cảnh, chỉ thụ các điều
vui là xúc cảnh, ức niệm Di-Ðà là pháp cảnh. Nên hai chữ
chẳng trụ phải nhận cho rõ ràng, quyết chẳng phải là đoạn
diệt, đoạn diệt tức là không, lại cũng tức là phi pháp,
Bố thí nhiếp hết thảy pháp tướng, cũng nhiếp phi pháp
tướng, nên gọi là bất trụ có nghĩa là : chẳng trụ pháp,
chẳng trụ phi pháp. Người đời xả tánh mạng cũng là xả,
chẳng qua là trụ tướng mà thôi ! Như tận trung báo quốc,
sát thân thành nhân, nhiều lắm chẳng qua thành ra một vị
thần. Nếu lúc xả tánh mạng lại có tâm lợi kỷ, tâm sân
hận, thì hoặc có thể đọa lạc xuống. Thanh niên trai gái
vì ái tình mà xả tánh mạng cũng dễ bị đọa lạc, hoặc
vì sân hận mà xả thân thì có thể đọa lạc xuống địa
ngục. Ðịa ngục có giường sắt, cột đồng, bao nhiêu thứ
y báo thảm khốc, chính là vì lòng từ bi thương chúng sanh
mà đặt ra. Gồm những cái trên đều là trụ tướng. Nếu
lại tồn tại đoạn diệt tướng mà xả tánh mạng như hạng
người tiêu cực, cảm giác thế gian chẳng có thể lưu luyến,
tự mình quyên sanh, đây tức là trụ ở phi pháp tướng, trầm
trệ ở cái không, chẳng thà chẳng xả còn hơn, vì đoạn
diệt chìm vào trong cái không, hoặc cũng có thể đến đọa
lạc xuống, nên xả chẳng nên trụ pháp cũng chẳng nên trụ
phi pháp. Bồ tát vì chúng sanh mà xả mạng cũng có nhiều,
nhưng nếu trụ ở tướng độ sanh thì cũng chẳng thành Phật,
nên văn dưới trong kinh này có câu : hằng hà sa đẳng thân
mạng bố thí, chẳng bằng thụ trì 4 câu kệ, để so sánh
hằng hà sa đẳng thân mạng bố thí nếu chẳng phải là bồ
tát thì chẳng làm nổi, phàm phu không có nhiều thân mạng
như thế, mà còn chẳng bằng thụ trì 4 câu kệ vì người
khác nói, thì được phước nhiều hơn, vì thụ trì, tụng,
nói, thì có thể thành Phật.
Tu
hành chẳng được thụ dụng không ngoài hai bịnh : 1) chẳng
nắm được chỗ yếu, 2) chẳng rõ đạo lý, nếu có thể
nắm được chỗ yếu và hiểu rõ đạo lý thì tự mình có
thể thụ dụng. Chẳng có thể lìa tu hành mà nói tánh, nếu
chẳng như thế thì chỉ nói một cách trống không. Chẳng
thể lìa tánh mà tu hành, nếu chẳng như thế là tiến lên
một cách mù quáng. Kinh nầy chỗ nào cũng nói tánh, mà chỗ
nào cũng bao gồm cả thực hành. Phát đại nguyện, hành đại
hành mới có thể vào cửa Phật, khoa trước nói hàng phục
tức là phát đại nguyện, khoa nầy hành ư bố thí tức là
hành đại hành, ắt vô sở trụ hành ư bố thí mới là đại
hành. Có nguyện mà không hành thì nguyện là hư nguyện, từ
nguyện đến hành thì nguyện là trọng yếu, mà hành lại
càng trọng yếu. Không có đại nguyện thì đại hành chẳng
thể nổi dậy, ngay đến có hành cũng là hành mù quáng. Thế
nào mới là đại nguyện, thế nào mới là đại hành? Ắt
phải đại bi đại trí thì mới có thể. Sở hữu nhứt thiết
chúng sanh chi loại, dai linh nhập vô dư niết bàn nhi diệt
độ chi, là đại bi. Như thị diệt độ vô lượng, vô số,
vô biên chúng sanh, thực vô chúng sanh đắc diệt độ giả,
biết chúng sanh là đồng thể, không cái gì gọi là Phật,
không cái gì gọi là chúng sanh, là đại trí. Bi và trí đầy
đủ mới có thể phát đại nguyện, hành đại hành. Bồ tát
ư pháp ưng vô sở trụ, bịnh của phàm phu là chỗ nào cũng
chấp trước, có thể chẳng chấp trước tức là đại trí,
hành ư bố thí tức là đại bi. Không có đại bi thì đại
nguyện chẳng thể phát ra, không có đại trí thì đại nguyện
chẳng thể thực hành. Bi, trí, nguyện, hành không cái nào
là chẳng đại mới là bồ tát ma ha tát, ắt viên mãn đầy
đủ như thế mới là vô thượng bồ đề. Văn trên ở đại
nguyện thì trước nói đại bi, ấy là chẳng trụ không. Trụ
không liền chẳng thể phát đại nguyện. Văn nầy ở đại
hành thì trước nói đại trí, ấy là chẳng trụ hữu, trụ
hữu liền chẳng thể hành đại hành.
Phàm
phu đối với hết thảy việc đều chẳng phóng hạ được
(buông xuống). Tại sao chẳng phóng hạ được? Là tại có
cái ngã. Phật chỉ nói bố thí, mới hạ thủ liền phá ngã,
lại tiến lên một bước nữa, ở trên cảnh giới mà phá.
Rồi lại tiến lên, ở trên khởi tâm động niệm mà phá.
Khoa trước nói phát đại tâm, chỗ nào cũng là chẳng trụ,
đó là giáo hóa một cách thầm kín, để hóa ngã kiến đi.
Phàm phu cái niệm vị ngã rất nặng, nay vì chúng sanh nên
đem cái ngã liệng bỏ đi. Chẳng kể loài loãn sanh cực ngu,
loài vô tưởng cực cao, ắt hết thảy khiến vào vô dư niết
bàn mà diệt độ nó, đây tức là hóa trừ tâm phân biệt,
chính là đối với 2 thức thứ 6 , 7 mà cho thuốc trị. Phàm
phu sở dĩ luân hồi lục đạo chẳng thể lìa ra được, cũng
là tại 2 thức 6, 7 nó khiến như vậy. Nay chuyển di nó liền
thành ba-la-mật. Phát tâm phải quảng đại, nếu không quảng
đại thì chẳng thể hóa trừ ngã kiến, tu hành ắt phải
tinh mật, trước phải phát tâm quảng đại thì mới có thể
tu hành tinh mật. Nên ắt trước phải quán hết thảy chúng
sanh là duyên sanh, và vốn tịch diệt, và đồng thể, trước
phải biết tập-quán của mình là nặng, mà chuyển-di ngầm
nó, thì mới có thể tu hành. Phát đại tâm tại sao lại nương
theo hàng phục kỳ tâm mà nói? Khởi đại hành tại sao lại
nương theo ưng vô sở trụ mà nói? Ðây tức là muốn hàng
phục thì phải trước biết căn bịnh nó ở chỗ nào. Biết
chúng sanh sở dĩ thành chúng sanh là ở Dục, Sắc, Thức, nên
môn phát tâm nói loại nói nầy. Theo đó mà dụng công thì
2 thức thứ 6, 7 tự nhiên có thể hóa trừ. Nói tu hành một
cách tinh mật là trỏ ngay : ưng vô sở trụ. Có thể biết
tu hành đã đành là phải hành mà chẳng phải trụ, làm thứ
công phu nầy chính khiến cho thức 6, 7 không còn chỗ nào tồn
tại, thì chân tâm tự nhiên hiển lộ. Ðây là chẳng trụ
mà trụ, nên văn dưới nói : ưng như sở giáo trụ. Phật
dạy người ta: chỗ có hết thảy chúng sanh, đều khiến vào
vô dư niết bàn mà diệt độ nó, đó là bồ tát phát tâm
chưa tự độ, trước độ tha. Thực vô chúng sanh được diệt
độ là khiến người ta biết duyên sanh bình đẳng, đồng
thể, độ tha là tự độ, cũng là tự tha cùng độ. Nhưng
phật rốt cuộc chẳng nói tự độ bởi ngã chấp của chúng
ta nặng, nên không nói. Ðộ chúng sanh phải độ ra sao? Phải
bắt đầu hành, bố thí là phá chấp ngã của thức thứ 7,
phá phân biệt tâm của thức thứ 6, đây rõ ràng là tự độ,
Nên phát tâm phải đại, tự độ thì trước phải độ tha,
độ tha tức là tự độ. Nói đến tu hành, trước phải trừ
căn bịnh của mình, độ tha trước tự độ, tự độ tức
là độ tha, thế thì bố thí một phương diện là tự độ,
mà trên thực tế là độ tha, đây là tinh ý của Phật chỉ
nói : hành ư bố thí.
Cổ
nhân nói một câu: “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có
thể thông suốt trọn bộ kinh, thực ra thì chẳng kể câu
nào cũng đều có thể quán thông. Như câu “bất trụ ư tướng”,
gồm cả phi tướng, chẳng rơi vào 2 bên, hành ở trung đạo,
sao lại chẳng thể thông suốt trọn bộ kinh? Hay khéo của
phật pháp đại thừa, có thể tùy theo người ở khắp các
phương diện mà lĩnh hội, nên gọi là viên dung. Chẳng những
thấy cạn, thấy sâu bởi người ta có chỗ thấy chẳng giống
nhau, ngay đến thấy sâu cũng lại có chỗ thấy không giống
nhau. Chữ tướng ở văn trước là theo trên NGÃ TƯỚNG mà
nói, chữ tướng của câu văn này, là theo pháp tướng và
phi pháp tướng mà nói. Kinh nầy thường thường văn sau chẳng
khác gì để chú giải văn trước. Bất trụ ư tướng lại
là để chú giải bất trụ sắc thanh hương vị xúc pháp bố
thí. Có người ngờ kinh Kim Cương ý nghĩa trước sau trùng
điệp, đó là chẳng khéo đọc kinh Kim Cương. Nếu biết sự
liên quan của văn sau với văn trước, thì chẳng những không
trùng điệp, mà lại thấy mạch lạc nó thông suốt. Ðọc
đoạn kinh văn nầy lại phải dụng công ở sự quán chiếu,
phật pháp chỗ nào cũng chẳng lìa quán chiếu, ắt phải thời
thời khắc khắc suy nghĩ thì mới có thể được. Phải biết,
bất trụ ư tướng là triệt để. Từ lúc bắt đầu thực
hành cho đến lúc thành phật đều là chẳng trụ ư tướng.
Nếu ở lúc bố thí hãy còn tồn tại một chút tâm thấy
bố thí cho là tốt, thì trong chỗ chẳng hay chẳng biết đã
rơi vào lục trần, cho nên nếu không làm sự quán thì không
được. Như không tồn tại cái tâm thấy bố thí là tốt,
mà vẫn còn cảm thấy có sự bố thí nầy tức là trụ ở
pháp, nên nếu không làm sự quán thì ngay đến trụ, mà tự
mình cũng chẳng biết. Lại quán : hành ư bố thí, là khiến
cho chúng ta thành phật, nếu chẳng làm sự quán chiếu thì
làm sao có thể thành? Ưng như thị bố thí cũng là phật nói
một câu pháp. Như lúc làm bố thí mà trong tâm có “ưng như
thị bố thí” lại cũng tức là trụ ở pháp. Chúng ta việc
gì cũng chiếu theo lời phật dạy để hành, trong tâm như
không có một việc đó, thì mới là chẳng trụ pháp tướng.
Trong tâm tuy như không có việc đó mà vẫn cứ tinh tiến đi
thực hành thì mới là chẳng trụ phi pháp tướng. Ưng như
thị bố thí còn là ở phía ngoài, bất trụ ư tướng là
day về phía trong tìm cầu. Ðây chính là chỗ cần yếu để
dụng công phu.
Lại
quán bất trụ ư tướng, trong tâm tuy không có việc đó, nhưng
còn tồn tại cái tâm nầy thì lại vẫn là trụ tướng. Nên
lúc làm sự quán, trong tâm theo từng tầng từng tầng một
mà vào chỗ tinh tế. Cảnh và tâm, pháp và phi pháp, chẳng
chấp hai bên, chiếu cả 2 bên, tâm mình tuy đã vào chỗ tinh
tế, nhưng vẫn còn ở trên đối đãi. Phải biết, sự thấy
của đối đãi chưa quên thì chưa thể ra khỏi thế gian. Hết
thảy cảnh giới thế gian không cái nào là chẳng đối đãi,
như sống chết, già trẻ, trên dưới, dài ngắn v. v ... không
cái nào chẳng là tâm phân biệt. Nên xuất thế pháp ắt phải
lìa bỏ tâm phân biệt, ở trên tuyệt đối làm sự quán.
Chuyển quan niệm của phàm phu đến cảnh giới tuyệt đối
tức là Chứng Tánh. Chứng tánh phải cần VÔ NIỆM, vì niệm
là tâm phân biệt. Có tâm phân biệt liền rơi vào đối đãi,
rơi vào đối đãi liền thời thời khắc khắc đi phân biệt,
mà bị ý thức che lấp đi, nên ắt phải quán đến VÔ NIỆM
mới có thể được. Nhưng trong lòng nếu còn tồn tại 2 chữ
vô niệm thì vẫn là trụ tướng. Ắt phải không luôn cả
cái niệm vô niệm, làm sự quán một cách tế mật, ngõ hầu
tánh đức mới viên minh, mới là thiệt chẳng trụ tướng.
Phật nói: “kẻ có thể quán vô niệm tức là day về phật
trí”, thế nên biết rằng quán vô niệm chẳng phải một
lúc mà có thể tới được. Chỉ nên day về đó mà tiến
tu, nên gọi là day về phật trí. Niệm tức là quán, quán
tức là niệm. Có thể quán vô niệm, nói một cách khác là
khiến chúng ta niệm cái vô niệm. Niệm cái vô niệm ắt phải
dùng tư duy, tư duy ắt có thể chuyển tâm phân biệt, tâm
phân biệt là hướng ngoại tìm cầu, tư duy là hướng nội
tìm cầu cảnh giới thắng diệu. Ðương lúc khởi tâm động
niệm, phải trừ khử tâm phân biệt, lại y theo phương pháp
của phật hướng nội tư duy. Ðây là niệm cái vô niệm,
như niệm phật cũng thế, lâu ngày tương ứng, liền có thể
vô niệm.
TRƯNG
THÍCH CỚ CỦA NÓ
Hà
dĩ cố ? Nhược bồ tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước
đức bất khả tư lượng.
Dịch
nghĩa : vì cớ gì? Nếu bồ tát chẳng trụ tướng bố thí,
phước đức của nó chẳng thể suy nghĩ đo lường.
Trưng
là đem ra mà nói, lại đem nghĩa trước ra nói mà tự mình
hỏi, tự mình đáp. Phước đức : tức là phước tuệ song
tu, phước tuệ như hai bánh xe của chiếc xe, không thể nghiêng
một bên. Có người hỏi: Phật đã dạy người ta chẳng trụ,
sao lại còn dạy người ta tu phước? Ðây là sự hiểu sai
lầm, nếu không tu phước thì dẫu thành bồ tát, thành phật
đi độ chúng sanh, mà chúng sanh cang cường, chưa chắc có
thể độ được. Cho nên trước cùng với chúng sanh kết duyên,
kinh này sở dĩ chỗ nào cũng nói tu phước, mà thực hành
chỉ nói bố thí, tức là khiến người ta phước tuệ song
tu.
Tư
: là suy nghĩ, lượng : là đo lường, nghĩa là chẳng thể
dùng tâm tư để suy nghĩ, chẳng thể dùng số mục để đo
lường. Bất trụ tướng bố thí : bất trụ tướng là chẳng
trụ ở pháp, lại cũng là chẳng chấp hữu, bố thí là chẳng
trụ phi pháp, lại cũng là chẳng chấp không. Chẳng trụ tướng
mà bố thí, bố thí mà chẳng trụ tướng, hai bên chẳng chấp,
như thế là cảnh giới của Phật, nên sự lớn của phước
đức chẳng thể tư lượng. Phước đức này là trỏ thành
Phật mà nói, văn trên phát a nậu đa la tam miệu tam bồ đề
tâm, tức là tâm thành Phật, cùng với câu này đối nhau.
Có thể thấy bất trụ tướng bố thí là pháp môn thành Phật.
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp tức là trỏ bát nhã cực
thâm cực tế, nên kinh này câu câu như lột bẹ chuối, chẳng
dễ gì hiểu rõ. Kẻ thuyết phải nhiếp tướng quán tâm,
kẻ nghe cũng phải nhiếp tướng quán tâm mới có thể được.
Kinh văn chỗ nào cũng nói bất trụ tướng, mà lại chỗ nào
cũng nói phước đức, chính là nghĩa chẳng rơi vào hai bên.
Bất trụ tướng không phải là phước đức chẳng thể tư
lượng, ắt phải bố thí mà bất trụ tướng thì mới là
phước đức chẳng thể tư lượng.
Ðại
thừa Phật Pháp nói trần, nói sát, nói ngang, nói dọc, mặt
nào cũng đều viên, chỗ rất cần yếu là phá chấp, một
khi có chấp liền rơi vào hai bên, nếu chẳng chấp hữu thì
cũng chấp không, chẳng phải là trung đạo. Nghe pháp, xem kinh
cũng phải xem đủ mọi mặt, nếu chấp một bên liền chẳng
được thụ dụng. Phật nói liễu nghĩa, chẳng nói bất liễu
nghĩa, nói được triệt để còn sợ kẻ nghe chẳng hiểu
rõ, nếu nói chẳng triệt để thì làm sao có thể khiến cho
người ta hiểu rõ. Kẻ nghe cũng phải như thế, nếu không
thì lý của bát nhã chẳng được hiểu rõ. Nên phải nói
đủ mọi mặt, lại nói mà chẳng nói, để sót lại một
điểm nhường cho kẻ nghe suy tưởng lấy, nếu đem đạo lý
rất sâu, mỗi mỗi nói ra hết, thì kẻ nghe chẳng còn dụng
công phu. Nên từ xưa các vị tổ sư Thiền tông lúc khai thị
người học thường lưu lại nửa câu chẳng nói ra, đợi
cho người học tự mình ngộ lấy, nếu không thì kẻ nghe
chỉ chuyên môn làm việc sao viết bài giảng nghĩa, mà tự
mình chẳng ở trong đó gắng sức, thì có chỗ nào dùng đâu?
Xem văn trên kinh nầy rõ ràng nói chẳng trụ lục trần mà
hành bố thí, vì nếu trụ ở cảnh thì tâm không thanh tịnh,
phải không làm một cái gì mới có thể được. Nhưng chỗ
này lại nói phước đức chẳng thể tư lượng, há chẳng
phải ý nghĩa câu văn trên và câu văn dưới xung đột ư?
Phước đức chẳng phải là tướng ư? Tại sao chỗ nào cũng
nói chẳng trụ, mà lại chỗ nào cũng nói phước đức ư?
Phải biết, văn trên dạy người ta chẳng trụ lục trần
là dạy người ta chẳng chấp trước, mà chẳng phải là diệt
hết lục trần, văn dưới có câu “ư pháp bất thuyết đoạn
diệt tướng” có thể chứng minh. Vì tu hành là có cảnh
giới, chẳng phải là không cần cảnh giới, nhờ cảnh mới
có thể khởi tu. Bố thí mà giảng phước đức, tức là tỏ
bày cho người ta phương pháp hạ thủ. Nên dạy người ta
học phật ắt phải nhờ ở cảnh thì mới có thể hạ thủ.
Tự mình học Phật cũng ắt phải nhờ cảnh mới có thể
hạ thủ. Kinh nầy nói chẳng trụ lục trần, mà kinh Di Ðà
tả trọn vẹn lục trần của cực lạc thế giới, xem ra giống
như trái nhau, thực ra thì giống nhau. Lại chính có thể thấy
sự cao của cảnh giới tịnh độ. Chúng sanh khổ não khởi
tâm động niệm chẳng lìa lục trần. Sự vi diệu của pháp
môn tịnh độ là cải biến tâm của chúng sanh, mà quán tưởng
lục trần của cực thế giới, tức là chẳng trụ không,
do đó mà thoát ly lục trần nơi ngũ trược ác thế nầy,
tức là chẳng trụ hữu. Nên Phật pháp trị cái tâm, chẳng
chú trọng hàng phục, mà chú trọng chuyển di, khiến tâm chúng
sanh chuyển về lục trần của cảnh giới Phật, liền thoát
ly lục trần của ngũ trược ác thế. Phương pháp hạ thủ
chẳng chấp hai bên tức là ở chỗ nầy.
THÍ
DỤ CHO RÕ
Tu
Bồ Ðề ! Ư ý vân hà ? Ðông phương hư không, khả tư lượng
phủ ? Phất dã Thế Tôn ! Tu Bồ Ðề ! Nam tây bắc phương
tứ duy thượng hạ hư không khả tư lượng phủ ? Phất dã
thế tôn.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi ! Ở ý ông ra sao ? Phương đông hư không
có thể suy nghĩ, đo lường chăng ? Thưa thế tôn chẳng thể.
Tu Bồ Ðề ơi ! Phương nam, tây, bắc, phương đông nam, tây
nam, đông bắc tây bắc, phương trên phương dưới hư không
có thể suy nghĩ đo lường chăng ? Thưa thế tôn, chẳng thể.
Chữ
bất trong câu phất dã thế tôn bực cổ đức chú kinh đọc
là chữ phất, trong sách đọc chữ không có âm như thế. Vì
hồi xưa dịch kinh ở văn chữ Phạm không có chữ nào tương
đương để dịch, nên thường thường dùng chữ gần giống
mà đọc sang một âm khác để phân biệt, cũng là khổ tâm
của người dịch kinh. Chỗ nầy chẳng đọc chữ bất có
nghĩa là “chẳng” ấy là biểu minh không phải chỉ có nghĩa
là phủ-định, nó gồm có nghĩa tuy phải mà chẳng phải.
Ðại khái nếu văn dưới mà không giải thích thì mới giải
nghĩa là phủ định, nay văn dưới có giải thích, thì chẳng
hoàn toàn giải nghĩa là phủ định. Hư không vô tướng mà
chẳng cự các tướng phát huy, câu nói nầy phải nhớ cho
kỹ. Con mắt bình thường cho hư không là hết thảy không
có gì cả, đó chỉ là ngoan không của tiểu thừa. Thực ra
thì hư không bao la muôn tượng, chỗ nói hư không trong đại
thừa chính trỏ bao la muôn tượng mà nói, trong đó có vô
số tướng thì mới hiển ra cái lớn của hư không. Chỗ nói
chữ KHÔNG của phật đều phải nên lĩnh hội như thế, phải
biết không cái gì là chẳng dung nạp ở trong hư không, mới
là đệ nhứt nghĩa không, chỗ gọi là không mà chẳng không.
Bất khả tư lượng chẳng phải là nói nó vô tướng chẳng
thể tư lường, mà chính là nói nó không cái gì là chẳng
dung nạp mới là bất khả tư lượng. Ðem một phương đông
ra nói, lại phải nam, tây, bắc, tứ duy, trên dưới ra nói
chẳng phải là văn nói suông, chính là hiển thị lời phật
thuyết : tùy theo 1 pháp nào đem ra để nói đều gồm cả
10 phương. Phật thuyết pháp mặt nào cũng đều viên, chẳng
thể từ một mặt mà xem, như kinh Hoa Nghiêm chuyên phát biểu
nghĩa trùng trùng vô tận. Vì lời phật thuyết pháp là từ
trong tánh hải vô lượng vô biên chảy ra, nên trùng trùng
vô tận, hư không chẳng thể tư lường. Nếu cho là chỉ thí
dụ phước đức, thì vẫn là chỉ xem một mặt, thực ra là
thí dụ bất trụ tướng bố thí vậy.
Nhưng
Phật lấy hư không làm tỷ dụ mà chỉ nói phương đông cũng
đã có thể hiểu rõ, tại sao lại còn nói 4 phương trên dưới,
đây có 5 nghĩa:
1)
Tùy ý đem một pháp ra nói, thể nó tức là không, đều chẳng
nên trụ tướng, tuy hư không cũng vậy. 2) Phải biết, đông
nam, tây bắc, tứ duy, trên dưới đều là giả danh, từ phía
đông ngó ra thành phương tây, từ phương nam ngó ra thành phương
bắc, vốn không nhứt định. Có thể biết hết thảy pháp
cũng đều là giả danh không có pháp nhứt định có thể được,
cho nên chẳng thể trụ pháp.
3)
Ðã đành mười phương đều là giả danh, giả danh là tướng
nên chẳng thể trụ. Ngã và chúng sanh cũng là giả danh cũng
chẳng thể trụ. Thế thì hết thảy pháp đều là đồng thể,
ở trên tánh thể nguyên là một, lĩnh hội như thế mới là
tâm, phật, chúng sanh 3 cái không sai biệt, phước đức không
thể tư lường như thế, bất trụ tướng bố thí như thế,
tức là cảnh giới phật, sự lớn của phước đức há phàm
tình có thể dòm thấy ư?
4)
Mười phương đều ở trong hư không, thực ra đều ở một
niệm trong tâm, tuy nói thập phương mà chẳng ngại cùng một
hư không, tuy cùng một hư không mà chẳng ngại thập pháp
giới. Khiến người ta lĩnh hội nhân quả đồng thời chẳng
ngại một pháp giới, một pháp giới chẳng ngại nhân quả.
5)
Ðem 10 phương ra nói thì cái lý hư không tuy vô tướng mà
chẳng cự các tướng phát huy, tự rõ. Theo đó mà quán chiếu,
là không hữu đồng thời, tuy không hữu mà viên dung tự tại,
thì mới có thể hiểu rõ nghĩa bố thí bất trụ tướng,
bất trụ tướng phước đức bất khả tư lượng.
Ðem
hư không ra làm thí dụ, mà lại đem đông tây nam bắc, tứ
duy trên dưới ra nói là chẳng phải văn nói chơi, thực quan
hệ yếu nghĩa, xin chớ bỏ qua chẳng lưu ý:
1)
10 phương đều ở trong hư không, là khiến cho biết rằng
10 pháp giới, cùng ở một niệm trong tâm của mỗi người.
2)
Tùy ý đem 1 phương nào ra nói đều là hư không, là cho biết
tùy ý đem một pháp nào ra nói, thể của nó là không.
3)
Thế thì đông, nam, tây, bắc, tứ duy, trên dưới đều là
giả danh, ấy là cho biết rằng ngã, nhân, chúng sanh, cho đến
hết thảy pháp đều là giả danh.
4)
Ðã đều là giả danh, cho nên hư không nguyên là MỘT, ấy
là cho biết rằng ngã, nhân, chúng sanh cho đến phật, bao nhiên
thứ sai biệt là theo tướng của giả danh mà nói, còn theo
tánh thể mà nói là MỘT, cho nên nói: tâm, phật, chúng sanh
3 cái không sai biệt, cho nên nói: nhứt chân pháp giới. Phải
biết, chúng sanh vì không đạt nhứt chân pháp giới, bất
giác tự mình động mà có vô minh.
5)
Tuy có 10 phương mà chẳng ngại cùng một hư không, tuy cùng
một hư không mà chẳng ngại có 10 phương, là cho biết rằng
10 pháp giới nhân quả đầy rẫy, mà chẳng ngại cùng một
tánh không. Tuy cùng một tánh không mà chẳng ngại 10 pháp
giới nhân quả đầy rẫy. Ðây là hiển-phát lý hư không
vô tướng mà chẳng cự các tướng phát huy. Như thế là không
hữu đồng thời, còn mất tự tại, mới là hư không chẳng
thể tư lượng, mới có thể đủ để thí dụ cái phước
đức chẳng thể tư lường của bố thí mà chẳng trụ tướng,
chẳng trụ tướng mà bố thí. Nếu chỉ nói hư không, thì
chỉ là cái không nghiêng lệch thôi, há là đệ nhứt nghĩa
không của bát nhã, lại sao đủ để nói hư không chẳng thể
tư lượng ư? Cho nên nói hư không ắt phải gồm nói đông
tây nam bắc, tứ duy, trên dưới là lý ở chỗ đó. Phải
nên biết như thế. Biết như thế là chánh tri.
Tu
Bồ Ðề ! Bồ tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc
phục như thị bất khả tư lượng.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, bồ tát không trụ tướng bố thí,
phước đức cũng lại như thế chẳng thể suy nghĩ đo lường.
Mười
phương hư không vô tướng mà chẳng ngại các tướng phát
huy chính là bố thí chẳng trụ tướng. Chẳng trụ tướng
mà bố thí, chính giống như hư không chẳng thể tư lường.
Bồ tát có thể như thế, hữu mà chẳng hữu, không mà chẳng
không, mới là bội trần hợp giác. Văn trên nói bất trụ
tướng bố thí, chỗ này chữ bất đổi ra chữ vô, có ý
rất sâu, vì thiện nam tử, thiện nữ nhân đã phát a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề tâm, có tư cách thành phật, nên
dạy nó bất trụ tướng bố thí. Chỗ nầy dạy nó dùng công
phu tu hành, ắt phải đạt đến thiệt có thể vô trụ, không
còn một tơ hào nào trụ chưa dứt hết, thì mới có thể
được.
Tu
Bồ Ðề ! Bồ tát đãn ưng như sở giáo trụ.
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, Bồ tát chỉ phải như chỗ dạy mà
trụ.
Qui
kết đến vô trụ mới là chính trụ, chính là trỏ ưng vô
sở trụ, lại trả lời câu : ưng vân hà trụ. Văn trên đều
nói : bất trụ, vô trụ, đây bỗng nói như sở giáo trụ,
có nghĩa bảo là phải y theo lời dạy của phật nói mà trụ,
thì rõ ràng là trụ mà vô trụ, chẳng phải là đoạn diệt.
Xem 2 chữ đãn ưng (chỉ phải), thì có thể thấy trừ y theo
cái bất trụ, vô trụ của phật nói ra, thì không có trụ
nào khác. Lại gồm có ý hàng phục, hàng phục tức là hàng
phục cái trụ nầy. Lại đãn ưng có nghĩa là : phải như
chỗ phật dạy trụ ở cái chẳng trụ 2 bên mà trụ, mới
là chính trụ. Trụ lại có nghĩa là chủ, chỉ nên y theo chỗ
dạy của phật chẳng trụ 2 bên để tu hành, vốn lấy bất
trụ làm chủ, chẳng như thế thì không phải là đại thừa
phật pháp. Hai khoa phát ly tướng tâm, và bất trụ ư tướng
nầy phát minh lẫn nhau. Trước nói hàng phục là gồm ý vô
sở trụ, đây nói bất trụ là gồm ý hàng phục, nên hàng
phục và bất trụ, hai việc là một. Tu hành hạ thủ tức
là một chữ XẢ. XẢ chẳng được tức là chấp hữu, ngã
kiến. Phật nói XẢ là phá ngã chấp. Ngã chấp nầy có thể
xả một phần liền phá được một phần, phá đi từng tầng,
từng tầng, đến chỗ cứu cánh xả, thì ngã chấp mới phá
hết. Ðẳng giác bồ tát còn có một phần pháp chấp chưa
phá, ắt phải lên đến phật quả mới cứu cánh xả. Nên
Phật pháp từ đầu đến cuối chỉ 1 chữ XẢ, XẢ chính
là chẳng trụ không, chẳng trụ hữu, tức là tâm ly tướng.
Tâm lượng lớn đến vô lượng vô biên, mới là a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề. Nếu tâm lượng nhỏ hẹp, thì sao
có thể xả? Phật chẳng nói trụ, thành phật còn chẳng trụ
phật tướng. Nên tổ sư Thiền Tông hoàn toàn dùng phương
pháp kinh Kim Cương, đối với người học chỉ nói nửa câu,
mà chẳng nói rõ, khiến kẻ học phải suy nghĩ, nghĩ thế
nầy cũng chẳng phải, nghĩ thế kia cũng chẳng phải, đem
vọng niệm của mình đả phá cho tan tành, bỗng nhiên thoát
ra, chính là diệu trụ.
Tu
Bồ Ðề ! Ư ý vân hà ? khả dĩ thân tướng, kiến như lai
phủ ?
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi ! Ở ý ông ra sao ? Có thể lấy thân
tướng thấy như lai chăng ?
Bực
cổ đức nói: “Ðến câu: bồ tát đãn ưng như sở giáo
trụ mà ngừng, thì đại nghĩa của 1 bộ kinh Kim Cương đã
hết, phía dưới là từng lớp, từng lớp một đoạn dứt
nghi.” Ðoạn nghi đã đành là đúng, nhưng ý nghĩa còn chưa
đầy đủ. Hai chữ thân tướng chỗ giải nghĩa xưa, đều
trỏ 32 tướng ứng hóa thân mà nói, như thế thì 32 tướng
ở văn dưới há chẳng trùng điệp ư ? Một chữ một câu
trong kinh Kim Cương đều có ý sâu, quyết không có sự trùng
điệp. Hai chữ thân tướng nầy phải đem “bản thân của
chúng sanh” ra mà nói. Hai chữ như lai là trỏ “pháp thân
của chúng sanh vốn có” mà nói. Văn trên chỗ nào cũng nói
bất trụ tướng. Bất trụ là ắt phải khiến người ta hội
tướng về tánh. Tâm của chúng sanh gọi là như lai tạng,
là nói chúng sanh vốn đầy đủ pháp tánh, chẳng qua tàng
chứa ở trong nhân ngã, pháp ngã. Phật dạy bất trụ tướng
tức là khiến chúng sanh tự mình thấy như lai còn tàng chứa,
giải thích như thế thì thân thiết hơn. Ý phật như là bảo
: chúng sanh chúng mầy, có thể ở ngay thân tướng mà thấy
bổn tánh của mầy chăng ? Khoa nầy là đem lý đã nói ở
trên lại thuyết minh cái sở dĩ nhiên của nó. Bao nhiên đạo
lý văn trên nói, chỗ rất cần yếu là day qua trở lại tỏ
bày rõ cái bất trụ ư tướng, mà đều qui kết ở một câu
: khả dĩ thân tướng kiến như lai. Văn trên bồ tát bất
trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng,
phật đã nói rõ cái cớ của nó, nhưng còn chưa thuyết cái
sở dĩ nhiên của nó. Vì bất trụ ư tướng, điểm chốt
yếu là chứng tánh. Hết thảy phàm phu từ vô thủy đến
nay, chỉ nhận biết được 1 cái tướng, nên hướng ngoại
tìm cầu, bội giác hợp trần, đem bổn lai diện mục quên
đi mất.
Văn
trên nói chẳng trụ pháp tướng, chẳng trụ phi pháp tướng.
Pháp là trỏ hết thảy sự sự vật vật. Cái thân túi da
thúi của chúng ta đây là cái rất chấp trước trong hết
thảy sự vật, từ vô thủy đến nay chấp cái túi da thúi
nầy làm thân tướng, nhận giả là chân, có biết đâu nó
là vô thường, sanh diệt. Ngay đến kẻ kiến giải hơi cao,
biết thân nầy như huyễn, nhưng vẫn còn chấp cái mừng giận
vui buồn đã phát ra cho là tình, chưa phát ra chưa động cho
là tánh. Họ cho là quan năng của tâm là suy nghĩ, suy nghĩ
thì có thể bẩm thọ, suy ra cái gốc của nó chẳng được,
mà chỉ cho là bẩm thọ ở trời, nên họ nói : “thiên mạng
gọi là tánh”, người thế gian đều thấy hiểu như kiểu
đó. Kiến giải trên hoàn toàn không giống với phật pháp.
Kẻ kia chỗ nói là không động tác, chính là cái tướng mà
phật pháp nói. Cái bất động chỗ phật nói thì vô luận
là sự hằng thẩm tư lường của thức thứ 7, thứ 8, ở
trên biểu diện cũng đều là động tác khởi diệt, mà chỉ
có tánh thì chẳng động, ngay đến mừng giận buồn vui cũng
là động tác khởi diệt. Nếu lầm cho là chưa phát ra là
tánh, thì ắt bị nó trói buộc. Ở nơi thế gian, trên từ
bực thánh nhân, dưới đến người ngu dốt hoàn toàn là chấp
theo kiểu đó, tóm lại chẳng ngoài sự sanh diệt. Cho nên
phải nhận thức được chủ nhân ông của cái bất sanh bất
diệt nầy, thì mới có thể chẳng bị tướng chuyển, mà
tướng bị ta chuyển, chẳng chạy theo sanh diệt vô thường,
liền có thể liễu sanh thoát tử. Phật khiến người ta chẳng
trụ tướng, chỗ dụng công phu cần yếu là ở chỗ nầy,
Phật phát ra ngàn muôn lời nói, chỗ nói nào cũng chẳng ngoài
chỗ nầy. Kinh nầy ngay ban đầu liền nói chẳng trụ tướng,
là khiến chúng ta nhận cho rõ điểm nầy. Chấp tướng là
chấp hữu, chẳng chấp tướng là chấp không, là bịnh chung
của hết thảy phàm phu. Tiểu thừa thì trái với phàm phu.
Tiểu thừa hiểu rõ thân tướng là huyễn, ngay đến mừng
giận vui buồn chưa phát ra cũng là tướng, chứng được thiên
không mà liễu sanh tử, ra ngoài tam giới. Nhưng lại được
một bịnh, bịnh chấp không, cái không nầy vẫn là tướng.
Ðại Thừa Khởi Tín Luận nói : “không là không cái vọng
niệm”, ắt phải ngay đến mừng giận buồn vui chưa phát
ra của khởi tâm động niệm cũng không luôn, liền trụ ở
vô tướng. Cho thiên-không là liễu sanh tử, biết đâu chấp
không, lại là trụ ở phi pháp tướng, nên phật mắng là
chẳng hợp. Phải biết: có thể ắt có dụng, có tánh ắt
có tướng.
Từ
trước đến nay nói sự chấp trước của phàm phu chẳng ngoài
cái theo tướng mà tìm cầu, chỉ cần phải biết tướng là
hư vọng liền có thể được. Lại như chấp không là rơi
vào đoạn diệt, vì tánh và tướng không phải là một, tánh
là tánh, tướng là tướng, thể là thể, dụng là dụng, nên
chẳng thể diệt tướng. Diệt tướng thì như vật có đáy
mà không có bề mặt. Tánh và tướng lại là chẳng khác,
tướng là biểu hiện của tánh, tánh là căn bản của tướng.
Có căn bản mà chẳng biểu hiện là có thể mà không có dụng,
nên phật chẳng trụ niết bàn. Vì cớ gì? Vì hết thảy chúng
sanh chính chấp tướng nầy, nếu phật không biểu hiện tướng
nầy ra thì chẳng thể độ tha. Nên chứng tánh thể nguyên
là để khởi hành, như tiểu thừa, phật mắng là mầm lụi
giống hư, rơi vào cái hố vô vi. Văn của khoa nầy chính là
để phát huy lý đó, để cho biết cái sở dĩ nhiên của phật
khiến người ta chẳng trụ pháp tướng, lại chẳng trụ phi
pháp tướng. Phật dạy người tu hành nguyên vì độ chúng
sanh, nếu rơi vào hố vô vi, thì sao có thể độ được? Nên
bát nhã phải ở chỗ 2 bên chẳng trụ, ắt chẳng trụ hữu,
chẳng trụ không mới có thể xứng tánh. Lại tánh là vô
tướng vô bất tướng. Vô tướng nên chẳng thể chấp hữu,
chẳng thể trụ pháp. Vô bất tướng nên chẳng thể chấp
không, chẳng thể trụ phi pháp. Chính vì tánh là vô tướng,
vô bất tướng nên phàm phu chấp một bên hữu, thấy chẳng
được tánh, tiểu thừa chấp 1 bên vô, cũng chẳng thấy được
tánh. Ngàn kinh muôn luận, không cuốn nào là chẳng thuyết
minh lý nầy, chú sớ của các vị đại đức cũng không cuốn
nào là chẳng phát huy lý nầy. Nên chữ thân tướng ở câu
nầy, chẳng thể cho là nói phật thân, ắt phải đem trên
thể-tướng của bổn thân chúng sanh ra mà nói. Trên đến
phật, dưới đến hết thảy chúng sanh đều là tướng nầy.
Phật chứng được pháp thân nên gọi là như lai, hết thảy
chúng sanh mừng giận, buồn vui, khởi tâm động niệm vốn
là bất giác. Nhưng có thể thành phật cũng vẫn là cái tâm
của chúng sanh nầy, nên tâm nầy tức là như lai, chẳng qua
bị vô minh che đi, nên gọi là như lai tạng mà thôi. Phật
hỏi lời nầy là thử thăm dò xem Tu Bồ Ðề và đại chúng,
cho đến chúng sanh đời vị lai, cứu cánh câu văn trên ta
nói bất trụ tướng, làm sao có thể ở trên tướng mà thấy
tánh ư? Như trả lời là có thể thấy như lai thì trụ ở
pháp tướng, tức là phàm phu. Như trả lời là chẳng thể
thấy như lai, là trụ ở phi pháp tướng tức là tiểu thừa.
Phất
dã thế tôn ! Bất khả, dĩ thân tướng đắc kiến như lai.
Dịch
nghĩa : Thưa thế tôn, chẳng thể. Không thể, mà có thể lấy
thân tướng được thấy như lai.
Từ
xưa đến nay đọc kinh Kim Cương, bất khả dĩ thân tướng
đắc kiến như lai, đọc luôn thành một câu. Tôi trì tụng
kinh nầy hơn 40 năm nay. Trước đây mười mấy năm bỗng nhiên
ngộ đến chỗ câu này phải chia ra làm 2 câu để đọc, nhưng
còn chưa dám quyết. Sau đọc ngài Nam Nhạc đại sư giảng
kinh Pháp Hoa: “duy phật dữ phật nãi năng cứu tận chư pháp
thực tướng, sở vị chư pháp như thị tướng, như thị tánh,
như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân,
như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn
mạt cứu cánh” có 3 thứ câu đứt đoạn ngắn, mới dám
quyết định chia làm 2 câu. Nhưng phương pháp nầy chỉ có
kinh của không tông, và kinh của đại sư La Thập dịch là
có thể dùng nó. Giải thích xưa thì thân tướng đương nhiên
là không, là theo trên pháp thân mà nói; ứng, hóa thân cũng
là huyễn tướng, cho nên nói chẳng có thể được thấy như
lai. Nhưng nghĩa nầy có chỗ chưa hết, nếu chiếu theo như
thế mà giải thích, thì là trụ ở phi pháp tướng. Phải
biết : chữ phất trong câu phất giã thế tôn, là nghĩa phải
mà không phải, không phải mà phải, chẳng thể giải nghĩa
hoàn toàn là phủ định. Ðã trả lời là chẳng có thể,
lại trả lời là có thể, nên là cả 2 cái đều rõ. Vả
chăng nếu quả nhiên toàn là phủ định, thì câu dưới cần
gì thêm vào chữ đắc. Ý của Tu Bồ Ðề cho rằng : Chẳng
thể lấy tướng làm tánh, đem thân tướng để thấy như
lai, nhưng tướng do tánh hiện ra, thì cũng được lấy thân
tướng để thấy như lai, nên văn dưới lại có câu : như
lai sở thuyết thân tướng để nói thêm cho rõ. Nếu đem câu
trên đọc làm luôn 1 câu thì ở trên sự thực, trên nghĩa
lý, trên văn tự có bao nhiêu thứ nói ra chẳng thông. Nếu
trả lời: chẳng thể lấy thân tướng thấy như lai, như thế
thì Tu Bồ Ðề vẫn còn chỉ ngộ tướng là tướng, tánh
là tánh, vẫn là kiến giải của tiểu thừa rơi vào thiên
không, chẳng phải là đệ nhứt nghĩa không, thì sao có thể
gọi là giải không đệ nhứt? Huống chi 8 hội bát nhã trước
đều là Tu Bồ Ðề đương cơ, và đã từng thay thế tôn
tuyên thuyết cái lý 2 bên chẳng chấp, tại sao đến đây
trái lại chẳng hiểu rõ ư? Ðây là cùng với sự thực không
hợp. Trong phát-khởi-tự kinh nầy, thế tôn ở chỗ mặc áo,
ăn cơm, thị hiện đại không tam muội, đại chúng chẳng
biết, mà Tu Bồ Ðề đã ngộ được lý nầy, mở miệng ra
liền tán thán hi hữu thế tôn, như lai thiện hộ niệm chư
bồ tát, thiện phó chúc chư bồ tát, thì rõ ràng là thấy
được như lai thị hiện tướng phàm phu, thấy được tướng
chẳng chướng ngại tánh, tại sao trải qua sau khi thế tôn
2 phen khai thị, mà vẫn chỉ thấy được một bên, tánh và
tướng chẳng dung hội? Thế thì 2 chữ hi hữu của văn trước
liền không có lai lịch, 2 câu như lai thiện hộ niệm cũng
không có ý vị, đây là cùng với nghĩa lý chẳng hợp. Lại
theo cách đọc như thế, ấy là hoàn toàn phủ định, thì
chỉ cần 1 câu “phất dã thế tôn” là xong, lại hà tất
thừa ra câu thân tướng kiến như lai, lại cần gì thêm vào
chữ đắc? Ðây là chỗ trên văn tự chẳng hợp.
Hà
dĩ cố ? Như lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng.
Dịch
nghĩa : Vì cớ gì? Như lai chỗ nói thân tướng, tức là chẳng
phải thân tướng.
Như
lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng là chiếu cả
hai bên. Tánh là thể của tướng, tướng là dụng của thể.
Tướng nếu không có tánh thì chẳng dụng, tánh nếu không
có tướng thì chẳng hiển hiện. Lìa tướng ra thì không có
gì gọi là tánh, lìa tánh ra thì không có gì gọi là tướng,
chỉ xem có chấp trước hay không chấp trước mà thôi ! Chấp
tướng thì tướng liền làm chướng ngại mà chẳng được
thấy tánh, nên trả lời là chẳng thể. Nếu chẳng chấp
trước thì ngay ở tướng có thể thấy tánh, tướng như bề
ngoài của vật, tánh như bề trong của vật, nếu bề ngoài
của vật như pha lê trong suốt, thì liền có thể thấy bề
trong của nó, nên trả lời là : lấy thân tướng thấy như
lai. Vì không chấp trước là không rơi vào hai bên, chẳng
ắt phải như tiểu thừa diệt sắc, tỏ không, diệt tướng,
thấy tánh, tức là câu : chẳng nói đoạt diệt tướng ở
văn dưới. Lý của bát nhã trọn vẹn ở chỗ nầy, phải
nên quán chiếu, dùng công phu cho kỹ lưỡng. Theo tướng mà
nói là thân tướng. Theo tánh mà nói thì thể nó là không,
tánh vốn vô tướng. Theo tướng mà nói thì tướng là tướng,
tánh là tánh. Tướng là hư vọng, tánh là chân thực, nên
nói chẳng thể. Theo tánh mà nói thì tướng vốn thể nó là
không, tánh có thể dung tướng, lý chân thực liền hiển ra,
cần gì phải lìa tướng hư vọng mới thấy được tánh chân
thực, nên nói : được thấy như lai. Nếu có thể biết tướng
là không, liền được thấy tánh. Giải thích như thế, mới
cùng với Tu Bồ Ðề đương cơ thỉnh pháp hợp với nhau.
Ðại chúng thấy phật mặc áo ăn cơm, thị hiện tướng phàm
phu liền chấp tướng phàm phu, chẳng thấy như lai. Tu Bồ
Ðề do tướng thấy tánh, biết phật chẳng trụ tướng liền
thấy như lai. Nên đây chính là sự giải thích rõ cả hai
bên.
Phật
cáo Tu Bồ Ðề : phàm sở hữu tướng dai thị hư vọng.
Dịch
nghĩa : phật bảo Tu Bồ Ðề : gồm chỗ có tướng đều là
hư vọng.
Kẻ
kết tập kinh để câu : Phật cáo Tu Bồ Ðề là chỉ-thị
nghĩa lý của văn dưới trọng yếu, câu nầy tức là ấn
hứa, dưới đây lại suy rộng ra nói. Hồi nãy một bên hỏi
một bên trả lời chỉ nói về thân tướng, thực ra thì gồm
chỗ có tướng đều là hư vọng, ông nói chẳng thể, rất
đúng, vì tánh vốn chẳng phải tướng. Chữ vọng nầy là
nghĩa rộng, hư vọng cũng như hư giả. Ðã biết là hư giả
thì phải hồi quang phản chiếu, chẳng thể hướng ngoại
tìm cầu ở nơi tướng, phải mau mau quay về tánh. Tánh vốn
chân thực, há có thể lấy hư giả thấy chân thực ư? Biết
thế thì bịnh của phàm phu có thể tránh khỏi, chẳng đến
nổi rơi vào luân hồi.
Nhược
kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến như lai.
Dịch
nghĩa : Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, liền thấy
như lai.
Chư
tướng là hết thảy tướng, tức là phàm sở hữu tướng.
Chỉ phải hiểu rõ một cách triệt để hết thảy tướng
đều là hư vọng, liền chẳng đuổi theo cái vọng, liền
biết có cái chân. Nên thấy chư tướng phi tướng thì tướng
chẳng thể che lấp tánh, liền thấy như lai, cần gì phải
diệt tướng, ngay ở tướng có thể thấy tánh vậy. Ông trả
lời là được thấy như lai rất đúng. Chữ kiến cũng có
công phu, phải thiệt có thể thấy chư tướng phi tướng thì
mới có thể được. Nếu chỉ nói cái lý, liền chẳng thể
thấy như lai. Chữ tắc từ xưa đến nay các kinh đều chép
là tức, nay theo người nhà Ðường viết kinh viết là tắc,
tắc và tức vốn có thể thông dụng. Phàm sở hữu tướng
đã là hư vọng đều chẳng nên trụ, nên trên nói pháp tướng,
nói phi pháp tướng là bao gồm hết thảy tướng. Phật nói
chẳng trụ tướng tức là khiến người ta thấy như lai. Nếu
chấp ứng hóa thân liền chẳng thể thấy pháp thân, nên chẳng
trụ tướng là khiến người ta thấy tánh. Lại chẳng trụ
tướng là chẳng chấp trước, chẳng chấp trước là chẳng
bị tướng chuyển, trái lại tướng lại bị ta chuyển. Nên
chỉ cần hiểu rõ tướng là hư vọng, không cần đoạn diệt
tướng, vả lại cũng chẳng thể đoạn diệt tướng, vì tướng
vốn do tánh hiện ra.
Phật
khiến người ta đối với các pháp ở thế gian chẳng thể
chấp trước, lại cũng chẳng thể chán ghét, phàm phu chấp
tướng là trụ pháp tướng mà sanh phiền não. Người tu hành
chán ghét thế gian pháp, lại là trụ phi pháp tướng mà sanh
phiền não. Phải biết, tánh là vô tướng mà vô bất tướng,
chẳng thể đoạn diệt. Chúng ta dụng công trước phải quán
chiếu, lâu ngày mới có thể chiếu-trụ, sau rốt mới có
thể chiếu-kiến. Y theo lời phật nói 2 bên chẳng chấp mà
tu hành, thực hành đi, thực hành trở lại, đến lúc công
phu thuần thục càng ngày càng thâm thúy thêm lên mới là bát
nhã ba la mật, mới là thiệt thấy chư tướng phi tướng,
tức là chỗ trong Tâm kinh nói : chiếu kiến ngũ uẩn đều
không, độ hết thảy khổ ách. Chữ sắc trong tâm kinh tức
là chữ TƯỚNG trong kinh nầy, thụ tưởng hành thức tức
là mừng giận vui buồn, khởi tâm động niệm, quán chiếu
đến chỗ đều không, mới là chư tướng phi tướng. Ðều
không tức là tam không, chẳng phải là cái không của tiểu
thừa, nên lại nói : sắc bất dị không, không bất dị sắc,
nói như thế thì sắc và không còn là 2 cái, nên lại nói
: sắc tức thị không, không tức thị sắc, đây là không
hữu đồng thời, cùng với câu : phàm sở hữu tướng dai
thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến
như lai, thông với nhau. Phàm sở hữu tướng dai thị hư vọng
cùng với : không tức thị sắc thông, hết thảy là giả danh,
thể của nó là không vậy. Nhược kiến chư tướng phi tướng
tắc kiến như lai, cùng với : sắc tức thị không thông. Sắc
tức không thì có thể thấy rằng không chẳng ở ngoài sắc,
cần gì phải diệt sắc để tỏ rõ cái không, nên nói tắc
kiến như lai. Kiến như lai tức là kiến tánh. Chẳng chấp
tướng liền có thể độ hết thảy khổ ách. Khổ ách vô
lượng, đem cái lớn ra mà nói là phần đoạn sanh tử của
phàm phu, biến dịch sanh tử của tiểu thừa. Phàm phu thân
có dài, ngắn, mạng có thọ yểu, lưu chuyển trong vòng sanh
tử, gọi là phần đoạn sanh tử. Tiểu thừa chứng được
cái tánh vô tướng, đã được cái thể, vốn có thể hiện
tướng, nhưng tiểu thừa sợ khổ chẳng chịu nhập thế độ
sanh, trong tâm nổi dậy vi tế sanh diệt, phật gọi là biến
dịch sanh tử. Nếu kiến như lai liền có thể độ thứ khổ
ách nầy, độ khổ ách do ở chỗ kiến như lai, kiến như
lai do chiếu kiến, nên dụng công cần nhứt là phải làm sự
quán chiếu.
Kinh
văn khoa nầy nếu tiêu về tự tánh mình, thì lúc gặp hết
thảy tướng, công phu bước thứ nhứt là quán : phàm chỗ
có tướng đều là hư vọng, đến như sắc thanh hương vị
xúc pháp thì quán chư tướng phi tướng. Hoặc nghi ngờ rằng
ở chốn trần lao chẳng dễ gì làm sự quán chiếu, thì tôi
xin đem ngay thành phố Thượng Hải ra mà nói : chúng ta trọn
ngày nghe thấy tiếng xe chạy ầm ầm, tiếng người nói ồn
ào, bao nhiêu thứ tiếng huyên náo. Phải biết, những thứ
tiếng nầy đều nổi dậy rồi diệt mất chẳng ngừng, lũ
chúng sanh đi qua đi lại nườm nượp nầy đều vội vàng
bận rộn ở manh áo miếng cơm, chẳng do mình tự chủ. Nhưng
đó thực ra thì chẳng phải là tiếng xe, tiếng người, bao
nhiêu thứ tiếng huyên náo đó là tiếng vô thường, khổ,
không, vô ngã, thể của nó là không. Nhưng rõ ràng là tiếng,
mà làm sự quán như thế, thì lại phải chẳng chấp hữu,
chẳng chấp không, mới là tiếng của bát nhã ba la mật đa.
Nên kinh văn chẳng kể câu nào cũng đều có thể làm sự
quán, đi đứng nằm ngồi chẳng lìa cái đó, thì thụ dụng
vô cùng. Y theo văn tự, bắt đầu quán chiếu như thế thì
trước ta phải đọc kinh, đó là kinh chuyển ta. Ðến như
làm sự quán là ta chuyển kinh. Kinh chuyển ta là lấy kinh để
chuyển di phàm tình. Ta chuyển kinh lại là công phu trọng yếu.
Kinh văn khoa nầy là thuyết minh cái sở dĩ nhiên của văn
trên, tức là tổng kết những câu : hàng phục kỳ tâm, ưng
vô sở trụ, v v ..., nên y theo văn nầy mà quán chiếu, cùng
với quán chiếu văn trên không khác. Phàm sở hữu tướng
dai thị hư vọng nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến
như lai, kiến như lai tức là kiến tánh, kiến tánh tức là
cái sở dĩ nhiên của bất trụ tướng. Kiến tánh, kiến được
một phần là sơ địa bồ tát, là bất thoái chuyển ư a nậu
đa la tam miệu tam bồ đề tâm, kiến được cứu cánh là
thành phật, tức là cái sở dĩ nhiên của phước đức chẳng
thể tư lường ở văn trên. Thành phật, kiến tánh, pháp thân
hiển hiện khắp đầy hư không là cái sở dĩ nhiên dùng hư
không làm thí dụ của văn trên, Phải biết kinh nầy nói đi
rồi nói trở lại đều là nói vô trụ. Văn trên bất trụ
ư tướng là giải thích ưng vô sở trụ, vì thế phật mở
miệng là nói ngay hàng phục kỳ tâm trước hết. Sở hữu
nhứt thiết chúng sanh dai linh nhập vô dư niết bàn nhi diệt
độ chi, là dạy chúng ta chẳng trụ, diệt độ vô lượng
chúng sanh thành phật là chỉ thị chúng ta chẳng trụ pháp
tướng. Sau nói bồ tát ưng vô sở trụ, cũng là dạy người
ta chẳng trụ pháp tướng. Hành ưng bố thí là dạy người
ta chẳng trụ phi pháp tướng.
Tuy
lại nói : đãn ưng như sở giáo trụ, ý tứ vẫn là dạy
người ta trụ ở vô trụ, tức là chỗ bực Cổ đức nói
: chỉ cầu vọng ngừng nghỉ, chẳng lại tìm chân, chân là
chân tâm lại là chân như. Ưng là như như bình đẳng. Tại
sao lại như như bình đẳng? Vì tánh thể vốn nó như thế.
Có tánh thể nầy liền có thể hiện ra tướng, nên kẻ chứng
đắc chẳng thể nào còn tồn tại cái chân tâm nầy, nếu
mà tìm cái chân tức là thức thứ 6, 7, liền thành ra vọng.
Cổ đức gọi là chấp dị, chấp dị có nghĩa là chia chân
vọng ra làm hai, chẳng phải bình đẳng, nên phật mới nói
: ưng như ngã sở giáo trụ, để hàng phục vọng tâm. Phàm
phu đều là vọng tâm, ắt phải trừ vọng tâm từng phần
từng phần, thì chân tâm mới hiện ra từng phần từng phần.
Chỉ cầu vọng ngưng nghỉ, chẳng lại tìm chân, là ý nầy
vậy. Phàm sở hữu tướng dai thị hư vọng, một khi trụ
tức là vọng, nên văn trước mở miệng liền nói hàng phục
mà chẳng nói trụ, tại sao lại nói : nhược kiến chư tướng
phi tướng tắc kiến như lai, đây là nói sự lợi ích của
chẳng trụ, nếu có thể thấy chư tướng phi tướng, thì
liền thấy được chân tánh. Ðây tức là tổng kết văn trên
chẳng nói trụ mà nói hàng phục, đãn ưng như sở giáo trụ.
Như thế có thể biết phép hành văn của kinh Kim Cương bao
la như ngựa trời đi trên không, mà thuyết lý thì như mũi
kim sợi chỉ hết sức tế mật, chỗ nào cũng khai mà chỗ
nào cũng kết. Ðọc văn khoa nầy như ngọn núi lạ đột nhiên
đứng sừng sững xem giống như cùng với văn trên chẳng nối
tiếp, thực ra là tổng kết của văn trên. Chính như mấy
lần núi, mấy giòng sông, tầng tầng bao bọc chỗ chỗ có
long mạch đi qua đi lại, chỗ chỗ có huyệt kết. Ðem văn
tự ra mà nói thì một mặt nói, một mặt lại tảo trừ đi
hết, đây chính là chẳng trụ pháp tướng, chẳng trụ phi
pháp tướng, thiệt là xứng đáng với văn tự bát nhã. Lúc
đọc kinh nầy, lúc giảng kinh nầy ở văn trên, phải đem
văn dưới thu nhiếp vào, ở văn dưới phải ngó lại văn
trên như câu : phàm sở hữu tướng dai thị hư vọng là cùng
với câu văn dưới : nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh
cầu ngã v. v. 4 câu kệ, chiếu ưng lẫn nhau, câu : nhược
kiến chư tướng phi tướng tắc kiến như lai, cùng với câu
văn dưới : ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng cũng thông
suốt lẫn nhau.
Lại
nói rõ khoa “SỞ DĨ” nầy có 4 yếu nghĩa:
1)
Ở trên chỉ lấy hư không thí dụ phước đức chẳng thể
tư lường, là để giải thích rõ cái cớ ưng bất trụ tướng
hành bố thí. Ở đây lại nói rõ : nếu chẳng trụ tướng
thì có thể thấy như lai tánh thể, đó là phước đức sở
dĩ như hư không, chẳng thể tư lường vậy.
2)
Phía trên nói chẳng trụ tướng, là đề phòng kẻ chẳng
hiểu rõ ngờ là diệt tướng, ở đây lại nói rõ là chẳng
chấp thủ mà không phải là đoạn diệt tướng của nó, chỗ
gọi là : nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến như
lai, đây là cái sở dĩ của bất trụ tướng.
3)
Phía trên nói nhân hành phải chẳng trụ tướng, là để phòng
nghi ngờ chẳng những chúng sanh đều có thân tướng tứ đại,
ngũ uẩn khổ quả, mà ngay đến thế tôn cực quả cũng hiện
trượng 6, 8 thước, 32 thân tướng, thế thì làm sao chẳng
trụ? Nay nói rõ nó đều chẳng có thể trụ là theo quả đức
mà nói, trụ thì chẳng thể thấy như lai là theo khổ quả
mà nói, vì trụ thì chẳng thể thấy như lai tạng vốn đầy
đủ. Ðây là cái sở dĩ của đãn ưng như sở giáo trụ,
và cũng là cái sở dĩ của ưng bất trụ tướng.
4)
Tiểu thừa tánh và tướng chẳng dung hội, đã lấy âm thanh
sắc tướng làm phật, họ tự tu lại rơi vào chấp vô vi.
Nay nói rõ phải chẳng chấp sắc tướng mà thấy như lai,
tự tu cũng chẳng nên nghiêng về không, chỉ chẳng chấp tướng
thì sắc tức là không, tướng tức là tánh, tánh tướng viên
dung, vô ngại tự tại, đây chính là cái sở dĩ thế tôn
thuyết pháp bát nhã, khiến được từ tiểu thừa chuyển
hướng qua đại thừa.
SANH
TÍN
Tu
Bồ Ðề bạch phật ngôn : thế tôn ! Phả hữu chúng sanh đắc
văn như thị ngôn thuyết chương cú sanh thực tín phủ ?
Dịch
nghĩa : Tu Bồ Ðề thưa phật rằng : thưa thế tôn, có nhiều
chúng sanh được nghe ngôn thuyết chương cú như thế nầy,
sanh ra thực tín chăng ?
Kinh
nầy phàm để câu Tu bồ Ðề bạch phật ngôn là để trịnh
trọng việc đó, vì chỗ nói đều đạo lý rất cần yếu.
Phải có nghĩa là nhiều. Như thị là trỏ văn trên chỉ-thị
rõ ràng 1 khoa mà nói. Ngôn thuyết là pháp của văn trên nói.
Chương cú là chẳng phải 1 chương 1 câu. La Thập đại sư
tùy thuận thành ngữ của Trung Quốc, người Hán giải thuyết
về kinh học phần nhiều gọi là chương cú, ấy là trỏ đạo
lý chỗ văn trên nói mà nói. Thực tín chẳng phải là sự
tin lờ mờ, hời hợt, tức là có thể hiểu rõ nghĩa chân
thực của ngôn thuyết chương cú như thế. Chỗ hỏi nầy
của Tu Bồ Ðề là chú trọng ở thực tín, tức là khai thị
chúng ta đối với ngôn thuyết chương cú như thế ắt phải
sanh thực tín thì mới được. Ở trên chỗ nói của thế
tôn rất là sâu, hết thảy chúng sanh, kẻ nào nghe được
đã đành là sanh tín, nhưng có thể sanh thực tín có nhiều
chăng? Hay không nhiều? Sợ chẳng có nhiều, vì đạo lý sâu
như thế, kẻ sanh thực tín, nếu không có thượng căn lợi
trí thì chẳng thể làm nổi. Nhưng thứ căn khí nầy thì chẳng
thấy nhiều, cứu cánh phải là thượng căn lợi trí ư? Hay
chẳng cần phải là thượng căn lợi trí ư?
Phật
cáo Tu Bồ Ðề ! Mạc tác thị thuyết, Như lai diệt hậu,
hậu ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương
cú, năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thực.
Dịch
nghĩa : Phật bảo Tu Bồ Ðề : đừng làm lời nói nầy, sau
khi như lai diệt độ, 500 năm sau, có kẻ trì giới tu phước,
ở chương cú nầy có thể sanh lòng tin, lấy đây làm thực.
Kẻ
kết tập kinh để câu : phật cáo Tu Bồ Ðề là hiển thị
ý chỗ nói nầy là trọng yếu. Một câu : mạc tác thị thuyết,
thế tôn bịt ngay miệng Tu Bồ Ðề lại, khiến ông ta đừng
nói lời nói đó. Chẳng những hiện tại đại chúng có thể
sanh thực tín, ngay đến sau khi như lai diệt độ đến sau
500 năm, có kẻ có thể trì giới tu phước, liền ở chương
cú nầy có thể sanh tín tâm, còn kẻ khác thì chẳng thể
sanh tín tâm. Chữ thử trong câu dĩ thử nầy cũng là trỏ
ngôn thuyết chương cú. Vi thực : là nói có thể hiểu rõ
đạo lý kinh nầy, từ đó dụng công tu hành nên có thể sanh
tín tâm, toàn nhờ cậy ngôn thuyết chương cú nầy làm thực.
Xưa nay bao nhiêu đại văn nhân xem qua Ðại Tạng Kinh chẳng
chỉ một lần, hỏi đến sự tu hành của họ thì không có
một chút gì, tức là phạm vào bịnh chẳng lấy ngôn thuyết
chương cú làm thực. Câu dĩ thử vi thực chính là để trả
lời câu hỏi : sanh thực tín phủ của Tu Bồ Ðề. Chỗ hỏi
của Tu Bồ Ðề một là khiến người ta phải sanh thực tín,
một là lo đạo lý rất sâu, nếu chẳng phải là người có
đại căn thì chẳng thể thực tín, dụng ý cũng là đúng.
Nhưng
tại sao phật lại bịt miệng ông ta lại? Chỗ nầy gồm có
3 yếu nghĩa, theo văn dưới có thể xem thấy : 1) là chẳng
thể coi rẻ chúng sanh, sau 500 năm còn có người, huống chi
hiện tại? 2) Chẳng thể ngăn trở thiện niệm của người
ta, khiến sanh ra tâm thoái lui, xem văn dưới câu : ư vô lượng
thiên vạn phật sở chủng chư thiện căn, có thể thấy. 3)
Chẳng ắt phải thượng căn lợi trí, chỉ cần 2 hạng người
trì giới, tu phước, thì liền có thể sanh tín.
Nghĩa
thứ nhứt thứ nhì là từ nghĩa thứ 3 sanh ra, vì 2 hạng người
trì giới tu phước, trí tuệ đều chẳng thấy cao. Trì giới
tu phước đều là cầu phước báo, họ đối với pháp môn
rất sâu nầy nguyên có ý thoái lui, co rút lại. Nên phật
răn rằng : mạc tác thị thuyết. Ở trên còn là lời nói
thô thiển, trong nầy lại còn có thâm ý. Một lời : mạc
tác thị thuyết, chính là đối với người hoằng dương đại
thừa phật pháp mà nói, chẳng những đối với lúc bấy giờ,
lại gồm cả đối với sau nầy những người hoằng dương
đại thừa phật pháp mà nói. Chẳng những răn Tu Bồ Ðề
chẳng thể nói lời nói nầy, chúng ta hiện nay cũng chẳng
thể nói lời nói nầy. Bổn ý của phật là phải hết sức
hoằng dương pháp môn bát nhã. Kinh nầy là Tu Bồ Ðề khải
thỉnh, 8 hội trước ông ta còn thay phật tuyên thuyết, thì
có thể thấy Tu Bồ Ðề là người hoằng dương bát nhã.
Văn dưới nhiều lần nói : có kẻ nào thọ trì đọc tụng,
vì người khác nói, thì hy vọng hoằng dương bát nhã của
phật có thể thấy ở đây. Nếu tác thị thuyết, há là bổn
ý hoằng dương ư? Nhưng hoằng dương bát nhã thiệt chẳng
dễ gì, như bực cổ đức nước Trung Hoa từ nhà Tống đến
nay, thấy pháp môn bát nhã khó tu, nên đều chẳng muốn giảng,
cho là chúng sanh nghiệp sâu chướng nặng, có bao nhiêu thứ
chấp tướng, chẳng dễ gì lãnh hội. Lại sợ người ta nghe
pháp môn nầy trái lại rơi vào cái không nghiêng lệch, thậm
chí thành ra ác thủ không nên chẳng thà chẳng giảng. Thế
tôn sớm đã thấy chỗ đó, nên mới đem lời : mạc tác thị
thuyết ra để răn. Giảng bát nhã sở dĩ rơi vào các bịnh
không nghiêng lệch, là kẻ giảng chẳng khéo hoằng dương,
không phải là lỗi của kẻ nghe pháp. Phải biết, bát nhã
chính là nòi giống của phật.
Kinh
nầy nói : hết thảy chư phật và a nậu đa la tam miệu tam
bồ đề của chư phật đều từ kinh nầy ra. Nếu chẳng giảng
thì đạo lý của bát nhã vĩnh viễn chẳng thể tỏ rõ, há
chẳng phải là dứt nòi giống của phật hay sao? Nên chẳng
thể nào không hết sức hoằng dương, văn dưới sở dĩ có
câu : hạ đảm như lai tam miệu tam bồ đề, là vậy. Các
bực đại đức đời gần đây phần nhiều chẳng giảng bát
nhã, mà giảng tam-đế viên dung, thực chẳng dễ gì hiểu
nổi. Phật nói tam đế ở trên hội Pháp Hoa chính là sau khi
đã tuyên thuyết bát nhã. Nên phật dự bị răn : mạc tác
thị thuyết, muốn cho Tu Bồ Ðề hoằng dương pháp môn nầy,
có ý nói nếu ông không hoằng dương thì làm sao có thể khiến
cho người ta hiểu rõ, sanh ra thực tín. Ông chỉ lo rằng chúng
sanh chẳng dễ sanh tín mà quên mất việc lớn hoằng dương
bát nhã, thì sao có thể được ư? Chẳng những như thế,
nếu ông không hoằng dương là ngăn trở thiện niệm của
người ta, nên phải hết sức hoằng dương. Nhưng hoằng dương
nếu chẳng thận trọng thì cũng chẳng thể được. Phật
giảng bát nhã đã là ở lúc tuổi già, lúc phật mới thành
đạo trước nói kinh Hoa Nghiêm. Vì trong hiền-kiềp. Thích
Ca Mâu Ni đã là vị phật thứ 4, cách Phật lâu đời, chẳng
thể đem cảnh giới của Phật nói ra hoàn toàn đầy đủ.
Thế nên liền quay lại giảng kinh A-Hàm, là khiến người
ta tu hành một cách thực tiễn. Ðến lúc căn cơ của người
ta lần lần thuần thục, liền giảng kinh Phương Ðẳng, đem
lý của đại thừa thuyết minh, khiến người ta từ tiểu
thừa hướng về đại thừa, rồi kế tiếp đó mới giảng
bát nhã. Có thể thấy pháp môn nầy phải thận trọng, đã
phải hoằng dương, lại phải thận trọng, nên ắt phải lựa
chọn căn cơ trì giới tu phước.
Ý
phật muốn nói : ông sợ người ta chẳng dễ sanh thực tín,
lại lo kẻ sanh thực tín chẳng được nhiều, ông chỉ cần
y theo chỗ ta nói mà hoằng dương, từ trên thực tiễn dụng
công, thì kẻ nghe chẳng đến nổi lầm lẫn. Chỉ xem phương
pháp của kẻ hoằng dương ra sao, lo gì kẻ nghe chẳng sanh
thực tín ư? Câu : mạc tác thị thuyết rất là cần yếu,
kẻ hoằng dương phật pháp đời vị lai đều phải như thế.
Như lai diệt hậu : diệt là diệt độ. Diệt độ có 2 nghĩa:
nghĩa căn bản là trỏ tâm bất sanh diệt, chỗ gọi là: sanh
diệt diệt hết, tịch diệt hiện ra, gọi đó là niết bàn.
Sau nầy mượn dùng, phàm hết thảy phật hay bồ tát viên
tịch cũng gọi là nhập diệt. Diệt hậu là trỏ sau khi hết
thảy tướng sanh diệt của phật đã diệt. Ðó là ứng hóa
thân diệt, như lai là pháp thân, thì vì cớ gì lại nói diệt?
Ðây có đạo lý tinh mật sâu xa. Phật muốn chúng ta hiểu
rõ, nên đặc biệt nói như lai diệt là có 3 yếu nghĩa:
1)
Báo thân và ứng hóa thân đều là tướng, diệt là sự diệt
của báo thân, ứng thân, như sự diệt của thế tôn mặc
áo ăn cơm, thị hiện tướng phàm phu, là ứng hóa thân diệt.
Báo thân cũng từ pháp thân hiển hiện ra, đã có hiển hiện,
liền có nhập diệt, đây chẳng nói ứng thân, báo thân diệt,
là chỉ-thị rõ ràng như lai chẳng lại hiện trở lại ứng
thân báo thân nữa, muốn cho chúng ta cảnh giác. Phải biết
ứng, báo thân như lai hiện ra vẫn còn là sanh diệt, tức
là: phàm sở hữu tướng đều là hư vọng, huống chi cái
thân túi da thúi của chúng ta ư? Lại thân tướng của chúng
ta, sanh ra chẳng biết tại sao nó sanh ra, diệt đi chẳng biết
tại sao nó diệt đi, hoàn toàn bị nghiệp lực dắt dẫn,
tự mình chẳng thể làm chủ. Phật thì chẳng như thế, tuy
ứng thân, báo thân là sanh diệt, mà như lai tự mình làm chủ,
muốn sanh thì sanh, muốn diệt thì diệt. Chúng ta đều có
như lai tạng, nên mau mau quay trở về bổn lai diện mục của
chúng ta.
2)
Chứng được bổn tánh gọi là như lai, nhưng pháp thân vô
tướng làm sao có thể thấy được? Cái có thể thấy được
là cái tướng, ngay đến chỗ thấy của bồ tát là báo thân
của pháp thân hiện ra, chỗ thấy của phàm phu là ứng, hóa
thân của pháp thân hiện ra. Nhưng nếu có thể thấy cái phi
tướng của ứng thân, báo thân thì liền thấy như lai. Nên
muốn thấy tánh là từ phi tướng mà thấy, chẳng thể vào
ở đoạn diệt. Cho nên phật cảnh cáo chúng ta, thấy như
lai đã chẳng dễ gì, phải dũng mãnh tinh tiến để mà chứng
được. Chúng ta muốn thấy như lai phải từ trên TÁNH mà
tìm cầu. Nói đến tánh thì ta và như lai, tự và tha chẳng
khác, có thể ở trên tánh-thể của tự mình hiểu thấu một
chút, tức là cái cơ thấy như lai.
Báo
thân ứng thân của như lai vẫn là nhập diệt, vẫn là tướng,
nhưng chẳng phải là vĩnh viễn, diệt, còn phải thị hiện.
Phải biết báo thân ứng thân vẫn là cái bóng của pháp thân.
Chúng ta biết pháp thân bất diệt, tức là báo thân ứng thân
lại có cơ hội thị hiện. Từ xưa đến nay có người thấy
kim thân cao 1 trượng 6, có kẻ thấy thân phật lớn như núi
Tu Di, tức là báo thân phật mà bồ tát thấy được. Lại
như Trí Giả đại sư chú kinh Pháp Hoa xong, tự mình thấy
trên hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa giải tán, đều là chứng
được như thế.
Nên
nghĩa thứ nhứt nói như lai chẳng thị hiện trở lại ứng
thân báo thân là khiến chúng ta cảnh giác. Nghĩa thứ nhì
là khiến người ta biết: muốn thấy như lai thì phải ở
nơi tự thân mình mà dụng công. Nghĩa thứ ba nói như lai bất
diệt, chỉ cần phải dụng công thì còn có thể thấy được.
Câu
hậu ngũ bách tuế, xưa nay có 3 thứ giải thích: 1) đối với
sau khi như lai diệt độ mà nói, tức là trỏ 500 năm sau khi
như lai nhập diệt. 2) Lấy sau khi như lai nhập diệt 500 năm
thứ nhứt làm trước, 500 năm thứ nhì làm giữa, 500 năm thứ
ba làm SAU. 3) Nói sau khi như lai diệt độ 5 cái 500 năm, vì
chính pháp, tượng pháp mỗi cái 1.000 năm, mạt pháp 10.000
năm, đây chánh là trỏ 500 năm đầu của mạt pháp. Sau khi
như lai diệt độ, chánh pháp 1.000 năm, 500 năm đầu giải
thoát kiên cố, 500 năm thứ nhì thiền định kiên cố. Chỗ
gọi là giải thoát tức là chứng được bát nhã ba la mật,
độ hết thảy khổ ách. Kiên cố có nghĩa là căn khí của
chúng sanh vững chắc, 500 năm thứ nhì căn khí hơi khác, nhưng
có thể trụ ở thiền định. Cái giải thoát, thiền định
nầy tức là định tuệ, nên gọi là chánh pháp. Ðến 500
năm đầu của khoảng 1.000 năm tượng pháp, tuy cũng có kẻ
giải thoát thiền định, nhưng đã rất ít, chỉ chuyên việc
giảng lý, chẳng chú trọng thực hành, nên gọi là đa văn,
kiên cố. Phải biết, xem kinh chỗ trọng yếu là ở làm sự
quán, chỉ làm sự nghe nhiều, thì như đếm châu báu của
người khác, tự mình chẳng có một đồng nào, lại gọi
là nói ăn mà chẳng no. Thế tôn bảo A Nan: nhiều kiếp trước
ông cùng tu với tôi, đến nay ông vẫn là thị giả của phật,
bịnh của ông là chỗ chỉ chuyên việc nghe nhiều. Ðến 500
năm thứ nhì dẫu kẻ nghe nhiều cũng rất ít, chúng sanh chỉ
biết sửa cất chùa, xây tháp, nên gọi là tháp tự kiên cố.
Một ngàn năm nầy hình thức của phật pháp là ưa chuộng
những cái đó, đã mất đi bổn ý của phật, chẳng qua chỉ
là tượng, tướng mà thôi, nên gọi là tượng pháp. Ðến
500 năm đầu của thời kỳ mạt pháp, thì phật pháp lại
càng suy sụp, chúng sanh chỉ biết đấu tranh, tức là PHẤN
ÐẤU của danh từ mới. Phật pháp của nước Ấn Ðộ sớm
bị diệt vong nguyên nhân là ở thời kỳ tượng pháp mà đã
có nhiều đấu tranh. Nước Trung Hoa cũng vậy, ở khoảng giữa
nhà Ðường, Thiền tông Tịnh-Ðộ tông, Pháp-Tướng tông
đều nổi dậy sự tranh dành môn hộ, nên gọi là đấu tranh
kiên cố. Kinh nầy nói hậu ngũ bách tuế chính là trỏ thời
kỳ nầy. Hiện nay thì lại chính là ở sau 500 năm nữa của
mạt pháp. Nên Phật nói : ở thời kỳ nầy nếu có người
nào có thể xem kinh chỉ là một số rất ít vậy.
Dĩ
thử vi thực : chính là kẻ có thể trì giới tu phước, đây
có 4 nghĩa :
1)
Bát nhã là chánh trí tuệ, tuệ do định sanh ra, định do giới
sanh ra, nên muốn nổi dậy bát nhã chánh trí, thì phải bắt
đầu từ giới mà dụng công, nếu không thì chẳng thể từ
đâu mà sanh ra định, sanh ra trí được. Phàm phu có thể trì
giới thì mới có thể lìa nhiễm ô ở ngoài, nếu chẳng trì
giới thì tâm chẳng thanh tịnh, chẳng thể nhiếp tâm một
chỗ, chẳng thể làm sự quán, thì làm sao có thể sanh ra bát
nhã? Nếu chẳng từ chỗ trì giới mà muốn sanh ra trí, thì
rơi vào ác thủ không, cũng chẳng thể biết. Nên phước tuệ
song tu như xe có 2 bánh, thiếu 1 bánh chẳng thể được, kẻ
tu hành có thể như thế thì mới có thể thành lưỡng túc
tôn. Vả lại phước và tuệ 2 cái phải bình đẳng, chẳng
thể 1 cái khinh, 1 cái trọng. Có người nói : chỉ cần trí
tuệ, biết đâu rằng trọng tuệ khinh phước, tức là khuyết
thiếu đại bi, chẳng thể nào được ! Nên chư phật dạy
người ta phát tâm đại bi, kinh nầy mở miệng liền nói bố
thí, đủ thấy tu tuệ thì chẳng thể nào mà không tu phước.
Nếu không tu phước thì cùng với chúng sanh vô duyên, chẳng
những vô duyên ngay đến tướng hảo của kẻ tu hành cũng
chẳng thể đầy đủ. Kẻ hoằng dương phật pháp, tướng
hảo cũng quan hệ trọng yếu, nên trong kinh phật chỗ nào
cũng nói tướng hảo của phật bồ tát. Tướng của La Hán
chưa được như phật là có lý. Trên nói sau khi chứng được
thể thì phải hiện ra tướng, cũng đều là chúng sanh, nên
chúng sanh thấy kẻ có tướng hảo thì họ dễ thân cận.
Pháp môn bát nhã là khiến cho người ta thành phật, trì giới
tu phước là căn cơ để thành phật.
2)
Phải biết, người trì giới ắt ít ham muốn, tự tri túc,
tham dục so sánh ít hơn. Hạng người nầy tu bát nhã mới
không sanh ra bịnh. Vì tu bát nhã thì phải ly tướng, kẻ tham
dục nhiều quyết chẳng thể nào ly được tướng. Kẻ tu
phước ắt tin sâu nhân quả, người đời muốn được danh
được lợi thì phải noi theo thế pháp mà cầu, còn hạng
người nầy thì chiếu theo phật pháp để cầu, nên kẻ tin
sâu nhân quả quyết chẳng đến nỗi nghiêng về tướng đoạn
diệt. Chẳng trụ ở tướng, thì kẻ trì giới rất thích
nghi, chẳng vào đoạn diệt tướng, thì kẻ tu phước rất
thích nghi. Như kẻ nhiều tham dục một khi nghe bát nhã thì
sanh ra nhiều bịnh. Có kẻ hiểu chẳng trụ tướng một cách
quanh co, cho là làm điều ác cũng chẳng hề gì, buông lời
cao đàm hùng luận, không cái gì là chẳng làm, trái lại họ
cho là được sâu lý bát nhã, thậm chí sát sanh, dâm loạn
mà đều cho là chẳng trụ tướng. Nên phật chẳng lấy thứ
người nầy, ắt lựa người ít ham muốn, tự tri túc.
3)
Văn trước nói phát tâm hành bát nhã thì phải hành bố thí,
bố thí tức là xả, 2 thứ người nầy có thể xả được,
là vì trì giới có thể xả dục vọng của thế gian, tu phước
có thể xả tài sản, tinh thần của mình để làm tài thí,
pháp thí, vô úy thí cho người khác, đây chính là hợp với
đạo lý bát nhã.
4)
Tu pháp môn nầy phải trước đem 1 môn phi pháp tướng bịt
lại, trì giới, tu phước chính là bít phi pháp tướng lại.
Chỉ phải lại ở trên pháp tướng quán chiếu lâu ngày, ở
nơi pháp tướng chẳng chấp thủ, thì liền có thể thành
tựu. Nên phật lựa 2 thứ người nầy, có thể thấy rằng
trì giới tu phước ấy là trỏ ngay người học pháp môn bát
nhã. Lại cũng tức là đối với chúng ta nói : nếu muốn
học bát nhã thì phải kiêng cữ các điều ác, làm hết các
điều lành. Không làm ác là giới, làm lành là phước, thực
hành một cách thiết thực, đem nền móng xây dựng cho vững
chắc thì mới có thể được. Hai thứ người này là người
hết sức cẩn thận những điều nhỏ nhặt, lại có thể
buông xả hết thảy, nếu không thì chẳng thể học bát nhã.
Có thể sanh tín tâm, là vì tín là cửa để vào đạo, ắt
phải thực hành như thế mới có thể vào cửa đạo, nếu
không thì chỉ nói mà chơi, chẳng thể vào cửa đạo. Có
người nói : trì giới tu phước là căn bản để tu bát nhã.
Trước phải bít cái không nghiêng lệch lại, đã đành là
như thế, nhưng vẫn còn có chỗ nghi ngờ. Trong kinh rõ ràng
nói lấy đây làm thực, 2 thứ người nầy rốt cuộc trí
thức chẳng đủ, thì làm sao có thể hiểu rõ yếu nghĩa chân
thực của kinh nầy ư? Ðây có nghĩa lý rất cần yếu. Tạo
sao vậy? Là vì họ được phật gia hộ. Thứ người nầy
là căn cơ mà phật đã lựa định, nếu có thể y theo lời
phật dạy trì giới tu phước mà thực hành, ắt được phật
gia hộ, liền có thể lấy đây làm thực. Kẻ học phật nhứt
định phải đi đứng nằm ngồi thời thời, khắc khắc cầu
tam bảo gia hộ, chẳng kể công phu tu pháp môn nào đều phải
như thế. Ngay lúc giảng kinh cũng phải đem tri kiến bình thường
liệng ra một bên, cầu tam bảo gia hộ, nếu lìa quan niệm
nầy tức là chưa nổi dậy tín tâm. Ngay đến niệm phật,
trong lúc niệm nếu chẳng đem tri kiến lúc bình thường liệng
bỏ đi hết, trong tâm không có một cái gì, chỉ chuyên ý
cầu Di Ðà gia hộ thì chẳng thể được. Nhưng lại có người
cho rằng nếu làm như thế thì bắt chước kẻ ngu phu ngu phụ
cũng được rồi, tại sao lại còn nói phải học kinh điển
đại thừa ư?
Ðây
có 2 nghĩa: 1) Hiểu rõ kinh điển thì công phu càng thêm thù
thắng, đem đạo lý chứa trong 8 thức điền, một khi tương
ứng thì tam minh, lục thông có thể phát sanh ra trong một lúc.
2) Quả nhiên thiệt có thể tin, thì nên học tín tâm kiên
định của ngu phu ngu phụ. Khốn nỗi trên thế gian nầy người
bực trung thì nhiều, họ chẳng chịu ở bực ngu, nên nhứt
định phải khiến cho họ hiểu lý.
Bực
cổ đức viết sách, mở đầu phần nhiều có lời nói : cầu
tam bảo gia hộ. Bực đại bồ tát làm luận, trước bài luận
cũng có câu : vì cớ thừa Phật oai thần lực. Ðây là chân
thực chẳng hư, chẳng phải là tánh ỷ lại, cũng chẳng phải
là mê tín. Nếu không có thứ quan niệm nầy thì hãy còn có
một cái ngã kiến tồn tại, đem tánh linh của mình che lấp
đi, thì viết sách làm luận, sao có thể triệt để. Nên nếu
chẳng đem ngã kiến hoàn toàn liệng ra một bên, thì chẳng
thể được. Thế gian pháp như Khổng Tử, động nói một
câu gì, thì bèn qui ở trời, cũng là được ý nầy. Học
giả từ đời Hán trở về sau đều chẳng biết được lý
nầy.
Ðương
tri thị nhân bất ư nhứt phật, nhị phật, tam tứ ngũ phật
nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn phật sở
chủng chư thiện căn.
Dịch
nghĩa : Phải biết người nầy chẳng phải ở một phật,
hai phật, ba bốn năm phật mà trồng căn lành, đã ở chỗ
vô lượng ngàn muôn phật trồng các căn lành.
Khoa
trên trì giới tu phước đến câu dĩ thử vi thực, khoa
nầy chính là làm chú giải cho khoa trên. Thị nhân : là trỏ
kẻ trì giới tu phước, trỏ rõ người nầy mà chẳng nói
lũ người nầy, thì có thể thấy trì giới tu phước tuy nói
là 2 việc, thực ra là một việc, 2 việc đều chẳng thể
thiếu. Nhứt phật đến nhị phật thời gian đã hết sức
dài xa, chẳng biết bao nhiêu kiếp, huống chi tam tứ ngũ phật,
có thể thấy người nầy thiện căn trồng được hết sức
xa, mà thế tôn lại nói còn chẳng chỉ ngừng ở đó, mà
đã ở thiên vạn phật sở chủng chư thiện căn, vả ở trên
thiên vạn lại thêm 2 chữ vô lượng, thì thời gian lâu dài
là bất khả thuyết, bất khả thuyết. Người nầy chẳng
những tu 1 thiện mà tu cả chư thiện. Chư thiện là trỏ lục
độ vạn hạnh mà nói, có thể thấy người nầy ở bát nhã
đã tu được hết sức lâu dài. Chủng thiện căn chính là
đối trì giới tu phước mà nói. Chủng thiện căn của người
nầy đã hết sức sâu, là căn của chư thiện căn hợp thành,
thiện là chỗ gọi : khó làm nổi, rất đáng qúi. Thế tôn
ở vô lượng sự đời quá khứ đều biết hết, nên thuyết
nầy là chân thực chẳng hư.
Ðem
con mắt phàm phu của chúng ta ra mà xem, thì người nầy trì
giới tu phước đã hợp với sự vi diệu của đạo, tại
sao? Văn trên thế tôn đối Tu Bồ Ðề, mở miệng ra nói:
sở hữu nhứt thiết chúng sanh chi loại dai linh nhập vô dư
niết bàn nhi diệt độ chi, như thị diệt độ vô lượng
vô số, vô biên chúng sanh thực vô chúng sanh đắc diệt độ
giả, đây là phát đại tâm thì trước phải độ chúng sanh,
tức là chẳng rơi vào bên không, thứ đến vô chúng sanh đắc
diệt độ là chẳng trụ ở tướng. Thứ nhì nói đại hành
ưng vô sở trụ, trước nói chẳng trụ tướng, sau nói hành
ư bố thí. Nếu trụ mà chẳng hành tức là rơi vào bên không.
Hai đoạn văn nầy thế tôn đinh ninh răn bảo : ắt chẳng
rơi vào bên không thì mới có thể phát tâm tu hành. Người
nầy hạ thủ liền trì giới tu phước há chẳng phải cùng
với chỗ nói của thế tôn trước chẳng rơi vào bên không
ám hợp ư? Lại trong phát khởi tự, thế tôn muốn nói bát
nhã thì trước thị hiện phàm phu, mặc áo cầm bình bát v.
v ... tức là trì giới, lại khiến cho chúng sanh sanh ra tâm
hổ thẹn tức là tu phước. Người nầy trì giới tu phước,
há chẳng phải cùng với bổn ý của thế tôn ám hợp ư?
Có thể thấy rằng : nếu chẳng phải kẻ từ lâu đời đến
nay đã chủng thiện căn thì chẳng có thể ám hợp như thế
với sự vi diệu của đạo.
Xem
câu nói của thế tôn giống như là hết sức tán thán người
nầy, thực ra là khuyến khích chúng ta, khiến chúng ta nghe
ngôn thuyết chương cú nầy liền phải thực hành, nên đối
với Tu Bồ Ðề có lời răn: mạc tác thị thuyết. Nghĩa là
: nếu theo như lời nói của Tu Bồ Ðề, thì người đời
sau ắt cho là bát nhã khó tu, đến nỗi suy cao thánh cảnh.
Kỳ thực ra thì không khó, tức là bắt đầu thực hành ngay
ở trì giới tu phước, đây là đại từ đại bi của thế
tôn. Tu Bồ Ðề há chẳng biết phát tâm tu hành thì phải
chẳng rơi vào bên không, chẳng qua ông ta thay chúng sanh thỉnh
vấn mà thôi, đó cũng là đại từ đại bi vậy. Lũ khổ
não chúng sanh chúng ta ngày nay được nghe ngôn thuyết chương
cú này cũng là hi hữu, cũng là kẻ ở vô lượng thiên vạn
phật sở chủng chư thiện căn. Nếu chẳng như thế thì ở
bát nhã thậm thâm vi diệu chẳng thể được nghe, ngay đến
nghe cũng giống như chẳng nghe. Chúng ta đã ở thời kỳ lại
sau 500 năm, đấu tranh lại càng kiên cố, rốt cuộc có thể
đến nơi đây đọc tụng thọ trì, ắt là kẻ chẳng muốn
cạnh tranh, ít có ham muốn, tri túc, có tư cách trì giới,
thế thì chúng ta chẳng nên tự khinh rẻ mình một cách tầm
bậy, kẻ nào đã trì giới lại càng nên dụng công, lại
cầu kiên cố, kẻ nào chưa trì giới nên chiếu lời huyền
ký của phật mà trì, thì chư phật ắt đại hoan hỉ, cho
là trồng được thiện căn, nảy mầm ở đây. Chúng ta có
tư cách nầy, lại có thế tôn gia hộ, sao chẳng tự mình
gắng sức ư ? Dĩ thử vi thực, đã hiểu rõ nghĩa chân thực,
lại có thể tu hành, trong lục độ chẳng kể độ nào đều
qui kết về tu phước. Bố thí chẳng cần nhứt định phải
phá sản, chỉ lượng theo sức mình, xả một số tài sản
làm việc ích lợi cho người khác tức là tài thí. Vì người
khác thuyết pháp, hoặc tống người khác kinh điển tức là
pháp thí, cũng chẳng phải là việc khó thực hành. Lại khuyên
người ta học phật, ắt phải khuyên người ta trì giới tu
phước, thấy kẻ không trì giới thì lại càng phải khuyên
nhủ họ. Lại thấy kẻ đã trì giới mà còn chưa biết bát
nhã, lại càng phải khuyên họ, khiến họ hiểu rõ bát nhã,
đây là phước đức lớn chẳng thể tư lường. Tại sao?
Vì là thiệu long phật chủng. Lại phải khuyên người ta mau
mau tu tập tịnh độ, cầu sanh tây phương. Phải biết, bát
nhã và tịnh độ quan hệ rất sâu. Trước đã nói kẻ học
bát nhã, phải trước chẳng trụ tướng. Chẳng trụ tướng
mới có thể ở ngay văn tự bát nhã khởi quán chiếu, quán
chiếu công sâu mà hiện thực tướng bát nhã, đó tức là
TÁNH. Tu hành hạ thủ trước phải quán chiếu, sau hết phải
hiện thực tướng, như thế rất là chẳng dễ gì! Ở trong
ta bà thế giới nầy có bao nhiêu thứ ác nó dẫn dụ, thì
làm sao có thể hiện ngay thực tướng? Nên đại bồ tát tu
hành phát nguyện tu 3 a tăng kỳ kiếp, chẳng biết trải qua
bao nhiêu là luân hồi. Vị nầy thiện căn đã đành là dầy,
nhưng đến thời gian lâu dài ngàn vạn phật, vô lượng kiếp
mà vẫn còn là bực có thể sanh tín tâm, thì có thể thấy
là nghiệp chướng vẫn còn sâu nặng; nên ắt phải phát nguyện
cầu sanh tây phương thì mới có thể được.
Lại
như văn trên phát đại tâm, sở hữu nhứt thiết chúng sanh
chi loại dai linh nhập vô dư niết bàn nhi diệt độ chi, thứ
độ sanh nầy, trên đến phi phi tưởng thiên, dưới đến
địa ngục, chúng ta tuy phát đại tâm này, mà làm sao có thể
độ được? Chỗ nầy thực khiến chúng ta trước phải quán
chiếu cái lý duyên sanh bình đẳng. Muốn mãn nguyện nầy,
nếu trước chẳng chứng tánh thì chẳng thể được, mà muốn
chứng tánh thì chẳng thể nào chẳng cầu sanh tây phương.
Sanh tây chẳng phải vì tự liễu, mà nguyện vì độ chúng
sanh, thì mới cùng với bổn nguyện của Di Ðà hợp nhau, vì
cớ mãn đại nguyện thì có thể chứng tánh. Nên Phổ Hiền
Hành Nguyện Phẩm nói : “Hư không vô tận, thế giới vô
tận, chúng sanh vô tận, thì nguyện của ta cũng vô tận”.
Ðây chẳng phải cùng với nguyện quảng độ chúng sanh ở
kinh nầy hoàn toàn giống nhau ư?
Như
thế có thể thấy pháp môn bát nhã cùng với pháp môn tịnh
độ là một, mà chẳng phải hai, ắt phải có đại nguyện
nầy thì Di Ðà mới lại tiếp dẫn vãng sanh, mà chẳng phải
là tự liễu. Có pháp môn vãng sanh thì mới có thể thành
tựu pháp môn bát nhã. Người nầy trì giới tu phước cũng
hết sức chẳng dễ gì, đã thân cận trải qua bao nhiêu phật,
chỉ trồng căn lành. Có thể thấy thành tựu pháp môn bát
nhã phải thân cận Di Ðà, thì thực tướng bát nhã mới có
thể hiện ra. Vĩnh Minh thiền sư nói: “chỉ được thấy
Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ”, nên kẻ học bát nhã phải
mau mau tu pháp môn niệm phật. Kẻ tu pháp môn tịnh độ cũng
phải mau mau tu pháp môn bát nhã. Nếu chẳng hiểu rõ đệ
nhứt nghĩa nầy, mà chỉ niệm phật, sợ rằng chỉ sanh vào
hạ phẩm. Nên kẻ đề xướng pháp môn tịnh độ chẳng thể
chỉ nói niệm phật mà thôi. Phải biết, tu tịnh độ chính
vì mãn đại nguyện, chỉ niệm phật thôi, sanh ở hạ phẩm
thì chẳng thể mãn đại nguyện. Câu kệ của Vĩnh Minh thiền
sư : “không thiền có tịnh độ, muôn người tu muôn người
đi, chỉ được thấy Di Ðà, lo gì chẳng khai ngộ”. Câu
kệ nầy chỉ có thể khuyên người ngu, chẳng thể khuyên
người lợi căn. Người đời bỏ qua câu “được thấy”
chỉ chú ý câu “muôn người tu muôn người đi” cho là chẳng
ắt cần y chiếu sự tu quán của kinh Quán Vô Lượng Thọ,
đây là sai lầm. Trong Quán Vô Lượng Thọ kinh nói rõ đệ
nhứt nghĩa chính là bát nhã, nếu chỉ sanh hạ phẩm thì chẳng
thể thấy phật.
>>Trang
04
Xem
Thêm:
Kinh
Kim Cang Giảng Giải, HT. Thanh Từ
Kinh
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, HT. Thích Trí Quang Dịch Giải
Kinh
Kim Cang Dịch Nghĩa và Lược Giải, HT Thiện Hoa
Kinh
Kim Cang, HT. ThÍch Duy Lực Dịch
