THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
.
KIM CƯƠNG KINH GIẢNG NGHĨA 
 Người giảng: GIANG VỊ NÔNG Cư Sĩ
Người dịch: ÐỒ NAM Lão nhân
MỤC LỤC
QUYỂN 1
QUYỂN 2
QUYỂN 3
QUYỂN 4
QUYỂN 5
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04
Trang 05
Trang 06
Trang 07
Trang 08

QUYỂN BA
SUY MỞ VÔ TRỤ ÐỂ KHAI GIẢNG (TT)

Nhược hữu nhân năng thụ trì độc tụng quảng vị nhân thuyết, như lai tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân dai thành tựu bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công đức. Như thị nhân đẳng tắc vi hạ đảm như lai a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Dịch nghĩa : Nếu có người nào có thể thụ trì đọc tụng rộng vì người khác nói, như lai biết hết người nầy, thấy hết người nầy đều được thành tựu công đức chẳng thể đo lường, chẳng thể gọi tên, không có biên, chẳng thể nghĩ bàn. Những người như thế tức là gánh vác như lai a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Ở bản lưu thông trên chữ thành tựu có chữ đắc, người nhà Ðường viết kinh không có chữ nầy. Trong chú sở của người nhà Ðường, Tống cũng không có nghĩa chữ đắc, đủ chứng minh là người sau đời nhà Minh thêm vào. Ý của kẻ thêm vào ắt cho là người mới phát tâm há liền thành tựu, chẳng qua tương lai có thể được thành tựu mà thôi, họ ngờ là chữ đắc nầy sót nên mới thêm vào. Biết đâu rằng trong nầy chỗ nói thành tựu công đức là trỏ hạ đảm như lai mà nói, chẳng phải bảo là liền thành như lai. Ý kinh chính lấy hạ đảm như lai là lý do lớn của phước nó thắng kẻ kia. Nếu sự hạ đảm của người nầy còn chưa thành tựu, thế thì không có lý do gì thắng kẻ kia. Vì cớ gì? Vì phàm phu mới phát tâm tu hành, phước nó thắng bồ tát kia nhiều kiếp khổ hạnh là vì nó phát tâm thiệu long phật chủng, tu hành thiệu long phật chủng. Hạ đảm như lai chính là tỏ rõ người nầy có thể thiệu long phật chủng, nếu cái nầy mà chưa thành, thì sao có thể bảo là thắng kẻ kia? vả trên tỏ rõ giáo nghĩa thắng, duyên khởi thắng là làm tiền-đề cho hạ đảm thắng. Vì chưng nhân giáo nghĩa, duyên khởi của người nầy đều thắng, cho nên tín tâm bất nghịch, y theo giáo phụng hành tức là hạ đảm như lai. Nếu như công đức hạ đảm còn đợi đến tương lai, ấy là người nầy chưa chịu sự huân tập của giáo nghĩa thù thắng, không hợp với tư cách duyên khởi thù thắng, có thể biết được, thế thì trên nói nghe kinh điển nầy tín tâm bất nghịch... liền thành ra lời nói trống rỗng. Nếu người nầy thiệt là tín tâm bất nghịch, mà lại chưa thành công đức hạ đảm, duyên khởi, giáo nghĩa thì còn có gì mà thù thắng ư ? Vậy thì trên nói : “Kinh nầy có công đức chẳng thể nghĩ bàn, như lai vì kẻ phát đại thừa, tối thượng thừa mà nói”, lại thành ra lời nói trống rỗng. Một chữ thêm vào bớt đi có quan hệ lớn lao như thế. Trước tôi đã nói : phàm đọc sách phật rất kỵ day về trên văn tự nghiên cứu, vì nghiên cứu văn tự đều là lấy thiển kiến dòm vào, lấy phàm tình đo lường, thế ắt làm sai lầm pháp, sai lầm người. Nay xem chỗ nầy thêm bậy vào một chữ có sự khác xa nghĩa rất lớn, thì chẳng những có lỗi làm lầm pháp lầm người, rốt cuộc phạm tội báng pháp báng phật. Ðáng sợ thay! Xét lý do của sự thêm vào nầy không có gì khác, chỉ vì chẳng tỏ rõ giáo nghĩa, chỉ chuyên môn day về trên văn tự mà so sánh. Tại sao nói thế? Vì trong ý kẻ thêm bậy một chữ nầy vào là hiểu lầm bất khả lượng công đức cho là bất khả tư nghị công đức ở văn trên, nên mới cho là người vừa mới phát tâm tu hành há có thể thành tựu, bèn thêm một chữ đắc để phân biệt cho rõ. Biết đâu rằng văn tự chỗ nầy tuy giống với văn trên, nhưng đã nói một cách lộn ngược lên thì nghĩa lý rất khác xa, công đức cũng theo đó mà khác xa, há có thể lộn xộn cho là một ư? Nay rốt cuộc sống sượng lờ mờ đến như thế, không có gì khác, vì không tỏ rõ giáo nghĩa mà thôi. Giáo nghĩa làm sao được tỏ rõ? Phải đọc nhiều kinh điển đại thừa để mở rộng tâm mình, siêng năng tu quán hành để tiêu chướng của mình, thường cầu phật gia bị để mở mang trí tuệ cho mình, lấy sức tăng thượng duyên huân tập như thế thì lâu ngày tự mình sẽ tỏ rỏ. Nếu chấp tướng văn tự mà tìm cầu, thì như người vào chỗ tối, vĩnh viễn không thấy được. Ðây là môn trọng yếu để tỏ rõ phật lý, nên tôi chẳng ngại nói đi nói lại. Câu : Thị kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả xưng lượng, vô biên công đức ở văn trên gồm có hai nghĩa: 1) Bất khả tư nghị : là nói về pháp thân, lại cũng là thể, bất khả xưng lượng là nói về báo, hóa thân, lại cũng là tướng, dụng. Hợp hai câu nầy lại mà nói là đầy đủ ba tánh đức lớn : thể, tướng, dụng, cũng gọi là lý thể. Nếu đem tánh đức chia ra cho kỹ, thì chỉ có thể của pháp thân mới gọi là thể của tánh, còn tướng, dụng của báo, hóa thân thì gọi là dụng của tánh. Vì nó là dụng của tánh vốn có đầy đủ nên có thể gọi nó là tánh đức, là lý thể. Danh nghĩa nầy mỗi hay có kẻ chưa hiểu rõ.

Vô biên : là nói công phu tu, có nghĩa là ly tứ cú. Hợp hai câu trên là tánh và tu đem ra đối nhau nói. Hai chữ công đức, công có nghĩa là công phu tu, một lần vượt lên vào thẳng, đức có nghĩa là tánh đức, thể và dụng viên minh. Tóm lại để tỏ rõ giáo nghĩa kinh nầy có lý và sự hai cái dung hội nhau, tánh và tu chẳng hai, công đức một lần vượt lên vào thẳng, thể dụng hiển ra viên minh. Bất khả tư nghị bất khả xưng lượng : nghĩa cũng giống như trên, nhưng trước theo có đủ ba tánh lớn mà nói, để đối với vô biên của tu, nay thì chia ra mà nói rõ. Bất khả tư nghị có thể theo tánh-thể mà nói, bất khả xưng lượng có thể theo tánh-dụng mà nói. Vô biên là trỏ hết thảy, lợi ích chúng sanh là công, nuôi lớn bồ đề là đức, thế thì bốn chữ vô biên công đức là chuyên theo lợi tha mà nói, nếu đối với tánh dụng ở trên mà nói thì đây chỗ gọi là dụng của dụng. Tóm lại để tỏ rõ giáo nghĩa kinh nầy có công đức vô lượng vô biên, chứng thể khởi dụng đầy khắp vô biên pháp giới, lợi ích chúng sanh, cùng chứng bồ đề. Chỗ nầy thì trước nói bất khả xưng lượng, kế tiếp nói vô biên, sau nói bất khả tư nghị, cùng với văn trên hoàn toàn đổi lộn ngược lại, đây là một cái chẳng giống nhau. Vả lại chẳng nói bất khả xưng lượng, lại chia ra mà nói lộn ngược bất khả lượng bất khả xưng, đây là hai cái chẳng giống nhau. Lại chẳng những nói vô biên, lại còn thêm một chữ hữu mà nói là vô hữu biên, đây là ba cái chẳng giống nhau, còn bất khả tư nghị thì vẫn như cũ, những chỗ nói như thế nghĩa của nó hết sức tinh.

Phải biết ba đại : thể, tướng, dụng từ xưa đến nay chẳng lìa ra. Cái duy nhất vắng lặng, tuyệt danh ly tướng, mà là gốc của tướng dụng thì gọi nó là THỂ, chỗ chẳng giống với tướng dụng rất dễ hiểu rõ. Còn hai cái tướng và dụng tuy có chia mà không chia, vì báo, hóa hai thân đều do dụng đại của tánh có đủ chỗ hiện ra, vì nó có thể hiện báo, hóa thân, nên gọi là dụng đại. Mà tánh đầy đủ vô lượng tịnh công đức, chỗ gọi là tướng đại liền phụ vào báo, hóa thân mà hiện hình ra ở ngoài, nên nói chia, mà chẳng chia. Văn trên sở dĩ hợp lại mà nói là bất khả xưng lượng, lý nầy đọc kỹ Khởi Tín Luận có thể hiểu rõ. Thế nhưng tướng, dụng tuy chia mà chẳng chia, mà cũng chẳng chia mà chia, nên hai thứ thân báo, hóa, chẳng những chỗ hiện ra tướng, chỗ khởi ra dụng mỗi cái chẳng giống nhau, mà lúc tu nhân, chỗ phát tâm cũng mỗi cái chẳng giống nhau, (nhân hành thì giống, nhưng nhân tâm không giống, sẽ nói rõ, phải phân biệt cho kỹ). Chính vì phát tâm chẳng giống, nên chỗ hiện ra tướng, chỗ khởi ra dụng cũng mỗi mỗi chẳng giống. Vì tướng và dụng của báo, hóa tuy đều do ở tu lục độ vạn hạnh ly tướng, phước tuệ đầy đủ mà sau thành tựu (đây là tỏ rõ nhân hành giống), nhưng báo thân là quả đã được do phát nguyện rộng lớn vô tận, biết được lục độ vạn hạnh duyên sanh tức không, mà có thể thêm lớn phước tuệ, đạt đến bờ bên kia, nên thệ nguyện ắt mỗi mỗi viên tu. Còn hóa thân cũng là quả đã được do phát nguyện rộng lớn vô tận, biết được hết thảy hữu tình sanh vốn vô sanh mà còn chấp mê chẳng giác ngộ, chưa ra khỏi vòng khổ luân hồi, nên thệ nguyện ắt mỗi mỗi độ hết chúng nó (đây là tỏ rõ nhân tâm chẳng giống). Vì cớ chẳng giống nhau, cho nên chỗ nầy lại chia ra mà nói. Chính vì chia ra mà nói, liền có thể ngộ biết chỗ nầy là theo tu nhân mà nói, cùng với ở trên hợp lại mà nói để tỏ rõ tu nhân đắc quả, sự và lý của nó khác nhau xa.Do nghĩa nói ở trên mà xem, có thể biết muốn thành hóa thân chẳng thể lượng, phân thân ra khắp pháp giới phổ độ hàm thức, ắt phải phát tâm đại bi lợi ích hết thảy chúng sanh để bạt hết thảy khổ. Nên kinh nầy mở miệng liền nói : “sở hữu nhứt thiết chúng sanh chi loại, ngã dai linh nhập vô dư niết bàn nhi diệt độ chi”, lại nói : “bồ tát vị lợi ích nhứt thiết chúng sanh ưng như thị bố thí”. Nay nói thành tựu bất khả lượng, rõ ràng là tín tâm bất nghịch, tức là đã phát tâm đại bi, chẳng phải phàm tình chỗ có thể đo lường, phát tâm như thế, tương lai ắt chứng quả như thế. Tâm bồ tát lấy từ bi làm gốc, nên trước nói bất khả lượng. Lại do nghĩa nói trên mà xem, có thể biết muốn thành báo thân phước tuệ trang nghiêm tướng hảo vô biên, bất khả xưng, ắt phải phát thâm tâm tu rộng lục độ vạn hạnh, ưa họp hết thảy thiện pháp hành. Nên kinh nầy mở miệng liền nói : “bồ tát ư pháp ưng vô sở trụ, hành ư bố thí”, cho đến chỗ nào cũng đem bố thí cùng với ly tướng đối nhau mà nói. Nay nói thành tựu bất khả xưng, rõ ràng là tín tâm bất nghịch, tức là đã phát thâm tâm, chẳng phải ngôn ngữ có thể hình dung ra nổi. Thử xem 500 đời nhẫn nhục và việc Ca Lợi Vương, thứ khổ hạnh khó hành nầy, há ngôn ngữ có thể hình dung ra ư? Nhẫn độ như thế thì các độ khác có thể biết. Nên chẳng trước phát tâm đại bi để làm nền móng, thì quyết chẳng thể phát ra thâm tâm, mà chẳng phát thâm tâm lại lấy gì để thành tựu đại bi tâm ư? Cho nên trong kinh trước nói bất khả lượng, liền nói tiếp bất khả xưng, ngay đầu đem bất khả lượng bất khả xưng ra nói càng bao gồm yếu nghĩa. Vì chưng bát nhã là pháp môn tỏ rõ cái không, chủ chỉ duy nhất của kinh Kim Cương Bát Nhã nầy cũng ở ưng vô sở trụ. Vô trụ thì ly tướng, ly tướng tức là quán không. Thế nhưng bắt đầu nói kinh lại khiến độ rộng chúng sanh, siêng hành bố thí, chính là tỏ rõ nghĩa không quán chẳng lìa thực hành, bát nhã chẳng lìa các độ mà riêng có. Ðây gọi là đệ nhứt nghĩa không, nay người nầy phát tâm lại cũng như thế, đại bi tâm thâm tâm và trực tâm cùng phát chính là thực hành chỗ thuyết trong kinh, nên nói tín tâm bất nghịch. Phải biết, lúc mới phát tâm còn chưa dứt niệm, chính là ở trong môn sanh diệt, nên tuy phát đều ba tâm : trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm, nhưng chỉ day về trong môn sanh diệt tinh tiến siêng năng tu hành lục độ chẳng trước tướng, chẳng hoại tướng, lợi khắp hết thảy. Thế thì đã đầy đủ tánh đức của ba đại : thể, tướng, dụng tương ứng với nhau, lại là thành tựu chánh nhân của báo hoá thân, chẳng đến nỗi thành ra cái không nghiêng lệch, có thể mà không có dụng. Vả vọng tưởng từ vô thủy đến nay, nếu chẳng trải qua sự để luyện tâm, cũng quyết chẳng thể trừ. Ðây đều là then chốt khẩn yếu để học phật, ngàn kinh muôn luận đều là phát huy lý nầy, mà bát nhã nói lý nầy càng tinh, phải nên lĩnh hội, phải nên theo đó mà thực hành. Thế nhưng một mặt day về môn sanh diệt để thực hành lục độ (lục độ đều là pháp duyên sanh, nên nhiếp trong sanh diệt môn), một mặt kíp phải tinh mật quán không, để xu hướng chân như môn. Nếu chẳng như thế thì chấp chẳng thể khiển trừ, tướng chẳng thể ly, chẳng những không thể dứt niệm để chứng thể của pháp thân, tướng dụng của hai thứ báo hoá thân cũng không từ đâu mà hiện ra (ắt chứng thể mới có thể khởi dụng). Vả trụ tướng để hành bố thí lục độ, như người vào chỗ tối, một khi gặp chướng duyên, ắt khiến cho tâm thoái chuyển, như một khoa nhẫn nhục ở trên đã nói rõ. Nên tiếp nối khít xuống là câu : vô hữu biên. Ở trong vô biên thêm một chữ hữu, rất là tinh yếu. Văn trên nói vô biên là tỏ rõ tứ cú đều ly. Phải biết, lúc vọng tưởng chưa ngừng nghỉ, hễ khởi niệm liền chấp trước, hễ trước liền hữu biên, chỗ gọi là: “hữu biên, vô biên, diệc hữu diệc vô biên, phi hữu phi vô biên”, lúc một niệm nổi dậy thì trong tứ cú ắt phải trước một cú. Nên muốn được chẳng trước thì  ắt phải vô niệm. Nay nói vô hữu biên là tỏ rõ nó chưa thể vô tuyệt đối, chỉ có thể lấy cái vô đối trị cái hữu biên của nó mà thôi. Vì chưng nói người nầy chính ở trên vô trụ ly tướng mà dụng công, để cầu chứng đắc pháp thân tánh thể chẳng thể nghĩ bàn, đạo ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, cho nên nối tiếp nói: bất khả tư nghị, vì tánh thể không biến không khác, nên câu nầy lại cũng như cũ để biểu thị nó chẳng biến chẳng khác. Ðem vô hữu biên, bất khả tư nghị hợp lại mà đọc, chính là phát trực tâm, ly hết thảy tướng, chính niệm chân như. Ba tâm đều phát, đó là tín tâm bất nghịch, đã ở kinh nầy tín tâm bất nghịch, y theo giáo phụng hành, liền có công lợi ích chúng sanh, có đức nuôi lớn bồ đề. Vì cớ gì? Vì người nầy có thể làm công phu tu một lần vượt lên vào thẳng, cầu chứng tánh đức thể dụng hiển ra viên minh. Chẳng kể tăng tục, trai gái, chỉ có thể tín tâm bất nghịch thì đều thành tựu như thế, nên nói: “dai thành tựu bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công đức”. Thành cái công đức ba tâm đều phát nầy mới đủ để thiệu long phật chủng, nên nối tiếp nói: “Tắc-vi hạ đảm như lai a nậu đa la tam miệu tam bồ đề”, tắc vi có nghĩa là: tức là. Nếu là tương lai được thành mà nay còn chưa thành thì sao gọi được là tức là ư? Hợp bao nhiêu nghĩa nói trên mà xem, đủ chứng minh thêm bậy một chữ đắc, rõ ràng là trái với tôn chỉ của kinh.

Hạ đảm: có nghĩa là gánh vác, đem trọn sức lực ra phụ trách. Ðã nói như lai, lại nói vô thượng chánh đẳng giác là: như lai là người tánh đức viên minh, vô thượng bồ đề là pháp của giác vương riêng mình chứng. Hứa cho người nầy gánh vác hai cái nầy, vì chưng hứa cho người nầy là người thừa kế phật vị, có thể lãnh pháp của giác vương. Phụng trì độc tụng, quảng vị nhân thuyết: nghĩa nó giống với trước. Ở trên nói: nhân năng, tức là bảo người tín tâm bất nghịch, như lai tất tri tất kiến: cũng là ý nói như lai ở thường tịch quang ấn chứng, hứa khả cho người nầy.

Hà dĩ cố? Tu Bồ Ðề, nhược nhạo tiểu pháp giả trước ngã kiến, nhân kiến chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tắc ư thử kinh bất năng thính thụ độc tụng, vị nhân giải thuyết.

Dịch nghĩa: Vì cớ gì? Tu Bồ Ðề ơi, nếu người ưa thích pháp nhỏ, chấp trước kiến ngã nhân chúng sanh thọ giả, thì ở kinh nầy chẳng thể nghe, thụ trì đọc tụng, vì người khác giải thuyết.

Văn tự khoa nầy mới xem giống như không có gì khẩn yếu cho lắm, mà thực ra thì chữ chữ khẩn yếu, trong nầy bao gồm nghĩa tinh thâm, đầu mối rườm rà, vì được một khoa nầy thì các nghĩa nói trên lại càng viên mãn, có thể thấy nó quan hệ khẩn yếu vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói : “Bửa một vi trần ra một đại thiên kinh quyển”, vậy nên nay phải mỗi mỗi bửa nó ra. Câu hà dĩ cố, chẳng những thừa tiếp khoa trên mà cùng với khoa dưới nhứt khí thừa tiếp nhau, cho nên đầu mối nó rườm rà. Tiểu pháp là pháp tiểu thừa, gồm trỏ pháp chẳng liễu nghĩa, chính là phản diện của pháp vô thượng thậm thâm. Nhạo tiểu pháp lại là phản diện của nghe kinh điển nầy tín tâm bất nghịch. Ðây là mượn nghĩa phản diện để hiển nghĩa chính diện. Nhạo: là ưa thích, có nghĩa là khế hợp, tức là cái sở dĩ nhiên của bất nghịch, vì người nầy ưa thích, khế hợp, cho nên bất nghịch. Trước ngã kiến: tức là ngã chấp, đã có ngã chấp thì bao nhiêu thứ phân biệt theo đó mà nổi dậy, nên nói trước ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến. Ðây là lời nói hết sức bài xích tiểu thừa. Từ xưa đến nay đều bảo tiểu thừa ngã chấp đã không, chỉ còn dư pháp chấp chưa trừ mà thôi. Nay bài xích thẳng nó rằng: trước ngã kiến, khiến kẻ tiểu thừa tự mình đồi táng, khiến họ tỉnh ngộ ưa tiểu thừa là hoàn toàn không đúng. Câu nói chân thực nầy chẳng phải là lời bàn hà khắc, vì chưng tiểu thừa là kẻ đã không có cái ngã kiến thô, tức là không cái chấp ngũ uẩn giả hợp sắc thân làm ngã kiến, cho nên nó chẳng chịu có thân hậu hữu. Nhưng vì nó chấp có cái pháp ngã không (tức là pháp ngũ uẩn) nên gọi nó là pháp chấp. Phải biết, ngã không đã chưa quên đi ở trong lòng, gọi đó là pháp chấp có thể được, mà gọi nó là ngã kiến chưa sạch cũng có thể được. Cho nên trước nói: “Nhược thủ pháp tướng tức trước ngã nhân chúng sanh thọ giả”. Người nầy lại chấp có cái ngã không, tức là rơi vào cái không nghiêng lệch, không nghiêng lệch tức là thủ phi pháp, là chấp phi pháp cho là pháp, như thế thì vẫn là pháp chấp. Cho nên trước lại nói: “nhược thủ phi pháp tức trước ngã nhân chúng sanh thọ giả”, nên nay lấy ngay trước ngã kiến để bài xích nó. Nói một cách thống khoái, tâm nếu có thủ thì ai khiến cho nó thủ? Chẳng phải ai khác, chính là NGÃ vậy. Nên chẳng kể thủ pháp hay thủ phi pháp đều là trước ngã, cho nên phía trước nói: “nhược tâm thủ tướng tắc vi trước ngã nhân chúng sanh thọ giả” chẳng qua so với ngã chấp của phàm phu có sự sai biệt thô và tế, sao đã tuyệt hết gốc rễ ư? Thế tôn thuyết chỗ nầy là vì tâm thương xót, chẳng thể đừng được mà nói ra, để cảnh giác kẻ ưa thích tiểu pháp kíp phải hồi tiểu thừa, hướng đại thừa.

Ngoài ra còn bao gồm hai ý sâu nữa: 1) Phía trước đều nói ngã tướng, đến đây bỗng nhiên nói ngã kiến, thế thì kiến và tướng giống nhau ư, khác nhau ư? Ðáp: Trong cái giống nhau có cái khác, chẳng kể trước kiến, trước tướng, hễ trước thì thành bịnh, đó là giống nhau. Thế nhưng vì có vọng kiến năng thủ mới có huyễn tướng sở thủ, nên trước kiến là căn bịnh của trước tướng, đó gọi là khác nhau. Do đây mà xem, chỉ biết khiển trừ tướng thì công hành còn cạn, ắt phải khiển trừ kiến thì công hành mới sâu. Vì cớ gì? Vì vọng kiến chưa trừ thì căn bịnh vẫn còn đó, huyễn tướng liền chẳng thể trừ sạch. Kinh nầy nửa bộ trước phần nhiều nói ly tướng, tướng tức là cảnh, nên khoa tổng quát nêu lên là: THEO CẢNH ÐỂ TỎ RÕ VÔ TRỤ, nửa bộ sau chuyên tỏ rõ ly niệm (niệm tức là kiến), niệm nổi dậy ở tâm, nên khoa tổng quát nêu lên là: THEO TAÂM ÐỂ TỎ RÕ VÔ TRỤ. Ðây là thứ tự trước sau cạn sâu của kinh nầy, nay ở lúc giảng nửa bộ trước sắp xong, thuận tiện chỉ điểm ra chữ kiến, để tỏ rõ trước sau thứ tự thừa tiếp khít với nhau, gồm để chỉ thị cho người học công phu tu phải tuần tự mà tiến từ cạn vào sâu. Ðây là thâm ý của thế tôn nói câu: Trước ngã kiến v.v...

2) Nói một cánh thiết thực, phàm sự vật đối đãi nhau đều có quan hệ liên đới, cho nên nửa bộ trước tuy chỉ nói ly tướng, mà phía trong đã ở chỗ ly niệm. Vì cớ gì? Vì trước tướng do ở trước kiến, nếu chẳng ly niệm thì không từ chỗ nào ly tướng, chẳng qua chỉ biết ly tướng, không bằng day thẳng về trên ly niệm để hạ thủ, thì công phu của nó lại càng thẳng mau thích đáng. Phía trước đã nhiều lần đem ý nầy ra ám thị, nhưng chưa nói rõ. Như nói: “ưng sanh thanh tịnh tâm, tín tâm thanh tịnh tắc sanh thực tướng, nhược tâm hữu trụ tắc vi phi trụ”, cho đến nói về tứ quả năng tác niệm phủ v.v... đều là chỉ thị đạo lý ly niệm. Các câu nói khác cùng một loại như thế rất nhiều. Thế thì vì cớ gì chẳng nói rõ ư? Vì hết thảy chúng sanh nghe bát nhã tỏ rõ cái không, đã kinh bố sanh ra sợ hãi, nếu kinh nầy mở miệng ra liền nói dứt niệm, khiển trừ kiến, thì sự kinh sợ của chúng sanh còn đến đâu nữa! Chẳng thà chỉ nói ly tướng, bước bước dẫn người ta vào chỗ thắng. Rồi đến nửa bộ sau mới bắt đầu lộ phía trong ra, chuyên tỏ rõ nghĩa nầy, khiến người độn căn chẳng đến nỗi khiếp sợ mà không có chỗ hạ thủ. Sở dĩ câu nói nửa bộ trước nghĩa lý bao gồm hết, có thể sâu có thể cạn, tùy theo người mà hiểu. Người cạn tuy chỉ thấy nó cạn mà ở chỗ dụng công trên ly tướng chưa thể triệt để, nhưng nhờ đó cũng có thể đã phá vọng tưởng chẳng ít, chưa phải là vô ích, mà kẻ sâu vẫn có thể thấy nó sâu, chẳng ngại một lần vượt lên vào thẳng. Nay thì nửa bộ trước sắp hết, chẳng thể nào mà không đem chân lý mở ra, khiến kẻ thấy cạn từ đây trở về sau chẳng đến nỗi sợ khó, mà kẻ thấy sâu cũng biết chỗ thấy của mình là chẳng lầm. Và để chỉ thị luôn cho người học kinh nầy trước sau chỗ tỏ rõ chỉ là một ý, chẳng qua nửa bộ trước cũng có cạn cũng có sâu, nửa bộ sau thì chỉ có sâu mà không có cạn, đây lại là thâm ý của nói : trước ngã kiến v.v...Do đây có thể thấy thế tôn thuyết pháp hay khéo, từ bi nhiếp thụ.

Ðã ưa tiểu pháp, ở kinh sâu nầy cơ giáo chẳng ứng với nhau, như thế tôn sắp nói kinh Pháp Hoa, 5.000 tỳ kheo đứng dậy thoái lui, chẳng thể nghe được. Chấp kiến đã sâu dù nghe cũng làm sao có thể lĩnh thụ? Nghe còn chưa thể, còn nói gì đến đọc tụng, đã chẳng thể thụ trì thì từ chỗ nào mà giải thuyết? Nên nói: “ tắc ư thử kinh bất năng thính thụ đọc tụng, vị nhân giải thuyết”. Chỗ gọi là phản hiển là hiển nghĩa gì? Là hiển công của kinh. Trước đã nói: “thị kinh hữu bất khả tư nghị bất khả xưng lượng vô biên công đức”, lại nói 2 khoa duyên khởi thắng, hạ đảm thắng, đều là để hiển công của kinh, có thể nói là không có nghĩa nào mà chẳng rõ, cần gì còn phải hiển nữa. Tuy thế sợ nghe chỗ nói ở trên, hoặc có người chưa thể dung hội quán thông, đến nỗi tự an phận thấp hèn hoài nghi, tự làm trở ngại mình, thì công của kinh tuy thắng mà kẻ kia cũng không hiểu nổi. Phật coi chúng sanh đều như con, gấp muốn hết thảy chúng sanh đều có thể đọc tụng, đều có thể tín tâm bất nghịch, y theo giáo phụng hành, đều có thể gánh vác như lai vô thượng bồ đề, nên tự mình làm sự vấn đáp, dùng ngôn từ phản diện để hiển nghĩa thú chính diện, tuy là hiển rõ bao nhiêu nghĩa đã nói ở trên, thực ra đều là vì hiển công đức của kinh nầy. Vì chưng chính hiển ở trên là hiển trực tiếp, nay phản hiển là hiển gián tiếp.

Câu hà dĩ cố: là lời tự hỏi, câu nhược nhạo tiểu pháp v.v... là lời tự giải thích ý của câu hỏi có ba: 

1) Hỏi : tại sao chỉ nói công đức năng trì, năng thuyết, mà chẳng nói đến tín tâm bất nghịch? Vì chưng nghe chỗ thuyết hiển thắng ban đầu mà chưa thể thấu suốt, cho nên mới phát ra câu hỏi nầy. Cho là năng trì năng thuyết là tín tâm bất nhgịch có thể biết được, nhưng trước nói tín tâm bất nghịch kỳ phước thắng bỉ, hà huống thụ trì quảng thuyết, xem ý câu nói nầy thì chẳng đợi trì thuyết, đã có thắng phước rồi. Nay tỏ rõ chỗ thành tựu công đức lại riêng không được bằng như thế, thì chẳng biết phước của nó cứu cánh ra sao? Cho nên lấy nhạo tiểu pháp v.v... để giải thích. Nếu biết được ưa thích tiểu pháp thì ở kinh nầy chẳng thể nghe, thụ, giải thuyết, thì có thể biết rằng đã ưa thích kinh nầy ắt có thể trì, có thể thuyết cũng rõ ràng. Phải biết trước nói: “tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ”, là vì người nầy phát tâm quyết định trì thuyết, nên phát tâm liền có thể thắng kẻ kia. Nếu chẳng thể trì thuyết há được gọi là tín tâm bất nghịch. Trước nói “hà huống” là nguời nầy phát tâm trì thuyết, liền có thắng phước, huống chi đã trì đã thuyết, há chẳng có thắng phước ư? Chẳng phải bảo là phát tâm và trì thuyết phước nó chẳng giống nhau. Thế thì khoa trên tuy chỉ nói cái phước năng trì năng thuyết, mà đã đem luôn cả cái phước phát tâm thu nhiếp ở trong. Lời giải thích nầy là chú trọng ở câu nhạo tiểu pháp. Hiển nghĩa như thế nầy là dạy người ta phải nên phát tâm y theo kinh thực hành, thì lúc phát tâm nầy tức là gánh vác như lai vô thượng bồ đề, vì chỗ thuyết trong kinh là tâm yếu của thành phật, so với kẻ ưa thích tiểu pháp thì sự thành tựu lớn nhỏ há có thể nói chung được ư?

2) Hỏi: Kinh nầy rất sâu, khó giải khó hành, vì cớ gì nghe kinh điển nầy liền có thể tín tâm bất nghịch, thụ trì giải thuyết? Ðây là vì chưng nghe câu: “vì kẻ phát đại thừa mà nói, vì kẻ phát tối thượng thừa mà nói” ở trên chẳng tránh khỏi thoái lui, khiếp sợ, nên phát ra lời hỏi nầy, cho là căn khí như thế hi hữu khó gặp. Thế tôn tuy muốn truyền thụ tâmyếu, nhưng khó lựa được người, thì biết làm sao? Cho nên lấy nghe, thụ trì, đọc tụng v.v...để giải thích. Nếu biết được chẳng thể nghe, thụ trì, đọc tụng, là do ở khế hợp vào tiểu pháp, thì biết muốn cầu khế hợp vào đại pháp, thì chỉ có nghe, thụ trì, đọc tụng. Vì chưng đại khai viên giải thiệt chẳng dễ gì, sao bằng thường nghe sự giải thuyết của kẻ thâm giải thì có thể làm ít mà công hiệu nhiều gấp bội. Tuy hoặc một thời chưa thể thâm nhập, nhưng nghe, thụ trì được một câu, nửa bài kệ thì hạt giống của bát nhã đã trồng rồi. Ðược sức huân tập của nghe, thụ trì, thêm vào sức huân tập của đọc tụng, một khi hạt giống bát nhã nảy sanh ra sẽ ở trong chỗ chẳng hay chẳng biết ba tâm đều phát, tuy căn cơ cực ngu độn có thể biến làm thượng căn lợi trí. Kinh nói: hạt giống từ duyên mà nổi dậy, nhờ thắng duyên nầy thì còn lo gì nữa! Giải thích nầy chú trọng vào 4 chữ thính thụ đọc tụng. Hiển nghĩa như thế nầy là vì kẻ muốn nhập môn nầy khai thị phương tiện. Ðược phương tiện nầy thì tư cách gánh vác như lai, tuy khó mà cũng chẳng lấy gì làm khó. Giải thích như thế nầy gồm có ý cổ động kẻ năng thuyết. Gượng ép người khác nghe đã đành là khinh pháp, còn có kẻ muốn nghe thì nên phải hết sức vì người đó giải thuyết. 

3) Hỏi: Chân như vô tướng, vì hết thảy pháp chẳng thể thuyết, chẳng thể niệm, nên gọi là chân như. Nay tuy ba tâm đều phát, chính niệm chân như, nhưng còn chưa thể vô niệm vô tướng, vì cớ gì liền hứa cho gánh vác như lai ư? Ðây là vì chưng nghe bồ tát nhiều kiếp bố thí thân mạng phước còn chẳng bằng, thì không khỏi hoài nghi, nên phát ra lời hỏi nầy, cho là nhiều kiếp bố thí thân mạng, tuy vì cớ không có bát nhã chánh trí nên phước nó chẳng bằng, nhưng mà đã là bồ tát. Tín tâm bất nghịch, tuy vì cớ thụ trì kinh nầy phước nó thắng kẻ kia, nhưng vẫn còn là phàm phu, tín căn đã chưa thành tựu, chắc gì có lúc tâm không thoái chuyển? Nên lấy trước ngã kiến v.v...để giải thích. Nếu biết được chưa thể trừ sạch nhân ngã kiến, tâm phân biệt là vì ưa thích tiểu pháp, thì biết là kẻ có thể ở vô thượng đại pháp ưa thích chẳng nghịch thì nhân ngã kiến, tâm phân biệt của nó rốt cuộc có thể sạch hết, quyết định không còn nghi ngờ gì nữa. Tại sao như vậy? Là vì huân tập thắng. Ðã xu hướng chân như, hiện tại tuy chưa thể dứt niệm, đắc vô thượng bồ đề, mà tương lai ắt đắc, không còn nghi ngờ gì nữa (nên văn dưới nói đương đắc a nậu bồ đề). Lời giải thích nầy chú trọng câu: trước ngã kiến. Hiển nghĩa như thế là trỏ đích xác cho người học muốn trừ các tướng hư vọng của ngã kiến, nếu chẳng ở kinh Kim Cương Bát Nhã không trụ hết thảy nầy mà tín giải thụ trì thì chẳng thể được. Vì hết thảy chư phật và pháp a nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư phật đều từ kinh nầy ra. Cổ phật đã đều như thế, thì phật nay cũng quyết định như thế! Nói tóm lại, thế tôn vì muốn ngừa kẻ chưa hiểu sâu nghĩa thú, ở những chỗ thuyết trên chẳng thể thông suốt ắt sanh chướng ngại, nên nói khoa nầy từ phản diện hiển ra bao nhiêu thứ đạo lý, khiến cho các nghĩa nói trên lại càng thêm viên mãn, thù thắng của kinh nầy lại càng thêm rõ ràng, để được cùng vào môn nầy, cùng gánh trách nhiệm nầy, đều đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Ðây là tôn chỉ nói riêng khoa nầy. Nếu chẳng như thế, thì ba cái cần yếu nói trên đã đem cái sở dĩ nhiên thắng kẻ kia nói ra triệt để rồi, cần gì phải nói trở lại nữa. Thử xem các câu: “nhạo tiểu pháp, trước ngã kiến, thính thụ”, nói ra hết sức đột ngột, liền có thể giác ngộ biết rằng các câu nói nầy nó có quan hệ rất sâu với những lời nói trên. Nếu coi khoa nầy vẫn chỉ là hiển rõ phước nó thắng kẻ kia mà nói, thế thì những câu nói nầy liền chẳng thể chữ chữ tinh nghiêm, đều có hạ lạc, thế tôn lại cần gì phải thuyết như thế nầy ư?

Tu Bồ Ðề! Tại tại xứ xứ nhược hữu thử kinh, nhứt thiết thế gian thiên nhân a tu la sở ưng cúng dường, đương tri thử xứ tắc vi thị pháp, dai ưng cung kính tác lễ vi nhiễu, dĩ chư hoa hương nhi tản kỳ xứ.

Dịch nghĩa: Tu Bồ Ðề ơi, ở tại chỗ nào nếu có kinh nầy, hết thảy thế gian thiên nhân a tu la chỗ nên cúng dường, phải biết chỗ nầy tức là tháp, đều phải cung kính làm lễ vi nhiễu, lấy các thứ hoa hương mà rải chỗ đó.

Tại tại xứ xứ: có nghĩa là bất cứ chỗ nào, nhưng chẳng nói là bất cứ chỗ nào, mà nói tại tại xứ xứ là có ý phải hoằng dương khắp hết thảy mọi chỗ, không chỗ nào là chẳng có kinh nầy. Nhất thiết thế gian, thế: là theo chiều dọc nói, 30 năm là một thế, gian : là theo chiều ngang nói, có ý giới hạn, nên thế gian cũng như thế giới, thế giới mà nói hết thảy là ý khắp cả pháp giới, cùng tận vị lai. Thiên, nhân, tu la là ba thiện đạo, nói ba thiện đạo là ý nhiếp luôn ba ác đạo. Nói thiên, tu la là ý nhiếp bát bộ, có nghĩa là khắp cả pháp giới cùng tận vị lai hết thảy thiên long bát bộ tứ sanh lục đạo đều phải ủng hộ. Cúng dường là biểu hiện sự ủng hộ. Sở ưng cúng dường, so với trước nói dai ưng cúng dường thì ý sâu hơn. Dai ưng : là tỏ rõ mỗi mỗi chúng sanh phải nên cúng dường, sở ưng : là tỏ rõ cúng dường là trách nhiệm của hết thảy chúng sanh. Tắc vi thị tháp : là coi như phật tháp miếu ở trên, ý sâu hơn. Trước nói vẫn còn kinh là kinh, tháp là tháp, nhưng phải xem nhứt luật giống nhau. Nay thì tỏ rõ kinh tức là tháp. Ðây là nghĩa trước nói : “kinh điển sở tại chi xứ tức vi hữu phật, nhược tôn trọng đệ tử” giống với nghĩa nầy, vì trong tháp ắt an xá lợi, hoặc tượng phật, bồ tát, hiền thánh tăng. Nên kinh sở tại chi xứ tắc vi thị tháp là ý tỏ rõ kinh nầy quan hệ đến mạng-mạch của tam bảo. Lại nữa, xá lợi là xương của phật, tức là báo thân. Tượng của phật, bồ tát, hiền thánh tăng, vì khiến chúng sanh chiêm ngưỡng lễ bái, mở lòng tín ngưỡng, thì công dụng giống như hoá thân, mà kinh là pháp thân, nên kinh sở tại xứ tắc vi thị tháp lại là để tỏ rõ kinh nầy có thể thành ba đức, hiện ra ba thân. Bao nhiêu thứ như thế đều là công đức thù thắng của kinh. Vì có công đức thù thắng nầy, nên hết thảy chúng sanh đều phải hết sức hoằng dương khiến tại tại xứ xứ đều có kinh nầy, nên chỗ kinh sở tại là chỗ hết thảy thế gian thiên nhân a tu la phải cúng dường. Lại tháp ắt ở chỗ cao, hiển ra. Ý của an tháp ở chỗ tỏ bày ra cho rõ, khiến cho chúng sanh nghe rõ thấy rõ, để khởi tín tâm. Nay nói: “đương tri thử xứ tắc vi thị tháp”, là giải nghĩa rõ cái cớ phải cúng dường. Cung kính, tác lễ v.v...là tỏ riêng phương pháp cúng dường. Phương pháp nầy là gì? Là đều phải tam nghiệp thanh tịnh.

Cung kính : là kiển thành, tức là ý nhứt tâm qui mạng, vì ba nghiệp lấy ý nghiệp làm chủ, nếu chỉ tắm rửa thân sạch, súc miệng cho sạch, mà vọng tưởng rối loạn, chẳng thể nhứt tâm, thì còn có gì là thanh tịnh? Nên bắt đầu phải nhiếp tâm trở về nhứt, chẳng day ra ngoài dong ruổi, đây gọi là cung kính. Ắt phải cung kính mới có thể thanh tịnh. Cung kính tức là tiêu biểu ý nghiệp kiển thành, nên là chủ của ba nghiệp. Tác lễ như chắp tay đảnh lễ v.v...đây là tiêu biểu thân nghiệp kiển thành, nhiễu tháp kinh hành cũng là một thứ tác lễ. Lúc nhiễu tháp, nhiễu tượng phật, thì hoặc xưng niệm thánh hiệu kinh danh, hoặc xướng phạm bối, tán dương công đức, đây là tiêu biểu khẩu nghiệp kiển thành. Tác lễ vi nhiễu cũng có thể cho là tiêu biểu thân nghiệp kiển thành. Hoa, hương nói là tản, vì thời xưa nước Thiên Trúc mỗi hay lấy bông hoa, hoặc bột hương, dùng hai tay bưng lên rồi tung lên trong khoảng không để tiêu biểu ý tôn kính. Nước ta thì phần nhiều cắm hoa ở bình, đốt hương ở lư hương cũng là một thứ tiêu biểu tôn kính. Lúc tản hoa, hương, ắt phải tán tụng, như ngày nay lúc ta dâng hương ắt xướng bài “hương tán”, lúc lễ sám tay bưng hoa hương miệng xướng : “nguyện thử hương hoa vân .v.v.”, đây là tiêu biểu khẩu nghiệp kiển thành. Ba nghiệp thân khẩu ý đều phải kiển thành để biểu cung kính. Phàm cúng dường ắt phải dùng hoa hương là có ý sâu. Hoa sở dĩ biểu trang nghiêm, nên kinh phật cũng lấy hoa để đặt tên, như Hoa Nghiêm Kinh, hương sở dĩ biểu trong sạch như nói giới định chân hương, lại để biểu huân tập, biểu thông đạt, như nói pháp giới mông huân. Tóm lại hoa là nhân của quả, nên tản hoa để tiêu biểu chủng nhân phước tuệ song tu, sẽ chứng quả phước tuệ trang nghiêm. Hương là sứ giả của phật, nên tản hương để tiêu biểu ba nghiệp thanh tịnh, cảm ứng đạo giao.

Chỗ kinh sở trụ thù thắng như thế, thì người tín tâm bất nghịch y giáo phụng hành, phước đức của người nầy thù thắng có thể biết được. Phải cúng dường kinh, thì kẻ thụ trì đọc tụng, rộng vì người khác nói, người nầy được long thiên ủng hộ có thể biết được. Trong Hành Nguyện Phẩm nói : “Tụng hành nguyện nầy, hành ở thế gian không có chướng ngại, như mặt trăng ở trên không, ra ngoài mây che, là chỗ xưng tán của chư phật bồ tát, hết thảy nhân thiên đều phải kính lễ, hết thảy chúng sanh đều phải cúng dường”. Tụng Phổ Hiền Phẩm như thế, thì tụng kinh Kim Cương Bát Nhã cũng như thế. Phải biết, hai bộ kinh nầy một bộ tiêu biểu TRÍ, một bộ tiêu biểu BI, mỗi ngày lấy hai bộ kinh nầy làm khóa tụng thường, chính là phước tuệ song tu, bi trí hợp nhứt, công đức vô lượng vô biên, trước tôi đã đem ra để khuyên là vì thế. Trái lại nếu ở kinh nầy hoặc hủy hoặc báng, hoặc coi rẻ, hoặc nói cạn, nói bậy, thì tội nghiệp người nầy rất lớn cũng có thể biết. Xem câu : “Tại tại xứ xứ nhược hữu thử kinh v.v...” thì người học phật phải tại tại xứ xứ viết ra, thụ trì đọc tụng, vì người khác giải thuyết, cũng có thể biết được. Nếu chẳng thế, thì không thể tại tại xứ xứ có bộ kinh nầy. Mà ở đời nay lại phải hoằng dương rộng kinh nầy, khiến tại tại xứ xứ đều có kinh nầy, thì tại tại xứ xứ đều có tam bảo gia bị, thiên long ủng hộ, tức là tại tại xứ xứ đều được an ninh. Nay tuy chưa dễ làm được như thế, nhưng có một phương pháp khéo léo, phương pháp nầy ra sao? Là phát khởi đại tâm ngày ngày vì tại tại xứ xứ đọc tụng kinh nầy, nguyện cầu tiêu tai chướng, thì há rằng chỉ tại tại xứ xứ có thể được an ninh, vả chăng tại tại xứ xứ chúng sanh cũng ở trong chỗ chẳng hay chẳng biết phát khởi tín tâm. Thứ cảm ứng nầy chân thực chẳng hư. Vì cớ gì? Vì nhứt chân pháp giới, vì hết thảy chúng sanh đồng thể, vì sức huân tập rất lớn. Bởi công đức kinh nầy thù thắng, thập phương tam bảo hộ trì, hết thảy thiên long cung kính. Vả lại người ta có thể thực hành như thế tức là xả kỷ lợi tha, tức là đã mở đạo nhãn, tức là quán chiếu nhứt chân pháp giới, tức là hành ly tướng bố thí, lợi ích hết thảy chúng sanh, tức là tín tâm bất nghịch, nên y theo giáo phụng hành, tức là thành tựu bất khả lượng bất khả xưng vô hữu biên, bất khả tư nghị công đức, tức là hạ đảm như lai. Phật, thế tôn liền vì đó thụ ký sẽ đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Hiệu lực lớn nhỏ mau chậm của người nầy xem trọn vẹn ở sức quán, hành của người nầy ra sao. Ngày nay ngồi đây mà nói, ngày mai liền có thể bắt đầu thực hành, các vị thiện tri thức đừng bỏ qua lời nầy!

Phục thứ Tu Bồ Ðề, thiện nam tử thiện nữ nhân thụ trì đọc tụng thử kinh nhược vị nhân khinh tiện, thị nhân tiên thế tội nghiệp ưng đọa ác đạo.

Dịch nghĩa : Lại nữa Tu Bồ Ðề ơi, trai lành gái lành thụ trì đọc tụng kinh nầy nếu bị người khác khinh lờn coi rẻ, người nầy tội nghiệp kiếp trước phải rơi vào ác đạo.

Phục thứ : có nghĩa là lại đem ra nói, tuy có khác với nghĩa trước, nhưng là do nghĩa trước lần lượt sanh ra, hoặc tuy chẳng phải nghĩa trước sanh ra mà cùng với nghĩa trước phát minh lẫn nhau, ắt phải lần lượt nói ra thì dùng hai chữ phục thứ để biểu thị. Nếu là nghĩa riêng biệt khác không có liên quan gì với nghĩa nói trước thì không dùng hai chữ nầy.

Trong nầy nghĩa lại đem ra nói, chỗ liên quan với nghĩa nói trước có ba : 1) Theo tam yếu mà nói, 2) theo sanh phước mà nói, 3) theo cúng dường cung kính mà nói. 

1) Theo tam yếu mà nói là : trước nói dĩ yếu ngôn chi, ở dưới sắp ba thứ : giáo nghĩa, duyên khởi, hạ đảm, để thuyết minh cái sở dĩ nhiên của phước người nầy thắng kẻ kia. Nhưng trong ba cái yếu, thực lấy giáo nghĩa làm chủ yếu duy nhứt. Vì cớ gì? Vì giáo nghĩa thù thắng mà sau duyên khởi, hạ đảm mới thành thù thắng. Thế thì giáo nghĩa đã thù thắng như thế, công đức của người nầy há chỉ sanh phước như chỗ trên nói mà thôi ư? Có thể diệt luôn trọng tội ở kiếp trước đắc vô thượng bồ đề, nên phật lại thuyết khoa nầy để hiển nó.

2) Theo sanh phước mà nói, trên tỏ rõ chỗ sanh phước là thành tựu bất khả lượng bất khả xưng vô hữu biên bất khả tư nghị công đức, tức là hạ đảm vô thượng bồ đề. Thế nhưng hạ đảm bồ đề còn là đầu mối tạo ra, chứng đắc bồ đề mới là cứu cánh. Phải biết, thành tựu công đức hạ đảm liền có thể thắng bồ tát kia, là vì người nầy sẽ từ hạ đảm mà chứng đắc. Kinh nầy có bất khả tư nghị, bất khả xưng lượng vô biên công đức, chính vì nó có thể khiến kẻ tín giải thụ trì chứng đắc vô thượng bồ đề. Vả lại muốn chứng đắc bồ đề ắt trước phải tiêu nghiệp chướng, mà giáo nghĩa kinh nầy vì rất có thể tiêu trừ ba chướng, cho nên có thể khiến chứng đắc bồ đề là ở chỗ đó. Tóm lại, tiêu trừ ba chướng thì phước đức mới là viên mãn, chứng đắc bồ đề thì phước đức mới là cứu cánh. Chỉ có kinh nầy mới có công đức nầy, cho nên lại phải nói khoa nầy để hiển công đức của nó.

3) Theo cúng dường cung kính mà nói, thì như trên đã nói : “tùy thuyết thị kinh chi xứ, nhứt thiết thế gian thiên nhân a tu la dai ưng cúng dường”, nào là kinh nào là người đều nói gồm chung ở trong đó. Còn khoa trên chỉ nói “hữu kinh chi xứ nhứt thiết thiên nhân a tu la sở ưng cúng dường”, tuy trong ý có thu nhiếp người ở trong đó mà chưa hiển rõ, nên lại nói khoa nầy để phản hiển. Biết được bị người ta khinh lờn coi rẻ là xảy ra ở ngẫu nhiên, thì biết phải nên cung kính là sự thường. Sao biết khinh rẻ là xảy ra ở ngẫu nhiên? Vì kinh nói: “nhược vị”. Nhược : là nếu như, ấy là ý hoặc là, có thể, thì chẳng phải xảy ra ở ngẫu nhiên ư? Hoặc hỏi : Ðã bị người ta khinh rẻ thì thiên long bát bộ ắt cũng khinh rẻ. Ðáp : Nghĩa nầy không đúng, phải biết, người nầy có thể ở kinh nầy tín tâm bất nghịch, y theo giáo phụng hành, trước đã nói như lai tất tri tất kiến, thì người nầy được chư phật hộ niệm có thể biết được, thế thì thiên long bát bộ hộ pháp cũng ắt như thường ủng hộ người nầy, có thể biết được. Trong kinh chỉ nói bị người ta khinh rẻ, mà chẳng nói tới loài nào khác, tôn chỉ nầy sâu vậy thay! Vị : có nghĩa là bị, khinh : là chẳng trọng, tiện : là chẳng tôn kính. Chẳng được người tôn trọng là phản diện của dai ưng cung kính. Sự khinh rẻ ra sao? Nói nông cạn như là nhạo báng, chê dèm, làm nhục, nói rộng ra là gồm gặp các việc khó khăn, trái ngược. Người nầy tội nghiệp kiếp trước phải rơi vào ác đạo là tỏ rõ cái cớ bị người ta khinh rẻ. Kiếp trước đã tạo nghiệp trọng tội, người nầy kết oán với người khác có thể biết được. Hoặc tuy chưa kết oán với người khác, mà người nầy bị người khác coi không ra gì có thể biết được. Nhân như thế thì quả như thế, nên người nầy sở dĩ bị người khác khinh rẻ. Tiên thế có hai nghĩa : một là trỏ kiếp trước, tức là trỏ đời trước của kiếp nầy mà nói, mà chẳng phải là một kiếp ở liền ngay với kiếp nầy. Một nghĩa là trỏ trước khi trì thuyết kinh nầy. Ba mươi năm là một thế, câu tục ngữ cũng nói : hành vi trước và sau cũng như cách thế, là vậy. Chữ kim thế ở khoa dưới cũng vậy, có nghĩa là kiếp nầy, lại có nghĩa là sau khi trì thuyết kinh nầy. Ác đạo : là địa ngục, ngã qủi, súc sanh ba ác đạo. Sở tác chi tội ưng đọa ác đạo : là tội nặng có thể biết được, vì chưng trỏ những tội ngũ nghịch, thập ác, phỉ báng đại thừa v.v...mà nói. Ưng đọa : là tỏ rõ kiếp sau người nầy ắt phải đọa vì tội báo đã định, chỗ gọi là định nghiệp vậy.

Yếu nghĩa trong nầy có ba : 1) Phàm người tạo nghiệp chẳng kể thiện hay ác, đều là hễ nghiệp nào chín mùi thì dắt dẫn trước, tức là quả nào chín trước thì trước bị nó dắt dẫn chịu báo. Nên chỗ nói của khoa nầy kiếp trước tạo nghiệp, kiếp nầy chưa đọa, đợi đến kiếp sau là vì nó kiếp trước có tạo thiện nghiệp quả nầy chín trước, hoặc phước còn dư của thiện quả nhiều kiếp trước chưa hết, mà thời kỳ ác quả chịu báo còn chưa đến, sở dĩ kiếp nầy còn chưa đọa lạc là vì thế. Thế nhưng có nhân ắt có quả, nếu chẳng tạo nhân thù thắng nào khác, mau chứng quả thù thắng, thì sự báo của định nghiệp làm sao mà tránh khỏi. Chỗ nào là: thiện ác rốt cuộc đều có báo, chỉ tranh tới sớm và tới muộn, là vậy. Câu ưng đọa ác đạo chính là tỏ rõ nghĩa nầy. Cổ đức nói : Muôn thứ đều đi mất hết, chỉ có nghiệp theo thân mình, đây có nghĩa là vạn sự đều không, chỉ có nhân quả còn đó. Do đây mà xem thì con người ta sống ở trên đời có thú vị gì, chẳng khác gì như trò múa rối, bị nghiệp lực ở trong chỗ đen tối dắt dẫn giật dây. Nếu không cởi mở ra những dây trói buộc, thì khi lên sân khấu lúc xuống sân khấu, lên lên xuống xuống làm hết những trò bi hoan ly hợp để cho kẻ bên cạnh chỉ trỏ, còn tự mình có thụ dụng gì, đã chẳng biết bao giờ làm xong, lại chẳng biết cái mình làm tự ở đâu tới? Lại xem chỗ nói ở khoa nầy, có thể biết phàm nói về nhân quả ắt thông với ba đời mà xem thì mới chẳng đến nỗi lầm. Vì chưng con người tạo nghiệp thuần thiện hay thuần ác thì rất ít, phần nhiều thiện và ác lẫn lộn với nhau, nhân đã chẳng phải một thì quả cũng không thể chín liền, sở dĩ ắt phải xem thông ba đời mới có thể biết cứu cánh.

2) Tạo nghiệp là nghiệp chướng, đọa ác đạo là báo chướng, mà người nầy đời trước không biết tội nghiệp chẳng nên tạo, là hoặc chướng. Hoặc, nghiệp, báo cũng gọi là phiền não, nghiệp, khổ. Gọi hoặc là phiền não, vì hoặc ở ngã kiến nên sanh phiền não, gọi báo là khổ ấy là theo phàm phu mà nói. Tỏ rõ sự báo của phàm phu, tuy đại phú đại qúi cho đến sanh lên cõi trời, mà rốt cuộc chẳng tránh khỏi một chữ khổ. Hoặc, nghiệp, khổ nầy gọi là chướng, vì phàm phu không biết ba cái nầy đều là hư vọng tướng tưởng, từ vô thủy đến nay chấp mê chẳng ngộ, bèn bị ba cái nầy che lấp sự thấy đạo, che lấp cái trụ đạo che lấp cái chứng đạo của nó, nên mới gọi đó là chướng. Cho nên tôn chỉ duy nhất học phật là ở chỗ trừ chướng. Chỗ có hết thảy phật pháp tiểu thừa, đại thừa, tối thượng thừa, tóm lại một lời nói là trừ ba chướng mà thôi.

3) Khoa nầy là tỏ rõ nghiệp lực chẳng thể nghĩ bàn. Thụ trì độc tụng thử kinh, vi nhứt thiết thế gian thiên nhân a tu la sở ưng cúng dường, mà nay vì túc nghiệp bị người khác khinh rẻ, thì sức lực của nghiệp chướng lớn vậy thay! Phải biết, nghiệp nổi dậy ở tâm. Tâm tại sao tạo nghiệp? Là tại hoặc. Hoặc tức là vô minh, vô minh là không có trí tuệ. Hết thảy pháp tiểu thừa đại thừa tuy đều có thể trừ chướng, mà chỉ có Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh của tối thượng thừa càng là gươm báu để trừ chướng. Vì cớ gì? Vì Kim Cương có nghĩa là có thể dứt, tức là dứt hoặc, bát nhã là tên gọi của phật trí. Lấy phật trí chiếu vô minh thì không cái nào mà chẳng sáng, nên thí dụ là kim cương. Ba la mật có nghĩa là đến bờ bên kia, vì chưng nổi dậy hoặc là gốc của tạo nghiệp chịu khổ, hoặc diệt thì nghiệp khổ theo đó mà diệt. Ba chướng đã tiêu thì viên thành ba đức, viên hiển ba thân, đây gọi là đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề thì qua tới bờ bên kia vậy. Nên xem tên của kinh nầy liền có thể biết nó là kinh dứt hoặc, trừ chướng, đạt đến chỗ cứu cánh, cho nên công của kinh không thể nghĩ bàn.

Dĩ kim thế nhân khinh tiện cố, tiên thế tội nghiệp tắc vi tiêu diệt, đương đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Dịch nghĩa: Vì cớ người đời nay khinh lờn coi rẻ, tội nghiệp kiếp trước liền bị tiêu diệt, sẽ đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Khoa nầy chính là tỏ rõ công của kinh chẳng thể nghĩ bàn. Hai câu : “Dĩ kim thế nhân khinh tiện cố, tiên thế tội nghiệp tắc vị tiêu diệt”, người xưa có kẻ giải thích là chuyển nghiệp nặng khiến cho chịu nhẹ. Lời giải thích nầy chẳng nên xem một cách cục bộ, nếu xem cục bộ liền cùng với tôn chỉ của phật có nhiều chỗ trái ngược. Tại sao bảo cùng với phật thuyết trái ngược? Thử xem khoa trên ở dưới câu “vị nhân khinh tiện”, liền nối tiếp “thị nhân tiên thế tội nghiệp ưng đọa ác đạo”, chính là tỏ rõ người nầy bị khinh rẻ là do túc nghiệp khiến cho nó như thế, lại cũng tức là đầu mối phải đọa vào ác đạo, mà chẳng phải là riêng dùng một pháp chuyển xoay khiến cho nó như thế, thiệt là hết sức rõ ràng. Lời nói “tiêu diệt” ở trong nầy không thể hiểu lầm rằng 2 nghiệp thiện và ác bù qua trừ lại để tiêu đi. Kinh phật thường nói lý nhân quả như một, chỗ bảo là “như thị nhân, như thị quả”, lại nói : “nếu như trăm ngàn kiếp, chỗ nghiệp làm chẳng mất”, thì đủ thấy hai nghiệp thiện và ác mỗi cái tồn tại song song đều nhau, chẳng thể bù qua trừ lại tiêu đi được, là hiển nhiên rõ ràng dễ hiểu, mà lời nói xoay chuyển khiến cho chịu nhẹ là gồm có ý bù qua trừ lại để tiêu đi, nên mới nói là trái ngược. Thế thì biết làm sao? Chỉ có một phương pháp là cực lực tiêu diệt chủng tử ác mà thôi. Sao gọi là bù qua trừ lại tiêu đi? Thí dụ như trương-mục tiền bạc, đem hai số thu vào xài ra cùng bù qua trừ lại, cùng tiêu đi, chỉ tính số tiền còn dư lại. Nhân quả của thiện ác thì chẳng thể bù qua trừ lại tiêu đi, chỉ tính cái thiện cái ác còn dư lại để luận về báo như thế. Vì cớ gì? Vì trong trương mục tuy có nhiều thứ tiền bạc, nhưng có tiêu chuẩn nhứt định chung, có thể nương theo đó đem cái chẳng phải một thứ nầy chiết hợp làm một, nên có thể bù qua trừ lại tiêu đi. Còn nghiệp thiện ác nặng nhẹ lớn nhỏ thì không phải một thứ, đã không có tiêu chuẩn để làm căn cứ đo lường chiết hợp, thì theo chỗ nào mà bù qua trừ lại tiêu đi, cho nên trải qua trăm ngàn kiếp nghiệp của nó không mất. Vậy phải làm sao tiêu diệt nó? Thí dụ như hạt giống sẵn có trong ruộng, có giống lúa tốt, lại cũng có cỏ dại xen vào, nay chỉ vun trồng giống lúa khiến cho nó được thành bông lúa, còn cỏ dại nẩy mầm thì nhổ luôn gốc rễ nó đi, đây gọi là tiêu diệt. Con người cũng như thế, trong ruộng tám thức từ vô thủy đến nay hạt giống thiện và ác đều có, chỉ nên huân cái hạt giống thiện khiến cho nó thành thiện quả, thì hạt giống ác không từ đâu mà nảy sanh, dẫu rằng hạt giống ác từ kiếp trước đã nẩy nở ra, nhưng nếu có thể ở thời kỳ ác quả còn chưa thành thục, dõng mãnh tinh tiến khiến thiện quả thành thục trước, thì ác quả chẳng thể thành liền được. Nếu lâu ngày gốc của thiện càng lớn thêm lên thì cành lá sum sê, khiến cho ác quả lâu ngày không có cơ hội thành thục sẽ hư mục đi mà không còn tồn tại nữa. Ðây là theo thế gian thiện hành và xuất thế gian pháp bất liễu nghĩa giáo mà nói. Nếu theo tối thượng thừa liễu nghĩa giáo, tu nhân thù thắng đắc quả thù thắng, thì liền có thể đem hạt giống ác chỗ có ở kiếp trước luôn cả gốc lẫn ngọn, và quả nó sẽ thành mà chưa thành chặt đứt trừ bỏ, há chỉ là thiện quả chín trước, chẳng khiến cho ác quả được thành mà thôi đâu. 

Chỗ nói tiêu diệt trong nầy chính là nghĩa ở trên. Ba câu trong kinh văn nối tiếp nhau một hơi, lần lượt giải thích nên, chẳng thể đem diệt tội, sẽ được xem làm hai việc. Tắc vi tiêu diệt : có nghĩa là ngay đó tiêu diệt, vì ý của kinh bảo là người nầy đời trước tội nghiệp chỗ làm phải rơi vào ác đạo, tuy nay còn chưa rơi xuống nhưng quả đã sắp chín, nên mới có đầu mối thấy bị người khác khinh rẻ, nếu không thụ trì đọc tụng kinh nầy thì ắt rơi xuống không còn nghi ngờ gì nữa. Thật là rất nguy vậy! May mà người nầy vốn có hạt giống bát nhã sâu dầy, có thể y theo kinh nầy tu nhân thù thắng, ly tướng kiến tánh, một lần vượt lên vào thẳng, nên quả thù thắng của người nầy cũng sắp thành thục. Thế thì kẻ vốn phải rơi xuống, chỉ vì đời nầy bị người khác khinh rẻ mà tội nghiệp đời trước ngay đây tiêu diệt, vì người nầy chính niệm chân như, có tư cách sẽ đắc vô thượng bồ đề, thấy suốt tánh của tội vốn không. Có thể thấy câu “đương đắc” trong kinh chính là giải thích cái sở dĩ nhiên của tội nghiệp tiêu diệt. Phải biết, chẳng diệt tội nghiệp thì chẳng thể chứng quả, nhưng trong kinh nói là sẽ đắc mà không phải là hiện nay đã chứng đắc. Nói sẽ đắc là tỏ rõ người nầy có khả năng quyết định chứng đắc vô thượng bồ đề, thì tuy tội nghiệp rất nặng đã có đầu mối thấy phải rơi xuống, liền có thể ngay đây tiêu diệt. Ðương đắc có nghĩa là sẽ đắc, hiện nay tuy chưa đắc, mà tương lai nhất định đắc là lời quyết định. Ðương đọa cũng có nghĩa là tương lai nhất định rơi xuống. Thế nhưng vì là vô thượng cực quả nên chẳng đợi chín trước mà có hy vọng quyết định thành thục, thì ác quả luôn cả gốc rễ trừ đi vậy. Vì chỗ tu của người nầy là công phu vô ngã tướng, vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng, tâm năng tạo đã không thì nghiệp sở tạo tự nó tiêu diệt, chỗ gọi là: “tội từ tâm nổi dậy, đem tâm để sám tội, nếu lúc tâm mình không, thì tội cũng mất đi” là vậy. Ðây chính là chỗ cực hiển kinh công. Do ở chưa thể lĩnh hội được tôn chỉ của kinh, bèn vì thế hiểu lầm là vì cớ người khác khinh rẻ nên tội nghiệp bị tiêu diệt, cho nên mới có sự giải nghĩa lầm là xoay chuyển nghiệp nặng khiến cho chịu nhẹ. Tóm lại hai câu : “dĩ kim thế nhân khinh tiện cố tiên thế tội nghiệp tắc vi tiêu diệt”, là tỏ rõ ý hậu thế quyết chẳng rơi xuống. Chữ “cố” trong câu nầy chính là điểm tỉnh ý nầy, há có thể hiểu lầm thành ra nếu chẳng bị người khác khinh rẻ thì tội nghiệp liền chẳng tiêu diệt ư? Khoa trên nói bị người ta khinh rẻ là tỏ rõ định nghiệp chẳng có thể cầu may tránh khỏi, nói tội nghiệp, nói phải rơi xuống là tỏ rõ nghiệp, báo 2 chướng, mà nghiệp báo là do hoặc tới, nên nói nghiệp báo liền nhiếp có hoặc chướng ở trong đó. Chỗ nói của khoa nầy là tỏ rõ trừ ba chướng, vì chưng thụ trì kinh nầy có thể quán lý tam không, lại có khả năng sẽ được cực quả, ấy là quán, hành của người nầy rất sâu, có thể biết được. Thế nên hoặc chướng có thể từ đó mà tiêu, gốc rễ khô thì cành lá liền héo, nên tuy định nghiệp không thể cầu may tránh khỏi, đã có đầu mối thấy phải rơi xuống, mà nghiệp lực của người nầy cũng ngay đây tiêu diệt, nghiệp chướng tiêu thì báo chướng cũng theo đó mà tiêu, phải rơi xuống bèn chẳng rơi vậy. Cho đến ba chướng trừ sạch thì ba đức hiển ra viên minh, nên nói sẽ đắc bồ đề, đều là sở dĩ hiển kinh công chẳng thể nghĩa bàn. Ðương đắc : có nghĩa là cách bao nhiêu đời sau chẳng nhứt định, xem trọn ở ba đức của người nầy lúc nào tu viên thì lúc đó đắc. Nhưng tuy thời gian không thể nhứt định, vì có thể trừ ba chướng nên rốt cuộc có lúc đắc, ắt đắc không còn nghi ngờ gì, nên gọi là đương đắc. Hai chữ nầy đã được thế tôn thân hứa, tức là thụ ký, như văn sau nói : “Nhiên Ðăng Phật dữ ngã thụ ký: nhữ ư lai thế đương đắc tác phật”, là vậy. Chỗ đó nói tác phật, còn đây nói vô thượng chánh đẳng giác, tên tuy không giống nhau mà ý giống nhau. Vô thượng chánh đẳng giác là theo quả pháp mà nói, phật là theo quả vị mà nói, chứng quả pháp nầy mà lên quả vị gọi đó là PHẬT. Như lai là theo quả đức mà nói, chứng quả pháp nầy mà tánh đức hiển ra viên minh thì gọi là NHƯ LAI. Có thể biết, gọi là phật, gọi là như lai ấy là nhiếp có nghĩa vô thượng chánh đẳng giác. Mà nói là a nậu đa la tam miệu tam bồ đề cũng tức là nhiếp có nghĩa phật và như lai, vì nếu chẳng phải phật, như lai thì không thể gọi là vô thượng chánh đẳng giác, nên ba danh từ nầy đều là tên gọi của cứu cánh giác quả. Nhưng hoặc là vì hiển cứu cánh pháp, hoặc là vì hiển cứu cánh vị, hoặc là vì hiển cứu cánh đức, cho nên mới lập nên ba danh từ nầy. Thế tôn thuyết pháp hay khéo viên diệu, trong một câu nói bao gồm muôn tượng, những câu của thế tôn nói ra như gió và nước gặp nhau, không có một chút để ý nào mà nó móc nối liền, rọi trở lại bèn thành diệu văn cực xán lạn. Ngay như khoa nầy nếu chỉ nói thụ trì đọc tụng kinh nầy, kẻ tội nghiệp đời trước phải rơi xuống ác đạo thì sẽ vì đó tiêu diệt, sẽ đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, để hiển kinh công, thì ở ý đã đủ rồi, lại còn nói thêm bị người khác khinh rẻ v.v...thì những nghĩa bao gồm trong nầy bèn nói ra chẳng hết. Nay đem ra nói sơ lược 5 nghĩa : 1) khiến biết nhân quả đáng sợ, ác nghiệp chẳng thể tạo, may nhờ sức lực của kim cương bát nhã được tránh khỏi rơi xuống, nhưng còn chưa tránh khỏi trọn vẹn. 2) Khiến kẻ nghe thuyết cung kính ở trên chẳng thể trước tướng, trước tướng thì gặp việc chẳng như ý ắt đến nỗi tâm thoái chuyển. 3) Khiến kẻ gặp việc chẳng như ý cũng không nên trước tướng, phải quán tưởng việc đó là để diệt tội. 4) Hết thảy chúng sanh túc nghiệp vô hạn, khiến biết tuy túc nghiệp cực nặng, quả báo sắp chín, đã có đầu mối thấy được, mà sức lực của kinh nầy cũng có thể tiêu diệt túc nghiệp đó. 5) Khiến biết nhân quả chuyển biến hết sức phức tạp phải xem cứu cánh của nó mà chẳng thể xem trước mắt thấy cạn mà hoài nghi.

Trong khoa sanh phước ở trên tỏ rõ ba điều cần yếu để khuyến khích người học, trong khoa diệt tội nầy cũng tỏ kín đáo ba điều cần yếu để cảnh cáo người học, một yếu là đời nầy bị người khinh rẻ ấy là tội nặng đời trước gây nên, phàm gặp việc như thế phải sanh tâm sợ hãi, phải sanh tâm thuận chịu, hai yếu là kẻ bị khinh rẻ nếu thụ trì đọc tụng kinh nầy túc nghiệp có thể tiêu, thì phải ở kim cương bát nhã sanh tâm qui mạng, phải đối với kẻ khinh rẻ mình sanh tâm thiện tri thức, ba yếu là bị người khinh rẻ tức là đầu mối thấy phải rơi xuống, hết thảy người học phải sanh tâm cần cầu sám hối, mà nói sẽ đắc bồ đề còn chưa đắc, thì phải sanh tâm tinh tiến dũng mãnh. Những lời trên đều là yếu chỉ của khoa nầy. Kinh Phật Danh nói : “ kẻ làm việc thiện còn gặp điều trái ý”, huống chi lại gặp ngay đời loạn nầy ư? Ðem yếu chỉ nầy tùy lúc dùng để nhắc nhở mình, ngõ hầu chẳng đến nỗi bị cảnh duyên làm rối loạn.

Hồi nãy nói cần cầu sám hối, phải biết, thụ trì đọc tụng kinh nầy chính là diệu môn để sám hối. Tại sao nói như thế? Vì kinh Pháp Hoa nói: “nếu muốn sám hối thì ngồi ngay ngắn niệm thức tướng (niệm tức là quán), tội nặng như sương móc, mặt trời tuệ có thể tiêu trừ”. Thể của kinh nầy là thực tướng, kinh nói : “tín tâm thanh tịnh tắc sinh thực tướng”, tâm thanh tịnh tức là ly tướng ly niệm, ly tướng ly niệm tức là quán thực tướng, cũng tức là vô thượng diệu pháp để trừ hoặc, tiêu nghiệp, chuyển báo, đây là môn lý sám trong nghi thức sám hối. Trong kinh lại khiến hành lục độ ly tướng bố thí để lợi ích chúng sanh. Hành Nguyện Phẩm nói : “ Bồ tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư phật, nếu tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự như lai, nếu khiến chúng sanh hoan hỉ tức là khiến hết thảy như lai hoan hỉ”. Nên hành lục độ tức là môn sự sám trong nghi thức sám hối. Vì chưng bực cổ đức tạo nên nghi thức sám hối, ở ngoài lý sám ra lại khiến cúng dường, kính lễ để tu riêng sự sám chính là vì huân tập tâm làm rộng lục độ, há chỉ lạy mấy chục lạy mà cho là đã sám hối xong rồi ư ? Xem chỗ nói ở khoa nầy, nhân thụ trì đọc tụng kinh nầy mà được tiêu diệt túc nghiệp, thì nó là diệu môn sám hối cũng rõ ràng vậy. Vì chưng thụ trì tức giải và hành đều tiến, giải tức là quán, tức nhiếp lý sám, hành tức nhiếp sự sám. Vả do đây có thể biết thụ trì cũng tức là tên khác của quán, hành. Tầm thường xem thụ trì cho là độc tụng ấy là lầm, nếu như vậy thì đã nói thụ trì sao còn nói độc tụng? Phải biết, độc tụng nguyên là huân tập sự thụ trì, nếu chỉ độc tụng mà chẳng thụ trì thì chỉ có thể trồng nhân xa, chẳng thể thu công hiệu lớn, chỉ có thể thêm phước, chẳng có thể mở tuệ, chỉ có thể tiêu nghiệp nhẹ, chẳng thể diệt tội nặng, lại chẳng thể đắc vô thượng bồ đề. Phải biết như vậy!

Tóm lại kinh nầy có công đức vô biên, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể xưng lường, nói đến khoa nầy mới là hiển hết, mà cái sở dĩ nhiên của tín tâm bất nghịch phước nó thắng kẻ kia cũng đến khoa nầy mới là nói suốt. Một khoa lớn cực hiển kinh công nầy tuy ngàn muôn lời nói, mà tôn chỉ duy nhứt có thể dùng vài lời bao gồm mà nói rõ ra là : người học phật nếu không từ kinh nầy mà vào, dẫu khiến khổ hạnh vô số kiếp chỉ có thể thành bồ tát mà chẳng thể thành phật, là vậy. Ðây chính là phát huy nghĩa thú của câu “nhứt thiết chư phật cập chư phật a nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp dai tùng thử kinh xuất”, để khuyên hết thảy chúng sanh sanh tín.

Tu Bồ Ðề, ngã niệm quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, ư Nhiên Ðăng phật tiền đắc trị bát bách tứ thiên vạn ức na do tha chư phật, tất dai cúng dường thừa sự vô không quá giả.

Dịch nghĩa: Tu Bồ Ðề ơi, ta nhớ vô lượng a tăng kỳ kiếp đã qua ở trước Nhiên Ðăng phật được gặp tám trăm bốn ngàn vạn ức na do tha chư phật, hết thảy đều cúng dường thừa sự không bỏ qua vị phật nào.

A tăng kỳ có nghĩa là vô ương số, tức là vô số, chữ kiếp đã là trỏ thời gian cực dài mà nói, mà nay a tăng kỳ kiếp tức là trải qua vô số thời gian cực dài. Không những thế, lại nói vô lượng, vô lượng như kinh Hoa Nghiêm nói : “A tăng kỳ, a tăng kỳ là một a tăng kỳ chuyển, a tăng kỳ chuyển, a tăng kỳ chuyển là một vô lượng, ấy là đem số a tăng kỳ nhân với a tăng kỳ gọi là a tăng kỳ chuyển, lại đem số của a tăng kỳ chuyển nhân với a tăng kỳ chuyển mới là vô lượng. Lại lấy số vô lượng để tính toán a tăng kỳ kiếp, nói một cách đơn giản có thể nói là vô lượng vô số trường kiếp, chỗ gọi là vi trần điểm kiếp là vậy. Ấy là nói nó trải qua kiếp số nhiều như những đốm vi trần, chẳng phải toán số có thể tính, chẳng phải thí dụ có thể nói ra, chỉ có phật mới có thể biết mà thôi! Những kiếp số nầy đều ở thời kỳ trước Nhiên Ðăng phật. Chuẩn theo giáo nghĩa thường nói, từ tín vị tu đến sơ trụ phải trải qua một vạn kiếp, hoặc bảo phải tu đến ba a tăng kỳ kiếp, mà từ sơ trụ tu đến phật vị cũng phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp. Lại có một thuyết từ tín vị tu đến phật vị gồm là ba a tăng kỳ kiếp, nên thuyết nầy có nhiều thứ khác nhau. Thế tôn là người ở cuối a tăng kỳ kiếp thứ nhì gặp Nhiên Ðăng phật, chứng vô sanh nhẫn, bèn từ thất địa mà lên bát địa, liền vào a tăng kỳ kiếp thứ ba. Căn cứ theo đây, thì lúc thời gian gặp Nhiên Ðăng phật tính ngược lại thời gian sơ trụ chỉ có một a tăng kỳ kiếp thứ nhất, ngay đến tính luôn cả a tăng kỳ kiếp thứ nhì (lúc gặp Nhiên Ðăng phật là ở cuối a tăng kỳ kiếp thứ nhì, nên có thể tính gồm luôn) cũng chỉ là hai a tăng kỳ kiếp. Ở trong vô lượng a tăng kỳ, trừ hai a tăng kỳ ra, cái còn dư vẫn là vô lượng. Thế thì từ tín vị tu đến sơ trụ là vô lượng a tăng kỳ kiếp, há chỉ có ba a tăng kỳ kiếp, lại há chỉ một vạn kiếp ư ? Nếu y theo thuyết từ tín vị đến phật vị gồm ba a tăng kỳ kiếp để tính, thì ở chỗ nói kiếp số trong kinh nầy rất chẳng phù hợp. Mỗi thấy có người vì thế mà phát sanh ra vô số nghi vấn, nay chẳng thể nào mà chẳng dẫn ra để nói cái lý chẳng giống nhau của nó. Phải biết, trong kinh có bao nhiêu thứ thuyết chẳng giống nhau là thực có nghĩa sâu. Nghĩa nầy ra sao? Tức là đối cơ phương tiện. Như kinh Pháp Hoa nói : “ngã thuyết Nhiên Ðăng Phật, dai dĩ phương tiện ...” là vậy. Thế tục mỗi hay đem hai chữ phương tiện xem thành ra tùy tiện, như ngôn luận, hành vi chẳng hợp với đường lối nhứt định thì gọi là phương tiện. Ðây chẳng phải là nghĩa phương tiện nói trong kinh phật. Trong kinh phật phàm câu gì ở lý vô ngại, ở sự hợp đúng, vốn chẳng thể câu chấp, thì dùng hai chữ phương tiện để biểu thị. Cho nên phàm lời nói phương tiện, việc làm phương tiện đều là đối cơ mà như vậy.

Kiếp số nhiều ít thuyết không giống nhau cũng là ý nầy. Vì chưng từ tín vị mà sơ trụ, mà thành phật, trải qua thời gian hoặc mau hoặc chậm, trọn vẹn xem ở người đó căn khí lanh lợi hay ngu độn, công hành siêng năng, hay trễ biếng mà đến nỗi khác nhau, há có thể câu chấp. Vì cớ nầy bèn có bao nhiêu thuyết không giống nhau. Nếu hiểu rõ lý nầy thì phàm trong kinh phật nói như loài nầy thì đều có thể lấy lý nầy mà thông hiểu, chẳng thể câu nệ, chẳng cần nghi ngờ. Nhiên Ðăng cũng có tên là Ðĩnh Quang là cổ phật quá khứ. Trị : có nghĩa là gặp. Na do tha : là một vạn vạn, đem một vạn vạn nhân với tám trăm bốn ngàn vạn ức cũng là nói gặp số phật hết sức nhiều, chẳng phải toán số có thể tính, chẳng phải thí dụ có thể nói, chỉ phật có thể biết mà thôi. Kiếp số đã có dài như thế kia, thì đã đành gặp phật nhiều như vậy. Cúng dường nói tóm tắt là 4 việc cúng dường : ăn uống, áo mặc, đồ nằm, thuốc men. Nói rộng ra như chỗ nói trong kinh Hoa Nghiêm : sự cúng dường, pháp cúng dường (sự cúng dường tức là 4 việc cúng dường ở trên lại suy rộng ra, pháp cúng dường là y theo pháp tu hành). Thừa sự : là hầu hạ bên tả hữu, tất dai : tức là trỏ không sơ sót. Vô không quá: có nghĩa là không có một vị phật nào mà chẳng cúng dường thừa tự như thế. Ở trên nói đủ trải qua thời gian lâu ngày, cúng dường siêng năng để hiển rõ cái lý không bằng thụ trì kinh nầy.

Nhược phục hữu nhân ư hậu mạt thế năng thụ trì độc tụng thử kinh sở đắc công đức, ư ngã sở cúng dường chư phật công đức bách phần bất cập nhất, thiên vạn ức phần, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập.

Dịch nghĩa : Nếu lại có người ở đời mạt thế sau nầy có thể thụ trì đọc tụng kinh nầy chỗ được công đức, ở chỗ công đức ta cúng dường chư phật trăm phần chẳng bằng được một phần, ngàn muôn ức phần cho đến toán số thí dụ chỗ chẳng thể bằng.

Hậu : có nghĩa là sau 500 năm, chính đương lúc mạt pháp, lại thông thường trỏ sau cái sau 500 năm, và luôn ở cuối thời kỳ nầy mà nói, nên mới nói là hậu mạt thế. Chữ ư : trong câu ư ngã là ý so sánh, có nghĩa là kẻ trì kinh công đức so ta cúng dường công đức, ta chẳng thể cùng với nó so sánh, vì chưng công đức cúng phật trăm phần không bằng một phần của kẻ kia. Ngàn phần, vạn phần, ức phần, cho đến phần mà toán số chẳng thể tính, phần mà thí dụ chẳng thể thí đều không bằng một phần của kẻ kia. Nói trăm phần, lại nói tới ngàn vạn ức phần, toán số thí dụ phần, vì kẻ trì kinh căn khí lanh lợi hay chậm lụt, công hành sâu hay cạn có nhiều thứ  chẳng giống nhau, nên trình độ so sánh sự chẳng bằng bèn có cao thấp không giống nhau như thế. Lần thứ năm so sánh hiển kinh công là nói ở tội nghiệp tiêu diệt sau khi sẽ đắc bồ đề, ấy là có ý nói : thụ trì đọc tụng kinh nầy liền được trừ chướng, liền được thụ ký, há ta ngày xưa trước khi chưa thụ ký, trải qua vô số kiếp, gặp được vô số phật mà chỉ biết cúng dường thừa sự có thể bằng được ư? Vì chưng cúng dương thừa sự chỉ là cung kính phục vụ, mà hạ đảm như lai là thiệu long phật chủng. Sự lớn nhỏ của bi trí hành nguyện sai khác nhau rất xa, nên nói : “nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập”. Chỗ nói so sánh trong nầy chẳng thể lấy trải qua thời gian dài hay ngắn, thụ ký mau hay chậm để nói. Vì kẻ trì kinh đã ở vô lượng thiên vạn phật sở trồng các thiện căn, người nầy trải qua thời gian dài gặp phật nhiều chính cũng giống như thế. Cũng chẳng thể lấy nghe pháp để nói, vì người nầy gặp được nhiều phật, thừa sự cúng dường trồng các thiện căn, há có lý nào chẳng nghe pháp ư? Nên cúng dường thừa sự sở dĩ chẳng bằng là trỏ đích xác thụ trì kinh nầy, vì nghĩa thú trong kinh nầy là khai phật tri kiến, thị phật tri kiến, quả nhiên có thể thụ trì tức là ngộ phật tri kiến, nhập phật tri kiến. Cho nên vô số thất bảo thí, thận mạng thí, nhiều kiếp cúng phật chẳng thể bằng, là lý ở chỗ nầy. Vì cớ gì? Vì chư phật và pháp a nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư phật đều từ kinh nầy ra, nên hai chữ cúng dường phải giải thích gồm cả pháp cúng dường, mới hiển kinh nầy hết thảy pháp chẳng thể so sánh nổi, mà chẳng thể chuyên lấy 4 việc cúng dường để nói. Lấy việc của tự thân phật so sánh càng hiển rõ, lại trỏ ra rõ luôn trước Nhiên Ðăng phật, là chính để tỏ rõ kinh nầy là truyền tâm pháp yếu của phật phật truyền thụ cho nhau, mà là chỗ đắc của tự thân nhiều kiếp cần khổ tu chứng. Mỗi lời nói ra đều là lời tự thân mình nếm mùi cam khổ, để khuyên đại chúng tín nhập môn nầy, cùng được thụ ký, cùng chứng bồ đề. Bốn lần trước đều nói phước nó thắng kẻ kia là lấy cái kém để hiển thắng, nên nói phước đức mà chẳng nói công đức, vì kẻ hiển thắng đã có đủ bát nhã chánh trí, từ chỗ tu phước đức đều thành vô biên công đức cho nên thắng kẻ kia. Lần nầy nói công đức cúng phật chẳng bằng trì kinh là lấy cái thắng để tỏ rõ cái kém, nên nói công đức chẳng nói phước đức, để tỏ rõ kẻ kém vì thiếu bát nhã chánh trí, tuy chẳng phải không có công đức, mà cũng chỉ thành phước đức hữu lậu, cho nên chẳng bằng.

Trong kinh tuy chỉ nói thụ trì đọc tụng mà cũng gồm nói cả quảng vị nhân thuyết ở trong đó.

Riêng chỉ lấy hậu mạt thế để nói, ý nó có bốn : 1) Chúng sanh hậu mạt thế đấu tranh kiên cố, nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu tuệ cạn, thế mà còn có kẻ thụ trì đọc tụng kinh nầy, thì thời kỳ chẳng phải hậu mạt thế có thể biết rất có nhiều người thụ trì đọc tụng kinh nầy. Nên nói một hậu mạt thế liền nhiếp hết thảy thời kỳ khác, đây là sự thuyết pháp hay khéo. 2) Lấy thời kỳ như thế mà có người như thế, nên riêng đem hậu mạt thế ra nói để tỏ ra chẳng thể coi rẻ chúng sanh, đây là bình đẳng nhiếp thụ. 3) Kinh nầy rất có thể tiêu trừ nghiệp chướng, nên nói riêng hậu mạt thế để tỏ ra chúng sanh thời đó chẳng thể nào mà không thụ trì kinh nầy, đây là từ bi cứu độ vậy. 4) Kinh nầy là chỗ quan hệ mạng mạch của tam bảo, nên đem hậu mạt thế ra nói là khuyên hết thảy chúng sanh hiện tại và tương lai phải ra sức hoằng dương truyền bá tận cùng đến vị lai chẳng khiến dứt mất. Ðây là sự phó chúc sâu dày vậy.

Tu Bồ Ðề, nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân ư hậu mạt thế hữu thụ trì đọc tụng thử kinh sở đắc công đức, ngã nhược cụ thuyết giả, hoặc hữu nhân văn tâm tắc cuồng loạn hồ nghi bất tín.

Dịch nghĩa : Tu Bồ Ðề ơi, nếu có trai lành nào gái lành nào ở sau đời mạt thế thụ trì đọc tụng kinh nầy, chỗ được công đức, ta nếu nói ra đầy đủ hoặc có người nghe tâm liền cuồng loạn, hồ-nghi chẳng tin.

Một khoa kết thành kinh công nầy là tổng kết của nửa bộ kinh trước. Chẳng những là kết thành nửa bộ trước, lại sanh ra luôn nửa bộ sau. Hai khoa nhỏ trong đoạn nầy đều có hai thứ ý sâu là răn dạy người học, và hiển thị tôn chỉ của kinh, chương cú cực nghiêm chỉnh, nghĩa lý cực đầy đủ, nay theo từng lớp ra mà nói. Sao biết là răn dạy người học? Thử xem trên nói: thành tựu tối thượng đệ nhứt hi hữu chi pháp, cho đến sanh phước diệt tội, hạ đảm như lai đương đắc bồ đề, là chỗ được công đức cũng đã nói hết. Thế thì vì cớ gì trong nầy lại nói là chưa nói ra đầy đủ? Lại ở trên nói : thị kinh hữu bất khả tư nghị công đức, lại nói : thị nhân thành tựu, hạ đảm như lai đương đắc bồ đề, tức là quả báo chẳng thể nghĩ bàn. Hai thứ chẳng thể nghĩ bàn nầy sớm đã nói rõ cho chúng sanh biết, tại sao trong nầy lại nói : “Phải biết,” thì ý nầy không giống phía trước có thể biết được. Vì chưng văn kết thành kinh công nầy không phải là nói để khuyến tín mà là ý để răn dạy. Những câu cuồng loạn, hồ nghi, đương tri, đều là lời răn dạy người học.

Sao gọi là cuồng loạn? Cuồng là cuồng vọng, trỏ kẻ nói bậy bát nhã mà nói. Vì cớ gì nói bậy? Vì chưa hiểu nghĩa chân thực. Chân nghĩa chẳng rõ, thì tự mình ắt nói pháp thành phi pháp, nói phi pháp thành pháp, làm hoặc loạn tâm của đại chúng, không những tự tâm mình hoặc loạn mà thôi, nên mới nói là “tâm tắc cuồng loạn”. Tại sao gọi là hồ nghi? Nghĩa là tuy tin mà không tin, đây là trỏ kẻ sợ nói bát nhã mà nói, cũng do chưa hiểu nghĩa chân thực đến nỗi kinh bố nghi úy, không thể sanh ra quyết định tín tâm, nên mới nói là hồ nghi bất tín. Thế tôn huyền-ký chúng sanh hậu mạt thế có hai thứ bịnh nầy, nên khoa dưới đinh ninh răn bảo nó rằng: “đương tri v.v...”

Ngã nhược cụ thuyết : có nghĩa là khó thể nói đầy đủ, đây có hai nghĩa : 

1) Nghĩa là ta nếu chẳng từ cạn đến sâu chia ra nhiều lần để hiển nghĩa, mà ở một lần nói đầy đủ công của kinh, thì đã chẳng dễ gì thuyết minh, ắt đến nỗi kẻ nghe hoặc cuồng hoặc nghi, ngược lại tăng thêm tội lỗi. Vì người lợi căn thường thường thấy việc dễ quá, nghe công đức nói đầy đủ liền cuồng vọng tự phụ, chưa chứng bảo là chứng, chưa đắc bảo là đắc, làm hoặc loạn tâm của đại chúng. Kẻ độn căn lại thường hay trước tướng sợ khó, đã nghe hết thảy vô trụ, lại nghe nói đầy đủ công đức, chẳng dám cho là phải, lại chẳng dám cho là không phải, hồ nghi chẳng quyết định, chẳng sanh tín tâm. Thế tôn nói ra lời nầy là răn bảo kẻ nghe công của kinh, phải ở chỗ sở dĩ nhiên từ cạn mà sâu lĩnh hội triệt để, thì chẳng đến nỗi lờ mờ chân như mà tâm sanh cuồng vọng, cũng chẳng đến nỗi không hiểu rõ tôn chỉ của kinh mà tâm nổi dậy hồ nghi. 

2) Lần thuyết minh nầy là đã thuyết minh năm lần, lại không nói cái cớ chẳng nói đầy đủ, có nghĩa là: ta từ trước nói rộng thụ trì kinh nầy chỗ được công đức là ý ở chỗ biểu thị khuyên răn mà thôi. Sau nầy chẳng lại nói nhiều nữa, sợ kẻ nghe chẳng hiểu ý nầy hoặc là trước tướng mà cầu làm cuồng loạn tâm mình, hoặc là cầu chẳng được liền ngược lại hồ nghi chẳng tin. Thế tôn nói ra lời nầy là răn người tu hành phải biết việc nầy chẳng phải ngôn thuyết có thể tới, chỉ chứng mới có thể biết được. Ắt phải hết thảy chẳng trước, chân tu thực hành lâu ngày mới có thể tương ứng, chẳng thể nào mà điên cuồng. Công phu tới nơi liền có thể tự biết, không cần nghi ngờ gì. Vì cớ nầy, nửa bộ sau so sánh hiển kinh công chỉ tỏ ý sơ lược, không chú trọng như nửa bộ trước. Vì nửa bộ trước chính là khiến sanh tín, khai giải, nếu chẳng cực lực hiển kinh công thì làm sao có thể tín, còn nửa bộ sau chính là day về trên ly danh tuyệt tướng để tu chứng, ngay đến bồ đề tâm, bồ đề pháp, bồ đề quả còn chẳng nên trước, huống chi công đức. Nếu nói rộng ra nữa thì cùng với tu chứng có chỗ trở ngại, nhưng cũng chẳng tuyệt đối không nói ra, lại là để hiển thị chẳng nên trước mà thôi, mà chẳng phải là đoạn diệt.

Tu Bồ Ðề, đương tri thị kinh nghĩa bất khả tư nghị, quả báo diệc bất khả tư nghị.

Dịch nghĩa: Tu Bồ Ðề ơi, phải biết nghĩa kinh nầy chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn.

Hai câu đương tri chính là lời răn dạy kẻ cuồng nghi. Tại sao cuồng? Tại sao nghi? Là bởi chẳng biết quả báo chỗ được của nghĩa thú kinh nầy, và trì thuyết kinh nầy đều chẳng thể nghĩ bàn. Nên răn nó rằng : đương tri (phải biết). Quả báo tức là ám chỉ chỗ được công đức, chỗ được công đức không là cái gì khác, tức là văn trên chỗ bảo : hạ đảm như lai và đương đắc bồ đề.

Sao gọi là kinh nghĩa bất khả tư nghị? Phải biết, nghĩa thú kinh nầy chuyên tỏ rõ ly hết thảy các tướng, ly tướng mới có thể chứng tánh. Chỗ gọi là ly danh tuyệt tướng, chỉ chứng mới biết, nên nói : kinh nghĩa bất khả tư nghị. Sao gọi là quả báo bất khả tư nghị? Phải biết, thụ trì kinh nầy nguyên vì chứng tánh, muốn chứng tánh của vô tướng vô bất tướng, tướng bất tướng đều vô, ắt phải ly hết thảy các tướng, ly từng phần thì chứng từng phần. Quả báo chẳng là cái gì khác, tức là tự chứng cứu cánh, tánh đức hiển ra viên minh, nên nói quả báo diệc bất khả tư nghị. Tóm lại để tỏ rõ kinh nghĩa, quả báo đều chẳng thể dùng tâm để suy nghĩ, chẳng thể dùng lời nói để bàn luận, đều phải ly các tướng danh tự ngôn thuyết tâm duyên, khế nhập một cách vi mật. Nếu có thể biết như vậy, mà vọng chấp còn chưa trừ khiển, lại sao có thể cống cao, thì tâm cuồng loạn có thể ngừng nghỉ. Tướng hư vọng khiển hết, tịnh đức tự hiển ra, thì tâm hồ nghi có thể cởi mở.

Trước ở khoa diệt tội đã nói : cực hiển kinh công chính là phát huy nghĩa thú của câu : “hết thảy chư phật và pháp a nậu đa la tam miệu tam bồ đề của chư phật đều từ kinh nầy ra”, nói trong khoa sanh tín ở trên để khuyên tín. Khoa kết thành nầy là tổng kết của cực hiển kinh công, chính là phát huy nghĩa thú của câu : “sở vị phật pháp giả tức phi phật pháp” ở đoạn dai tùng thử kinh xuất nơi văn dưới để khai giải. Ý của thế tôn trước chỗ bảo pháp tức phi pháp là gì? Phải biết, là vì nghĩa của kinh nầy chẳng thể nghĩ bàn. Trước chỗ bảo phật tức phi phật là gì? Phải biết, là vì quả báo cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì chưng tức phi là : nói một cách đơn giản tức là ly tướng, nói một cách tường tận thì tánh thể không tịch, một mảy một may tướng cũng chẳng thể trước, trước thì chẳng phải là tánh thể không tịch, nên nói tức phi. Phía trước tôi chia ra năm lần để hiển kinh công, chẳng muốn nói đầy đủ là vì khiến kẻ nghe thâm tâm lĩnh giải, công đức lấy ly tướng sâu hay cạn mà khác nhau, chẳng đến nỗi miệng nói không, tâm trước hữu mà cuồng vọng tự loạn, cũng chẳng đến nỗi một khi nghe ly tướng liền sợ cái không nghiêng lệch mà hồ nghi bất tín. Tóm lại nghĩa thú kinh nầy là chuyên khiển trừ tình chấp để chứng tánh không tịch. Chỗ gọi là quả báo tức là cái tánh chứng đắc chẳng thể duyên niệm, ắt phải dứt đường ngôn ngữ, diệt chỗ tâm hành mới hứa cho tương ứng chút ít. Diệt chỗ tâm hành là chẳng thể suy nghĩ, dứt đường ngôn ngữ là chẳng thể bàn luận. Ðây gọi là nghĩa kinh nầy chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng thể nghĩ bàn. Ðây gọi là phật pháp tức phi phật pháp. Nếu chẳng biết day về trong dứt đường ngôn ngữ, diệt chỗ tâm hành, chẳng thể nghĩ bàn mà quán chiếu khế nhập, liền trái ngược với nghĩa kinh, sao được quả báo có thể chứng, chỉ có cuồng và nghi mà thôi! Kẻ thụ trì đọc tụng kinh nầy phải biết như thế. 

Tri tức là giải, vì đây là đây là tổng kết của một khoa lớn khai giải chính là hiển thị chỗ gọi là khai giải phải thâm giải như thế. Cũng chính là hiển thị nghĩa thú trong một khoa lớn khai giải nầy, đều là lần lần dắt dẫn người học khiến được thâm giải như thế. Tóm lại là để tỏ rõ tu hành lấy khai giải làm gốc, y theo giải bắt đầu hành mới đắc thắng quả, nếu chẳng thế thì không cuồng cũng nghi. Sự khai thị cũng khẩn thiết vậy, lời răn dạy cũng sâu vậy! Mà chúng sanh mạt thế đọc kinh nầy phạm hai bịnh trên chính cũng không ít. Do ở chỗ sở dĩ nhiên của năm lần so sánh hiển kinh công phần nhiều xem một cách sơ lược, nên ngay cả nghĩa lý chỗ nói trong khoa kết thành nầy cũng chưa thể hiểu rõ một cách thâm thiết, lờ mờ sống sượng há chẳng phụ sâu ơn phật ư? Một khoa cực hiển kinh công đã là phát huy nghĩa thú nhứt thiết chư phật, cho đến tức phi phật pháp v.v...thì chỗ nầy một khoa kết thành chẳng những đem nghĩa thú trong khoa khai giải kết thúc đầy đủ, gồm ngay cả nghĩa thú trong khoa sanh tín cũng kết thúc đầy đủ. Nếu chẳng lấy nghĩa sau hiển nghĩa trước như thế, thì nghĩa thú của nửa bộ kinh trước chẳng thể phát huy thấu triệt, mà cũng không lấy gì để sanh ra nửa bộ sau, văn của nửa bộ sau chính là tỏ rõ công phu tu chứng của đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, chẳng thể nghĩ bàn. Nên kinh văn trước sau được hai câu : đương tri...nầy móc nối với nhau thì chương pháp, nghĩa lý liền nối liền nhứt quán, há có thể bảo một cách cục bộ rằng nửa bộ trước cạn, nửa bộ sau sâu ư? Hai câu nầy là trỏ gồm cả trọn bộ kinh mà nói, vả cùng với nửa bộ sau nối tiếp với nhau khít khao, há có thể phán đoán là trước sau làm hai vòng thuyết pháp, hai vòng chẳng liên quan gì với nhau ư? Ðến như xem nửa bộ sau cho là lời thuyết pháp có nhiều chỗ trùng điệp với nửa bộ trước, thì ở tôn chỉ của kinh không lĩnh hội được gì, chẳng đủ để bàn luận. 

Một câu bất khả tư nghị gồm có ba ý : 1) tức như trên đã nói : đạo ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, chỗ tỏ rõ nghĩa của kinh là tỏ rõ cái nầy, chỗ được quả báo là được cái nầy, đây là bổn nghĩa. 2) Rọi lại câu thị kinh bất khả tư nghị xưng lượng v.v...công đức, lại thêm vào sự giải thích rõ, nhờ đó để thu kết một khoa cực hiển kinh công. Trước chỉ nói kinh có công đức như thế, nay nói rõ rằng : nói kinh có công đức là vì giáo nghĩa nó như thế (trước phán là giáo nghĩa thắng ấy là căn cứ chỗ nầy mà nói). Tại sao biết giáo nghĩa có công đức như thế? Vì kẻ y theo giáo phụng hành có thể được quả báo như thế. Bất khả tư nghị là pháp thân, là thể. Ðược thể mới có thể khởi dụng, chứng đắc pháp thân thì báo, hóa thân tự hiển ra, nên chỉ nói bất khả tư nghị đã đủ, chẳng cần nói bất khả xưng lượng v.v...Huống chi lại gồm nói rõ bổn nghĩa của đạo ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, lại càng chẳng thể xen vào lời khác. 3) Ðể hiển công đức kinh nầy và công đức của người trì kinh nầy là vô thượng vô đẳng, chẳng phải phàm tình có thể dòm được, chẳng phải ngôn ngữ có thể nói ra được, nên tuy chỉ nói bất khả tư nghị, mà đã thu nhiếp luôn nghĩa bất khả xưng lượng vô biên ở trong đó! Thiệt là hết sức hay khéo.

HẾT CUỐN THỨ BA

Xem Thêm:
Kinh Kim Cang Giảng Giải, HT. Thanh Từ 
Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật, HT. Thích Trí Quang Dịch Giải
Kinh Kim Cang Dịch Nghĩa và Lược Giải, HT Thiện Hoa
Kinh Kim Cang, HT. ThÍch Duy Lực Dịch

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx