IX.
Hồi 8 : Thằng Ngốc
A.
Tóm tắt Hồi 8
-
Đinh Bất Tam cứu Cẩu Tạp Chủng khỏi tay Bạch Vạn Kiếm,
nhưng lòng đầy thất vọng về võ công và cách xử sự quá
hiền lành, chân chất của chàng, mà ông gọi là quá ngốc
nghếch, định sẽ giết chàng nếu trong vòng 10 ngày mà không
đánh bại được Bạch Vạn Kiếm.
- Đinh
đinh Đang đang cầu xin ông tha mạng cho chàng không được,
bèn dạy cho chàng 18 đường cẩm nã thủ gia truyền của dòng
họ Đinh để phòng thân, và hi vọng là Đinh Bất Tam đổi
ý.
- Đến
ngày thứ 10, Đinh Đang bày mưu thuê một đám dân dã lên thuyền
đòi yểm trừ ma qủy Đinh Bất Tam. Giận quá ông ra cước
giết liền một hơi ba người, rồi chợt biết mình mắc vào
quỷ kế của đứa cháu gái. Ông bèn chờ đến thời điểm
cuối ngày sẽ móc mắt, bẻ tay Cẩu Tạp Chủng, thay vì giết
chàng.
- Đing
Đang thoáng thấy xa xa một chiếc thuyền nhỏ ngược chiều
đi lại, bèn làm ra vẻ thất vọng đòi tự mình giết Cẩu
Tạp Chủng cho xong chuyện, hơn là có một người chồng tàn
tật; nàng điểm huyệt chàng, quấn chăng quanh mình chàng và
trói gô lại; khi chiếc thuyền nhỏ đến gần, nàng múa dao
đâm chàng-thật ra là giả bộ che mắt Đinh Bất Tam -, vừa
lẹ tay ném chàng sang thuyền nọ để giúp chàng thoát nạn.
- Đinh
Bất Tam hậm hực, giận dữ đứa cháu gái, thất vọng nhìn
chiếc thuyền đi !
Thế
là, Cẩu Tạp Chủng lại đi vào một rắc rối khác của cuộc
sống !
B.
Ý Kiến
1.
Cái ngốc của Cẩu Tạp Chủng :
- Đinh
Bất Tam gọi Cẩu Tạp Chủng là thằng ngốc do các hành xử
dưới đây của chàng :
- Không
giỏi võ công ...
- Không
đủ tàn nhẫn để thắng người ...
- Không
giỏi đao kiếm đủ để ông ta tự hào ...
- Không
biết " trăng hoa " với Đinh Đang ...
- Có
lương tâm tốt, chân chất là kẻ ngu dại !
- Suy
nghĩ huyễn hoặc, không thiết thực như khi chàng nói :
" Tốt
hơn hết là Đinh Đang dạy ta thứ công phu không thể đả
thương hoặc đánh chết người ta, đồng thời đừng để
đối phương đánh mình chết hay bị thương, mọi người đều
hoan hỷ kết bạn với nhau, đừng oán thù gì nữa " ( tập
2, tr.127 )
- Đinh
Đang chán ngán chàng vì bởi :
- Không
láu lỉnh, trêu ghẹo con gái...
- Không
biết tỏ tình với nàng...
-Không
biết sống vị kỷ cho mình...
- Không
biết dối gạt, quyền biến...
2.
Tâm lý Đinh Bất Tam và Đinh Đang
- Đinh
Bất Tam sống chẳng lao động, nghề ngỗng gì, hẳn là tiền
của chi tiêu lấy của thiên hạ ?
Tánh
hiếu thắng, kiêu mạn, ngông cuồng, những điều gọi là
danh dự, thủ tín, tiếng tăm của nhà họ Đinh đều là những
tư duy nửa vời, điên đảo.
Giá
trị tốt nhất cần bảo giữ là tình người, lòng nhân ái,
tôn trọng sự sống, thì Đinh Bất Tam lại chà đạp, coi nhẹ,
giết người một cách lạnh lùng tùy hứng. Ông xây dựng
một tự ngã Đinh Bất Tam rất kỳ quái !
- Đinh
Đang, cháu gái Đinh Bất Tam, thì nhan sắc, thông minh, nhanh
nhẹn quyền biến, nhưng cũng chỉ là một loại tâm lý bệnh
hoạn, vị kỷ : chỉ biết sống thỏa mãn các dục vọng của
bản thân, mà không cần biết đến khổ đau của người khác,
xem việc giết người như trò đùa, không đau xót.
3.
Chọn lựa
Tác
giả vẽ ra hai mẫu hình tâm lý tương phản giữa Cẩu Tạp
Chủng và Đinh Bất Tam, Đinh Đang để độc giả thấy rõ
những giá trị tâm lý nào là cần thiết cho xã hội, văn
hoá nhân văn và trí tuệ ? Hỏi ở đây có nghĩa là trả lời
vậy.
X.
Hồi 9 : Đòn bánh tét
A.
Tóm tắt Hồi 9
-
Để cứu Cẩu Tạp Chủng khỏi bị Đinh Bất Tam hại, Đinh
đinh Đang đang trói gô chàng sau khi đã điểm huyệt, và ném
chàng vào thuyền chở Sử bà bà cùng A Tú đang lướt ngược
chiều. Bấy giờ, hai bà cháu Sử bà bà nằm yên bất động
do bị " tẩu hoả " vì luyện công lạc đạo.
- Sử
bà bà bảo A Tú lấy đao giết chàng ngay, ném xuống sông để
tránh tiếng " xì xào " về sau. A Tú không thể hành sự do
bản tính hiền hậu, phần khác là do hai cánh tay không thể
cử động ...
- Lát
sau, thuyền của Đinh Bất Tứ áp tới. Ông ta vốn thầm yêu
trộm nhớ Sử bà bà từ tuổi thanh xuân mà ở goá. Lẹ như
tên bắn, ông phóng qua thuyền Sử bà bà, lên giọng lè nhè.
Hai bên đang khẩu chiến thì Cẩu Tạp Chủng, vốn đã nghe
Sử bà bà bảo A Tú cùng nhảy sông tự vẫn nếu bị Đinh
Bất Tứ xúc phạm, lên tiếng kêu cứu Đinh Bất Tứ ngăn
cản.
- Nhận
ra dấu tay cẩm nã thủ " Thiết sa chưởng " của cô cháu gái
A Đang còn để lại trên mặt chàng thiếu hiệp, Đinh bất
Tứ bật cười đắc chí, bứt giây trói cho chàng; rồi thử
vài chiêu cẩm nã thủ và kinh ngạc về nội lực kỳ đặc
của chàng...
- Sử
bà bà nói khích khiến Đinh Bất Tứ động thủ đánh Cẩu
Tạp Chủng. Đinh Bất Tứ bị phản lực mạnh, nghe mình mẩy
tê buốt đến kỳ lạ, bèn biến chiêu đánh vào huyệt Đại
truy để hạ gục chàng; không ngờ chính ông ta bị run bắn
toàn thân, và bị hất văng qua một bên, rất chi bẽ bàng...
- Để
gỡ gạc, Đinh Bất Tứ, cũng do Sử bà bà khích bác, chỉ
cho Cẩu Tạp Chủng vài đường võ của mình để tái đấu
trên thuyền. Ông ta lại bại cuộc...
- Cẩu
Tạp Chủng giúp Sử bà bà và A Tú điều hoà kinh mạch cho
đến khi toàn thân cử động được. Bấy giờ, do Đinh Bất
Tứ ép Sử bà bà lên đảo của ông ta để dưỡng thương,
bà liềân ôm A Tú nhảy tỏm xuống nước để chết. Cẩu
Tạp Chủng phóng theo để cứu...
- Cả
ba giạt vào bờ đảo Tử Yên gần đó. Cẩu Tạp Chủng giúp
hai bà cháu điều thương và lánh trú trong một hang động
...
B.
Ý kiến
1.
Các ý tưởng điên đảo :
- Tâm
lý chân chất, thuần thiện của Cẩu Tạp Chủng như một
tấm gương soi rõ tâm lý của những người tiếp cận chàng.
Các tâm lý tương ưng, đồng điệu với chàng như tâm lý
Mẫn Nhu, A Tú là thiện; các tâm lý chỏi lại chàng, từ khước
chàng, đều là bất thiện, điên đảo.
Tại
Hồi 9, Sử bà bà nghĩ rằng giết chàng để tiết hạnh của
cháu gái A Tú khỏi bị tổn thương là một suy nghĩ kỳ quái,
điên đảo !
Sử
bà bà dự tính cùng A Tú nhảy sông tự vẫn nếu Đinh Bất
Tứ xúc phạm. Làm thế để biểu lộ lòng thanh bạch chung
thủy của bà đối với Bạch Tự Tại. Đây là một suy nghĩ
điên đảo khác. Chính các ý tưởng điên đảo về giá trị
ấy là nhân tố chính gây ra các rối rắm trong kiếm phái
Tuyết Sơn và lây can vào chốn giang hồ.
- Các
suy nghĩ lẩm cẩm đầy kiêu mạn, hiếu thắng, si ái của
Đinh Bất Tứ là một loại tâm lý điên đảo khác
Giáo
lý nhà Phật dạy đó là các tà tưởng, tà tư duy dẫn đến
khổ đau.
2.
Thực tại không có chủ trương:
- Khi
chủ ý của đời sống là quá rõ ràng : sống là sống hạnh
phúc, cho cá nhân và tập thể, thì mọi hành động, xử sự
đều vì mục đích đó, mà không vì một chủ trương nào
khác, bởi vì các chủ trương là vì sự sống, mà không phải
sự sống vì chủ trương.
" Hiệp
Khách Hành " đã diễn đạt ý tưởng đó qua các " xen " ( scène
) đấu võ khá lý thú :
- Khi
Cẩu Tạp Chủng đang ở tận cuối mui thuyền, Đinh Bất Tử
liền ra chiêu Chung cổ tề minh nhằm để giục chàng xuất
chiêu Xung Văn Tác Triển ứng phó : trước khi xuất chiêu nầy
thì phải lùi lại vài bước. Biết vậy, Cẩu Tạp Chủng
không theo bài bản nữa, mà biến chiêu qua Cẩm nã thủ pháp
: lạng người ra sau lưng Đinh Bất Tứ ra chiêu Hổ trảo thủ
và Ngọc nữ niêm châm khiến Đinh Bất Tứ bất ngờ bị ngã
lăn quay xuống mạn thuyền, thua trận, xấu hổ.
- Khi
Đinh Bất Tứ ra hư chiêu khi tả, khi hữu khiến Cẩu Tạp
Chủng phân vân không biết vận kình lực thủ về phía nào,
chàng liền bỏ bài bản, dồn nội lực vào cả hai tay, phòng
sẵn cả tả lẫn hữu, khiến Đinh Bất Tứ kinh hải thu chiêu
!
- Giữa
cuộc sống đầy biến động nhiều hướng, thái độ sống
tốt đẹp cho con người cũng thế : nắm lấy mục tiêu hạnh
phúc, an lạc cho cá nhân và tập thể mà hành xử, mà không
nhất thiết phải nắm lấy chủ trương !
Đây
là tinh thần không chấp thủ và " tùy duyên mà bất biến
" của nhà Phật.
XI.
Hồi 10 : Kim Ô Đao pháp
A.
Tóm tắt Hồi 10
-
A Tú qua cảm nghiệm tự thân với rung động chân thật của
tâm hồn đã khẳng định: Cẩu Tạp Chủng không phải là
Thạch Trung Ngọc. Điều nầy lần đầu tiên được nghe từ
con người đẹp đẽ, hiền hoà của A Tú, Cẩu Tạp Chủng
cảm động đến rơi nước mắt. Chàng tự nhiên nắm hai bàn
tay A Tú và rất chân thành thốt lên lời cảm tạ. Bất giác
chàng buông tay ra, cảm thấy mình suồng sã, xấu hổ. Cử
chỉ này khiến Sử bà bà yên lòng hẳn chàng là người khác,
Thạch Trung Ngọc là người khác.
- Sử
bà bà, để kịp đối đầu với Đinh Bất Tứ, bèn thu nhận
Cẩu Tạp Chủng là đệ tử truyền nhân của mình và lập
ra Kim Ôâ đạo pháp. Bà gọi tên chàng thiếu hiệp là Sử
Ức Đao và dạy đủ 72 chiêu kiếm pháp Tuyết Sơn và 73 chiêu
đao pháp Kim Ô để khắc chế. Chàng tập luyện đến mức
độ sử dụng đao pháp khá thông thạo.
- Một
hôm tình cờ Đinh Bất Tam và Đinh Đang bất chợt xuất hiện
trong rừng Tử Yên, khi chàng và A Tú đang thân mật trò chuyện
và lạy nhau để cảm tạ lòng tốt của nhau, Đinh Bất Tam
liền chận đường; Đinh Đang thì phóng đao kết liễu mạng
sống A Tú. Núng thế, Cẩu Tạp Chủng bồng A Tú thi triển
khinh công thượng thừa (nhờ nội lực vô cùng thâm hậu )
băng rừng lẫn trốn về động.
- Đến
nơi thì chàng lại thấy Bạch Vạn Kiếm đang tử chiến với
Đinh Bất Tứ : bên kiếm, bên quyền. Đinh Bất Tứ đánh tay
không không địch lại, bị thương nhẹ ở hông, máu chảy
khá nhiều; vừa lúc Đinh Bất Tam đến trợ chiến, đánh chết
ba tên kiếm sĩ Tuyết Sơn và gây thương tích Bạch Vạn Kiếm,
đang dồn Bạch Vạn Kiếm đến điểm thúc thủ. Cẩu Tạp
Chủng nhảy vào can thiệp, đứng về phe Bạch Vạn Kiếm,
sử dụng Kim Ô đao pháp, bên cạnh kiếm pháp Tuyết Sơn, tấn
công Đinh Bất Tam và Đinh Bất Tứ. Hai ông kiêu mạng nầy
kinh hoàng thấy cả hai bị vây chặt giữa ánh đao và kiếm;
cả hai đều bị thương, liền nhảy vội ra khỏi vùng đao
kiếm trốn chạy vào rừng thoát thân...
- Bạch
Vạn Kiếm hỏi Cẩu Tạp Chủng về lai lịch Kim Ô đao pháp.
Chàng thành thật thuật lại các lời giảng dạy của Sử
bà
bà khiến Bạch Vạn Kiếm tức mình vung kiếm chém chàng.
Cẩu
Tạp Chủng bị ép phải chiến đấu, hơn một lần " tha chết
" cho Bạch Vạn Kiếm : Kim Ô đao pháp quả là có sức mạnh
khắc chế và vượt hẳn kiếm pháp Tuyết Sơn. Bạch Vạn
Kiếm rất bẽ mặt, bèn dùng mẹo đánh lừa Cẩu Tạp Chủng
và thắng chàng một chiêu... rất là hạ cấp ! ...
B.
Ý Kiến
1.
Tâm và Tướng :
- Các
cao thủ võ lâm đều nhận diện Cẩu Tạp Chủng qua cái thân
tướng của chàng và qua kinh nghiệm giác quan thường nghiệm
của mình nên đã nhận lầm chàng là Thạch Phá Thiên (Thạch
Trung Ngọc) và làm phát sinh ra biết bao nhiêu rối ren cho xã
hội.
- Chỉ
một mình A Tú đầy đủ nhân duyên phân biệt rõ Cẩu Tạp
Chủng và Thạch Trung Ngọc qua cái tâm , cái tình chân thật
của chàng, và qua rung động con tim của chính mình. Sử bà
bà cũng quan sát chàng qua biểu hiện cái tâm, cái tình của
chàng và xác nhận chàng không phải là Thạch Trung Ngọc.
Cái
tướng trạng không nói lên được sự thật, con người thật,
điều mà Kinh Kim Cang đã nói: "Các tướng đều là hư dối"
( " Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng " ). Giá trị thật
của con người là ở cái tâm. Giáo dục con người là giáo
dục cái tâm, chuyển đổi cái tâm.
2.
Tinh thần vô hại - hữu nghị :
- Kim
Ô đao pháp của Sử bà bà gồm toàn những chiêu đầy nộ
khí, sát thủ, dễ gây tử thương và tổn thương cho đối
phương, sẽ chuốc lấy oán thù, cừu hận đe dọa an ninh cho
bản thân , gia đình và bang phái. Vì thế, với thái độ sống
của Cẩu Tạp Chủng và A Tú, A Tú bèn giới thiệu cho Sử
Ức Đao chiêu " Bàng cổ trắc kích ": khi thấy rõ mình đã
chiến thắng đối phương rồi, thì liền chém đông, chém
tây cho người chung quanh loè mắt không thấy gì, rồi thu đao
về mà nói rằng : " Kiếm pháp các hạ thật là tinh diệu,
tại hạ khâm phục vô cùng. Hôm nay chúng ta bất phân thắng
bại, giải hoà để kết bạn được chăng ? Vậy là đối
phương hiểu ngay mình có ý nhường nhịn, lại không tổn
thương đến thể diện, nhiều phần là họ kết bạn với
đại ca ngay ". (tập.2,tr.239)
Đây
là chiêu thức hữu nghị, kết bạn gọi là chiêu " Dĩ hoà
vi quýù", tương tự lấy tình thương xoá bỏ hận thù của
Phật giáo để xây dựng an lạc cho đời sống.
3.
Bài học về sự phối hợp Kim Ô đao pháp và Tuyết Sơn kiếm
pháp :
- Mỗi
chiêu của Kim Ô đao pháp đều là khắc tinh của từng chiêu
Tuyết Sơn kiếm pháp, nhưng khi đao và kiếm ấy liên thủ
thì tạo thành một sức mạnh kinh hồn, nhất là đao pháp
được sử dụng bởi nội lực thâm hậu của Sử Ức đao,
đến nỗi hai đại cao thủ tuyệt luân Đinh Bất Tam và Đinh
Bất Tứ chỉ chịu đựng được vài chiêu đầu rồi đều
bị thương suýt vong mạng, kinh hoàng lăn mình ra khỏi vòng
đao kiếm cắm đầu tẩu thoát. Kim Dung viết :
"...
Bạch Vạn Kiếm liền sử chiêu " Ám hương sơ ảnh ", trường
kiếm vừa rung lên, kiếm quang đã xuất hiện trùng trùng.
Đây là một chiêu tinh vi nhất trong kiếm pháp Tuyết Sơn,
có thể đả thương đối phương bất cứ lúc nào, không thể
biết để đề phòng. Thạch Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng )
cầm con dao chặt củi phạt ngang rồi rung động luôn mấy
cái. Đó là chiêu " Bào ngư chi tứ ", nội lực xô ra cả bốn
mặt tám phương.
Bỗng
nghe hai tiếng la ối ối, vai Đinh Bất Tứ bị trúng đao, cánh
tay Đinh Bất Tam bị trúng kiếm. Hai lão đột nhiên quay mình
nhảy ra ngoài vòng. Đinh Bất Tam xoay lại nắm tay Đinh Đang
lôi đi, chạy lẹ vào khu rừng phía đông, còn Đinh Bất Tứ
chạy trốn về quả núi ở hướng Tây " ( tập 2, tr.262 )
Nếu
Cẩu Tạp Chủng là mẫu hình tâm lý được phát triển theo
tinh thần Phật học, thì " xen " đấu kiếm trên đã gợi ý
rằng :
- Thiền
chỉ và các định mà hành giả đắc được ( tương tự sự
thành tựu " La hán phục ma thần công " ) sẽ thiếu tác dụng
giúp ích cho tự thân hành giả và tha nhân, nếu không biết
sử dụng nó để hành thiền quán mà cắt đứt hẳn các phiền
não ( tương tự vận nội lực ra đao pháp và kiếm pháp )
cho mình và cho người.
- Nếu
văn hoá Phật giáo được kết hợp và bổ sung cho một hệ
văn hoá nào đó( tương tự việc Cẩu Tạp Chủng liên thủ
với Bạch Vạn Kiếm ) thì sẽ là một sự bổ sung tuyệt
vời tạo ra một sức mạnh văn hoá đáng kể!
XII.
Hồi 11 : Rượu thuốc
A.
Tóm tắt Hồi 11
-
Thạch Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng ) trở lui hang động thì
Sử bà bà và A Tú đã dời chỗ ở đi nơi khác.
- Chàng
bước vào một chiếc thuyền lớn giạt vào đảo. Thuyền
đầy các thi thể của Phi Ngư bang do sự trừng phạt của
hai sứ giả " Thưởng thiện Phạt ác "
- Hai
chiếc thuyền lớn khác của Thiết Xoa Hội kéo chiếc thuyền
của Phi Ngư bang xuống miền hạ lưu, cảng Hồng Liễu. Thạch
Phá Thiên trốn ở lòng thuyền nghe được câu chuyện Thiết
Xoa Hội làm sào huyệt dưới lòng đất để tránh mặt "sứ
giả ". Khi tất cả đã vào đất liền của cảng, Thạch Phá
Thiên đi giọc ven sông đến ẩn trong một khu rừng rậm. Chàng
hạ sát một chú heo rừng đến tấn công chàng; lên lửa thui
các đùi heo để trừ cơn đói.
- Tại
đây, hai sứ giả xuất hiện, cùng chàng trò chuyện bên lửa,
rượu và thịt heo rừng.
- Tình
cờ, nhân duyên đưa đẩy chàng nốc sạch hai bình rượu kịch
độc của hai sứ giả: lượng rượu mà hai sứ giả đã tinh
luyện để luyện nội lực cho nửa năm .
" La
hán phục ma thần công " đã hoá giải rượu độc thành rượu
bổ tăng thêm nội lực cho Thạch Phá Thiên.
- Cả
ba kết nghĩa sinh tử rồi cùng lên đường đến hành dinh
của Thiết Xoa Hội.
B.
Ý Kiến
1.
Ý nghĩa rượu độc thành rượu bổ
- Thực
tế đời sống cho thấy, nếu rượu bổ, hay thuốc bổ, mà
dùng vô độ có thể dẫn đến cái chết.
- Chất
kịch độc, thông thường thì cơ thể rất khó dung nạp nên
dễ kết thúc mạng sống do tê liệt hệ tim, hay thần kinh.
- Nếu
lượng độc vào với liều lượng mà cơ thể có thể dung
nạp thì nó trở thành khả năng đề kháng chống độc, như
các loại vắc -xim.
- Nếu
cơ thể có khả năng đề kháng rất cao, thì khả năng dung
nạp chất độc cao hơn: đây là trường hợp của hai sứ
giả dùng rượu độc để gia tăng công lực như Kim Dung viết.
Cẩu Tạp Chủng do có nội lực của" La hán phục ma thần
công " mà dung nạp rượu độc nhiều lần lớn hơn hai sứ
giả.
- Về
mặt tâm lý cũng thế, khổ đau, bất hạnh ở đời khiến
nhiều người không chịu được phải điên cuồng, hay tự
vẩn. Nhưng cũng có nhiều người có khả năng làm chủ tâm
thức và tình cảm cao có thể chịu đựng nhiều khổ đau
: càng khổ đau, tâm thức càng thức tỉnh, tình người càng
dâng cao, và dục vọng càng vơi đi : đây là ý nghĩa thực
sự của sự kiện rượu độc chuyển hoá thành rượu thuốc
( bổ ) đối với người có định lực ( khả năng thiền
định ) sâu như Cẩu Tạp Chủng.
2.
Tính chất bất định của các hiện hữu
- Tính
chất của các hiện hữu, ví như rượu, được xác định
bởi một số điều kiện nào đó, trong môi trường nào đó;
tính chất đó sẽ khác đi trong các điều kiện xác định
khác, ở môi trường khác. Đây gọi là tính chất bất định,
hay không thật sự có tự ngã, của các hiện hữu. Tương
tự như câu nói " thù của kẻ thù là bạn ".
Phật
giáo xác định các hiện hữu đều do điều kiện sinh nên
không có tự ngã, gọi là vô ngã, vô thường.
Các
học thuyết ( " isme " ) ở đời thường có khuynh hướng khẳng
định, cho hiện hữu một tính chất bất biến nào đó. Đây
là chủ trương không phù hợp với thực tế, thực tại. Hồi
truyện về " Rượu thuốc " gợi cho người đọc tư tưởng
nầy.
3.
Nét khác biệt giữa hai thái độ hiền thiện, hay nét khác
biệt giữa văn hoá " Thiếu Lâm tự " và đảo Hiệp Khách:
a/
Thiện chấp thủ ( dính mắc ) của Hiệp Khách đảo
Hai
sứ giả " Thưởng thiện, Phạt ác " của đảo Hiệp Khách
chuyên hành hiệp, làm việc thiện, nhưng làm với thái độ
cố chấp, chấp thủ, dính mắc.
b/
Thiện rất thuần thiện, không dính mắc của Cẩu Tạp Chủng
( thuộc văn hoá của Thập Bát La hán, Thiếu Lâm tự )
Cẩu
Tạp Chủng sống rất thuần thiện, tự nhiên, không bị dính
mắc, không bận tâm đến khen, chê nên có điều kiện để
phát triển nội lực cao, phát triển trí tuệ.
Đây
là đặc tính rất cơ bản rọi sáng lý do vì sao đảo Hiệp
Khách suốt 40 năm, không phá giải được bí pháp " Thái Huyền
Kinh ", trong khi Cẩu Tạp Chủng chỉ cần vỏn vẹn 100 ngày,
giải mã dễ dàng bí pháp. Hãy lắng nghe một mẫu đối thoại
ngắn sau đây về sự khác biệt của hai thái độ tâm lý
nói trên :
" Thạch
Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng ) xua tay nói :' Hai vị ca ca có
thêm một tay phụ lực há chẳng tốt hơn ư ? Chúng ta ít người
không địch nổi số đông, nếu gặp nguy cấp thì cứ chạy
trốn, đâu có nhất định phải chết ? '
Lý
Tứ cau mày nói : ' Đánh thua bỏ chạy thì đâu phải là anh
hùng hảo hán ? Hay nhất là ngươi đừng đi theo để làm mất
mặt chúng ta ' ".
( tập
3, tr. 40)
XIII
Hồi 12 : Hai tấm bài đồng
A.
Tóm tắt Hồi 12
-
Hai " sứ giả " và Cẩu Tạp Chủng đi vào tổng hành dinh của
sào huyệt Thiết Xoa Hội. Không có sức mạnh nào ngăn cản
bước chân đi của ba người.
- Tại
hành dinh, tổng đà chủ Uông Đắc Thắng long trọng, vừa
kinh hãi, tiếp đón hai tấm bài đồng, thiếp mời đi dự
hội yến " Lạp bát ". Tại đây, hai sứ giả đúng thời điểm
ngấm rượu độc ngất đi. Uông Đắc Thắng và các cao thủ
Thiết Xoa xông vào giết cả ba. Cẩu Tạp Chủng, với bản
năng tự vệ, múa tít song chưởng, độc khí của rượu độc
tiết ra làm chết tức khắc gần 100 người Thiết Xoa ở đó.
Chàng bèn vận khí điều hoà kinh mạch cho Trương Tam, Lý Tứ,
cứu hai sứ giả. Cả ba lại tiếp tục lên đường. Hai sứ
giả đi riêng theo sứ mệnh.
- Cẩu
Tạp Chủng một mình đi lạc đến Thượng Thanh Quán của
các đạo sĩ Lão Trang và ẩn mặt theo dõi Thạch Thanh và Mẫn
Nhu ( vốn là môn sinh của Thượng Thanh Quán ) đang đàm đạo
với Thiên Hư ( đạo chủ ) và các huynh đệ cao cấp, đòi
nhận lãnh hai tấm bài đồng đi phó hội chịu chết thay cho
Thiên Hư.
- Bị
phát hiện, Cẩu Tạp Chủng xuất chưởng tự vệ khiến hai
đạo trưởng bị ngất đi ( có thể vong mạng ). Các đạo
trưởng nghi ngờ đây là âm mưu của Thạch Thanh - Mẫn Nhu.
Cuộc xung đột đao kiếm xẩy ra giữa các đạo trưởng và
Cẩu Tạp Chủng : các đạo trưởng gồm Thiên Hư, thua trận;
nhiều người bị té ngất; Cẩu Tạp Chủng cứu tỉnh được
tất cả; rồi chia tay các đạo trưởng; trả lại hai tấm
bài đồng cho Thiên Hư; đoạn cùng Thạch Thanh - Mẫn Nhu tiếp
tục hành trình...
B.
Ý Kiến
1.
Dòng sống đầy yếu tố bất ngờ :
- Sự
kiện hai " sứ giả " tài ba, thông thái, ngót 40 năm bất bại
trên giang hồ qụy ngã tại hành dinh Thiết Xoa Hội nói lên
sự thật dòng sống đầy yếu tố bất ngờ mà thuật ngữ
Phật học gọi là vô thường : đầy nguy hiểm và khổ đau.
Đời sống là biến động, mà không tỉnh tại.
2.
Cái nhìn thực và trí tuệ :
- Các
đạo trưởng của Thạch Thanh Quán tu hành chú trọng phần
chuyển đổi về thân, mà nhẹ về tâm lý, nên cái nhìn trở
nên phàm tục : đã không nhận ra cái tâm chân thật của Thạch
Thanh, Mẫn Nhu và Cẩu Tạp chủng. Nếu các đạo trưởng nặng
về tu tập tâm lý, huấn luyện tâm lý, thiền định thì cái
nhìn sẽ trở nên khoan dung hơn, sáng suốt hơn, vị tha hơn,
và đã không rơi vào các ngộ nhận, sai lầm đáng tiếc.
Cho
đến khi các sự việc trở nên sáng tỏ, tâm lý của các
đạo trưởng vẫn cố chấp, hẹp hòi, cảm thấy tức bực,
bẽ bàng, thay vì cảm thông sâu sắc hơn và đạo tình hơn
đối với Thạch Thanh, Mẫn Nhu và Cẩu Tạp Chủng. Tu hành
như vậy thì có lợi ích rất ít cho mình và người, vẫn
còn cách xa với cái nhìn đầy chân thật và trí tuệ.
3.
Chiêu thức của Thượng Thanh Quán và chiêu thức của Cẩu
Tạp Chủng
- Các
thế võ, kiếm, đao chẳng qua chỉ khác nhau ở thế vận hành
tay, chân, và tốc độ của vận hành. Sức mạnh của võ,
đao, kiếm nầy được gọi là " hữu chiêu ", luôn bị hạn
cục.
- Cẩu
Tạp Chủng ra chiêu về võ, đao, kiếm cũng thế, về mặt
tướng trạng biểu hiện thì vẫn là hạn cục. Điểm khác
biệt duy nhất đã khiến cho võ thuật, kiếm pháp, đao pháp
ấy trở nên vô song là do nội lực ( hay gọi là sức mạnh
của tâm lý, thiền định ) hùng hậu, do cái tâm, nhân hậu,
vô dục, vị tha, vô chấp. Sức mạnh vô song đó thật sự
có mặt trong thiền định Phật giáo, trong văn hoá Phật giáo.
Đây hẳn là nội dung mà tác giả muốn đề cập khi giới
thiệu giá trị vô song của "La hán phục ma thần công ".
XIV.
Hồi 13 : Tình cốt nhục
A.
Tóm tắt Hồi 13
-
Sau lần giáp mặt các đạo sĩ Thương Thanh Quán, Cẩu Tạp
Chủng được Thạch Thanh và Mẫn Nhu nhận làm con đẻ ( Thạch
Trung Ngọc ) và sống chung với hai ông bà trong một thời gian
: Ông bà trong lòng vẫn vờn lên vài ý nghĩ hoài nghi về sự
lững quên quá khứ của Cẩu Tạp Chủng; phần Cẩu Tạp Chủng
cũng phân vân về Mẫn Nhu và " má má " ở núi Hùng Nhĩ : ai
là mẹ thật ? Nhưng họ xử sự theo tình cảm thiết tha, chân
thành gọi là tình cốt nhục.
- Cẩu
Tạp Chủng thuật cho Mẫn Nhu hiệp nữ nghe hết mọi chuyện
xẩy đến với chàng ở núi Hùng Nhĩ, ở thị trấn Hầu Giám
Tập, ở bang Trường Lạc, ở đảo Tử Yên với Sử bà bà
và A Tú, ở nhà Đinh Bất Tam làm lễ thành hôn với Đinh Đang,
việc liên thủ vơiù Bạch Vạn Kiếm đánh bại Đinh Bất
Tam và Đinh Bất Tứ, và việc kết nghĩa sinh tử với hai "
sứ giả " ( Thưởng thiện, Phạt ác ) và ở Thiết Xoa Hội...
Nếu bà Mẫn Nhu không bị ám ảnh rằng Thạch Trung Kiên đã
chết, thì bà đã nhận ra Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Kiên
và tiếp tục khám phá ra thêm nhiều chuyện giang hồ liên
hệ đến Hiệp Khách đảo và Trường Lạc bang...
- Hai
ông bà giảng dạy cặn kẻ võ học cho Cẩu Tạp Chủng và
nói về hành tung của Trương Tam, Lý Tứ ... chuyện nào cũng
nửa đúng, nửa sai, nửa hư nửa thật... và quyết tâm đến
Trường Lạc bang để làm rõ sự thật Thạch Phá Thiên được
giả lập làm bang chúa để chịu chết thay cho Bối Hải Thạch
trên Hiệp Khách đảo, hầu cứu gỡ mạng cho Cẩu Tạp Chủng
( Thạch Phá Thiên, con ông bà )
B.
Ý Kiến
1.
Kinh nghiệm tình cốt nhục :
- Khi
bà Mẫn Nhu nghĩ Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Ngọc, con đẻ
của mình, thì chi xiết thương cảm, tận tình săn sóc, bảo
bọc, dù chàng có phạm vào tội lỗi lớn lao nào; thương
với tình thương vong ngã muốn thay thế con để nhận lấy
hậu quả của việc làm sai quấy của con để con được sống
hoan hỷ, hạnh phúc.
- Khi
Cẩu Tạp Chủng nghĩ về " má má " trên đỉnh Hùng Nhĩ, dù
bà lạnh lùng, khe khắt, chàng vẫn nhớ nhung, quyến luyến.
Tình
cốt nhục, hay tình người biểu hiện đến mức độ tình
cốt nhục, đã giúp con người sống tha thứ, thương yêu và
hạnh phúc.
2.
Sức mạnh của ý nghĩ ( tác ý )
- Khi
Bạch Vạn Kiếm nghĩ rằng Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung
Ngọc " quấây phá " thì liền trút xuống đầu chàng bao tức
giận, dù Cẩu Tạp Chủng rất chi là hiền hoà, lịch sự
và đứng đắn.
- Khi
nghĩ Cẩu Tạp Chủng là Thạch Phá Thiên, kẻ đã hại tiết
hạnh của vợ mình thì Triển hương chủ vô cùng căm hận,
liền vung chưởng để giết ngay, dù chàng rất nhân ái, vị
tha.
- Khi
nghĩ Cẩu Tạp Chủng là Thạch Trung Ngọc, người tình của
mình, thì Đinh Đang rất thiết thân, tận tình săn sóc khi
bệnh ...
Nếu
nghĩ tha nhân đều là thân nhân, như tình đồng bào, cùng
cha mẹ huyết thống, thì mọi người sẽ xử sự thân ái
với nhau, che chở đùm bọc nhau chí tình. Con người làm chủ
ý nghĩ ấy, và có thể khởi nghĩ đối với cứ ai, lúc nào
và ở đâu.
Đây
là kinh nghiệm tâm lý mà giáo lý nhà Phật dạy con người
nghĩ đến người khácnhư bà mẹ nghĩ đến người con duy
nhất của mình ( như sự biểu hiện tình mẹ của bà Mẫn
Nhu ) để nuôi dưỡng tâm từ bi (...).
Câu
chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ mở đầu lịch sử Việt Nam
với 100 người con chung bào thai mẹ nên tình người Việt
Nam gọi là tình đồng bào, cũng cùng một ý nghĩa giáo dục
tâm lý ấy.
Đây
cũng là một góc tâm tình của tác giả Kim Dung ?
XV.
Hồi 14 : Tứ đại môn phái ở Quan Đông
A.
Tóm tắt Hồi 14
-
Tại khách sạn thị trấn Long Câu, Đinh Đang đến bí mật
gặp Cẩu Tạp Chủng, lừa cho Thạch Thanh - Mẫn Nhu đi tìm
chàng, rồi hai người thong dong đi về hướng khác để có
những ngày sống riêng tư. Ghé vào một thị trấn nhỏ, ăn
uống tại một tiệm cơm. Tại đây có nhiều quần hào, trong
đó có môn chủ của bốn đại môn phái ở Quan Đông. Đinh
Bất Tứ xuất hiện với tính khí kiêu mạn gây sự với quần
hùng rồi động thủ. Ở ngoài quán cơm, bốn môn chủ liên
thủ tấn công Đinh Bất Tứ, mà vẫn ở hạ phong, nhiều lần
cả bốn suýt vong mạng, nếu không có sự nhắc chừng của
Cẩu Tạp Chủng về các chiêu hiểm của Đinh Bất Tứ.
- Lúc
cực kỳ nguy hiểm, Cẩu Tạp Chủng bước vào vòng chiến
song đấu với lão Tứ. Chỉ qua mười chiêu cẩm nã thủ,
lão Tứ đã không chịu nỗi kình lực từ song chưởng của
chàng; cây nhuyễn tiên bị chàng bắt chặt rồi bung ra khiến
lão Tứ bị văng ra xa làm đổ sập cả một góc tường rồi
bỏ chạy.
Quần
hùng rất cảm kích và ngưỡng mộ tài ba và hào hiệp của
Cẩu Tạp Chủng, đãi tiệc chàng và Đinh Đang, và mời hai
người cùng lưu lại phòng trọ để cảm tạ ...
- Nhóm
Trường Lạc Bang lại xuất hiện ở thị trấn nầy và hẹn
tương kiến với nhóm môn chủ Quan Đông ở cánh rừng kế
cận.
B.
Ý Kiến
1.
Từ Hồi truyện 14, Cẩu Tạp Chủng đã thừa khả năng đánh
bại Đinh Bất Tứ dễ dàng. Chàng đã biết nhiều phép xã
giao trên chốn giang hồ. Chàng đã nhận được nhiều ngưỡng
mộ của các cao thủ chân chính qua tài năng, lòng nhân ái,
nghĩa hiệp và tánh khiêm tốn, ôn hoà.
2.
Bình thường tâm:
- Dù
được nhiều sự chiêm ngưỡng tài năng, nhưng tự Cẩu Tạp
Chủng thì thấy bình thường như là tài năng ấy không phải
của chàng. Tâm chàng vì vậy vẫn khiêm tốn, nhân hoà như
mọi khi. Đây là ưu điểm khiến chàng không ngừng phát triển
nhanh tâm thức hướng về trí tuệ về sự thật của vạn
hữu, như là sự phát triển theo giáo lý nhà Phật : " Bình
thường tâm là đạo ".
3.
Lại bất ngờ của cuộc sống :
- Sự
thay đổi, phát triển nhanh nội lực, võ công và hiểu biết
của Cẩu Tạp Chủng khiến nhiều người kinh ngạc :
- Cách
xa chưa quá một tháng, từ chỗ vụng về chưởng pháp đến
chỗ " hạ đo ván " dễ dàng một cao thủ tuyệt luân như lão
Tứ : lão đã thua trận bẽ bàng.
- Đinh
Đang từ tháng trước là người truyền dạy cẩm nã thủ
cho Cẩu Tạp Chủng với tâm lý ngây ngô của chàng, nay thì
nàng quá hãnh diện về chàng về võ công lẫn giao tiếp.
- Tứ
đại cao thủ Quan Đông, danh rền một cõi, mới ngày đầu
đến Trung Nguyên thì liền suýt vong mạng trước một ông
già Đinh Bất Tứ... rồi tận mắt thấy tài nghệ phi thường
của chàng thiếu hiệp, lòng nghĩa hiệp và sự khiêm cung của
chàng...
Bất
ngờ luôn xẩy ra quanh cuộc sống ! Điều mà Phật học nói
là vô thường, vôthường...
XVI.
Hồi 15 : Chân tướng
A.
Tóm tắt Hồi 15
-
Tại khu rừng thông rậm rạp ngoài thị trấn Long Câu, bang
chủ của tứ đại môn phái Quan Đông được Bối Hải Thạch,
9 vị Hương chủ, Hương phó và gần 100 người bang Trường
Lạc tiếp đón trong tinh thần hai bên thăm dò, tìm hiểu nhau.
Cao Tam Nương, tánh nóng nảy, phóng phi đao làm Hương chủ
Trần Xung Chi bị thương ở chân; cuộc xung đột binh khí sắp
xẩy ra thì Thạch Phá Thiên ( Cẩu Tạp Chủng ) xuất hiện
trước sự tôn kính cả hai bên, giảng hoà vui vẻ, tất cả
kéo về tổng đà bang Trường Lạc.
- Tại
bang Trường Lạc, nhiều cao thủ Tuyết Sơn đang bị đánh
thuốc mê và bắt giữ; Bạch Vạn Kiếm đi đến đối chất;
rồi Thạch Thanh, Mẫn Nhu và nhiều cao thủ trọng tuổi tiếng
tăm trong võ lâm đồng kéo đến để bạch hoá lai lịch của
Thạch bang chúa.
- Hai
sứ giả đảo Hiệp khách cũng đến đem theo kẻ ẩn trốn
Thạch Trung Ngọc. Các âm mưu gian dối của Bối Hải Thạch,
bang Trường Lạc, các sai trái của Thạch Trung Ngọc đã tạo
ra sự ngộ nhận về Cẩu Tạp Chủng trên giang hồ lần lượt
được phơi bày. Con người chân thật, hiệp nghĩa và trong
sáng, tài năng của Cẩu Tạp Chủng được tỏa sáng hơn bao
giờ. Các sai quấy, phóng đãng và vị kỷ của Thạch Trung
Ngọc lộ rõ. Các ngộ nhận của Bạch Vạn Kiếm, các cao
thủ Tuyết Sơn, Thạch Thanh - Mẫn Nhu và quần hùng được
rọi sáng...
- Thạch
Trung Ngọc khước từ chức vị bang chủ bang Trường Lạc;
Cẩu Tạp Chủng khởi lên từ tâm tự nguyện nhận chức bang
chủ để gánh vác " khó khăn " đi dự hội yến, và được
toàn bang tín nhiệm, trân trọng. Cẩu Tạp Chủng vui vẻ nhận
hai tấm thiệp mời bài đồng từ tay hai " sứ giả "
- Bang
chủ của tứ đại môn phái Quan Đông cũng chính thức nhận
hai tấm bài đồng;
- Hai
vị sứ giả từ giả bang Trường Lạc đi đến Tuyết Sơn,
thành Lăng Tiêu để chuyển thiệp thỉnh. Tất cả đồng rời
khỏi bang Trường Lạc...
B.
Ý Kiến
1.
Kinh nghiệm về ánh sáng của sự thật và lịch sử
- Tác
giả Kim Dung đã khéo dẫn dắt câu chuyện, chuyển vận các
nghi vấn, các việc làm rất kín đáo mà đầy hổ thẹn đến
tổng đà Trường Lạc với các nhân sự liên hệ, đủ mặt
như là chuẩn bị đầy đủ cho một phiên tòa, mà cơ quan
điều tra là hai vị sứ giả " Thưởng thiện Phạt ác " rất
công chính, đầy đủ tài năng đáng tin cậy. Tại đây, tất
cả được đưa ra ánh sáng : xấu hổ, ủ rũ như nhân vật
Bối Hải Thạch và bang Trường Lạc; trơ trẻn như Thạch
Trung Ngọc; hổ thẹn, mắc cỡ như Bạch Vạn Kiếm; ngỡ ngàng
như Thạch Thanh, Mẫn Nhu, ân hận như Triển Phi hương chủ
và nhiều cao thủ khác v.v....
Dưới
ánh sáng của sự thật và lịch sử, không có gì có thể
được dấu kín. Đây là bài học cho các trí thức, hiệp
khách, các nhân vật lãnh đạo của các tổ chức xã hội.
2.
Mẫu tâm lý hành hiệp lý tưởng :
- Bạch
Vạn Kiếm là một tài năng, là một người con có hiếu nên
hẳn là một kiếm khách tốt, nhưng tầm nhìn bị hạn chế,
tánh tình cố chấp, thiếu bao dung nên hành xử thường rơi
vào các sai lầm đáng tiếc !
- Các
bang chủ ở Quan Đông thì ngay chính, nhưng thiếu trí tuệ,
chưa đủ điều kiện để hành hiệp tốt.
- Các
đạo trưởng ở Thượng Thanh Quán chuộng các giá trị hình
thức nên thiếu tâm đức và thiếu trí tuệ để phát triển
Thượng Thanh Quán và giúp đời !
- Bạch
Tự Tại và Sử bà bà thì cố chấp, tự kiêu, háo danh, nên
dễ trở thành tác nhân của các rối loạn gia đình và xã
hội !
- Thạch
Thanh, Mẫn Nhu và hai sứ giả " Thưởng thiện Phạt ác " là
các hiệp khách chân chính, nhưng còn đối đãi thị phi nên
hành động hiệp nghĩa còn bị hạn chế, chưa thực sự lý
tưởng.
* Có
thể mẫu tâm lý thông tuệ, vô dục ( hay thiểu dục ), vô
chấp và đầy nhân ái của Cẩu Tạp Chủng là thực sự lý
tưởng cho việc hành hiệp giúp đời :
Cái
nhìn vô sự vô hại của chàng như là vui vẻ chấp nhận,
kính trọng các hành vi của người khác, miễn là các hành
vi ấy không gây tổn hại đến ai. Cái nhìn nầy giúp tha nhân
có " tự do tâm lý " để sống thoải mái, dễ chịu hơn. Cái
nhìn đánh giá " xì xào " sẽ gây trở ngại " tự do tâm lý
" của tha nhân, gây tổn hại đến quyền sống của tha nhân,
và tạo ra một thái độ sống lệch lạc, chuộng giá trị
hình thức rất ảo cho người đánh giá và cho xã hội. Con
người vốn làm chủ cái nhìn và làm chủ văn hoá, tại sao
không xây dựng cái nhìn ấy trong văn hoá ?
Thật
đáng suy ngẩm nếu bạn đọc lại một đoạn mà tác giả
đã tinh ý viết ở Hồi 14 (tr.167 ) rằng :
" Chủ
quán cùng bọn tiểu nhị thấy hôm qua Thạch Phá Thiên theo
vợ chồng Thạch Thanh vào ngủ trọ, mà bây giờ lại từ
phòng một cô gái xinh đẹp đi ra thì ngấm ngầm kinh ngạc.
Họ thi nhau bàn tán về chuyện này đến mười mấy ngày.
Những câu chuyện của họ càng lúc càng thêm thắt những
chi tiết kỳ dị, phần lớn đều là đoán mò ".
Cái
nhìn vô sự , vô hại ấy của Cẩu Tạp Chủng là cái nhìn
kính trọng, chấp nhận tha nhân và chấp nhận cuộc sống
một cách tích cực. Tâm lý học nhà Phật xếp tâm lý vô
hại thuộc nhóm thiện tâm cần được nuôi dưỡng.
Thật
đáng kinh ngạc nếu xem thái độ sống vô sự, vô hại kia
là" ngố "," khờ khệch ", và xem thái độ vị kỷ, dối gạt,
" ma lanh " là lịch đời, khôn ngoan !
XVII.
Hồi 16 : Thành Lăng Tiêu
A.
Tóm tắt Hồi 16
-
Đoàn người Bạch Vạn Kiếm, các cao thủ Tuyết Sơn, Thạch
Thanh, Mẫn Nhu và Thạch Trung Ngọc trở về thành Lăng Tiêu.
- Đinh
Đang thuyết phục thành công Thạch Phá Thiên " vác cây thánh
giá " thay cho Thạch Trung Ngọc.
- Tại
thành Lăng Tiêu, sau khi Sử bà bà ra đi biệt tăm, A Tú mất
tích, đoàn cao thủ do Bạch Vạn Kiếm dẫn đầu đi lùng tìm
Thạch Trung Ngọc, Bạch Tự Tại trở nên nóng nảy bất thường
và trút các cơn thịnh nộ xuống hàng đệ tử : đã vô lý
giết chết nhiều đệ tử khiến bang phái trở nên vô cùng
bất an. Các sư đệ Bạch Tự Tại cùng hàng đệ tử lập
mưu tống ngục Bạch Tự Tại và bàn chuyện phế ông ta, cử
người mới lên làm chưởng môn.
- Đoàn
người mới trở về cũng bị đánh thuốc mê và giam vào ngục
thất. Thạch Phá Thiên nghĩ ra cách thoát ngục và đi cứu
giải, vừa lúc Sử bà bà và A Tú đến, đang bị vây quanh
các làn kiếm rất nguy kịch. Thạch Phá Thiên nhảy vào cứu
nguy cho Sử bà bà và A Tú, tất cả ba cùng tìm cách cứu vãn
tình thế nội biến trong bang.
B.
Ý Kiến
1.
Hai nhóm người
Các
nhân vật trong truyện mỗi người một vẻ, có tâm lý biểu
hiện khác nhau, tựu trung có thể xếp thành hai loại :
Vị
kỷ : Nhóm vị kỷ, điển hình như Thạch Trung Ngọc, Đinh
Đang, Đinh Bất Tam, Đinh Bất Tứ, Bạch Tự Tại và rất nhiều
cao thủ khác của Tuyết Sơn. Trung tâm hành dinh của vị kỷ
là tự ngã, chấp thủ nặng cái " ta " và cái " của ta ", chỉ
sống nhằm thỏa mãn dục vọng, hiếu danh, hiếu lợi.
Vị
tha : Điển hình có hai sứ giả, Thạch Thanh - Mẫn Nhu, Cẩu
Tạp Chủng, A Tú ...
Trung
tâm điểm của tâm lý là hoạt động hành hiệp vì lợi ích
của tha nhân, vì công lý mà trừ gian diệt hại, vì tình người,
yêu con người. Chính sự có mặt của nhóm nầy trong tiểu
thuyết kiếm hiệp đã tạo ra một sức hấp dẫn lớn, một
sự đam mê truyện.
2.
Hai ảnh hưởng :
- Nhóm
thần tượng cái " ta " và cái " của ta " thì mãi là nguyên
nhân, tác nhân của các xung đột, bạo hành, gây rối ren xã
hội dẫn đến hậu quả không lường.
- Nhóm
vị tha có khuynh hướng không nhìn thấy gì là " ta ", " của
ta ", nhưng lại thường hành động tích cực giúp đời, giúp
người khốn khó, bị bức hiếp, đem lại an lành, ổn định
và tình người ấm áp cho xã hội.
Giáo
lý nhà Phật có thể được giới thiệu là giáo lý của "
không ta ", " không của ta " ấy, là giáo lý của thái độ
sống thật, tích cực, mà không phải của triết lý, huyền
đàm, rất đáng được tham cứu, trân trọng.
XVIII.
Hồi 17 : Tự đại thành cuồng
A.
Tóm tắt Hồi 17
-
Các chi thuộc bang Tuyết Sơn đều tụ tập ở sảnh đường
và đang múa kiếm tàn sát lẫn nhau thì Trương Tam, Lý Tứ
xuất hiện đòi gặp mặt Bạch Tự Tại để trao thiệp mời
dự hội yến Lạp bát.
- Các
chi trưởng Thành, Tề, Liêu, Lương đang đấu kiếm kịch liệt
để giành ngôi bang chủ, nay lại đấu kiếm tranh thua để
nhường ngôi bang chủ. Thật mỉa mai!
- Tiếp
theo, Sử bà bà, A Tú và Sử Ức Đao ( Cẩu Tạp Chủng ) tiến
vào sảnh đường trước sự kinh hãi của các chi trưởng.
Bà lên tiếng : " Các ngươi giam hãm chưởng môn cùng các đệ
tử chi trưởng ở đâu, mau thả họ ra ! ". Đoạn bảo Sử
Ức Đao ra đao đấu với các chi trưởng. Các ông đều nhường
kiếm để nhường ngôi bang chủ...
- Bạch
Vạn Kiếm ra khỏi nhà lao liền xuất kiếm đánh Liêu chi trưởng
: hai bên giao đấu đến vài trăm chiêu thì Bạch Vạn Kiếm
xuất tuyệt chiêu chặt lìa một chân của Liêu sư thúc.
- Sử
bà bà ra lệnh cho Sử Ức Đao sử dụng Kim Ô đao pháp đánh
bại Bạch Vạn Kiếm để minh bạch xác định ngôi bang chủ.
Sử Ức Đao không dám đánh bại Bạch Vạn Kiếm, chỉ thủ
cầm chừng, rồi sử chiêu " Bàng Cổ Trắc Kíc " để thủ
hoà. Bạch Vạn Kiếm trước đám đông đã thành thật nhìn
nhận thua cuộc.
Sử
bà bà bèn bảo Sử Ức Đao trao chức chưởng môn và hai thẻ
bài đồng để bà đi dự hội yến "một đi không trở lại"
- Sau
khi nghe Phong Vạn Lý thuật lại các biến cố thay đổi tâm
lý của Bạch Tự Tại, Sử bà bà cùng nhiều người thân
vào ngục lao thăm và tâm sự cùng Bạch Tự Tại...
Bạch
Tự Tại thử đấu nội lực với Sử Ức Đao và đã kinh
hoàng, vừa thất vọng, thấy nội lực của thiếu hiệp hơn
xa mình...
Ông
nói một cách thê lương : " Bạch Tự Tại mỗ cuồng vọng
tự cao, tội nghiệt nặng nề. Bây giờ ta phải ở đây quay
mặt vào tường để sám hối lỗi lầm... "
B.
Ý Kiến
1.
Nguy hiểm của " cái tôi "
- Vì
quá tự hãnh về tài kiếm pháp của mình, và kiêu ngạo vì
nội lực vượt trội của mình nhờ vào một dược liệu
đặc biệt, ông trở nên xem nhẹ cả vợ con, các huynh đệ,
môn đồ, đánh phạt và tàn sát vô lý... đã dẫn đến cảnh
nội biến tang tóc. Tất cả chỉ vì một cái " Tôi " muôn
thuở của cuộc đời, rất chi nguy hiểm !
2."
Tôi" vốn là tập thể... :
Cái
" tôi " của Bạch Tự Tại không phải chỉ là thân tướng
của ông cộng với võ công, nội lực, tham vọng, ham muốn...
mà là toàn bộ bang phái Tuyết Sơn, thành Lăng Tiêu, và rộng
xa hơn nữa. Bạch Tự Tại trút tức giận, đánh phá chung
quanh chính là đang trút giận, đánh phá chính mình : không
thể có một cái " tôi " nào độc lập cả.
Đây
là tinh thần, nội dung giáo lý Duyên khởi, Vô ngã của Phật
giáo.
3.
Nhân duyên cứu gỡ :
- Các
nhân tố dưới đây là các nhân tố cứu nguy cho thành Lăng
Tiêu :
- Hai
"sứ giả" Trương Tam, Lý Tứ ;
- Sử
Ức Đao ( Cẩu Tạp Chủng ) ;
- Tâm
lý hồi tỉnh, ân hận về việc làm sai quấy ;
- Tâm
lý thức tỉnh, nhàm chán các thị phi, tang tóc ;
- Tình
người ấm áp...
Đấy
là các nhân tố của một hệ văn hoá an lành !