B.
GIỚI THIỆU TỪNG HỒI TRUYỆN:
Hồi
1 : GIỮA ĐƯỜNG GẶP CHUYỆN BẤT BÌNH
1.1.
Lược truyện
-
Thái tử nước Đại Lý, Đoàn Dự là một thanh niên có tâm
hồn trong sáng, nhân ái, trung thực, khoáng đạt, chàng thông
tỏ Dịch Lý, Tứ Thư, Ngũ Kinh và các tư tưởng Phật học.
Đặc biệt về Phật học, chàng được một Thiền sư thạc
đức giáo huấn. Vốn ưa chuộng thẩm mỹ và Phật lý, chàng
từ chối tập luyện võ nghệ, thường rời hoàng cung để
du sơn ngoạn thủy.
Tại
Vô Lượng Sơn, chứng kiến cảnh bịp bợm, dối trá của
một cuộc tỉ võ: thấy Cung Quang Kiệt bịp lừa địch thủ
mà bật cười. Tiếng cười ấy đã đem lại hiểm họa cho
chàng: Tả Tử Mục, thầy của Cung Quang Kiệt, nghĩ rằng Đoàn
Dự đang cười chế nhạo kiếm thuật của Vô Lượng phái,
liền bảo Cung Quang Kiệt thách thức Đoàn Dự đọ kiếm.
Một thiếu nữ ngây thơ mà nhanh nhạy, giỏi võ, thấy vậy
liền nhúng tay can thiệp: nàng điều khiển con chuột kịch
độc của nàng, gọi là Thiểm Điện Điêu, tấn công Cung
Quang Kiệt để cứu nguy Đoàn Dự.
- Bấy
giờ bang Thần Nông, một bang phái chuyên sử dụng độc dược
(hóa chất cực độc) đang vây chặt Vô Lượng sơn để tiêu
diệt Vô Lượng phái.
- Đoàn
Dự nhân danh công bằng, nhân ái, đã bỏ qua sự thù hiềm
với Vô Lượng phái, cùng Chung Linh đi thương lượng giải
chiến với Tư Không Huyền, bang chủ bang Thần Nông.
- Tư
Không Huyền thì đang bị Thiên Sơn Đồng Mỗ quái nhân cấy
"sinh tử phù" vào thân thể buộc phái Thần Nông phải tiêu
diệt kỳ tuyệt phái Vô Lượng, và đoạt về Vô Lượng Ngọc
Bích. Ông ta đã khống chế, ngược đãi Chung Linh và Đoàn
Dự.
- Chung
Linh, núng thế phải thả con Thiểm Điện Điêu tấn công làm
Tư Không Huyền bị độc thương nặng, nhiều môn nhân bị
chết thảm, Tư Không Huyền khống chế được Đoàn Dự và
Chung Linh và đòi giải dược. Chung Linh thì ở lại làm con
tin, Đoàn Dự thì đi về Vạn Kiếp Cốc để cầu thuốc giải
của Chung Vạn Cừu, bố của Chung Linh.
Đoàn
Dự lại lạc bước giang hồ đi vào một khúc quanh khác của
kiếp nạn...
1.2.
Ý kiến
- Vô
Lượng Sơn; Vô Lượng Kiến, Vô Lượng Ngọc Bích.
Các
từ ngữ này vốn mang âm hưởng Vô Lượng (Amita) của danh
hiệu đức Phật A Di Đà (Amita, Amitabha, Amitayur), giáo chủ
của cõi Cực Lạc (vắng mặt mọi khổ đau), biểu tượng
của nguồn chân tâm của con người, theo giáo nghĩa của tông
Tịnh Độ, Phật Giáo Trung Quốc. Đó là nghĩa Vô lượng quang
(biểu tượng của trí tuệ, hay Tuệ uẩn), Vô lượng thọ
(biểu tượng của đại định, hay Định uẩn), và Vô lượng
công đức (biểu tượng của phạm hạnh thanh tịnh, hay Giới
uẩn). Cũng có thể gọi là Tuệ đức, Định đức và Giới
đức.
Tác
giả Kim Dung, qua phát ngôn của Đoàn Dự, bảo đó là Tứ
Vô Lượng Tâm: đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả hoặc
từ vô lượng, bi vô lượng, hỉ vô lượng, xả vô lượng.
Mong cho hết thảy chúng sinh an vui là nghĩa đại từ, mong cho
hết thảy chúng sinh thoát khổ là nghĩa đại bi; vui vẻ đối
với chúng sinh, mà không sân không hận, là nghĩa đại hỷ;
xử sự bình đẳng, không thiên lệch đối với chúng sinh,
và mong chúng sinh cũng xử sự như thế, là nghĩa đại xả.
Vì lẽ đó mà Đoàn Dự có thái độ sống rằng:
"Từ
thuở nhỏ, ta đã thụ giới theo đạo Phật, sau cha ta mời
thầy đồ dạy ta học Tứ thư, Ngũ kinh, đồng thời một
vị Cao Tăng dạy kinh Phật. Ta đang học không sát, không sân,
từ bi đại lượng, đột nhiên cha ta lại bắt ta luyện tập
võ nghệ. Học lối đánh người, giết người, lòng ta cảm
thấy có điều trái ngược.
(Tr
40, Tập I)
- Để
thuyết phục Tư Không Huyền giải chiến, Đoàn Dự lập luận:
"Nghe
nói quý bang cùng Vô Lượng Kiếm kết mối thâm thù. Hôm nay
chính mắt tại hạ đã thấy hai người bên phái Vô Lượng
Kiếm bị thảm tử, vì động mối thương tâm nên đến đây
có đôi lời khuyên giải. Tại hạ trộm nghĩ rằng: oan cừu
nên gỡ ra chớ chẳng nên buộc vào, vả lại gây cuộc giao
đấu, chém giết là trái phép nước, việc đến tai quan lại
càng rắc rối. Vậy nên xin Tư Không bang chủ kìm ngựa trước
vực sâu, cấp tốc quay về, không nên gây thêm cừu oán cùng
Vô Lượng Kiếm nữa".
(Tr
49, tập I)
Đây
là giáo nghĩa "lấy từ bi dập tắt hận thù" của các bộ
phái lớn của nhà Phật.
- Khi
một lão nhân bang Thần Nông hỏi Đoàn Dự: "Các hạ thuộc
môn phái nào? Tôn sư đại hiệu là gì?". Chàng đáp: "Ta không
ở môn phái nào cả".
(Tr
48, Tập I).
Thái
độ sống không chủ trương phục vụ cho riêng một môn phái
nào, mà chỉ vì tình người, con người là thái độ sống
"vô ngã, vị tha" của Phật giáo. Nói khác đi, bang phái của
Đoàn Dự là "Bang phái vì hòa bình, an lạc, hạnh phúc cho
đời".
Hồi
2 : LỜI NGUYỀN Ở VẠN KIẾP CỐC
2.1.
Lược truyện
-
Trên đường đến Vạn Kiếp Cốc, Đoàn Dự lạc vào vùng
cấm địa của phái Vô Lượng Kiếm, rơi xuống vực thẳm,
may mắn bám được một cành tùng lớn mà sống sót. Chàng
men vào một thạch động của Vô Lượng Sơn, ẩn kín, vốn
là nơi của nhị vị Tiền bối võ lâm: Tiêu Dao và Thu thủy
(đã mất), sững sờ nhìn một tượng ngọc tuyệt mỹ, tuyệt
sắc giai nhân, lớn bằng người thật. Lòng sinh ngưỡng mộ,
tôn kính vẻ đẹp, chàng bất giác sụp lạy thần tượng
một nghìn lạy, theo lời ghi trên gối lạy. Bất chợt phát
hiện ra bí pháp Lăng Ba Vi Bộ và Bắc Minh Thần Công dấu
trong gối lạy; cũng theo lời chỉ dạy của tượng tiên nữ,
chàng không dám không luyện tập bí pháp. Sau ba ngày liền
luyện tập chàng đã có thể sử dụng bí pháp, dù chưa đến
mức thành thạo: Lăng Ba Vi Bộ là bộ pháp né tránh các đòn
đánh của đối phương; Bắc Minh Thần Công là võ công chuyển
tán nội lực của đối phương qua nội lực của mình.
- Rồi
tìm thấy lối ra khỏi thạch động, chàng đi đến Vạn Kiếp
Cốc. Đoàn Dự tự giới thiệu khi xin yết Kiến Cốc Chủ
và phu nhân để cầu thuốc giải cứu Chung Linh. Cốc chủ
phu nhân sớm nhận ra Đoàn Dự là người nhà của Đoàn Chính
Thuần, người yêu của bà và bố đẻ của Chung Linh, bà ân
cần thăm hỏi. Chung Vạn Cừu thì nổi máu ghen, từ chối
lời yêu cầu của Đoàn Dự. Cốc chủ Phu nhân, Cam Bảo Bảo,
bảo nhỏ Đoàn Dự đem theo một tín vật mà bà trao để về
Đại Lý cầu Đoàn Chính Thuần đi giải cứu.
2.2.
Ý kiến
- Khi
thấy đôi tình nhân của phái Vô Lượng Kiếm lẫn trốn giữa
lúc bang phái bị vây hãm, Đoàn Dự bảo hai người ấy là
tàn ác: "chỉ lo cho nổi vui của mình mà bỏ rơi bang phái".
(Tr
68, Tập I)
Đây
là tinh thần dấn thân vì hạnh phúc, an lạc của số đông,
tập thể của nhà Phật, đặc biệt là tinh thần phát triển
của giáo nghĩa Đại thừa, như chính bản thân Đoàn Dự đã
bất chấp hiểm nguy dấn thân giúp đời.
- Đoàn
Dự đã bật cười thành tiếng lúc ẩn núp khi nghe đôi tình
nhân thề thốt, đã bị đôi tình nhân rượt đuổi giết.
Chàng bất giác than thầm: "Đoàn Dự ơi là Đoàn Dự, chúng
nó thề thốt có thành chó cái, chó đực gì cũng mặc kệ,
có liên can gì đến ngươi? Việc gì ngươi phải cười người
ta? Tiếng cười đó chẳng phải giết chết mấy chục mạng
người sao?"
(Tr
71, Tập I).
Ý
Đoàn Dự là: Nếu chàng bị giết bây giờ thì sẽ không cứu
được Chung Linh, Tư Không Huyền và nhiều môn nhân phái Thần
Nông, mà còn gây náo động cả hoàng cung nước Đại Lý nữa.
Đây là sự thật về mối tương quan nhân duyên trùng trùng
của vạn hữu theo giáo lý Duyên Khởi của nhà Phật mà tác
giả Kim Dung đã khéo giới thiệu.
Trong
lúc thậm nguy mà chàng quên nghĩ đến bản thân, chỉ nghĩ
đến người thì quả là một biểu hiện cái tâm rất vị
tha của Phật giáo.
- Trước
bức tượng ngọc quá đẹp, Đoàn Dự đã cảm khái thốt
ra:
"U
cốc này đúng là Cực Lạc của nhân gian".
(Tr
90, Tập I).
Với
cái tâm thuần thiện ưa chuộng cái chân, cái mỹ thì thạch
động đẹp đẽ, yên tỉnh kia được cảm nhận là nơi an
vui, vắng mặt mọi cảm giác khổ đau,nói khác đi, được
cảm nhận là cực lạc ở nhân gian. Với tâm lý đầy dục
vọng, sân hận thì u cốc hiện ra là nơi quá buồn bã, u tịch!
Tâm và cảnh dính chặt với nhau trong cảm nhận của con người
cũng là chủ trương của giáo lý Nhà Phật, tiêu biểu qua
giáo lý Duyên Khởi và Ngũ Uẩn.
- Về
Bắc Minh Thần Công, tác giả Kim Dung ghi :
"Bắc
Minh Thần Công lấy nội lực của thiên hạ làm của mình.
Nước lớn biển Bắc không phải tự nhiên mà có. Lời rằng:
Trăm sông đổ vào biển, nước của biển sở dĩ có là vì
dung chứa nước của trăm sông. Biển cả bao la cũng là vì
biết tích tụ.
(Tr
96, Tập I).
Cũng
thế, khi tâm từ và tâm bi mở lớn như biển cả, khi tuệ
tâm vô ngã thấy rõ pháp giới là mình, mình là pháp giới,
tất cả dung nhiếp nhau thì tâm thức sẽ không bị buộc chặt
hạn chế trong tự ngã hẹp hòi, mà có thể dung chứa vô vàn
tự ngã khác. Đây là Bắc Minh Thần Công của tâm và tuệ:
Nếu Lục Mạch Thần Kiếm có thể chặt đứt các khí giới
khác, thì trí tuệ có thể cắt đứt mọi vô minh, phiền não
và khổ đau.
Về
mặt xã hội cũng thế, một nền văn hóa mở rộng để tiếp
thu cái hay cái đẹp của văn học, khoa học kỹ thuật của
một nền văn hóa khác thì nền văn hóa ấy của xã hội ấy
sẽ trở nên rất hùng mạnh, sẽ là nền văn hóa đệ nhất.
- Về
Lăng Ba Vi Bộ, bộ pháp di chuyển thân của Lăng Ba Vi Bộ là
tạo ra một ảnh ảo khiến đối phương chỉ tấn công vào
ảnh ảo, nên đương sự luôn dễ dàng thoát nạn. Điều này
nói lên rằng nếu một người sống, hành động không vì
tự ngã thì thiên hạ sẽ không thể gây thương tổn người
ấy. Nói khác đi, tâm vị tha thì không hại mình, hại người,
còn tâm vị kỷ thì gây ra việc hại mình, hại người.
Hai
môn võ công thượng thừa trên là một kết hợp để phát
triển tâm thức và phát triển xã hội mà tác giả đã trao
vào tay Đoàn Dự, một thanh niên mãi mong thể hiện nếp sống
nhà Phật cho tự thân và cho đời.
- Lệnh
của tượng ngọc tiên nữ bảo Đoàn Dự đi vào Lan Hoàng
Phúc Địa (một thư viện đặc biệt của Võ học) để đọc
các sách võ thuật mà luyện tập. Khi thấy thư viện sách
trống rỗng, Đoàn Dự thấy lòng mừng khấp khởi về việc
khỏi phải luyện võ. Rồi bỗng chàng cảm thấy xấu hổ
tự than:
"Đoàn
Dự ơi là Đoàn Dự, ngươi vui vì không phải tuân lệnh thần
tiên tỉ tỉ thì đã là bất trung với nàng rồi. Ngươi không
thấy võ công điển tịch đáng lẽ phải thất vọng mới
phải, sao lại lấy làm sung sướng là sao?"
(Tr.101.
tập I).
Đoàn
Dự chịu trách nhiệm về tâm thức chàng thì phải chịu trách
nhiệm từ ý nghĩ. Đây là ý nghĩa "tác ý tạo nên Nghiệp",
và ý nghĩa "tu tâm" của Phật Giáo.
Hồi
3 : NGƯỜI ĐƯỢC VỢ, KẺ VẠ LÂY
3.1.
Lược truyện
-
Cam Bảo Bảo mượn của Mộc Uyển Thanh con thần mã Mai Hắc
Côi cho Đoàn Dự để về Đại Lý cầu Đoàn hoàng gia đi
cứu Chung Linh cho kịp lúc, và muốn tạo cơ hội cho hai bố
con gặp mặt nhau lần đầu.
- Nhóm
gia nhân của Vương phu nhân đánh vây Mộc Uyển Thanh nhiều
phen. Mộc Uyển Thanh phải hỗn chiến từng phen mới thoát
nạn.
- Mộc
Uyển Thanh đặt Đoàn Dự trên lưng Mai Hắc Côi để cùng
trốn thoát đám người vây bắt. Nàng xử sự với Đoàn Dự
quá lạnh lùng và khắt khe: Thỉnh thoảng hành hạ chàng vì
cái tánh "nói này, nói nọ". Sau cùng, nàng thả cho chàng một
mình về Đại Lý.
- Trên
đường về, Đoàn Dự lại giáp mặt Cung Quang Hào và Cáp
Quang Bội (cặp tình nhân) và lại bị rượt giết. Mộc Uyển
Thanh đi sau Đoàn Dự để theo dõi và yểm trợ chàng nên kịp
hạ sát hai người kia để cứu chàng. Bấy giờ Mộc Uyển
Thanh và Đoàn Dự thay đổi quyết định, hai người cùng lên
đường cứu Chung Linh.
- Bốn
nữ kiếm Cung Linh Thứu được lệnh truy nã Cung Quang Hào và
Cáp Quang Bội (mà họ chưa từng gặp mặt), ngỡ Mộc cô nương
và Đoàn Dự là hai người cần truy nã nên bao vây đánh, Mộc
Uyển Thanh liền sử dụng ám tiễn giết chết ba tay nữ kiếm
và bị nữ kiếm thứ tư (là một cao thủ) đánh ép nàng đến
hồi nguy kịch, Đoàn Dự liền xách một xác chết nhảy vào
đỡ nhiều nhát kiếm cho Uyển Thanh, giúp Mộc Uyển Thanh hạ
sát nữ kiếm.
Hai
người dùng áo khoác của hai nữ kiếm để cải dạng mình,
dấu mình khỏi tầm mắt của đám gia nhân của Vương phu
nhân, đi đến bang Thần Nông, một bang phái đang rất sợ
hãi các nữ kiếm áo xanh, các sứ giả của Thiên Sơn Đông
Mỗ. Phát hiện được điểm yếu tâm lý đó. Đoàn Dự bèn
giả giọng ra lệnh Tư Không Huyền giải chiến lập tức,
và đưa cho chàng thuốc giải "đoạn trường thảo" để cứu
giải chàng và Chung linh.
- Chung
Linh trở về Vạn Kiếp Cốc. Mộc cô nương và Đoàn Dự lại
lên đường, chưa có quyết định mới nào để hành động.
Vừa lúc ấy nhóm gia nhân của vương phu nhân lại tái hiện
tấn công hai người. Hai người lại thoát hiểm, nhưng lần
này Mộc cô nương bị thương thế không nhẹ...
3.2.
Ý kiến
- Nghe
nhóm gia nhân của Vương Phu nhân đang tìm giết Mộc Uyển
Thanh, chủ nhân của thần mã Mai Hắc Côi, Đoàn Dự liền
quày ngựa về tìm Mộc cô nương để phi báo. Vừa đến nhà
Mộc cô nương thì Đoàn Dự vừa rơi vào một trận địa
mà chỉ trong chốc lát thì đao kiếm sẽ chát chúa. Thấy chàng
không biết võ nghệ, Uyển Thanh nói:
"Tài
cán cỡ như ngươi mà cũng dám xưng là đại trượng phu sao?
Đoàn Dự đáp: "Anh hùng hảo hán hay không há phải ở chỗ
võ công cao hay thấp? Những kẻ võ nghệ tuyệt luân mà hành
vi bỉ ổi, đốn mạt, đâu có xứng đáng là đại trượng
phu? Cô gái áo đen (Uyển Thanh) cười: "ha ha, ngươi giữa đường
gặp chuyện bất bình, trượng nghĩa đến đây báo tin, chẳng
qua mong được làm đại trượng phu một chút. Đến lúc đại
trượng phu bị người ta chặt ra 17, 18 mảnh lại biến thành...
nát bét đại trượng phu"
(Trang
135, Tập I).
Thế
là, theo ý của tác giả, trượng phu là cái tâm trượng phu
biểu hiện qua hành động thiết thực, trung chính giúp người,
mà không hẳn căn cứ vào võ nghệ, tài năng. Dù vậy, cái
tâm trượng phu cũng cần có năng lực hành động thì mới
là thiết thực hữu ích và trí tuệ; tùy lúc tùy cảnh mà
hành xử cương, nhu, hệt như Đoàn Dự không hề sợ hãi trước
đao kiếm, nhưng chàng phải hạ mình hết mực trước một
Mộc Uyển Thanh cứng rắn, cố chấp và lạnh lùng để cục
diện không trở nên tồi tệ. Đây là thái độ sống "tùy
duyên nhi bất biến" của nhà Phật, hay tinh thần "phương tiện
thiện xảo trong kinh Pháp Hoa của Phật Giáo đại thừa"
- Mùi
hương hiện hữu:
Truyện
viết:
"Chàng
đứng cách nàng không đầy hai thước, chợt có mùi hương
thoảng đưa vào mũi, mùi thơm nhẹ nhàng như lan mà không phải
lan, ngây nhất như xạ mà không phải xạ. Một mùi thơm dìu
dịu như có như không, nhưng làm cho người ngửi thấy phải
mê ly, phải rùng mình".
(trang
137, tập I)
Một
mùi hương có thật mà đã không thể xác định tính chất
của nó, huống nữa các hiện hữu tinh tế khác? (!). Đây
là một trường hợp điển hình gợi nhớ đến âm hưởng
của giáo lý Bát Nhã vốn phi hữu, phi vô:
"Sắc
chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc, sắc chính là Không,
Không chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng thế".
("Sắc
bất dị không, Không bất dị sắc; sắc tức Thị Không, Không
tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị").
Hồi
4 : LỜI THỀ CỦA MỘC CÔ NƯƠNG
4.1.
Lược truyện
-
Thần mã Mai Hắc Côi lấy tàn lực phóng qua vực thẳm vừa
đến mức đủ để Uyển Thanh và Đoàn Dự phóng lên bờ.
Mai Hắc Côi thì rơi xuống vực sâu...
- Vừa
đuối sức, vừa thương tiếc thần mã, Uyển Thanh ngất lịm
người. Đoàn Dự băng bó vết thương cho nàng và ngồi cạnh
chăm sóc.
- Nhóm
ác gia nhân nhà họ Vương lại tiến qua vực tấn công. Đoàn
Dự sắp đá lăn xuống vực để ngăn cản. Vừa lúc ấy,
Nam Hải Ngạc Thần xuất hiện định giết Mộc Uyển Thanh
để trả thù cho đệ tử đã bị nàng hạ sát. Đoàn Dự
khéo nói khích rằng: "Kẻ đại anh hùng thì không đánh người
đang bị thương, người yếu kém thế cô..." nghe có lý, Nam
Hải Ngạc Thần buông tha cho cả hai. Ông ta thấy Đoàn Dự
có tướng của nhà võ, muốn thâu Đoàn Dự làm đồ đệ
chân truyền nên bảo vệ Đoàn Dự và Uyển Thanh đánh đuổi
bọn gia nhân của Vương phu nhân, dù Đoàn Dự chưa khứng
chịu.
- Đến
thời điểm hẹn của bốn đại ác nhân, Nam Hải Ngạc Thần
vội vã ra đi, đem theo Uyển Thanh làm con tin để giữ chân
Đoàn Dự và gây áp lực chàng...
4.2.
Ý kiến
- Mộc
Uyển Thanh đã được sư phụ nhồi sọ rằng "Nam giới toàn
là kẻ nói dối, phụ bạc, đừng tin tưởng họ", thế mà
trước thái độ sống xử thế chân thật, vị tha của Đoàn
Dự, nàng đã bị thuyết phục và nhận chàng làm vị hôn
phu.
- Nghe
Đoàn Dự thuật các chuyện can dự của chàng ở Vô Lượng
Sơn, nàng bảo:
"Ngươi
đã không biết võ nghệ sao còn cứ xen vào chuyện giang hồ
để mang lụy vào thân". (trang 190, tập I).
Đoàn
Dự đáp:
"Việc
đã lỡ rồi, hối cũng vô ích. Ta chỉ còn ân hận một điều
là làm phiền lụy đến cô nương mà thôi"(trang 190, tập I)
- Rõ
là thái độ sống của một tâm hồn vị tha!
Hồi
5 : LĂNG BA VI BỘ
5.1.
Lược truyện
-
Mộc Uyển Thanh bị Nam Hải Ngạc thần điểm huyệt mê man
suốt ba ngày liền. Sau đó nàng được tự do đi lại trong
khu vực của bốn đại ác nhân để chờ Đoàn Dự cho đến
hạn chót 7 ngày.
- Nam
Hải Ngạc Thần đã rượt đuổi Vân Trung Hạc, kẻ háo sắc
định hại Uyển Thanh, Uyển Thanh nói khích để hai người
đánh nhau hầu nàng có cơ hội thoát thân, nhưng bất thành.
- Diệp
Nhị Nương bắt cóc con nhỏ của Tả Tử Mục, đang bị tứ
đại hộ pháp nước Đại Lý giúp Tả Tử Mục rượt bắt.
- Chín
nữ kiếm của Cung Linh Thứu tra hỏi Đoàn Dự về tin tức
của Cung Quang Hào và Cáp Quang Bội và bốn thánh sứ đã bị
Uyển Thanh giết. Đoàn Dự bị giữ lại ở Vô Lượng Sơn
chờ chín nữ kiếm trở về sau một cuộc tìm kiếm tiếp
theo. Lợi dụng thời gian nhàn rỗi ấy Đoàn Dự luyện tập
tiếp Lăng Ba Vi Bộ và Bắc Minh Thần Công.
- Nhờ
hai môn võ công trên mà Đoàn Dự mở được đường thoát
khỏi các người canh giữ chàng, đi cứu Mộc cô nương. Càng
xung trận, Đoàn Dự càng có cơ hội thu nội lực của các
cao thủ về cho mình; nội lực chàng càng trở nên hùng hậu
hơn hẳn. Một hôm, tình cờ chàng nuốt chửng một con rít
cực độc và một con Mảng Cổ Chu Cáp siêu độc khi chàng
đang há miệng theo dõi con Thiểm Điện Điêu. Hai con vật kịch
độc đã giúp Đoàn Dự phát huy nội lực vô cùng thâm hậu,
và có khả năng đề kháng vạn độc.
- Thấy
bóng Diệp Nhị Nương chạy qua, Đoàn Dự ngỡ là Mộc Uyển
Thanh, bèn rượt theo và may mắn gặp tứ đại hộ pháp Đại
Lý của chàng và Mộc cô nương tại trú xứ của bốn đại
ác nhân.
5.2.
Ý kiến
- Các
hành động ác hại của con người, theo giáo lý nhà Phật,
là do dục vọng và tà kiến mà phát sinh. Cũng nói là do tham,
sân, si mà phát sinh. Các tâm lý cấu uế khác như ngã mạn,
kiêu căng, bỏn sẻn, dối gạt, nịnh hót, ganh ghét, đố kỵ,
tàn độc, nhiễu hại... đều từ tham, sân, si (hay ngũ cái:
trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi) mà sinh.
Lục
Mạch Thần Kiếm sắp hạng có bốn loại tâm lý cực ác trong
các tâm ác như là:
- Cùng
hung cực ác: Tiêu biểu là nhân vật Vân Trung Hạc, người
háo sắc, thường nhiễu hại các cô gái, đố kỵ và giết
người không một chút úy kỵ.
- Hung
thần ác tác: Tiêu biểu là Nam Hải Ngạc Thần, người hăng
hái đánh lộn, giết người thì bẻ gãy cổ và cười khoái
trá. Đây là loại khoái trá giết.
- Vô
ác bất tác: Tiêu biểu là Diệp Thị Nương, người có nhan
sắc mà đầy căm hận, thường bắt cóc trẻ thơ kháu khỉnh
để giỡn đùa rồi giết chết ném vào bụi. Đây là loại
lạnh lùng giết trẻ thơ.
- Ác
quán mãn doanh: tiêu biểu là Đoàn Diên Khánh, lạnh lùng và
đầy căm hận, giết cả huynh đệ ruột thịt và kết nghĩa.
Đến mức độ này thì gọi là đệ nhất ác nhân.
Trên
thực tế, Diệp Nhị nương và Đoàn Diên Khánh vốn là người
lương thiện, chỉ vì đời bạc đãi nên trở thành đại
hận, không từ bỏ một việc ác nào. Tác giả Kim Dung đã
đẩy cái tâm lý bất thiện đến các hành động cực hại
của chúng gây ra cho đời để người đời né tránh, hướng
về điều thiện. Đây là nội dung của hai bước đi đầu,
trong ba bước đi chính, của giáo lý nhà Phật thường được
các bộ phái Phật giáo giới thiệu.
- Từ
bỏ mọi điều ác (chư ác mạc tác).
- Làm
mọi việc lành (chúng thiện phụng hành).
- Giữ
thanh tịnh tâm ý (Tự tịnh kỳ ý).
- Ức
Quang Tiêu canh giữ Đoàn Dự ở Vô Lượng Sơn đã nói: "Ngươi
mà mở mồm nói một câu, ta sẽ cho ngươi một bạt tai; nói
hai câu; hai bạt tai; nói ba câu, ba bạt tai. Ngươi biết đấy
chứ?"
Đoàn
Dự thầm nghĩ:
"Thằng
Cha côn đồ này nói sao làm vậy. Tuy ta bị Mộc cô nương
tát mấy cái thật, tuy đau trên má nhưng trong bụng lại vui
vui. Còn như lần này bị ăn bạt tai của tên côn đồ kia
chắc chẳng vui gì?"
(trang
269, tập I)
Cùng
một cái bạt tai lên má mà ít nhất có hai tác dụng, tính
chất khác nhau, nói lên tính chất bất định của nó. mẫu
chuyện kể ra nghe có vẻ rất "tầm phào", nhưng lại rất
là triết lý. Nói lên được sự thật bất định tính của
các hiện hữu, theo giáo lý nhà Phật. Thật ý vị!
- Đoàn
Dự nhớ lại lời dạy của bá phụ, Bảo Định Vương rằng:
"Bá phụ thường dạy rằng con người sống ở trên đời,
nếu không ăn, không mặc thì không thể sống được. Thế
nhưng, một bát cháo, một mảnh khăn cũng đều lấy của người
khác. Lấy của người khác là điều không thể tránh được,
có điều phải báo đáp như thế nào? Nếu thu vào ít mà trả
ra nhiều thì được. Nếu lấy của kẻ giàu có bất nhân
để đem cho kẻ không cơm áo thì cũng không đáng thẹn, nhà
Nho nhân nghĩa hay nhà Phật từ bi cũng đều như thế. Bòn
khố rách, dù sơn kiệu thì là bạo ngược; còn như buôn bán
làm giàu rồi làm điều thiệu cho cả thiên hạ, bố thí khắp
mọi người thì là Phật sống. Thành thử không phải chuyện
thu hay không thu, mà tại cách dùng thiện hay ác?
(trang
271- 172, tập I).
Tư
tưởng trên của Bảo Định Vương ca ngợi pháp bố thí, lòng
từ bi thương đời của nhà Phật rất là tích cực: giúp
đỡ cho hết thảy mọi người có điều kiện sống an vui,
hạnh phúc thoát khỏi các khổ cực, bần hàn, túng quẩn là
tâm của Phật giới. Bảo Định vương đã dùng cái tâm ấy
mà cai trị nước Đại Lý nên nhân dân Đại Lý sống trong
cảnh thanh bình, lòng rất sùng mộ nhà vua. Đây cũng là một
tư tưởng Phật học của tác giả Kim Dung vậy.
Hồi
6 : CHƯA KỊP BÁI SƯ, SƯ ĐÃ ... BÁI!
6.1.
Lược truyện
-
Đoàn Dự và Uyển Thanh cùng Chu Đan Thần rời khỏi trú xứ
của bốn đại ác nhân trở về Đại Lý. Vân Trung Hạc âm
thầm theo dõi để bắt Uyển Thanh. Chu Đan Thần dùng nghi kế
đánh lừa Vân Trung Hạc khiến ông ta tưởng đang có đủ
mặt tứ đại hộ pháp mà sợ hãi lánh mặt. Lát sau, Vân
Trung Hạc biết là ngụy kế, liền rượt đuổi ba người.
Đến am Ngọc Hư Quán, nơi tịnh cư của Ngọc Hư Tản Nhân
Đao Bạch Phượng, vương phi của Đoàn Chính Thuần, Vân Trung
Hạc bị vây đánh, đại bại mà bỏ chạy...
- Cao
Thăng Thái, Phó Tư Quy và Chữ Vạn Lý thì bận đánh đuổi
Diệp Nhị Nương và Nam Hải Ngạc Thần. Ba người ở thế
thượng phong, nhưng bị Diệp Nhị Nương đánh lén nên Cao
Thăng Thái bị thương không nhẹ. Cả ba trở về họp mặt
ở Ngọc Hư Quán và thỉnh cầu Ngọc Hư Tản Nhân trở về
hoàng cung để tính kế đối địch với bốn đại ác nhân.
- Giữa
tiệc rượu đoàn tụ vui vầy ở hoàng cung, Nam Hải Ngạc
Thần đến đòi Đoàn Dự bái ông ta làm sư phụ. Đoàn Dự
ra điều kiện nếu ông ta xuất ba chiêu mà chế ngự được
chàng thì chàng sẽ làm lễ bái sư; ngược lại, nếu sau ba
chiêu mà không khống chế được chàng thì ông ta phải bái
chàng làm sư phụ, một sư phụ không truyền dạy võ công,
Nam Hải Ngạc Thần ưng thuận.
Cục
diện diễn ra gây bất ngờ cho hết thảy mọi người: Đoàn
Dự đã sử dụng Lăng Ba Vi Bộ tránh được ngót sáu mươi
chiêu của Nam Hải Ngạc Thần, rồi dùng Bắc Minh Thần Công
hóa tán nội lực của ông ta khiến ông ta hoảng hốt ngã
lăn ra đất, xấu hổ khôn cùng.
Nam
Hải Ngạc Thần miễn cưỡng sụp lạy Đoàn Dự tám lạy
của lễ bái sư rồi lặng lẽ biến đi...
6.2.
Ý kiến
- Lục
Mạch Thần Kiếm truyện ghi rõ:
"Nước
Đại Lý ở riêng một cõi phương Nam, các vị hoàng đế đều
sùng tín Phật Pháp".
(trang
40, tập II)
Tác
giả viết thế là gián tiếp giới thiệu đạo Phật đến
độc giả bốn phương: theo dõi truyện là vừa theo dõi các
ảnh hưởng Phật giáo biểu hiện qua Đoàn Dự và hoàng cung
Đại Lý.
- Bảo
Định Đế, Đoàn Chính Thuần, và Đoàn Dự đều có một
tấm lòng thương người rất sâu sắc. Các vua chúa đều rời
ngôi báu xuất gia lúc trọng tuổi. Nhân dân rất sùng mộ
Bảo Định Đế và Đoàn Chính Thuần đến độ sau ngày thất
lạc trở về nước, thái tử Đoàn Diên Khánh không dám đòi
lại ngôi báu của vua cha đã bị một loạn thần thoán đoạt.
Thái tử lặng lẽ biến đi luôn...
Hồi
7 : CHA ĂN MẶN, CON KHÁT NƯỚC
7.1.
Lược truyện
-
Tần Hồng Miên là một bà vợ lẽ của Đoàn Chính Thuần
sinh hạ Mộc Uyển Thanh. Bà vừa là sư phụ nghiêm khắc của
nàng.
- Cam
Bảo Bảo cũng là một tình nhân của Đoàn Chính Thuần mang
thai Chung Linh, về sau thành thân với Chung Vạn Cừu.
- Tần
Hồng Miên và Cam Bảo Bảo kết nghĩa tỉ muội. Cả hai đều
muốn trừ khử tình địch Đoan Bạch phượng, đã hạ lệnh
cho Mộc Uyển Thanh hành thích bà.
- Giữa
tiệc vui đoàn tụ, nhận ra Ngọc Hư Tản Nhân là Đoan Bạch
Phượng, kẻ thù của sư phụ, Uyển Thanh liền phóng tiễn
độc hại bà. Đoàn Dự nhanh nhẹn kịp đón mũi tên độc
thay mẹ. Hỏi rõ sự tình, Đoàn Chính Thuần nhận ra Uyển
Thanh là con gái của mình, lòng vừa mừng, vừa đau đớn.
Ông nói rõ sự tình cho Mộc cô nương biết. Biết sự thật
sư phụ chính là mẹ đẻ, và Đoàn Dự là anh ruột, Uyển
Thanh đau đớn rời khỏi hoàng cung giữa đêm khuya, đi những
bước đi vô định...
- Tiếp
diễn là sự xuất hiện của Tần Hồng Miên, Cam Bảo bảo
và Chung Vạn Cừu trước mặt Đoàn Chính Thuần và Đao Bạch
Phượng. Hai bên đấu khẩu... đấu chưởng... đấu kiếm...
Giữa
lúc ồn ào ấy, Nam Hải Ngạc Thần, theo kế hoạch của bốn
đại ác nhân và Chung Vạn Cừu, đã lẻn vào cung bắt Đoàn
Dự đưa về Vạn Kiếp Cốc để uy hiếp hoàng gia...
- Bảo
Định Đế, Đoàn Chính Thuần, và tứ đại hộ pháp âm thầm
theo lề luật giang hồ đến Vạn Kiếp Cốc để cứu Đoàn
Dự.
- Đoàn
Diên Khánh muốn bôi nhọ danh dự hoàng gia đã giam giữ Mộc
Uyển Thanh cùng một nơi và cho hai người uống thuốc kích
dục...
- Uyển
Thanh và Đoàn Dự phải rất vất vả mới tự chế ngự được
các kích động của dục tình... cho đến thời điểm các
người hoàng gia, đưa Chung Linh vào thay thế Uyển Thanh. Vừa
lúc ấy, bốn đại ác nhân mời anh hùng trên giang hồ đến
chứng kiến cảnh loạn luân tồi tệ của hoàng gia: Chung Vạn
Cừu đã bẽ mặt thấy người con gái ở cạnh Đoàn Dự là
con gái của ông ta, mà không phải là Uyển Thanh. Quần hùng
cũng lấy làm ngỡ ngàng...!
7.2.
Ý kiến
Vạn
Kiếp Cốc, trong hồi 7, diễn ra như một trận địa Điện
Biên Phủ Việt nam. Đó là thời điểm xác định rõ chính
nghĩa và thắng lợi của chính nghĩa; đám bốn đại ác nhân
và Chung Vạn Cừu, dù đã vận dụng hết trăm mưu nghìn kế
hại hoàng gia nhân từ của Đại Lý, đều đại bại thê
thảm!
Đọc
xong hồi 7, và cả hồi 8, thấy Đoàn Dự và Hoàng gia thoát
nạn, ai cũng thở phào nhẹ nhỏm. Cho biết, từ thâm tâm mọi
người, ai cũng mong chờ chiến thắng của điều thiện, phía
thiện; ai cũng ghét bỏ cái ác, phe ác, và mong nó sớm biến
mất khỏi cuộc đời. Đấy là lý do cần thiết giáo lý nhà
Phật của cuộc đời.
Hồi
8 : ÔNG GIÀ ÁO XANH LÀ AI?
8.1.
Lược truyện
-
Giáp mặt ác nhân Đoàn Diên Khánh, thoạt đầu Bảo Định
Đế chưa biết ông ta là ai. Cho đến khi Đoàn Diên Khánh sử
dụng thành thạo võ công "Ngũ dương chỉ" nhằm để Bảo
Định Đế rõ thân thế của mình, bấy giờ Bảo Định Đế
nhận ra ông ta là thái tử, con của Thượng Đức Đế Đoàn
Liên Nghĩa đã mất tích trong cuộc nội loạn ở hoàng cung
- do một loạn thần gây ra. Bảo Định Đế bèn thương lượng
về điều kiện thả Đoàn Dự. Điều kiện duy nhất mà Đoàn
Diên Khánh yêu cầu là Ngai báu.
- Trở
lại Hoàng Cung thượng nghị với Đoàn Chính Thuần, Cao Thăng
Thái và Phạm Hoa, Bảo Định Đế chịu trao ngai vàng cho Đoàn
Diên Khánh. Ba vị đại thần kia thì quyết không thể trao
muôn dân và hạnh phúc của muôn dân vào tay đệ nhất ác
nhân ấy. Chỉ có thể đi đến một chọn lựa là phải loại
trừ ngay kẻ hung ác ấy để trừ họa cho xứ sở.
- Bảo
Định Đế hạ chỉ phong Đoàn Chính Thuần làm Hoàng Thái
Đệ là người sẽ kế vị ngôi báu. Giữa đêm vắng, người
cải trang đi tìm thăm phương trượng Hoàng Mi, chùa Niêm Hoa,
một người bạn tâm giao của nhà vua để xin ý kiến giải
quyết cuộc khủng hoảng do Đoàn Diên Khánh gây ra, Bảo Định
Đế thực hiện lời yêu cầu bỏ thuế muối để giản sức
dân
của Hoàng Mi Đại Sư 2 năm trước. Hoàng Mi Đại Sư hiến
kế cùng Bảo Định Đế đi cứu Đoàn Dự.
- Bảo
Định Đế, lại một lần nữa cùng quần thần đi vào hành
động: Hoa Hách Cấn đào địa đạo dẫn đến chỗ giam Đoàn
Dự ở Vạn Kiếp Cốc để tránh giao chiến; Hoàng Mi đại
sư thì thách đấu cờ vây với Đoàn Diên Khánh ở bên ngoài
nhà giam Đoàn Dự.
- Phạm
Hoa và Hoa Hách Cấn mở đường hầm tình cờ lạc vào phòng
Chung Linh. Được Chung Linh mách tin, hai người đào tiếp đến
đúng chỗ giam giữ, và thay thế Chung Linh vào chỗ Uyển Thanh.
8.2.
Ý kiến
- Niêm
Hoa tự: tên chùa chỉ sự kiện "Niêm hoa vi tiếu" của Thế
Tôn khi ngài trao truyền "Chánh pháp nhãn tạng" cho tôn giả
Ca Diếp, vị sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa.
- Khi
Bảo Định Đế nói: "Đoàn Dự không chịu luyện tập võ
nghệ vì nghĩ rằng đó là việc giết người", Hoàng Mi đáp:
"Không hiểu võ nghệ vẫn giết người được. Giỏ võ nghệ
vị tất đã giết người".
(trang
155, Tập II)
Tác
giả Kim Dung đã lập luận rõ ràng: giết người là do ý chủ
trương tự mình giết, hoặc sai sử giết, hoặc vui vẻ thấy
giết. Nếu giỏi võ nghệ mà có lòng nhân thì có thể cứu
mình, cứu người, nhất là giữa cuộc đời đầy bạo loạn.
Đây là tư duy thông thoáng, khác hẳn tư tưởng Nho giáo vụ
vào hình thức. Hệt như suy nghĩ của Ba Thiên Thạch trong lời
phát biểu: "Chúng ta làm đến Tam Công nước Đại Lý, nhưng
nếu vì quốc gia đại sự thì dù là đào mồ quật mã, hay
ăn trộm đi nữa cũng không thể từ nan được".
(trang
159, tập II)
Đấy
là các tư duy đậm màu sắc vô chấp của Phật giáo.