TỔNG
LUẬN THIÊN LONG BÁT BỘ
Trong
phần tổng luận nầy có bốn điểm được đề cập:
- Về
ý nghĩa Thiên Long Bát Bộ.
- Về
các loại võ công thượng thừa.
- Về
ba nhân vật kết nghĩa: Tiêu Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự, và
nhà Sư áo lam.
- Về
một số tư tưởng Phật học tiêu biểu.
I.
Về từ ngữ Thiên Long Bát Bộ
Truyện
Thiên Long Bát Bộ đề cập đến rất nhiều từ ngữ Phật
học như đã được bàn qua năm mươi hồi truyện. Riêng tên
truyện là Thiên Long Bát Bộ hẳn là bao hàm tư tưởng trải
khắp toàn truyện nói lên ý hướng của tác giả chuyển tải
qua các nhân vật thiện, ác, vừa thiện vừa ác.
Thiên
Long Bát Bộ là từ ngữ trong kinh Phật giáo phát triển, thường
được gọi là Đại thừa Phật Giáo, cho độc giả một cảm
nhận đầu tiên rằng bộ truyện sẽ đầy màu sắc Phật
Giáo.
Mở
đầu các bản Kinh Đại thừa thường là phần giới thiệu
thời điểm, nơi chốn, nhân duyên nói Kinh, và thành phần
thính chúng. Trong hội chúng nghe Kinh có hai đối tượng: đối
tượng chính là con Người; đối tượng cùng tham dự là thuộc
các cảnh giới khác Người, gọi là phi nhân. Đối tượng
phi nhân có tám bộ chúng:
1.
Chư Thiên (Devà): Đây là các chúng sinh ở các cung trời luôn
làm thiện, nói thiện, và nghĩ thiện.
2.
Loài rồng (Nàga): Rồng có rồng thiện, rồng ác, sinh từ
thai, từ trứng, từ ẩm thấp, và hoá sinh; rồng có thể có
các thần thông biến hoá .
3.
Dạ xoa (Yakkha): Các Dạ Xoa sống giữa hư không, có Dạ Xoa
thiện, có Dạ Xoa ác; có khả năng biến hoá; mắt trần khó
thấy.
4.
Càn thát bà (Gandhabba): Loài nầy sống ở lõi cây, giác cây,
rễ cây, hương và hoa; có Càn thát bà thiện có Càn thát bà
ác; có năng lực thần thông; có thể làm các nhạc công cho
các cung trời.
5.A
tu la (Asurà): Loài nầy sống chung cảnh giới với con Người
và Chư Thiên; có A tu la thiện, có A tu la ác; có khả năng
thần thông lớn, thường gây chiến với chư Thiên có trận
thắng có trận thua; tánh thường sân hận, ganh ghét và đố
kỵ.
6.
Khẩn na la(Kinara):Vị Trời có biệt tài về âm nhạc.
7.
Ca Lâu La(Garuda):Loài chim có cánh lạ, gọi là Kim sí điểu
thường đe doạ Rồng, Rắn.
8.
Ma hầu la già (Mahoràga): Loài rắn thần, mình dài, bụng lớn;
Ma hầu la già có mình rắn mà đầu người là loài rắn chúa.
Dẫn
đầu tám bộ chúng nầy thường là Trời và Rồng, nên Kinh
thường gọi tắt tám bộ chúng phi nhân là Thiên Long Bát Bộ.
*
*
*
Đối
tượng nghe Kinh Đại thừa ở vào ba cấp độ tu tập giải
thoát khác nhau:
- Cấp
độ giải thoát cao nhất: là các Bồ tát, Đại Bồ tát, và
Duyên Giác gọi là chúng hộ trì, đến nghe Pháp nhằm cổ
động, khích lệ, hỗ trợ cho chúng Thinh văn.
- Cấp
độ giải thoát bậc trung, là đối tượng chính của thời
Pháp, là chúng Tỷ Kheo.
- Cấp
độ kết duyên : là Cấp độ giải thoát ở bậc thấp, gồm
các vua chúa, tướng lãnh, đại thần, các gia chủ, cư sĩ
ở mọi giai tầng xã hội và Thiên Long Bát Bộâ (tám bộ
chúng phi nhân).
Hàng
kết duyên nầy thì các hành động thân, miệng, ý vận hành
trong phạm trù thiện ác, vừa thiện vừa ác. Giải thoát Tâm
và giải thoát Tuệ đối với hạng nầy, chỉ là đối tượng
lý tưởng để vươn tới, mà khó tập trung thực hiện hoàn
thiện trong đời sống hiện tại.
Như
thế, Thiên Long Bát Bộ nhấn mạnh phần đạo đức của Phật
Giáo thực tiễn, hơn là phần phạm hạnh giải thoát. Chính
phần đạo đức nầy là cột sống của một nền văn hóa
mà Thiên Long Bát Bộ muốn xiển dương.
II.
Về các võ công thượng thừa
Khô
Vinh trưởng lão chùa Thiên Long nước Đại Lý (Vân Nam), và
sư áo lam chùa Thiếu Lâm ở Trung Nguyên, xem các Võ Công và
các Huyền Công chỉ là pháp phương tiện được sử dụng
để hành hoá hộ đời, hộ đạo, mà không phải là Chánh
Pháp để giải thoát sinh tử. Dù vậy, Lục Mạch Thần Kiếm,
Dịch Cân Kinh, và Thất Thập Nhị Huyền Công của Thiếu Lâm
vẫn là các võ công vô địch trong thiên hạ. Để luyện tập
thành công các loại võ công nầy, người tập luyện phải
tập với tâm vô dục, vô sân và từ bi, nhân ái. Điều nầy
nói lên rằng luyện võ công hay việc sử dụng các phương
tiện hoằng hóa - cũng là tu tâm; và hệt như việc các võ
công thượng thừa dẹp trừ các đại ma đầu, chính tâm lý
vô dục, vô sân, từ bi nhân ái là nhân tố tiễu trừ các
tâm lý bất thiện, xấu ác đang nhiễu loạn văn hóa và xã
hội.
III.
Về Đoàn Dự, Hư Trúc, Tiêu Phong và Sư áo lam
1.
Đoàn Dự
Đoàn
Dự là Thái tử của nước Đại Lý Phật Giáo. Chàng xuất
hiện từ đầu truyện cho đến cuối truyện, kinh qua nhiều
cọ xát trên chốn giang hồ. Hình ảnh khép lại Thiên Long
Bát Bộ là hình ảnh Đoàn Dự chứng kiến cảnh ngộ Mộ
Dung Phục khùng điên đang làm vua nước Đại Yên trong loạn
tưởng, trước một đám trẻ con làm quần thần đang tung
hô chàng : Vạn tuế!, bất giác Đoàn Dự thấy lòng nhói đau,
thầm nghĩ:
"Mỗi
người đều có duyên nghiệp của mình. Mộ Dung huynh cùng
A Bích đã như thế, tuy ta thấy họ đáng thương, nhưng trong
lòng họ có chắc là chưa thỏa mãn không? Ta cần gì phải
đa sự xen vào ".
Đoàn
Dự, qua thể nghiệm, đã nói lên sự khác biệt của mọi
người trong xã hội là do nghiệp lực từ kiếp trước gây
ra, và nghiệp lực trong hiện tại phụ họa, theo đúng tinh
thần giáo lý về Nghiệp của nhà Phật.
Chàng
cũng cùng lúc hiểu rõ, con người bằng nổ lực của tự
thân trong hiện tại có thể chuyển hoá Nghiệp, và giải thoát
Nghiệp, bằng sự phát triển tâm vị tha, từ bi, ly dục và
vô sân mà chàng hằng tin tưởng và thực hiện trong những
năm vừa qua.
Với
đời sống gia đình trong tinh thần nhập thế phục vụ xã
hội, thì phần thực hiện đạo đức Phật giáo chỉ giới
hạn ở công phu kiểm soát các hành động của thân, miệng,
ý xa rời ác giới, đi vào thiện giới và hướng về giải
thoát giới. Bằng cái tâm ấy, Đoàn Dự vượt qua được
cái khổ nạn, và có duyên lành học được các võ công thượng
thừa để hộ đời hộ đạo. Bằng cái tâm ấy, Đoàn Dự
xứng đáng được Đoàn Chính Minh truyền ngôi báu nước Đại
Lý. Bằng cái tâm ấy, chàng đã kết nghĩa huynh đệ sinh tử
với hai anh hùng Tiêu Phong và Hư Trúc, đã thu được tình
cảm của Vương Ngữ Yên, Mộc Uyển Thanh..., và nhất là đã
làm một trợ duyên lớn giúp sư Cưu Ma Trí đại ngộ... Những
tỏa sáng ấy của cuộc đời Đoàn Dự thực sự là sự toả
sáng của các nét đặc thù của văn hoá Phật Giáo.
2.
Tiêu Phong
Tiêu
Phong vốn thuộc dòng dõi Khất Đan, nước Đại Liêu, ở phương
Bắc, con nhà trâm anh thế phiệt. Năm lên một, chàng mắc
nạn ở sự biến Nhạn Môn Quan, làm con đẻ của ông bà Kiều
Tam Hoè nghèo khó ở Trung Nguyên. Chàng được đại sư Huyền
Khổ gián tiếp nuôi dưỡng, chỉ dạy đạo đức Phật Giáo
và võ công Thiếu Lâm. Năm 16 tuổi, chàng làm môn đệ và
nghĩa tử của Uông Bang Chủ Cái Bang, được truyền dạy các
võ công thượng thừa, Giáng Long Thập Bát Chưởng, Đả Cẩu
Bổng Pháp, và được truyền ngôi Bang chủ.
Tánh
vốn trung chính, nhân hậu và khoáng đạt, Tiêu Phong đã phát
triển rạng rỡ Cái Bang. Chỉ vì dòng máu chàng là Khất Đan
mà chàng phải hứng chịu nhiều hàm oan, khổ nạn trên giang
hồ. Dù vậy, chàng mãi giữ gìn tâm nghĩa hiệp, lòng chung
thủy với Cái Bang, Thiếu Lâm và Trung Nguyên ( Đại Tống
), nhất là trung thành với lý tưởng nhân ái, vị tha vì an
lạc, hạnh phúc của quần chúng. Cái chết rất bi tráng của
chàng do ngăn chặn được cuộc chiến tranh đẫm máu giữa
Đại Liêu và Đại Tống, là nỗi ray rứt muôn thuở của
các quan niệm hẹp hòi về nhân sinh của nền văn hoá cũ.
Chàng chết, nhưng nhân cách lớn của chàng thì sống mãi,
cái nhân cách như là của sự kết tinh các chất liệu của
văn hoá Phật Giáo được truyền từ đại sư Huyền Khổ.
Đây là chất liệu của Phật Giáo Trung Nguyên có lẫn vào
cái dũng khí Khất Đan của phương Bắc.
3.
Hư Trúc
Hư
Trúc đã lớn lên trong khuôn viên chùa Thiếu Lâm từ nhỏ.
Chàng ngỡ mình mồ côi cha mẹ, xem chùa là gia đình, quê hương
của chàng. Tánh vốn thông sáng, nhân hậu, chân thật, giàu
lòng từ, chăm chỉ tu tập và có tinh thần trách nhiệm cao.
Chàng vô tâm làm các thiện sự nên nhân duyên đun đẩy chàng
giải được thế cờ Trân Lung mà các kỳ thủ trên giang hồ
không giải nổi trong suốt ba mươi năm qua. Từ đó, chàng
được Vô Nhai Tử, trưởng môn Tiêu Dao truyền 70 năm công
lực, nhẫn chưởng môn và chức vị chưởng môn; được Đồng
Mỗ, Thu Thuỷ vô tình truyền thêm nội lực siêu đẳng và
cử chàng làm Cung Chủ Linh Thứu.
Với
cái tâm ấy, chàng kết nghĩa sinh tử với Tiêu Phong, Đoàn
Dự, và không cầu mà được kén làm Phò mã Tây Hạ.
Sự
nghiệp của Hư Trúc là nhờ vào cái tâm của chàng được
tựu thành từ văn hoá nhà chùa Thiếu Lâm.
Cả
ba chàng Tiêu Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự đều được giáo
dục từ văn hoá nhà Phật nên đã dễ dàng có cái tâm, cái
tình và cái tuệ gặp gỡ, dẫn đến việc kết bái đệ huynh,
dù ở độ tuổi khác nhau, dân tộc khác nhau, và vị trí xã
hội khác nhau. Cuộc kết bái đã tạo nên một sức mạnh
đáng kể trong việc trừ gian, diệt bạo, khử ác trên giang
hồ để xây dựng hoà bình và ổn định lâu dài cho một
vùng châu lục.
Tâm
từ bi, trí tuệ vô ngã và ly dục hình thành nền văn hoá
nhà Phật vốn hiện hữu trong tâm thức của mọi người ở
mọi xứ sở, thời đại, mà không phải của riêng ai. Chùa
Thiên Long ở Phương Nam, và chùa Thiếu Lâm ở Trung Nguyên
(cận Bắc ) chỉ tự nguyện đóng vai trò giữ gìn di sản
văn hoá ấy cho đời. Lục Mạch Thần Kiếm, Dịch Cân Kinh
và Thất Thập Nhị Huyền Công chỉ là khí cụ sử dụng để
giữ gìn di sản ấy. Thiên Long Bát Bộâ mong muốn đời đến
với di sản văn hóa cất giữ ở Tàng Kinh các mà không phải
đến với các võ công một vạn lần kém giá trị hơn. Đây
là điểm mà ba nghìn trang truyện nhắm đến.
4.
Nhà sư áo lam
Nhà
sư thuộc hàng tăng nhân phục dịch, quét dọn vườn chùa
và giữ gìn Tàng Kinh Các. Sư hành đạo và hành công cẩn
mật và lặng lẽ; không có ai để ý đến dáng người hao
gầy mảnh khảnh ấy. Cũng không có ai biết đến sức sống
giải thoát và võ công siêu tuyệt của sư nếu không có sự
biến ở chùa Thiếu Lâm để sư xuất đầu lộ diện nhiếp
hóa quần hào. Sư nói đạo như lập lại đúng lời dạy của
Đức Phật rằng: "Muốn giải thoát thì phải trừ tham, trừ
thủ, trừ ái, trừ triền
", nghĩa là phải dập tắt dục
vọng và ngã tưởng. Sư đã ca ngợi tâm Bồ tát độ sinh
như lần ca ngợi Tiêu Phong có tâm Bồ tát ngăn chặn chiến
tranh
Tiếng nói của sư đến muộn, nhưng vang xa, thực sự
là tiếng nói của giải thoát và cứu độ. Thành tựu của
sư là danh dự của Thiếu Lâm, vượt lên trên các tiếng nói
danh dự khác, làm sống dậy các giá trị sinh động của giáo
lý nhà Phật. Sự hiện diện của sư như là vàng thật để
bảo chứng trong ngân hàng văn hóa, xác nhận một giá trị
rất thật của dòng văn hóa từ bi và trí tuệ. Sư quét chùa
để cho Tiêu Phong, Hư Trúc, Đoàn Dự và nhiều nhân vật khác
hành hiệp.
IV.
Các tư tưởng Phật học tiêu biểu
Phật
giáo là con đường sống thực nghiệm tâm lý ( hay tâm linh
) trong hiện tại, mà không phải phó thác sự sống cho một
niềm tin mơ hồ vào một năng lực cứu rỗi. Đấy là những
gì mà bạn đọc có thể tìm thấy trong Thiên Long Bát Bộ
qua các điểm giáo lý tiêu biểu như :
1.
Phát triển thiện tâm trừ bỏ ác tâm
- Những
nhà sư vào hàng chữ Pháp ở Thiên Long Tự và Khô Vinh trưởng
lão là những người hành thiện và giải thoát nghiêm túc.
Các
nhà sư vào hàng chữ Huyền ở Thiếu Lâm Tự cũng thế. Hàng
xuấùt gia nhà Phật luôn là những tấm gương, niềm tin và
niềm khích lệ để các Phật tử tại gia và các gia chủ
hành thiện, hướng thiện, hướng về lý tưởng vong ngã vị
tha. Các vị có sứ mệnh tự nguyện giữ gìn và phát huy kho
tàng văn hóa Phật giáo cho đời. Đó là di sản của giải
thoát mọi phiền não khổ đau.
- Những
người đời hành thiện như Đoàn Chính Minh, Đoàn Chính Thuần,
các đại thần và hộ pháp Đại Lý, Uông Bang chủ Cái Bang,
Kiều Phong, nhiều trưởng lão và môn nhân Cái Bang, Vô Nhai
Tử, Tô Tinh Hà, nhóm Bát Hữu phái Tiêu Dao và Hư Trúc ( tân
bang chủ Tiêu Dao ) ... Họ có tâm trung chính, nhân ái, vị
tha, luôn trung chính với ý tưởng hộ đời.
- Những
người thuộc hành bất thiện như " Tứ đại ác nhân ", Tinh
Tú Hải lão quái và nhiều môn đệ của ông ta, Toàn Quán
Thanh, Mộ Dung Bác, Mộ Dung Phục, Khang Mẫn, sư Cưu Ma Trí,
Triết La Tinh, Tọa chủ chùa Thanh Lương v.v... họ thường
hành xử với tâm lý vị kỷ, tàn độc, sân hận, đố kỵ,
ganh ghét, đầy ác dục vọng, kiêu mạn, xảo quyệt, dối
trá ... Chính những con người nầy với các tâm lý điên đảo
nầy là tác nhân của bất an, sợ hãi, rối loạn, hận thù
trên cõi giang hồ. Cơ bản của các tâm lý xấu ác ấy là
tham, sân, si ( hay Trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi ) là
đối tượng mà giáo lý nhà Phật chủ trương đoạn trừ
qua nếp sống Giới, Định, Tuệ và đại từ, đại bi, đại
hỷ, đại xả. Đây là nếp sống của " Từ bỏ mọi điều
ác, làm mọi việc lành, và giữ tâm ý thanh tịnh ". Đây là
nếp sống đạo đức hướng đến hạnh phúc chân thật của
Phật Giáo !
2.
Thế giới là một tương quan trùng trùng duyên khởi
Giáo
lý Duyên Khởi là giáo lý trọng tâm của Phật giáo. Sự thật
vận hành Duyên Khởi của vạn hữu đã được Đức Phật
Thích Ca giác ngộ dưới cội bồ đề từ 26 thế kỷ trước.
Từ đó Phật giáo ra đời. Sự thật ấy đã được tác giả
của Thiên Long Bát Bộ trình bày khái quát tự nhiên qua các
mẩu chuyện đời.
- Câu
chuyện của Mã phó bang chủ phu nhân:
Chuyện
khởi đầu từ điểùm Khang Mẫn có nhan sắc, đẹp đến
độ hầu hết các nhân vật Cái Bang đều ngưỡng mộ, chỉ
trừ Kiều bang chủ là lạnh lùng, thản nhiên trước nhan sắc
ấy. Khang Mẫn, lòng tự hãnh bị tổn thương, sinh tâm ghét
hận Kiều Phong và muốn làm cho Kiều Phong thân bại danh liệt.
Từ đó, bà âm mưu kết hợp với Toàn Quán Thanh ( kẻ háo
sắc, háo danh, hám lợi ) làm nên các việc gieo họa cho Kiều
Phong, rối loạn Cái Bang và lan rộng đến toàn cõi giang hồ
Trung Nguyên ...
Chỉ
một chút ghen ghét, thù oán của Khang Mẫn đã dẫn đến một
hậu quả khôn lường Ai dám bảo rằng một chút tâm lý nhỏ
nhoi ấy không có mối liên hệ đến an nguy của Trung Nguyên
và lan xa hơn nữa đến Đại Liêu, Đại Lý và Tây Hạ ?
- Ngân
Xuyên, công chúa Tây Hạ kén duyên :
Ngỡ
rằng chuyện kén duyên của một người con gái, dù là một
công chúa, chỉ là chuyện cá nhân và là hỉ sự; không ngờ
hỉ sự ấy lại là nơi hội tụ về biết bao tính toán chính
trị, ngoại giao, tham vọng, tranh chấp, và cả các tổ chức
thanh toán đẫm máu, kinh động cả giang hồ, và có liên hệ
đến hòa bình hay chiến tranh của một vùng châu lục; không
ngờ ở một tụ điểm tranh chấp ấy lại là một cơ duyên
lớn cho sự kiện đại ngộ của Cưu Ma Trí, để rồi sau
đó, sư đã để lại cho đời một sự nghiệp phiên dịch
và chú giải kinh sách Phật giáo rất giá trị; không ngờ
ở trung tâm điểm tranh chấp ấy lại là nhân duyên của niềm
vui lớn của hai người anh hùng trẻ tuổi Hư Trúc và Đoàn
Dự.
Ai
có thể dám nghĩ rằng việc thể hiện một ước mơ thầm
kín của công chúa Ngân Xuyên lại không có mối liên hệ đến
cả toàn lục địa Trung Quốc.
- Tình
cảm của A Tử :
A Tử
rất thương quý Tiêu Phong, tỉ phu của nàng, nghĩ rằng phải
làm cho chàng mù đôi mắt nàng mới có duyên ở cạnh chàng
để săn sóc chàng, nàng liền phun độc kim. Tiêu phong, phản
xạ tự nhiên, xuất chưởng đẩy giạt các độc kim khiến
A Tử bị trọng thương. Tiêu Phong chạy chữa thuốc men, dẫn
đến bộ tộc Nữ Chân; rồi kết nghĩa với Gia Luật Hồng
Cơ, vua nước Đại Liêu ... rồi cứu tử nhà vua và triều
đình nhà vua ... rồi được phong Nam Viện Đại Vương ...
rồi bị ép làm nguyên soái chinh Nam phạt Tống ... rồi Tiêu
Phong cưỡng lệnh và bị đánh độc tống giam vào ngục thất,
rồi được gỡ tất cả các hàm oan ở Đại Tống ... rồi
phải tự vẫn để tròn Trung, Nhân và Nghĩa ...
Chỉ
khởi đầu từ một ý nghĩ rất trẻ con của A Tử mà lại
là một nhân duyên đẩy đưa Tiêu Phong đi thật xa vào nhiều
mối tương hệ bất ngờ ... và đưa đến cái chết bất ngờ
cho cả hai. Ai có thể dám bảo rằng một hiện hữu không
liên hệ đến tất cả ? đây không phải là kia?
Ba
mẩu chuyện nho nhỏ trên liên hệ đến ba cô gái lại giúp
bạn đọc thấy rõ sự thật tương quan trùng trùng các nhân
và duyên của mọi hiện hữu mà giáo lý nhà Phật xiển dương,
để từ đó có dịp nhìn lại các mối tương hệ trong xã
hội hầu điều chỉnh nhận thức và thái độ sống của
mình để nhích lại gần với điểm tương hợp với sự thật
ấy.
Thế
giới nầy là một hiện hữu của " tương quan nhân duyên ",
không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc, không
có nguyên nhân đầu tiên hay một đấng sáng thế nào. Nói
khác đi, đấng sáng thế của vũ trụ nầy là sự thật Duyên
Khởi. Không có một tự ngã cố định, bất biến nào hiện
hữu. Cho rằng có tự ngã bất biến, thường hằng hiện hữu
để rối có các lý thuyết, các thái độ sống tương ưng
với nhận thức ấy là vô minh, là thiếu Tuệ, là đầu mối
của vạn sự rối loạn trên giang hồ. Đây là điểm tư tưởng
linh hồn của Thiên Long Bát Bộ.
3.
Nhân sinh là kẻ chủ nhân của Nghiệp, và là kẻ thừa tự
của Nghiệp
- Như
ở phần cuối truyện Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự đã nghị
: "Mỗi người đều có duyên nghiệp của mình ", và như lời
bàn về Đoàn Dự ở mục ( III.1 ), Nghiệp, chính là thai tạng,
con người vừa là chủ nhân, vừa là kẻ nhận chịu hậu
quả của các hành động chủ ý của thân, miệng, ý; cái
gọi là con người thực sự chỉ là sự biểu hiện của tư
tưởng và hành động trong quá khứ và trong kiếp hiện sinh.
Hệt như một lời kinh Phật chép :
" Ta
là chủ nhân của Nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp
là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa.
Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp
ấy ".
(Tăng
Chi II ... 1988, tr 77 )
-
Trong giáo lý về Nghiệp của nhà Phật, một hành động có
chủ ý mới tạo nên nghiệp. Thế nên, Đoàn Dự khi ở Vô
lượng động đi vào Lan Hoàng Phúc Địa, thấy trống không
các sách võ công mà khởi ý mừng vì khỏi phải luyện theo
yêu cầu của thần tiên tỉ tỉ. Quan trọng là ở nghiệp
ý. Hư Trúc, trong hầm nước đá ở hoàng cung Tây Hạ, bị
Đồng Mỗ bức ép ăn mặn và chung chăn gối với Mộng Cô,
Đồng Mỗ bảøo là chàng đã phá giới, thì chàng cãi lại
:
"
Tiểu tăng bị tiền bối bức bách, chứ không phải tự ý
mình, không thể gọi là phá giới ".
Nhận
thức của Hư Trúc về nghiệp phá giới là phù hợp với lời
kinh Phật. Kinh Pháp cú ghi :
" Ý
dẫn đầu các pháp,
Ý
làm chủ, ý tạo
Nếu
vớiý ô nhiễm
Nói
năng hay hành động,
Khổ
não bước theo sau.
Như
chiếc xe theo chân con vật kéo ".
(
Dhp. 1 )
- "
...
Nếu
với ý thanh tịnh ( thiện ),
Nói
năng hay hành động,
An
lạc bước theo sau
Như
bóng không rời hình.
(
Dhp. 2 )
Thiên
Long Bát Bộ đã diễn lại cuộc đời của các nhân vật theo
đạo lý Nghiệp ( Karma ) và Nhân - Quả - ( Hetu - Phala ) liên
hệ theo dòng thời gian ( quá khứ, hiện tại và vị lai ).
Thế nên " tứ đại ác nhân ", Đinh Xuân Thu, Toàn Quán Thanh,
Mộ Dung Phục, Khang Mẫn, Vương Phu Nhân v.v... đều lãnh nhận
hậu quả bi đát tương ưng với những gì họ đã tạo tác.
Huyền Thống, Huyền Nạn, Huyền Tứ, Cưu Ma Trí đều đi vào
giải thoát vào thời điểm cuối đời hay gần cuối đời.
Đoàn Dự, Hư Trúc, Tiêu Phong đều gặt hái được nhiều
thành quả, vinh dự đáng kể ...
Qua
giáo lý về Nghiệp, quan niệm về giá trị của một hành
động của văn hóa cũ cần được xét lại: những gì mà
người Trung Nguyên lên án Tiêu Phong là bất hiếu, bất nhân,
bất nghĩa, bất trung đầu chỉ là những danh từ, khái niệm
trống rỗng khi mà ở thực tế Tiêu Phong rất mực trung chính,
nhân ái, đầy đủ trung, hiếu, nhân, nghĩa ...
Ngoài
các ý nghĩa trên, sự thật về Nghiệp, Nhân Quả, còn giáo
dục con người có tinh thần trách nhiệm rất cao đối với
tự thân, gia đình và xã hội, bởi vì đó là các việc làm
thiện giúp con người hưởng được an lạc, hạnh phúc trong
hiện tại và tương lai.
4.
Quan niệm về một nhà lãnh đạo đất nước
Truyền
thống các vua Đại Lý và lãnh đạo đất nước theo tinh thần
giáo lý nhà Phật, và theo truyền thống của Chuyển Luân Thánh
Vương trong kinh Phật, lúc trọng tuổi, nhà vua xuất gia làm
tăng lữ ở chùa Thiên Long. Đoàn Chính Minh cũng truyền ngôi
cho Đoàn Dự và xuất gia từ ngày Cưu Ma Trí đến gây sự
ở Thiên Long Tự, lấy pháp hiệu là Pháp Trần.
Một
hôm, Đoàn Dự đã bàn với các trưởng lão về truyền thống
của Chuyển Luân Thánh Vương trong kinh A Hàm, đặc biệt là
chú ý đến phước báo có thất bảo của nhà vua, trong đó
có Ngọc nữ báu - Tương tự với các vua nhà Trần ở Việt
Nam. Dưới triều đại lý tưởng của một Chuyển Luân Thánh
Vương với thất bảo thì sẻ mạnh mẽ, hùng hậu về an ninh
quốc phòng, về tài chánh - kinh tế, và về cả đạo đức,
văn hóa, giáo dục.
Theo
Kinh Bổn Sanh I, II, III ( và phần chú giải ) và V, truyền thống
giáo lý nhà Phật đề bạt đến mười điều mà một vị
vua ( hay nhà lãnh đạo cao cấp ) phải thực hiện gọi là
" thập vương tử pháp " như sau:
1.
Quảng đại, từ bi.
2.
Giữ gìn đức hạnh: Giữ gìn năm giới cấm dành cho Phật
tử tại gia.
3.
Vì hạnh phúc nhân dân.
4.
Liêm chính, thành thật, nghiêm túc làm nhiệm vụ.
5.
Dịu dàng, hòa ái.
6.
Sống giản dị, không xa hoa.
7.
Không ganh ghét, không thù hiềm.
8.
Không bạo lực.
9.
Vị tha, thông cảm, kiên nhẫn.
10.
Hòa hợp với dân.
Đấy
là nội dung mà hầu như Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh đã
thực hiện tốt.
5.
Nụ cười của Thiền Sư
- Khi
đại sư Huyền Thống ngỡ nhóm Bát Hữu ( trừ Diêm Vương
Địch thần ) là tánh xấu nên múa đao ngăn họ tiến vào
nhà thần y. Một người trong nhóm Bát hữu vừa múa kiếm
vừa vịnh thơ:
- "
Có phế bỏ thất tình, mới mong tròn quả phúc. Tâm thần
tán tụ hoài, chưa thóat vòng trần tục " .
Và
- " Thế sự thành không tưởng, còn vui thú nỗi gì " ?
Sư
Huyền Thống đáp :
" Hỡi
ai người đắc pháp,
Nhân
giả phải tinh vi ".
Người
kia bèn cười ha hã mà nói :
" Đúng
rồi, đúng rồi ...
Tại
hạ khuyên đại sư nên ra khỏi bến mê, quay đầu trở lại,
buông đao đồ tể !
Huyền
Thống đại sư hốt nhiên đại ngộ, bèn nói :
" Phật
Pháp vô viên Cho tròn thiện quả ". Rồi mỉm cười mà tịch
!
- Phương
trượng Huyền Từ suốt một đời nghiêm túc bảo vệ Thiếu
Lâm, Chánh Pháp, và phục vụ Trung Nguyên của Đại Tống.
Bởi nghịch duyên, Phương Trượng rơi vào hai lỗi lầm lớn
khiến người suốt đời bị ray rưc, đó là :
- Nghe
lời phao thất thiệt, gây ra sự biến Nhạn Môn Quan.
- Mất
giác tỉnh một lúc thời trẻ, sa vào quyến rũ của nhan sắc
Diệp Nhị Nương. Dù vậy, lúc trọng tuổi, Phương Trượng
đã giác ngộ vô ngã, vô thường, thản nhiên nhận hình phạt
hai trăm trượng, rồi mỉm cười mà hóa Sau khi chết nụ cười
còn đọng lại trên môi ... !
- Đại
sư quốc sư Thổ Phồn Cưu Ma Trí sinh tiền ham muón danh vọng
và quyền thế mãnh liệt, muón làm Minh chủ võ lâm và cố
vấn Vua nước Thổ Phồn để bành trướng lãnh thổ. Nhân
duyên đưa đẩy, sư bóp cổ Đoàn Dự, bị Bắc Minh Thần
Công của chàng hút hết nội lực khiến trong chốc lát giấc
mộng quyền danh tan thành mây khói. Bất giác sư hốt nhiên
đại ngộ. Sư mỉm cười: " Từ nay lão nạp tấm thân vô
định, tùy ngộ nhi an ".
Những
nụ cười giải thoát của các thiền sư đã hiện ra đẹp
như những chiếc cầu vồng ngũ sắc rạng rì- trên vùng văn
hóa nhà Phật !
*
*
*
Các
lý tưởng đến với đời hẳn là phải vì cuộc đời, vì
an lạc, hạnh phúc của con người. Hạnh phúc là khát vọng
thiết tha nhất của người đời phải là sứ mệnh của văn
hóa.
Đạo
Phật ra đời, như lời Đức Phật dạy, vì lòng thương tưởng
đời, vì an lạc, hạnh phúc của số đông. Giáo lý nhà Phật
vì vậy đến với mọi căn cơ và giúp họ tháo gỡ cái ách
ràng buộc củaphiền não, khổ đau bằnh các bước đi của
trí tuệ:
- Rời
khỏi các tâm lý xấu ác và các hành động xấu ác vốn là
tác nhân gây rối loạn cá nhân và xã hội ( " Chư ác mạc
tác " ).
- Tích
cực dẹp bỏ lòng vị kỷ, phát khởi tâm vị tha từ bi, quên
mình vì hạnh phúc của tha nhân và cộng đồng ( " Chúng thiện
phụng hành " ).
- Tiêu
trừ dục vọng và ngã tưởng, sóng với các tâm vô lượng
: đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả ( " tự tịnh kỳ
ý " ).
Hiểu
như vậy là rất kinh viện. Thực tế, xã hội đan xen vạn
duyên rối rắm, làm thế nào để thấy các bước đi trên
giữa vạn duyên đan xe ấy mới là cái thấy thực tại từ
thực tại. Đấy là những gì mà Thiên Long Bát Bộ đã giới
thiệu qua 3.000 trang truyện sóng động. Ở đây giáo lý nhà
Phật hiện ra sống động giúp bạn đọc thấy rõ trực tiếp
với sự vật rằng: tư duy thì khác xa thực tại, kiến thức
thì khác xa trí tuệ, và hạnh phúc là sự thức tỉnh, sự
từ bỏ không dính mắc vào thế giới ý niệm. Giang hồ rồi
loạn là do rơi vào tư duy, kiến thức, chấp thủ ( dính mắc
); giải quyết rối loạn là đi ra khỏi sự dính mắc tư duy,
kiến thức, và đi vào thực tại và trí tuệ. Đây là điều
mà một nhân vật của Thiên Long Bát Bộ đã nói : Giải quyết
việc giang hồ mà thiếu mặt Thiếu Lâm thì khó thành.