Giới
thiệu:
Kinh
Bát Ðại Nhân Giác do ngài An Thế Cao dịch từ chữ Phạn
sang chữ Hán, vào thời Hậu Hán đời vua Hán Hoàn Ðế, niên
hiệu Kiến Hòa năm thứ 2 (148 CN). Ngài là Thái tử xứ An
Tức (Parthie), nay một phần thuộc Ba Tư (Persia, Iran) một phần
thuộc A Phú Hãn (Afghanistan). Lúc bấy giờ Ðạo Phật từ
Ấn Ðộ truyền sang rất thịnh hành trong vùng đó. Ngài xuất
gia tu học, tinh thông kinh điển. Sau đó, ngài đi Trung Hoa hoằng
hóa Phật Pháp và dịch quyển kinh nầy sang chữ Hán. Ðây
là bài kinh số 779 trong Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh (Hán
Tạng).
Dưới
đây là bản dịch và chú giải của HT Thích Nhất Hạnh
Là
đệ tử Phật thì nên hết lòng, ngày cũng như đêm, đọc
tụng và quán niệm về tám điều mà các bậc đại nhân đã
giác ngộ.
Thứ
Nhất là giác ngộ rằng cuộc đời là vô thường, chế
độ chính trị nào cũng dễ xụp đổ, những cấu tạo của
bốn đại [1] đều trống rỗng và có tác dụng gây đau khổ,
con người do tập hợp của năm ấm [2] mà có, lại không có
thực ngã, sinh diệt thay đổi không ngừng, hư ngụy và không
có thực quyền. Trong khi đó thì tâm ta lại là nguồn suối
phát sinh điều ác và thân ta thì là một nơi tích tụ của
tội lỗi. Quán chiếu như trên thì dần dần thoát được
cõi sinh tử.
Thứ
Hai là giác ngộ rằng càng lắm ham muốn thì lại càng
nhiều khổ đau, rằng bao nhiêu cực nhọc trong cõi sinh tử
đều do ham muốn mà có. Trong khi đó người ít ham muốn thì
không bị hoàn cảnh sai sử, lại cảm thấy thân mình và tâm
mình được thư thái.
Thứ
Ba là giác ngộ rằng vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh
lợi không bao giờ biết chán cho nên tội lỗi cũng theo đó
mà càng ngày càng lớn. Các bậc Bồ Tát [3] thì khác hẳn:
họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với
đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của
mình là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ.
Thứ
Tư là giác ngộ rằng tính lười biếng đưa đến chỗ
đọa lạc; vì vậy con người phải chuyên cần hành đạo,
phá giặc phiền não, hàng phục bốn loài ma, và ra khỏi ngục
tù của năm ấm và ba giới [4].
Thứ
Năm là giác ngộ rằng chính vì vô minh nên mới bị giam
hãm trong cõi sinh tử. Các vị Bồ Tát thì thường xuyên nhớ
rằng phải học rộng, biết nhiều, phát triển trí tuệ, đạt
được biện tài để giáo hoá cho mọi người, để cho tất
cả đạt tới niềm vui lớn.
Thứ
Sáu là giác ngộ rằng vì nghèo khổ cho nên người ta sinh
ra nhiều oán hận và căm thù, và vì thế lại tạo thêm những
nhân xấu. Các vị Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phép
bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những
điều ác mà người khác đã làm đối với mình và không
đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác.
Thứ
Bảy là giác ngộ rằng năm thứ dục vọng [5] đã gây
nên tội lỗi và hoạn nạn. Người xuất gia tuy là người
sống trong thế tục nhưng không nhiễm theo cái vui phàm tục,
thường quán niệm rằng tài sản của mình chỉ là ba chiếc
áo cà sa và một chiếc bình bát, tất cả đều là pháp khí,
rằng chí nguyện xuất gia của mình là sống thanh bạch để
hành đạo, giữ phạm hạnh cho thanh cao và đem lòng từ bi
để tiếp xử với tất cả mọi người.
Thứ
Tám là giác ngộ rằng vì lửa sinh tử cháy bừng cho nên
mọi loài đang chịu biết bao niềm thống khổ. Biết vậy
cho nên ta phải phát tâm Ðại Thừa, nguyện cứu tế cho tất
cả mọi người, nguyện thay thế cho mọi người mà chịu
khổ đau vô lượng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đạt
tới niềm vui cứu cánh.
Tám
điều nói trên là những điều giác ngộ của các bậc đại
nhân, Phật và Bồ Tát; những vị này đang tinh tiến hành
đạo, tu tập từ bi và trí tuệ, đã cưỡi thuyền pháp thân
đến được Niết Bàn. Khi trở về lại cõi sinh tử độ
thoát cho chúng sinh, họ đều dùng tám điều giác ngộ ấy
để khai mở và chỉ đường cho mọi người, khiến chúng
sanh ai cũng giác ngộ được cái khổ của sinh tử, lìa bỏ
được ngũ dục và hướng tâm vào con đường thánh .
Nếu
đệ tử Phật mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi
khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác
ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử,
thường trú trong sự an lạc.
Bản
dịch và Chú thích của HT. Thích Nhất Hạnh:
(Trích:
"Nghi Thức Tụng Niệm", NXB Lá Bối, California, 1989)
Chú
Thích :
Bốn
Ðại là bốn nguyên tố hay là bốn chất cấu thành vũ trụ.
Bốn đại gồm có: Ðịa đại, Thủy đại, Hỏa đại, và
Phong đại.
Năm
ấm là sắc, thọ, tưởng, hành, và thức. Sắc là thân thể
có hình có sắc. Thọ là cảm thọ vui buồn. Tưởng là tri
giác bằng hình ảnh tưởng tượng lại. Hành là dụng tâm
làm việc này hay việc khác. Thức là phân biệt, hay biết.
Năm ấm cũng còn gọi là năm uẩn.
Bồ
Tát là dịch âm từ chữ Phạn, dịch âm đầy đủ là Bồ
đề tát đỏa, có nghĩa là giác hữu tình Bồ Tát là người,
sau khi tin Phật, học Phật, phát nguyện tự độ, độ tha,
thậm chí hy sinh cả bản thân mình để cứu giúp người.
Muốn làm Bồ Tát trước hết phải có tâm nguyện lớn, chủ
yếu là bốn lời nguyện:"Chúng sinh vô biên thề nguyện độ,
phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lương thệ
nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành". Mọi
người từ khi phát tâm cho đến khi thành Phật được gọi
là Bồ Tát, vì vậy mà có phân ra Bồ Tát phàm phu và Bồ
Tát hiền thánh. Các vị Bồ Tát được nói tới trong các
kinh Phật thường là các vị Bồ Tát hiền thánh.
Ba
giới là dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, là ba cõi
sống của chúng sinh: Loài người thuộc về dục giới, cõi
sống của chúng sinh còn có lòng tham dục. Sắc giới là cõi
sống của loài Trời. Ở cõi Trời sắc giới này, chúng sinh
đã thoát khỏi mọi lòng dục, nhưng vẫn còn sắc thân. Vô
sắc giới là cõi gồm những chúng sinh, không những không
còn có lòng dục mà cũng không còn có sắc thân nữa, chỉ
còn có tinh thần thuần tuý mà thôi.
Năm
thứ dục vọng là năm thứ ham muốn: sắc, thanh , hương ,
vị, và xúc .