Tiểu
Dẫn
Phẩm
1 TỰA
Phẩm
2 Thuần Đà
Phẩm
3 AI THÁN
Phẩm
4 TRƯỜNG THỌ
Phẩm
5 Kim Cang Thân
Phẩm
6 Danh Tự Công Đức
Phẩm
7 TỨ TƯỚNG
Phẩm
8 Tứ Y
Phẩm
9 Tà Chánh
Phẩm
10 Tứ Thánh Đế
Phẩm
11 Tứ Đảo
Phẩm
12 Như Lai Tánh
Phẩm
13 Văn Tự
Phẩm
14 Điểu Dụ
Phẩm
15 Nguyệt Dụ
Phẩm
16 Bồ Tát
Phẩm
17 Đại Chúng Sở Vấn
Phẩm
18 Hiện Bệnh
Phẩm
19 Thánh Hạnh
Phẩm
20 Phạm Hạnh
Phẩm
21 Anh Nhi hạnh
Phẩm
22 Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ tát
Phẩm
23 Sư Tử Hống Bồ Tát
TIỂU
DẪN
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là một thuật ngữ, Phạn ngữ gọi MA
HA BÁT NIẾT BÀN NA (Mahaparinirvana). Các nhà Phật học tiền
bối dịch có nhiều nghĩa:
Đại
nhập diệt tức
Đại
diệt độ
Đại
viên tịch nhập
Từ ngữ để diễn đạt về MA HA BÁT NIẾT BÀN NA thì có
khác như thế, nhưng ý nghĩa thì không có gì chống trái mà
cùng gặp nhau ở điểm:
Niết bàn là cảnh giới sở chứng ở nội tâm của con người
dứt hết phiền não, dứt hết sinh tử, viễn ly các tướng,
viễn ly các hành, an trú tâm thanh tịnh, vắng lặng và vắng
lặng một cách trọn vẹn, tận cùng trọn vẹn. ĐẠI NHẬP
DIỆT TỨC hay DIỆT ĐỘ, chúng ta có thể khái niệm nhận
thức như thế, thiết tưởng tạm đủ mà không cần thiết
sử dụng ngôn ngữ quá dài dòng.
ĐẠI VIÊN TỊCH NHẬP có nghĩa: NIẾT BÀN là cảnh giới sở
nhập của con người tu hành hằng sống. Con người có Niết
bàn, "nhập" được Niết bàn, nhìn dáng vẻ và nếp sống
bên ngoài thì ai cũng tưởng họ là một người bình thường
như những người bình thường khác. Sự thực, đời sống
của con người được ĐẠI VIÊN TỊCH này, vô lượng công
đức lành họ đều thành tựu viên mãn. Thân, khẩu, ý, nghiệp
của họ hoàn toàn thánh thiện, không có biểu hiện sai trái
lỗi lầm. Đó là ý nghĩa của chữ VIÊN. Người bình thường,
luôn sống trong ưu tư sầu muộn, phiền não nung nấu, sôi
sục trào dâng, đau khổ suốt tháng quanh năm không có được
một phút giây an ổn. Trái lại, người nhập NIẾT BÀN là
người luôn luôn an trú trong vắng lặng, trong an ổn thảnh
thơi, không một niệm khổ tâm hay một gợn phiền não dấy
động trong CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ vốn thanh tịnh, vốn tịch
diệt viên mãn của chính mình.
Nói tóm lại, vô lượng công đức lành nào cũng viên mãn.
Vô lượng phiền não ưu bi nào cũng vắng lặng. Đó là ý
nghĩa của ĐẠI VIÊN TỊCH NHẬP.
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN NA là một, nhưng kinh nói về ĐẠI BÁT
NIẾT BÀN NA thì tên gọi có nhiều:
Đời
Bắc Lương, Pháp sư Đàm Vô Sấm dịch, nhan đề ĐẠI BÁT
NIẾT BÀN KINH, 41 quyển.
Đời
Tấn, Pháp Sư Pháp Hiển dịch, nhan đề: PHẬT NÊ HOÀN KINH,
2 quyển.
Đời
Đường, Pháp Sư Nhã Na Bạt Đà La dịch, nhan đề: ĐẠI BÁT
NIẾT BÀN KINH HẬU PHẦN, 2 quyển
Đời
Tùy, Pháp Sư Quán Đảnh dịch, nhan đề: ĐẠI BÁT NIẾT BÀN
KINH SỚ, 33 quyển...
Còn nhiều nữa nhưng ở đây xin lược để tránh phiền, vì
những cái không quan trọng, không cần thiết cho một hành
giả.
Đọc,
học kinh Niết Bàn và tu tập theo kinh Niết bàn hành giả sẽ
nhận thức rõ, Niết bàn của Đạo Phật là cảnh giới có
thật, không phải là một "thế giới do tưởng tượng", do
gởi gắm tâm hồn mình nơi một "cõi nước" nào đó, hoặc
gần hoặc xa. Đó là điều khó thứ nhất.
Đọc,
học kinh Niết Bàn cần có sự đầu tư nhiều về tư duy,
bồi dưỡng phát huy trí tuệ, thường củng cố định tâm,
tinh tấn vận dụng quán chiếu trong cuộc sống bình nhật.
Đó là nhân tố, là điều kiện để thấy Niết bàn và nhập
Niết bàn. Đó là cái khó thứ hai.
Đọc,
học và chứng nhập Niết Bàn, nhìn hiện tượng vạn pháp,
nhận thức vũ trụ nhân sinh không còn giống như cái nhìn,
cái nhận thức của chính họ ở thời gian trước đó. Giáo
lý mà Phật dạy cho họ thời gian trước, họ thấy không
phải mà còn ngược lại hoàn toàn. Đó là cái khó thứ ba.
Đọc,
học và chứng nhập Niết Bàn, hành giả sẽ sáng tỏ đôi
mắt, rửa sạch được bụi bặm rớt trong đôi mắt từ bấy
lâu nay. Hành giả biết rõ Phật thường trụ, Pháp thường
trụ, Tăng thường trụ. Phật không phải chết như Đức Thích
Ca đã từng chết ở rừng Ta La song thọ như mọi người vẫn
thường nghĩ. Đó là cái khó thứ tư.
Đọc,
học kinh Niết Bàn, người đệ tử Phật phải học, hiểu
về PHÁP THÂN PHẬT. Trụ chấp ỨNG HÓA THÂN PHẬT, thì không
nên nghe, đọc, học kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN. Vì có học cũng
không hiểu. Hiểu sai lạc sanh tâm bất mãn bất bình thì lại
mắc cái tội phỉ báng chánh pháp Đại thừa, thiệt thòi,
lỗ lã hơn nhiều. Đó là cái khó thứ năm.
Đọc,
học kinh Niết Bàn và nhập Niết bàn, hành giả thấy rõ tất
cả mọi người đều có khả năng thành Phật, mọi người
sẽ được thành Phật. Kể cả những người mà người đời
cho là bất nhân thất đức, tạo nhiều tội ác nặng nề.
Đó là cái khó thứ sáu.
Đọc, học kinh Niết Bàn có những cái khó như thế, người
đọc, học, nghe kinh Niết bàn cần kiên trì, nhẫn nại, phấn
đấu tư duy, nhận thức để vượt qua !
Tôi soạn bộ kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN này, dựa trên bản dịch
của Hòa Thượng GIÁO THỌ SƯ của tôi, Thượng TRÍ hạ TỊNH,
vị ân sư đã đào tạo, uốn nắn, dạy dỗ tôi từ hơn 50
năm trước. Bản dịch của Hòa Thượng được tái bản nhiều
lần, lưu truyền khắp nước Việt Nam. Các tòng lâm tự viện
đều có tôn thờ và thọ trì đọc tụng. Lần tái bản năm
1991 do Thành hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản,
có lẽ là lần tái bản gần đây nhất.
Soạn bộ kinh này tôi lấy tên ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC
CHỈ ĐỀ CƯƠNG. Nó được xem là một giáo tài hay một giáo
án để tôi triển khai cho những hàng hậu học đang học các
lớp CAO ĐẲNG NỘI MINH, cho những ai có chí hướng thượng
Đại Thừa và các Phật tử tại gia có cùng chí hướng.
Ý nguyện, thiện chí của tôi là như thế, nhưng cho đến
bây giờ, việc làm này tôi hứa với lòng và gởi đến những
ai được đọc bộ giáo tài này, rằng: tôi làm đến đâu,
biết đến đó. Có hoàn thành trọn bộ và như ý hay không,
tôi xin khất, không dám hứa.
Hiện nay, mùa thu năm Canh Thìn, tháng 9 năm 2000, tuổi
đời của tôi đã vượt quá "Cổ lai hy". Đó là cái lý do
tôi không dám hứa và cũng là lý do để tôi xin được các
bậc cao minh lượng tình xá cho những gì sơ suất nếu có
trong tác phẩm này.
Để kết thúc lời tiểu dẫn, chúng ta cùng ôn lại nguồn
tư tưởng trác tuyệt Đại thừa của bậc long tượng tiền
bối.
"Thân
tại hải trung hưu mích thủy,
Nhật
hành lãnh thượng mạc tầm sơn"
Dịch
nghĩa:
"Lội
trong nước chớ ngây thơ tìm nước
Đi
trên non đừng phí sức tìm non"
Viết
tại Thao Hối Am
Mùa
thu, năm Canh Thìn, tháng 9 năm 2000
Phật
lịch 2544
Thích
Từ Thông Hòa Thượng
Người
Gửi: Tâm Hòa