Kinh
Đại Bi - Quyển thứ hai
Phẩm
La Hầu La thứ tư :
Lúc
bấy giờ Đại Đức La Hầu La mới nghĩ như thế nầy, ta
nay có điều gì vui, điều gì vừa ý, có điều gì mừng,
phải nên kiên nhẫn đến gặp Đức Thế Tôn trước khi vào
Niết Bàn. Nghĩ như thế rồi liền đến phương Đông Bắc
cách 10 quốc độ Phật, nơi đó có thế giới tên là Ma Li
Chi. Tên Phật là Nam Thắng Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Lúc
bấy giờ Ngài Huệ Mệnh La Hầu La mới từ thành Câu Thi Na
hướng về phương Đông Bắc nơi của Đức Nam Thắng Như
Lai Ứng Chánh Biến Tri đang ở, đến đó cúi đầu làm lễ,
lui ra vẻ mặt sầu khổ ưu bi không vui. Lúc bấy giờ Ngài
Nan Thắng Như Lai bảo Ngài La Hầu La rằng :
Nầy
La Hầu La! Hãy đừng sầu muộn! Nầy La Hầu La! Tất cả những
việc yêu thương từ ý nghĩ v.v... đều do pháp hữu vi mà
hòa hợp, đương nhiên phải chia lìa. Nầy La Hầu La! Phàm
việc như thế, tất cả chư Phật Thế Tôn đã làm những
Phật sự xong, đều phải vào Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Nên
biết rằng nay Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai ứng cúng Chánh
Biến Tri là bậc lực sĩ sanh đang ở giữa 2 nơi cây Sa La
song thọ nằm nghiêng về phía tay mặt như dáng Sư Tử Vương,
ngày hôm sau ngay giữa đêm nầy sẽ vào cảnh giới Vô Dư
Niết Bàn tức Bát Niết Bàn vậy. Này La Hầu La! Hãy nên biết
rằng: Nếu sau khi Như Lai vào vô dư Niết Bàn thì đừng lo
buồn. Sau khi Phật nói lời ấy lúc bấy giờ La Hầu La bạch
Đức Nan Thắng Phật rằng :
Kính
bạch Đức Thế Tôn! Con không thể chịu đựng để nghe rằng
Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri vào Niết Bàn,
huống chi có thể nhẫn thấy Phật Thế Tôn vào Niết Bàn.
Điều nầy con không thể kham nhẫn để thấy. Sau khi La Hầu
La đáp lời vị Phật Nan Thắng như thế liền hóa đi nơi
khác đến phương trên qua 99 thế giới khác và đến thế
giới thứ 100. Nơi đó cũng đang có Đức Như Lai Ứng Chánh
Biến Tri, hiệu là Thương Chủ, còn đang tại thế. Sau khi
La Hầu La đến rồi, dập đầu cúi lạy sầu khổ khóc thương,
ưu sầu khóc lóc, liền đứng một bên. Đứng một bên xong,
lúc ấy Ngài Thương Chủ bảo La Hầu La rằng :
Hãy
dừng lại! La Hầu La! Cũng đừng sầu khổ! Nầy La Hầu La!
Tất cả các pháp, sanh cũng chả có, già cũng lại không, bịnh
cũng chẳng bịnh, mất cũng chẳng mất, không có bằng chứng.
Nầy La Hầu La! Quá khứ chư Phật, Thanh Văn, Duyên Giác tịch
diệt để đến Niết Bàn thì vị lai chư Phật, Thanh Văn,
Duyên Giác cũng an vui tịch diệt vào cõi Niết Bàn vậy. Nầy
La Hầu La! Giả sử Như Lai ở đời một kiếp hay đến 100
kiếp đi nữa thì đương nhiên cũng phải vào Niết Bàn. Nầy
La Hầu La! Người mà vào cảnh cứu cánh tịch diệt là cứu
cánh định, cứu cánh thanh lương, cứu cánh cuối cùng, cứu
cánh an lạc, cứu cánh an ổn, cho nên không có chốn Niết
Bàn. Nầy La Hầu La! Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ và tử
khổ. Vì ân ái xa lìa, ghét nhau gặp gỡ, cầu mà không được,
5 ấm không an... tất cả đều khổ. Nầy La Hầu La! Chỉ có
Niết Bàn là an lạc. Nầy La Hầu La! Cũng chẳng còn không
bao lâu nữa là vào Niết Bàn. Nầy La Hầu La! Ta cùng với
Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn cùng nơi, không còn sanh,
không còn già, không còn bịnh, không còn chết nữa. Không
có ái biệt ly, không oán tắn hội cũng chẳng có ưng ý. Nầy
La Hầu La! Hãy đừng buồn thương luyến tiếc, đừng sầu
khổ. Nầy La Hầu La! Ta đang suy nghĩ : ai mà có sanh tức kẻ
ấy phải chết. Ai có chết thì kẻ ấy sẽ lưu chuyển, rồi
trở lại sanh. Nầy La Hầu La! Tất cả đều là hư vọng,
khuynh đảo, chấp trước vậy, chưa nghe Thánh Pháp, là những
kẻ phàm phu vậy. Chưa thấy Thánh nhơn, chưa tin Thánh pháp,
chưa học Thánh pháp, chưa giải Thánh pháp, chưa hiểu Thánh
pháp, chưa ở trong Thánh pháp cho nên mới có tâm khuynh đảo
tưởng tượng việc thấy nghe, cho nên điên đảo. Vì điên
đảo mà sanh vậy. Từ sanh đến già, từ già đến chết,
từ chết đến sanh trở lại phải trải qua biết bao nhiêu
lưu chuyển khổ sở, ái luyến bi sầu, đấm ngực la khóc.
Nầy La Hầu La! Tất cả các bậc Thánh nhơn chỉ có tất cả
giới là việc phải giữ, không ai có thể không như thế.
Nầy La Hầu La! Như vậy các vị Đạo Sư đã làm xong rồi
và độ cho các đệ tử Thanh Văn đã xong và làm những chuyện
đã làm. Nầy La Hầu La! Hãy đừng sầu khổ, đừng ưu buồn,
đừng bi lụy. Nầy La Hầu La! Đức Thích Ca Mâu Ni, Ngài là
bậc vô thượng pháp vương trong dòng họ Chúng Trung Tôn, ta
nên đến thăm lần cuối, lễ bái cúng dường cung kính. Nếu
Niết Bàn xong, cũng đừng sầu khổ. Nầy La Hầu La! Đức
Thích Ca Mâu Ni Phật bây giờ đang ở tại nơi lực sĩ sanh,
tức rừng Sa La song thọ, nằm day phía mặt như dáng Sư Tử,
đang nghĩ về La Hầu La, hãy liền đến đó. Sau khi nói lời
như vậy Ngài La Hầu La liền bạch Phật Thương Chủ rằng
:
Kính
bạch Thế Tôn! Con không muốn nghe thấy Đức Thích Ca Mâu
Ni Như Lai Chánh Biến Tri vào Niết Bàn, huống lại nhẫn thấy
Phật Thế Tôn vào Niết Bàn. Sau khi nói lời ấy rồi, thân
tâm dao động, không thể tự giữ lại được, liền bạch
tiếp rằng :
Như
Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn từ trong dòng họ Thích mà sinh,
là bậc vua trên các vua, là vật quý của chúng sanh, làm sao
con nay có thể nhìn thấy Đức Phật vào Niết Bàn. Là người
lân mẫn của tất ả thế gian, là bậc có hình tướng trong
tất cả thế gian khó có. Làm đèn cho tất cả thế gian, làm
cặp mắt cho tất cả thế gian. Vì tất cả thế gian mà tạo
ra trí tuệ, chiếủ phá tất cả thế gian nầy. Ngày mai xa
lìa không còn giữ lại gì cả. Sau khi nói lời như thế Đức
Thương Chủ Như Lai bảo Ngài La Hầu La rằng :
Hãy
dừng lại La Hầu La! hãy đừng lo buồn! La Hầu La! đã chẳng
nghe Như Lai dạy sao. Tất cả các hành đều vô thường, tất
cả các hành đều khổ, tất cả các pháp đều vô ngã. Chỉ
có Niết Bàn tịch tịnh mà thôi. Nầy La Hầu La! Đức Phật
Thế Tôn đã nói kệ như sau :
Các
hành vô thường
Là
pháp sanh diệt
Sanh
rồi lại mất
Mất
ấy là vui.
La
Hầu La thưa! Như vậy Thế Tôn. Phật bảo La Hầu La! Đức
Thế Tôn kia đã nói những lời như vầy : Tất cả sự yêu
thương và ham muốn, phải thay đổi sanh diệt, ly tán. Dàu
cho có ở lâu, cũng phải ra đi. La Hầu La thưa : Như thế đó
Bà Già Bà. Như thế đó Tu Già Đà!
Phật
bảo : Nầy La Hầu La! Các pháp hữu vi sanh ra các pháp, đều
phải biết rằng các pháp nầy do sự phân biệt mà sanh khởi.
Từ nhân duyên đó mà sanh; nếu không mất đu, tức không đúng
vậy.
Lúc
bấy giờ Ngài La Hầu La liền nhớ nghĩ đến Sư phụ mình
là Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Biến Tri rồi rơi
lệ và nói như vầy:
Ta
từ ngày mai sẽ không thấy các vị Phật và các Tỳ Kheo vây
chung quanh Phật nghe pháp, như trong biển lớn là núi Tu Di Vương,
vì trang nghiêm chúng mà chiếu sáng các quang minh, giống như
mặt trăng tròn đầy với các ngôi sao vây chung quanh, như mặt
trời có ngàn ánh sáng chiếu rọi vào, như trong biển lớn
có chất chứa rất nhiều của quý, như Chuyển Luân Vương
có rất nhiều quyến thuộc bao bọc chung quanh, như Tuyết Sơn
Vương các hoa đẹp đẽ đang khai nhụy thắm, như núi Thiết
Vi tất cả gió ác đều chẳng thể động. Như vậy kính bạch
Thế Tôn, tất cả luận nghị của ngoại đạo không thể
làm lay động được. Giống như hoa sen ở trong hồ, không
vì thế gian mà có thể ô nhiễm, cũng giống như quyến thuộc
của Đại Phạm, giống như Đế Thích có hằng ngàn con mắt,
như chúa sư tử ngồi nơi tòa sư tử không sợ khủng bố,
lìa các sợ hãi mà gầm tiếng sư tử. Con từ ngày mai không
thể thấy được.
Sau
khi La Hầu La nói lời ấy rồi, đứng đó tự nhiên nước
mắt chảy ròng. Lúc bấy giờ Đức Thương Chủ Như Lai bảo
La Hầu La rằng :
Ta
nay vội đến chỗ Phật kia, vì Đức Như Lai cũng muốn gặp
ta. Nầy La Hầu La! Ta nay phải đi vội, đừng nên hỏi nữa
mà hãy đến đó. Hãy đừng lo sầu với Thế Tôn kia. Nầy
La Hầu La ta phải đi đây. Vì sao vậy ? Nầy La Hầu La! Các
pháp của chư Phật và Phật vì lòng từ bi mà muốn thấy
ta, chưa nhập Niết Bàn.
Lúc
bấy giờ Ngài La Hầu La đầu mặt lễ chân Phật Thương Chủ
rồi, giống như tráng sĩ vội vã đi ngay. Sau khi đi nhanh, La
Hầu La đã đến nơi Phật, tại thành Câu Thi Na, nơi giữa
hai cây Sa La song thọ, đến nơi Như Lai lại tỏ bày như vầy.
Sau đó đầu mặt đem lễ nơi chân và từ bên phải nhiễu
quanh 3 vòng rồi đứng một phía, ưu sầu khóc lóc chắp tay
rơi lệ.
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn mới bảo La Hầu La rằng : Nầy La
Hầu La! Hãy đừng sầu bi luyến tiếc, khóc lóc khổ não,
làm cho tâm sẽ phiền não. Nầy La Hầu La! Ta vì bổn phận
làm cha, đã làm xong, ta cũng lại vì con mà đã làm xong bổn
phận. Nầy La Hầu La! Hãy đừng sanh tâm luyến lưu sầu khổ
nữa. Nầy La Hầu La! Ta cùng với tất cả chúng sanh, chứng
được sự không sợ hãi, khuyên họ phát tâm tinh tấn, đừng
lo sợ nữa, cũng đừng cho não hại sai khiến mà hãy tinh tấn
lên. Nầy La Hầu La! Ta nay đang vào Bát Niết Bàn, không còn
có thể làm gì nữa. Nầy La Hầu La! Ta có 2 việc cần phải
đầy đủ. Đó là không làm não loạn và không làm chuyện
giận hờn.
Lúc
bấy giờ La Hầu La bạch Phật rằng : Kính bạch Thế Tôn!
Bà Già Bà hãy khoan vào Niết Bàn! Tu Đà Già! Hãy khoan vào
Niết Bàn. Duy nguyện Thế Tôn! Hãy ở lại đời thêm một
kiếp nữa. Vì sự an ổn lợi lạc của chúng sanh vậy. Kính
mong Ngài lân mẫn cho. Hãy vì sự lợi ích an lạc của trời
người vậy !
Sau
khi nói lời như thế rồi. Phật bảo Ngài La Hầu La rằng
:
Nầy
La Hầu La! Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đã biết tường
tận các pháp. Vì trong thế gian mà có danh hiệu là Phật.
Nầy La Hầu La! Nơi Phật pháp đó, không thể tiêu diệt được,
không sanh không diệt, không đến không đi, không thành không
hoại, không ngồi không nằm, không hợp không tan. Vì sao vậy
? Nầy La Hầu La! Các pháp ở lại có nghĩa là không sanh, không
diệt, không không và cũng không tự tánh, tịnh tịnh Niết
Bàn, không vào nơi nhiều ít, còn mất. Không thể nói, không
dùng lời lẽ để diễn tả con đường nầy. Đây là Phật
Pháp, cho nên luôn luôn tồn tại, không bị mất đi, không
bị chia lìa, cũng chẳng muốn chia lìa, cũng chẳng phải chẳng
hòa hợp, chẳng làm, không cùng tận. Nầy La Hầu La! Ta đã
tùy theo từng loại mà tuyên thuyết pháp nầy. Giả sử nếu
chư Phật ra đời hay chẳng ra đời, tất cả các pháp nầy
đều tồn tại. Các pháp nầy đều giữ nguyên như vậy. Pháp
nầy không thay đổi, pháp nầy lìa khỏi sự mong cầu. Pháp
nầy không có tự tánh vậy. Nầy La Hầu La! Như thế đó!
Như Lai không có tướng giới để vào Bát Niết Bàn! không
có tướng định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến để
vào Bát Niết Bàn. Này La Hầu La! Hãy đừng buồn khổ, luyến
tiếc nữa. Nầy La Hầu La! Tất cả các hành đều không thường,
không định, không có hy vọng, không có cái cuối cùng của
không thường và các pháp biến đổi. Nầy La Hầu La! Cho đến
tất cả các việc làm nào đó chỉ để cầu giải thoát.
Nầy La Hầu La! Đó là lời dạy của ta.
Sau
khi Đức Phật nói cho La Hầu La thấy rõ rồi, lúc bấy giờ
có 60 Đại Đức Tỳ Kheo, tất cả các lậu đã hết; tâm
được giải thoát. 25 Tỳ Kheo Ni cũng được tâm giải thoát
và chứng được vô lậu. Rất nhiều trời người xa rời
trần cấu được pháp nhẫn thanh tịnh. 68.000 Bồ Tát được
Vô Sanh Pháp Nhẫn. Tá cả đều vui mừng lãnh thọ. Đều kêu
lên là : Phật Pháp khó thể nghĩ bàn! Lại nữa các loại
hoa như : Ưu Bà La, Ba Đầu Ma, Câu Ni Đầu, Phần Đà Lợi
được rải chung quanh Phật và cất lên lời rằng : Chúng
con vì đời sau cũng làm như vậy, làm Thầy của trời và
người, xuất hiện nơi đời, nói những pháp thế gian vô
thượng, vô tướng Niết Bàn. Đại Niết Bàn như vầy là
Bát Niết Bàn. Các vị Bồ Tát nói lời như thế rồi, yên
lặng mà đứng như thế.
- Phẩm
Ca Diếp thứ năm
Lúc
bấy giờ Ngài A-Nan tại bên giường Phật bi thương khóc lóc
gieo mình xuống đất, dụ như rừng già mất đi cây lớn,
nên mới thưa rằng :
Bà
Già Bà vào Niết Bàn quá sớm! Tu Già Đà Niết Bàn quá sớm.
Trong chúng sanh là bậc Đại Từ Bi vào nơi an ổn quá sớm.
Là đèn của thế gian, là ánh sáng của trời người; nhưng
vào Niết Bàn quá sớm. Hoa sen quý của chúng sanh vào Niết
Bàn quá sớm. Là bậc long tượng của chúng sanh, tự điều
phục, lại điều phục chúng sanh, còn nhiều người chưa độ,
đã vội vào Niết Bàn. Là bậc Vô Thượng Đạo Sư đã vì
thế gian mà làm cho an ổn lại vội đi nhanh thế. Dùng mắt
trí tuệ để rọi soi thế gian, lại đi sớm thế. Thế gian
nầy như người đui, không có kẻ dẫn đường. Là cha mẹ
của chúng sanh trong thế gian, sao vội đi nhanh thế. Thế gian
sẽ cô độc không chỗ để nương nhờ. Là hạng quý giá
trong thế gian, làm sao mà ngày mai ta không còn thấy được
nữa! tuy chỉ còn tên tuổi tại thế gian thôi.
Lúc
bấy giờ Đức Phật mới bảo Ngài A-Nan rằng :
Hãy
dừng lại! A-Nan! Hãy đừng sầu bi nữa! Ta đã từng nói về
tất cả những sự luyết tiếc. Tất cả cái gì hòa hợp
ắt có ngày sẽ ly tán. Nầy A-Nan! Các pháp hữu vi có sanh
thì phải biết rằng pháp nhân duyên ấy phải hoại diệt.
Nếu không bị hoại, không thể được như vậy. Nếu có ở
đời, lại không tồn tại. Nầy A-Nan! Nếu có pháp mà sống
đời đời như thế, tất cũng phải có chia lìa. Cho nên A-Nan
đừng sầu bi nữa.
Lúc
bấy giờ Ngài A-Nan chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt
không rời và suy nghĩ. Lúc ấy dụ như rừng cây mất đi cây
lớn.
Phật
lại bảo A-Nan rằng :
Nầy
A-Nan! Hãy dừng lại! Hãy đừng sầu khổ! cũng đừng lo buồn
mong ta ở lại đời. Nầy A-Nan! Ta đã từng dạy phàm tất
cả các luyến ái, các pháp hữu vi hòa hợp, tức có biệt
ly. Giả sử ở đời lâu dài có thể cũng phải mất đi như
các pháp vậy. Nầy A-Nan! Từ thân miệng từ bi hiếu đạo
của Như Lai, vô lượng tâm an lạc không có hai, không sân
không hận và không lo buồn.
Lúc
bấy giờ Ngài A-Nan, từ đất đứng lên vừa khóc vừa thưa
:
Bạch
Đức Thế Tôn: Con làm sao không sầu được! làm sao không
buồn được. Con cùng với tất cả những người có lòng
thương, cùng với tất cả những người trong thế gian, cùng
với những người lân mẫn của thế gian, cùng với tất cả
những người yêu thương của thế gian, cùng với tất cả
những người trở về của thế gian, những người lãnh đạo
của thế gian, những người vì lợi ích của tất cả thế
gian, người vì sự an lạc của thế gian, như vậy đó, là
bậc quý giá của chúng sanh ngày mai đây phải ly biệt.
Lúc
bấy giờ Ngài A-Nan klhóc than xong rồi tiếp. Lạ thay, lạ
thay! Các hành là một xác chết mà làm chỗ thờ, có thể
như ánh sáng soi rọi. Ánh sáng lớn trong mọi ánh sáng, có
trăm ngàn ức na do tha quyến thuộc vây quanh, làm cho thế gian
nầy thấy biết nhớ nghĩ đến cảnh giới trí huệ, làm cho
chúng sanh yên ổn nhưng mau quá. Bậc đại trí huệ! Bậc đại
quang minh! Vì thế gian an ổn mà đi nhanh quá! Thế gian cô độc.
Người giữ gìn sự yên ổn chưa xong đã vội ra đi. Đức
Như Lai có đầy đủ thần thông biến hóa mà nay thì làm cho
thế gian yên ổn chưa xong đã vội đi. Bạch Thế Tôn! Con
làm sao không sầu được, con làm sao không buồn được. Bạch
Thế Tôn! Con bây giờ tự ngờ tâm mình mà không phá đi hết.
Bạch Thế Tôn! Con lại tự ngờ không ở trước Phật mà
mất đi, tức thời Phật dùng thần lực mà cứu con. Cho nên
con không chết được. Vì sao vậy ? Vì con đã nhận lãnh chỗ
yếu pháp của Như Lai, 8 vạn 4 ngàn các pháp tạng đã thọ
trì không quên, vì chưa lưu truyền cho mười phương trời
người vậy. Bạch Thế Tôn! Con vì sự gia bị của Phật mà
con chưa mệnh chung. Bạch Thế Tôn! Con làm sao không sầu! Làm
sao chẳng buồn. Bạch Thế Tôn! Con sẽ đến thành Ca Tỳ La
nơi Đức Thế Tôn đã sanh, tập trong dòng họ Thích lại để
nói lời gì ? Lời nói đó là hôm nay Đức Thích Ca Mâu Ni
bậc chúng trung tôn, vô thượng pháp vương sắp vào Niết
Bàn. Con đến thành Vương Xá gặp Tỳ Đề Hy Tử A Xà Thế,
nói lời thế nào ? Có thể nói Đức Phật hôm nay vào cõi
vô dư ? Bậc hay cứu thế gian tội vô gián nay sắp đi rồi.
Con đến thành Xá Bà Đề, phải nói lời nào ? Có thể nói
bậc Đại Bi lân mẫn của thế gian đi vào cõi yên ổn. Con
đến rừng Kỳ Đà nơi Trưởng Giả Cấp Cô Độc và sẽ
bị hỏi rằng : Khi nào thì Như Lai đến ở nơi cây của Kỳ
Đà và vườn Cấp Cô Độc ? Con phải đáp sao đây ? Con đến
thành Tỳ Xá Ly trước các vị Ly Xa Tử phải nói những gì
? Có thế nói bậc lân mẫn của thế gian là tối đại tôn
sư sẽ yên ổn ra đi chăng ? Nhiều nơi các bậc trai lành gái
tốt đến hỏi con, con phải đáp sao đây ? Có thể nói rằng
bậc đại trí của thế gian, là bậc đã đoạn tất cả nghi
và an ổn ra đi. Các vị Tỳ Kheo vì muốn thấy Phật cúng
dường và lễ bái và hỏi con rằng Thế Tôn bao giờ làm lễ
Bố Tát ? Lại đến hỏi pháp, lại đến hỏi ý nghĩa! Con
như không nghe không thấy họ mà nói rằng sau khi Thế Tôn
tịch diệt sẽ có thần thông biến hóa và những kẻ phạm
hạnh sẽ ở đời. Con làm sao không sầu, không buồn được.
Sau
khi nói lời ấy, Phật bảo Ngài A-Nan rằng :
Nầy
A-Nan! Hãy đừng! Hãy đừng sầu khổ! Ta đã vì phạm hạnh
mà giảng rộng, dạy khắp đã ở thế gian và vì lợi ích
trời người. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ 400 năm Ca Diếp
cùng các đệ tử sẽ khai triển dạy dỗ và hóa độ chúng
sanh. Tu hành phạm hạnh lợi ích trời người, Nầy A-Nan! Hãy
đừng sầu khổ. Chánh pháp của ta đang lưu truyền rộng rãi,
ở lâu trên đời và sẽ làm lợi ích cho chúng sanh. Nầy A-Nan!
Sau khi ta vào Niết Bàn, Tỳ Kheo Ca Diếp cùng với các vị
khác sẽ phát tâm, nghe ta mà vân tập vô lượng A Tăng Kỳ
Uế Na Do Tha kiếp, vô thượng tam muội tam bồ đề pháp, làm
lợi ích việc lành không cho lui sụt. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan!
Tỳ Kheo Ca Diếp vì muốn ít biết đủ, xa rời siêng năng.
Vui không quên hẳn. Vui không đùa giỡn mà trí tuệ hiện tiền.
Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp sẽ vì đại chúng mà dạy dỗ
lợi lạc vậy. Vì phạm hạnh mà thuyết pháp không vì quyền
lợi như cha mẹ vậy! Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp sẽ cùng
với bốn chúng mà nhìn thế gian một cách lân mẫn. Vì muốn
cho lợi ích và an lạc chúng sanh ở cõi trời cũng như người
vậy.
Phát
tâm như thế rồi, lúc ấy A-Nan bạch Phật rằng :
Kính
bạch Thế Tôn! Tỳ Kheo Ca Diếp, phát tâm như thế đó vì
lời hứa làm lợi lạc cho trời người.
Phật
bảo :
Nầy
A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp khi nhập Niết Bàn sẽ có lời thệ
nguyện rằng :
Nếu
ta sau khi diệt độ, thần lực của ta sẽ gia trì làm cho chiếc
y quấn nơi thân ta không biến không hoại, lông tóc màu sắc
các căn từng loại cũng không biến hoại, cho đến khi nào
Đức Di Lặc Như Lai Ứng Chánh Biến Tri xuất thế, làm cho
ta thấy được Thế Tôn và gặp ở hội thứ nhứt, thứ nhì
và thứ ba. Ủây là do nguyện lực gia trì của ta vậy. Làm
cho trăm ngàn chúng sanh, nhiều ngàn vạn chúng sanh, nhiều trăm
ngàn ức Na Do Tha chúng sanh được chứng quả Thánh. Nếu Phật
Di Lặc thấy thân y của ta không hoại, không đổi và cả
3 hội Thinh Văn cũng đều thấy thân ta không hoại cùng với
các căn đều khắp và Cà-Sa rồi, lúc ấy thân ta ở trên
không trung, tự thiêu thân ta, thiêu rồi lửa dứt. Nầy A-Nan!
Đó là sự phát tâm của Ca Diếp làm lợi ích an lạc cho chúng
sanh. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp! Nhờ nguyện lực như thế
mà được gia trì vậy. Sau khi đã thành thục những chúng
sanh như thế rồi mới vào Niết Bàn. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca
Diếp sau khi vào Niết Bàn có 4 núi đá di chuyển đếnnơi
Ca Diếp cùng với thân ấy hợp thành một. Nầy A-Nan! Thân
của Ca Diếp ở giữa 4 hòn núi ấy chẳng biến hoại, mãi
cho đến khi Di Lặc xuất thế, tùy thời dạy dỗ, thân của
Tỳ Kheo Ca Diếp cũng không hoại diệt. Từ y áo Cà-Sa cho đến
chỗ ở cũng không bị hoại. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Vì giữ
tịnh giới vậy. Vì tu phạm hạnh vậy. Vì kẻ có trí tuệ
vậy. Cho nên sở nguyện hay thành. Không giới, không tịnh,
không tu phạm hạnh, không trí có muốn cũng khó thành tựu.
Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp trước khi phát nguyện gia trì rồi
mới vào Niết Bàn. Sau khi vào Niết Bàn rồi, thân của Ca
Diếp không bị biến đổi, tóc, máu, thịt và các cơ quan
trong người cùng với y phục cũng không biến hoại. Thân cũng
không hôi. Cho đến Di Lặc. Nầy A-Nan! Khi Đức Di Lặc ra đời
cùng với 96 ức Tỳ Kheo đến nơi Ca Diếp. Nầy A-Nan! Đức
Phật Di Lặc vì thân Ca Diếp mà thị hiện 96 ức Tỳ Kheo
và ở trong pháp của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai làm bậc
Đại Thanh Văn tu hạnh đầu đà, thiểu dục tri túc, siêng
năng xa rời. Vui không quên, vui không giải đãi, định huệ
hiện tiền. Hay vì chúng sanh mà hiển bày chỉ dạy lợi ích.
Vì các bậc phạm hạnh mà thuyết pháp không hề lao nhọc
như cha mẹ. Nầy các Tỳ Kheo. Đó là Tỳ Kheo Ca Diếp, ở
trong 4 chúng mà thấy xa lìa, không nghi hoặc mà hay tùy thuận
chúng sanh. Nầy chư Tỳ Kheo! Hãy xem Ca Diếp vì hay thương
tưởng thế gian. Vì sự lợi ích an lạc của tất cả chúng
trời người mà phát tâm như vậy. Nầy A-Nan! Di Lặc Như Lai
Chánh Biến Tri, hội thứ 2 sẽ cùng với 94 ức các vị Thanh
Văn đến chốn nầy và kỳ thứ 3 cùng với 92 ức Thanh Văn
đến nơi Ngà Ca Diếp. Nầy A-Nan! Vị Phật Di Lặc kia đã
dạy cho 92 ức Tỳ Kheo rằng : Tỳ Kheo Ca Diếp ở trong pháp
của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai, là bậc Đại Thanh Văn tu
hạnh Đầu Đà hay phát tâm muốn ít biết đủ và vì lợi
ích an lạc của tất cả chúng sanh trời người vậy. Nầy
A-Nan! Đức Di Lặc Như Lai lúc ấy phóng hào quang nơi tay mặt
đến đỉnh đầu Ca Diếp và quan sát nói với các Tỳ Kheo
:
Nầy
chư Tỳ Kheo! Đây là Tỳ Kheo Ca Diếp: Sau khi Đức Thích Ca
Mâu Ni Phật diệt độ thì tuyên dương giáo pháp ấy rộng
sâu, như trong chúng đây không có một người nào như sau khi
ta diệt độ mà quảng tuyên giáo pháp của ta như Ca Diếp
nầy vậy. Nầy A-Nan! Đó là Tỳ Kheo Ca Diếp, ở 3 hội nơi
vị Phật kia vì bổn nguyện mà gia trì vậy. Tại hư không
hiện nhiều loại thần thông nhiều loại biến hóa rồi, tự
thiêu thân mình. Khi thiêu xong không hiện lại nữa.
Lúc
bấy giờ Ngài Di Lặc Phật đã tuyên dương Ngài Ca Diếp rồi
cùng với 92 ức Tỳ Kheo mà tuyết pháp cùng với nhiều trăm,
ngàn, ức Na Do Tha và trăm ngàn chư Thiên, loài người được
chứng thánh đạo. Nầy A-Nan! Tỳ Kheo Ca Diếp phát tâm lợi
ích cho nhiều chúng sanh như vậy. Cũng lại vì phát tâm làm
lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh. Như thế đó A-Nan!
Tỳ Kheo Ca Diếp cùng với sự phát tâm kia và qua 400 năm vẫn
duy trì chánh pháp của ta và làm các thần thông biến hóa
tu hành phạm hạnh. Vì lợi ích tăng trưởng cho Trời Người
vậy.
- Trì
Chánh Pháp - Phẩm thứ sáu
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo A-Nan rằng : Hãy đừng sầu
khổ! Ta đã hết lòng truyền dạy khắp nơi, đã làm lợi
lạc cho Trời Người. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ tại thành
Ma Du La nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà có Tăng Già Lam tên là Na
Trì Ca và tại đó có vị Tỳ Kheo tên Tỳ Đề Xa, có thần
thông lớn và oai sức lớn. Chánh trí đắc đạo, đa văn không
sợ. Giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Vì các
phạm hạnh mà thuyết pháp giáo hóa lợi lạc không ngừng.
Vị đó cũng tạo nên những thần thông, biến hóa, tu hành
phạm hạnh. Rộng rãi lưu truyền chánh pháp của ta và vì
sự lợi ích của trời người vậy. Nầy A-Nan! Hãy đừng
sầu khổ! Sau khi ta diệt độ, nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà, ở
Tăng Già Lam Na Trì Ca có Tỳ Kheo tên Đề Tri Ca có đại thần
thông cùng oai lực lớn và có phạm hạnh thuyết pháp không
ngừng. Hay vì giáo pháp của ta mà tuyên dương giáo hóa không
ngừng cho trời người. Nầy A-Nan! Hãy đừng ưu bi nữa. Sau
khi ta diệt độ tại nơi núi Ưu Lầu Mạn Trà có núi tên
là Ưu Thi La; nơi ấy có 40.000 Tỳ Kheo đang tập họp và hầu
như vị nào cũng có thần thông và oai lực lớn, chứng được
đạo quả, đa văn vô úy, giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng và
Luận tạng. Các vị nầy có thể dùng phạm hạnh của mình
để giáo hóa làm lợi lạc thuyết pháp cho chúng sanh, không
mỏi mệt. Những vị Tỳ Kheo nầy có thần thông biến hóa,
tu hành phạm hạnh. Vì chánh pháp của ta mà rộng nói lưu
hành. Họ vì sự lợi lạc của Trời Người mà làm như thế.
Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Sau khi ta diệt độ tại núi
Ưu Lầu Mạn Trà có Tỳ Kheo tên là Ưu Ba Cúc Đa có đại
thần thông và đại uy lực và lại cũng có thần thông biến
hóa tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp của ta mà rộng rãi lưu
bố để lợi lạc trời người. Nöi đó cũng có một ngàn
vị A La Hán. Cùng với 88.000 vị Tỳ Kheo cùng Bố Tát và làm
phép Yết Ma. Tâm không khi dối và hay giúp đỡ nhau. Họ là
những bậc thần thông biến hóa tu hành phạm hạnh. Vì chánh
pháp của ta mà lưu hành rộng rãi. Họ vì lợi lạc của Trời
Người mà làm. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ nữa! Ưu Ba
Cúc Đa cùng các đệ tử vì giáo pháp của ta mà lưu hành
rộng rãi. Vì trời người mà hay thuyết giảng. Nầy A-Nan!
Hãy đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ, tại thành Ba Ly Phất,
có Tăng Già Lam tên là Bạt Đa Ni, nơi đó có vị Tỳ Kheo
tên là A Thâu Bà Cúc Đa có 3 minh, 6 thông và 8 giải thoát.
Thiền Định Trí Tuệ giải thoát tự tại. Có đại thần
thông và oai thế lớn. Vị ấy có đại thần thông biến hóa
tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp của ta mà rộng tuyên giải
nói tăng ích cho trời người. Nầy A-Nan! Chớ đừng sầu khổ.
Sau khi ta diệt độ tại thành Ba Ly Phất có Tăng Già Lam tên
là Cüu Cüu Tra có Tỳ Kheo tên là Tước Đa La có đại thần
thông và uy lực lớn cho đến có thể biến hóa thần thông
tu hành phạm hạnh làm cho giáo pháp của ta được lưu truyền
và chánh pháp càng tăng trưởng để lợi lạc trời người.
Nầy A-Nam! Hãy đừng sầu khổ nữa! Phạm hạnh của ta đang
được lưu truyền. Tất cả đều vì sự lợi lạc của trời
người vậy.
Nầy
A-Nan! Sau khi ta diệt độ tại nước Ương Già có các Thanh
Văn vì ta mà làm hội Bàn Già Phạt Sắt, nơi đó có 13.000
vị A La Hán vân tập. Họ đều có tất cả thần thông lớn.
Gồm đủ các oai lực và nhiều thậm thâm vi diệu, cho đến
các phạm hạnh và thuyết pháp làm lợi lạc quên sanh. Nơi
ấy có vị Thượng Tọa tên là Đà Điệu Trà có đại thần
thông và oai lực lớn và thậm thâm vi diệu. Vì các phạn
hạnh mà nói pháp không mỏi mệt. Vị ấy lại cũng có thần
thông biến hóa, tu hành phạm hạnh. Vì chánh pháp của ta mà
lưu hành rộng rãi. Tất cả đều vì lợi ích của trời người.
Nầy A-Nan! Hãy đừng ưu não! Sau khi ta diệt độ tại thành
Kim Bát Tất Đà có 2 vị Tỳ Kheo từ hàng Bà La Môn mà xuất
gia, một tên là Tỳ Đầu La, hai tên là Sách Xà Già, các vị
đều có thần thông đầy đủ, uy lực thậm thâm. Cho đến
việc biến hóa thần thông, tu hành phạm hạnh. Vì giáo pháp
của ta mà rộng nói lưu truyền làm lợi lạc cho Trời Người.
Nầy
A-Nan! Hãy đừng khóc nữa. Sau khi ta diệt độ tại thành Bà
Kê Đa có vị Tỳ Kheo tên là Đại Tinh Tấn có đầy đủ
thần thông và uy đức lớn, cho đến việc biến hóa thần
thông tu hành phạm hạnh, làm cho giáo pháp của ta rộng rãi
lưu truyền lợi lạc nhơn thêm. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu
khổ! Sau khi ta diệt độ có Tỳ Kheo tên Mạt Điền Đề có
3 minh, 6 thông và 8 giải thoát đầy đủ; Thiền Trí 2 phần
giải thoát tự tại, có thần thông lớn đầy đủ uy lực
cho đến các phạm hạnh, thuyết pháp không mỏi mệt. Tại
phía Bắc Ấn Độ, nơi sông Phạt Tân có rất nhiều Rồng,
Dạ xoa, Càn Thát Bà v.v... Có thân thể mạnh khỏe, đang ở
nơi sông. Khi vị Tỳ Kheo Mạt Điền Đề đến nơi ấy, liền
đó các Rồng, Dạ xoa và Càn Thát Bà v.v... đếnchiến đãu.
Sau đó Tỳ Kheo Mạt Điền Đề dùng thần thông biến hóa.
Dùng pháp để hàng phục Rồng, Dạ xoa, Càn Thát Bà v.v...
làm cho chúng phải kính tin. Sau khi làm cho kính tin rồi, ra
lệnh cho người tại sông Phạt Tân tạo dựng Chùa Viện cho
các Thán Văn và đã có hằng trăm, hằng ngàn Thanh Văn vân
tập tại đó.
Nầy
A-Nan! Đó là Tỳ Kheo Mạt Điền Đề, vì tất cả mà đến
đó để làm việc tốt như thế. Nầy A-Nan! Nếu ta có nói
đến hay xưng dương tán tụng công đức vị Tỳ Kheo Mạt
Điền Đề kia cho đến bao giờ cũng không thể hết. Nầy
A-Nan! Đó là Mạt Điền Đề Tỳ Kheo. Đầy đủ các công
đức và hay dùng luật pháp của ta mà tu hành phạm hạnh.
Vì trời người mà làm lợi lạc quần sanh. Nầy A-Nan! Hãy
đừng sầu khổ! Sau khi ta diệt độ tại phía Bắc Ấn Độ
có nước Càn Đà La, có vị Tỳ Kheo tên là Ca Diếp có đại
thần thông và đầy đủ oai lực vô cùng, trí tuệ, chứng
đạo, đa văn, không sợ hãi. Giữ gìn Kinh tạng, Luật tạng
và Luận tạng cho đến làm cho chánh pháp của ta được lưu
hành rộng rãi. Nầy A-Nan! Hãy đừng lo buồn! Sau khi ta diệt
độ ở phía Bắc Ấn Độ có một thành tên là Đắc Xoa Thi
La, có vị Trưởng Giả tên là Xà Tri Ca, tên vang dội khắp
nơi, là bậc giàu có. Có nhiều của quý cùng công đức trí
tuệ lớn, đoan chánh khả ái, tướng tốt số một. Ông Trưởng
Già Xà Tri Ca kia tin sâu nơi ta và các Thanh Văn, cúng dường
cung kính, tôn trọng ngợi khen. Từ đó vun trồng căn lành
giác ngộ và trải qua sau đó đủ một ngàn kiếp, chứng được
quỷ vị Phật. Tên vị Phật ấy là Phổ Quang. Kiếp đó tên
là Tạo Hiền. Thế giới ấy tên là Cụ Đại Trang Nghiêm.
Nầy A-Nan! Vị Trưởng Giả Xà Tri Ca đó vì chánh pháp của
ta mà làm lợi lạc lưu bố rộng ra cho trời người. Nầy
A-Nan! Hãy đừng bi lụy nữa! Sau khi ta diệt độ tại miền
Bắc Ấn Độ có một vương đô tên là Phú Ca La Phạt Đế.
Nhơn dân nơi ấy giàu có an vui. Nơi đó cũng có nhiều các
vị Trưởng Giả Bà La Môn và Cư Sĩ. Tùy thuận theo kinh điển,
tin sâu nơi ta và các Thanh Văn, cúng dường cung kính, tôn trọng
ngợi khen. Vị ấy có nhiều đệ tử Thanh Văn, có đại thần
thông và uy lực rất lớn. Nầy A-Nan! Vị đó cũng có nhiều
Trưởng Giả Cư Sĩ chánh trí chứng đạo và không sợ hãi.
Có đầy đủ trí huệ. Nầy A-Nan! Tại Vương đô Phú Ca La
Phạt Đế kia cũng có các vị tại gia áo trắng, sau khi mất
họ được sanh về cõi trời Đẩu Suất. Còn các vị xuất
gia thì phải đọa địa ngục. Vì sao vậy ? Vì họ không giữ
gìn giới và hành trì luật nghi vậy. Nầy A-Nan! Tại Vương
đô Phú Ca La Phạt Đế kia cũng có các Bà La Môn Trưởng Giả
Cư Sĩ nữa, liền niệm lên rằng : Chánh pháp của Đức Thích
Ca Mâu Ni đương đi xuống. Vì sao vậy ? Vì các Tỳ Kheo vì
sợ sự lợi dưỡng và tăng thêm lòng tham, không gìn giữ
cấm giới, tâm hay tán loạn, không vui sống nơi núi rừng,
xa rời thiền định; cùng với tứ chúng đến lui phá hoại
giới luật. Cùng với các vị Bà La Môn, Trưởng Giả Cư Sĩ
cũng vậy. Vì chỗ thân tình qua lại, không tương kính nhau.
Ăn uống biếu xén hoa quả với nhau, không nương vào giới
luật, không giữ giới dân cùng với phụ nữ. Các vị Bà
La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ nầy thấy nghe các Tỳ Kheo làm việc
phi pháp ấy tâm sanh lo sợ, não phiền nên nói lời rằng :
Giáo
pháp của Phật đã tàn lụn rồi! Lúc bấy giờ họ về lại
Vương đô Phú Ca La Phạt Đế, lúc ấy có vị Ưu Bà Tắc
tên là Pháp Tăng, có đại thần thông, có thế lực và phước
đức to lớn, chánh trí chứng đạo, đa văn không sợ, trì
giữ Kinh điển, Luận tạng một cách linh động. Vị Ưu Bà
Tắc ấy vì muốn làm cho các Bà La Môn Trưởng Giả Cư Sĩ
ấy sanh tín tâm liền phóng lên hư không, chỉ bày lợi ích
và nói lời rằng :
Nầy
chư vị! Hãy khoan lo sợ nghi ngờ! Vì lẽ giáo pháp của Đức
Thích Ca Mâu Ni vẫn còn ở đời. Hãy phát tâm tinh tấn làm
các nghiệp lành; kẻ nào chưa chứng sẽ chứng, kẻ nào chưa
được sẽ được, kẻ nào chưa thành sẽ thành. Chánh pháp
nay vẫn còn đó hãy phát tâm nhanh lên. Lúc ấy các vị Bà
La Môn, Trưởng Giả Cư Sĩ tân hồn hoan hỷ mà làm việc bố
thí và tạo các công đức, vì ta mà trong sức xá lợi để
tu hành và khuyến tấn các Thanh Văn cúng dường, nghe hiểu,
thọ trì, đọc tụng rồi chuyển ra nói pháp. Thọ trì cấm
giới, khuyên tu thiền định. Các vị Bà La Môn Trưởng Giả
Cư Sĩ họ được tăng trưởng lợi lạc vui mừng. Tất cả
đều vui nơi đường lành av2 đường vào Niết Bàn. Nầy A-Nan!
Vị Ưu Bà Tắc kia hay vì giáo pháp của ta mà nói rộng cho
trời người được lợi lạc. Như thế đó A-Nan! Sau khi ta
diệt độ có nhiều người thế tục giàu có vì pháp của
ta mà tin sâu và chứng đắc và họ đã từ trong vô lượng
kiếp đã cúng dường hằng trăm hằng ngàn chư Phật, trồng
các thiện căn và vì Xá Lợi của ta mà trang nghiêm tu hành
như thế và các Thanh Văn cúng dường cung kính tôn trọng,
tán thán. Nầy A-Nan! Họ cũng vì giáo pháp của ta mà lưu hành
rộng rãi làm lợi ích cho trời người.
Nầy
A-Nan! Sau khi ta diệt độ, đến đời sau về phía Bắc Ấn
Độ có Tỳ Kheo tên là Kỳ Bà Ca ra đời. Vì trong đời quá
khứ vô lượng chư Phật đã trồng căn lành, cúng dường
cung kính, tin sâu đầy đủ, ở yên trong pháp Đại Thừa và
cũng vì muốn cho các chúng sanh được an ổn lợi lạc; nên
đã phát tâm đa văn, giữ Bồ Tát tạng, xưng dương Đại
Thừa và làm cho Đại Thừa phát triển. Vị Tỳ Kheo nầy khi
thấy tháp miếu Xá Lợi của ta bị phá hoại liền sửa sang
tu bổ, dùng vàng để trang trí và lập nên tràng phan, bảo
cái, chuông linh phát ra những âm thanh vi diệu cùng tạo ra
rất nhiều hình tượng và tháp miếu Như Lai mà những tháp
miếu nầy đều trang nghiêm bằng hình bán nguyệt sư tử.
Làm cho trời người sanh tâm vui mừng. Vì muốn đầy đủ
căn lành giác ngộ nên đã thương tưởng chúng sanh, hộ trì
dưỡng dục, giữ gìn các pháp của ta. Vì những kẻ không
có tín tâm làm cho tăng lòng tin và cũng đã làm cho sinh ra
nhiều căn lành, tạo nên hội Bàn Già Phạt Sắt Ca.
Nầy
A-Nan! Đương lúc giờ có nhiều Tỳ Kheo chẳng giữ cấm giới,
làm nhiều phi pháp; không vui ở nơi rừng vắng lại hay xa
rời thiền định. Phá giới, sai đạo và hay cãi vã, tham chứa
của cải, riêng chiếm một phòng, cùng với người thế tục
hỗ tương qua lại xa rời Phật Pháp. Với các phạm hạnh
không sanh kính trọng mà hình thức là một Sa Môn. Lúc ấy
có rất ít Tỳ Kheo siêng năng tinh tấn, xa rời nơi ồn náo
và chỉ nhứt tâm về thiền định, ở yên trong pháp lành
muốn ít biết đủ, vui tu khất thực. Ở yên trong dòng giống
Thánh, nghe nhiều không sợ hãi. Trì Kinh giữ Luật và đọc
tụng Luận tạng. Lúc bấy giờ Na Bà Ca Tỳ Kheo vì các Tỳ
Kheo khác mà mặc áo Cà-Sa, dùng tâm nhu hòa, các căn không
ngại, đầy đủ tin sâu, kỉnh trọng thứ nhứt. Khi mặc áo
Cà-Sa như thế liền khởi tâm giữ giới, làm ruộng phước,
hành bố thí, tu các căn lành. Na Bà Già Tỳ Kheo sau khi tu tập
vô lượng các loại giác ngộ và trồng căn lành rồi, lúc
ấy mệnh chung, sanh sang Tây Phương hơn trăm ngàn ức thế
giới chư Phật gọi là nước Vô Lượng Thọ. Tại nước
Phật kia cũng trồng những căn lành qua 80 ức đời chư Phật
vẫn tu phạm hạnh. Do căn lành nầy mà đời sau qua 99 ức
kiếp mới thành chánh giác. Tên Phật là Vô Cấu Quang. Thế
giới tên là Nhứt Thiết Công Đức Trang Nghiêm. Nầy A-Nan!
Na Bà Ca Tỳ Kheo kia vì giáo pháp của ta mà rộng nói lưu bố
lợi lạc trời người.
Nầy
A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Phạm hạnh của ta đương làm cho
trời người vui tin theo. Nầy A-Nan! Sau khi ta diệt độ đời
vị lai ở nước bên cạnh, nước tên là Nhựt Xá Ma. Vua của
nước kia tên là Đại Thí, vì pháp của ta mà sinh tín tâm
vì Xá Lợi và Thanh Văn của ta mà khuyến khích cúng dường
xưng dương tán thán. Nầy A-Nan! Vua Đại Thí kia tập hợp
các vị Thanh Văn và các Tỳ Kheo tại nước Xá Ma để tôn
trọng cúng dường. Nöi ấy có 3.000 A La Hán. Tất cả đều
có thần thông, công đức uy lực, cho đến vì phạm hạnh
mà thuyết pháp không mỏi mệt. Nầy A-Nan! Họ cũng vì chánh
pháp của ta mà rộng nói lưu hành lợi lạc trời người.
Nầy
A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Sau khi ta diệt độ, ở phía Bắc
Ấn Độ có thành tên là Hưng Cừ Vị Đán Na; nơi ấy có
được Xá Lợi của ta và tôn trọng cúng dường. Hoa vòng
hương xông, hương bột, âm thanh, kỹ nhạc, tràng phan bảo
cái, y phục, đồ nằm tất cả đều bằng vàng bạc dùng
để trang nghiêm. Nầy A-Nan! Lúc ấy tại Tịnh Xá có nhiều
người phát tín tâm mà xuất gia, thọ trì giới cấm, tu hành
pháp lành. Những người thế tục cũng tu hành các pháp lành
rất nhiều khó tính. Nầy A-Nan! Họ là những người giữ
giới, đa văn, có trí tuệ, từ trong pháp của ta mà được
lòng tin thanh tịnh. Vì Thanh Văn và Xá Lợi của ta mà khuyến
tu trang sức để cúng dường và vì Phật Pháp Tăng mà cúng
dường gia hộ. Vì căn lành nầy mà thọ phước báo trong cõi
trời người vậy, chứng được A Nậu Đa La tam miệu tam bồ
đề. Có kẻ chứng được Duyên Giác thừa, có kẻ được
Thanh Văn thừa mà vào Niết Bàn vậy. Nầy A-Nan! Họ tuần
tự như thế mà cúng dường, chứng được các thần thông
oai lực. Nầy A-Nan! Vì những người nầy mà khai thị diễn
nói. Vì sự lợi ích chánh pháp của ta mà lưu hành diễn nói
rộng rãi.
Nầy
A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Giáo pháp của ta sẽ được lưu
truyền rộng rãi làm lợi ích cho trời người. Nầy A-Nan!
Xá Lợi của ta và hình tượng của ta còn ở Diêm Phù Đề,
làm sao mà người ta không thấy được. Cho nên Trời, Rồng,
Dạ Xoa, La Sát, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn Na La,
Ma Hầu La Già, Cưu Bàn Trà v.v... tại trong cung điện lại
tạo hình tượng. Nầy A-Nan! Hãy đừng bi lụy! Giáo pháp của
ta đang được chư Thiên, loài người gìn giữ lưu hành rộng
rãi.
Phẩm
Xá Lợi thứ bảy
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo A-Nan rằng :
Sau
khi ta diệt độ, nếu có người con trai tốt, người con gái
lành nào, hoặc tại gia, hoặc xuất gia cho đến cúng dường
Xá Lợi của ta như hạt cải chẳng hạn và tỏ lòng cung kính
tôn trọng khiêm cung cúng dường thì ta nói rằng người nầy
có căn lành và tất cả sẽ chứng quả Niết Bàn cũng như
vào nơi Niết Bàn an lạc. Nầy A-Nan! Nếu sau khi ta diệt rồi,
nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào phát tâm kính
tin vì ta mà tạo lập hình tượng cũng như tháp miếu, thì
nầy A-Nan! Sẽ có tín tâm sâu rộng đừng ngại kỵ gì. Ta
nói rằng người nầy đã trồng căn lành và tất cả đều
được quả Niết Bàn cũng như chứng Niết Bàn. Nầy A-Nan!
Cho đến hiện tại cúng dường ta, cho đến sau khi ta diệt
độ cúng dường hạt cải và Xá Lợi hoặc kẻ tạo hình
tượng ta cho đến tháp miếu. Nầy A-Nan! Nếu có kẻ có tâm
với công đức niệm Phật hoặc dùng một cành hoa thảy vào
hư không, ta nói người nầy đã có căn lành, tất cả đều
được Niết Bàn quả và vào vô tận Niết Bàn. Nầy A-Nan!
Hoặc có kẻ thấy thần thông oai lực của Thế Tôn mà cúng
dường, cho đến dùng hoa rải vào hư không; ví dụ như thế
cũng chứng quả Niết Bàn. Hà huống là thân cận thừa sự
Như Lai để cúng dường như thế và cho đến người sau khi
ta diệt độ cúng dường Xá Lợi vậy. Nầy A-Nan! Cảnh giới
của chư Phật không thể nghĩ bàn. Nếu có người hay phát
tâm cúng dường thì sẽ được phước đức lại cũng khó
có thể nghĩ bàn được. Nầy A-Nan! Nếu có người niệm Phật
cho đến rải một bông hoa và không trung, ta dùng tri kiến
Phật để thấy rằng người nầy được quả báo bất khả
tư nghì, hãy tin như vậy! Hà huống về sau có Phật Tử có
lòng tin sâu và cung kính suy nghĩ cầu trí tuệ Phật.
Lúc
ấy ngài A-Nan nghe Phật nói rồi liền ghi nhớ phát tâm hoan
hỷ và bạch Phật rằng :
Hy
hữu Đức Bà Già Bà! Hy hữu Đức Tu Già Đà! Nay là đúng
lúc! Duy nguyện Thế Tôn! Ngài đã nói việc niệm Phật cho
đến rải một cành hoa cúng dường vào không trung, kẻ ấy
sẽ được quả báo lành. Các Tỳ Kheo sau khi nghe Phật nói
đều thọ trì đọc tụng và được quả lân mẫn thế gian,
làm lợi ích cho trời người vậy. Kể từ đời nầy cho đến
đời sau nếu có chúng sanh nào nghe được điều nầy mà trồng
nhiều căn lành, tâm sinh kính tín được đại hoan hỷ. Người
đó nghĩ rằng : Thích Ca Mâu Ni! Ngài là bậc vô thượng pháp
vương, có lòng từ bi lớn trong dòng họ Thích, vì cứu độ
thế gian khuyến dụ chúng con phát tâm tinh tấn niệm Phật.
Nói
lời ấy rồi, Phật bảo A-Nan! Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe!
lành thay! Ta nay sẽ phân biệt giải nói về các quả báo đây.
A-Nan
bạch rằng : Như vậy Thế Tôn! Chúng con xin nghe.
Phật
bảo A-Nan : Nếu có chúng sanh phát tâm niệm Phật cho đến
rải một cành hoa vào không trung, phước đức ấy sẽ được
quả báo khó thể nghĩ bàn vô cùng tận. Nầy A-Nan! Các chúng
sanh từ đây về sau kiếp số dài ngắn, sanh tử lưu chuyển
không thể biết hết được, mà kể cả đời sau cũng lại
như vậy. Nếu có chúng sanh chí thành niệm Phật công đức
cho đến rải hoa và không trung thì ngày sau sẽ làm được
Thích Thiên Vương, Phạm Thiên Vương và Chuyển Luân Vương,
phước báo như vậy sẽ không cùng tận. Với thiện căn ấy
phước báo không có ngằn mé và không cùng tận vậy. Nhưng
phải vào Niết Bàn. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Dụ như phước
điền của chư Phật không có quả báo cùng tận. Ta nói rằng
người nầy sẽ được Niết Bàn và chứng quả rốt ráo.
Nầy A-Nan! Chỉ do việc thân cận cúng dường ta vậy. Ví như
cúng dường ta bằng hạt cải hay Xá Lợi, hoặc vì ta mà tạo
hình tượng tháp miếu rồi cúng dường, cũng giống như kẻ
niệm Phật cho đến rải một cành hoa vào không trung. Lại
cũng có người tại nơi phòng riêng chí tâm niệm Phật cho
đến rải hoa và hư không. Nầy A-Nan! Ta nói người nầy sẽ
được Niết Bàn, được Niết Bàn đệ nhứt. Nhập vô dư
Niết Bàn, tối thắngNiết Bàn, Niết Bàn vi diệu, thanh tịnh
Niết Bàn, an trụ Niết Bàn. Nầy A-Nan! Đấy là nhơn duyên!
Trong các phước điền thì Phật là vị vua trên hết. Vì sao
vậy ? Phước điền của Phật nghĩa là không phải quả báo
của thế gian mà đây là một nhân duyên mà phước điền
Phật là đệ nhứt phước điền vậy. Nầy A-Nan! Chư Phật
Như Lai thuận theo chánh đạo, hay làm việc vô thượng cứu
cánh phước điền. Phước điền Phật có nghĩa là tất cùng
Niết Bàn, được đệ nhất Niết Bàn. Nầy A-Nan! Ngay các
việc rải hoa cúng Phật cũng là một công đức. Nếu có người
nào có tâm niệm Phật và một đời kính tin thì ta nói rằng
kẻ đó sẽ được quả báo Niết Bàn vô cùng tận. Nầy A-Nan!
Đây là công đức niệm Phật ở trong loài người. Nếu có
súc sanh nào đó mà có thể nhớ nghĩ đến Thế Tôn, ta cũng
nói rằng đây là thiện căn phước đức vậy. Cũng sẽ chứng
quả Niết Bàn.
Nầy
A-Nan! Nay ta đương quán chư Phật Thế Tôn cùng các chúng sanh
tạo phước điền và hay làm cho chúng sanh chứng được thần
thông uy lực. Cho nên A-Nan! Hãy đứng sầu khổ! Nếu có người
thiện nam, kẻ thiện nữ nào cho đến súc sanh và các chúng
sanh khác từ Phật mà sanh tín tâm, phải biết rằng sẽ được
thần thông quả báo và công đức rộng lớn. Ví như Cam Lồ
trong các Cam Lồ và Cam Lồ cao quý nhất. Nầy A-Nan! Từ thân
khẩu của Như Lai, tâm vô lượng an lạc không hai; không sân,
không hận, không có lo sợ. Nầy A-Nan! Nếu có 3 ngàn đại
thiên thế giới trong đó có đày Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm,
A Nan Hàm và A La Hán. Lại như cây mía, cây trúc, hoặc gai
hoặc cỏ hoặc có người con trai lành, người con gái tốt
nào, hoặc một kiếp hoặc giảm một kiếp, tất cả đều
đầy đủ hoan hỷ, cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường.
Nầy A-Nam! Vì sao vậy ? Người con trai và con gái nầy được
phước đức nhiều không ?
A-Nan
thưa : Nhiều lắm Bà Già Bà! Nhiều lắm Tu Già Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Lại có người từ nơi chư Phật mà chắp
tay xưng danh hiệu thì phước đức nầy so với phước đức
trước là trăm phần chưa được một, số phần chưa được
một, Ca-la phần chưa được một. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan!
Phước điền của Như Lai trong các phước điền là vô thượng.
Vì sự cúng dường chư Phật đó mà thành công đức lớn,
thần thông oai lực. Nầy A-Nan! Trong tam thiên đại thiên thế
giới nơi có Thanh Văn A La Hán hoặc trong ba ngàn đại thiên
thế giới đầy Bích Chi Phật giống như mía, trúc, gai, cỏ
v.v... hoặc kẻ thiện nam người thiện nữ hoặc một kiếp,
hoặc giảm một kiếp. Vì tất cả đều sinh tâm hoan hỷ vậy.
Cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường Bích Chi Phật. Sau
khi vị Bích Chi Phật kia tịch diệt rồi nổi lên bảy tháp
báu, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cho đến
dùng các thứ hương hoa, dầu thơm, y phục, ngoại cụ, bảo
cái, tràng phan để cung kính tôn trọng khiêm cung cúng dường.
Nầy A-Nan! Thì phải biết rằng người nầy được phước
đức nhiều chăng ?
A-Nan
thưa : Nhiều lắm Bà Già Bà! Nhiều lắm Tu Già Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Nếu lại có người, từ chỗ Như Lai mà
khởi tâm tin tưởng thanh tịnh, suy nghĩ giải nói và tuyên
bố rằng : Trí tuệ chư Phật không thể nghĩ bàn. Lời giải
nói nầy là công đức căn lành, so với sự cúng dường phía
trước cho Bích Chi Phật thì công đức ấy trong Ca La phần
chỉ được một cho đến trong Ưu Bà Ni Sa Đà phần chỉ được
một. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Chư Phật Thế Tôn vô lượng
đại từ, vô lượng đại bi, vô lượng giới, vô lượng
tịnh, vô lượng huệ, vô lượng giải thoát, vô lượng giải
thoát tri kiến, vô lượng tu tập, vô lượng đạt chứng.
Nầy A-Nan! Trí tuệ của chư Phật khó thể nghĩ bàn, cảnh
giới của chư Phật cũng khó thể nghĩ bàn. Nếu có cúng dường
cũng khó thể nghĩ bàn, sẽ được quả báo cũng khó nghĩ
bàn. Nầy A-Nan! Hãy đừng sầu khổ! Ta nay đã được thần
thông lớn và làm lợi ích rồi. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Thân
khẩu ý tu lành, đã cúng dường cho ta hơn 20 năm và đã nắm
giữ của ta 84.000 các pháp bảo cũng là đa văn đệ nhứt,
dùng phương tiện mà đối đáp, sẽ chánh trí được đạo,
đa văn không sợ hãi. Giữ gìn Kinh Luật và Luận vì 4 chúng
mà thuyết pháp không mỏi mệt.
Nầy
A-Nan! Sau khi ta diệt độ rồi hãy cùng với Đại Đức Ma
Ha Ca Diếp và vị nầy sẽ làm tối đại Đạo Sư để làm
những Phật sự. Nầy A-Nan! Hãy đừng khóc nữa! Ta đương
được đại thần thông công đức lợi ích đây.
VIENGIAC
PAGODE
Karlsruher
Strasse 6, 30519 Hannover, Germany
eMail:viengiactu@viengiac.de
- Tel: 0511/879630 - Fax: 0511/8790963 VIENGIAC.DE
06-11-2008
03:20:46