Kinh
Đại Bi - Quyển Thứ Tư
Các
Thí Dụ phụ thuộc phẩm Chánh Pháp thứ 12
Lúc
bấy giờ Đức Thích Tôn lại bảo Ngài Huệ Mệnh A-Nan rằng
: Ta khi chứng được Bồ Đề thì công đức lợi ích cũng
như khi ta hành Bồ Tát hạnh vậy. Công đức lợi ích, Duyên
Giác khó sánh hà huống Thanh Văn và các chúng sanh. Nầy A-Nan!
Khi ta còn là Bồ Tát chuyên tu khổ hạnh, đã bỏ ngôi vua,
vợ con, thể nữ cho đến thân mạng tay chân, đầu mắt tai
mũi, máu thịt, xương cốt cho đến gặp không biết bao nhiêu
bịnh khổ. Tất cả việc ấy cũng chỉ vì cầu chứng được
A Nậu Đa La Ta Miệu Tam Bồ Đề.
Nầy
A-Nan! Tất cả những gì khó bỏ, ta đã bỏ. Tất cả những
khổ nhọc nầy cũng chỉ vì chúng sanh. Nầy A-Nan! Với công
đức nầy. Nếu ta nói mãi cũng không cùng tận. Như có người
nghe, tâm sẽ mê loạn huống gì nói đến. Nầy A-Nan! Nếu
có chúng sanh nào khởi một niệm từ bi. Thích Ca Mâu Ni Như
Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri tự ngàn xưa tu hành Bồ Tát hạnh
cực khổ mà nói rằng : Vì ta mà thọ lãnh vô lượng các
loại bịnh khổ khó khăn. Nầy A-Nan! Ta nói họ là những kẻ
đã phát tâm; tức nhiên cuối cùng sẽ chứng quả Niết Bàn,
hà huống những kẻ đã trồng căn lành nơi ta.
Nầy
A-Nan! Hoặc có kẻ ngu si kiêu mạng không tin, khi nghe ta tu hành
khổ hạnh cho đến không sanh một niệm buồn khổ, không nói
Như Lai có lợi ích lớn, cũng lại chẳng tin, mà kẻ nầy
làm việc thù thắng thì cũng có thể chứng Niết Bàn. Nầy
A-Nan! Những công đức lợi ích thù thắng như thế Duyên Giác
không có hà huống tất cả Thanh Văn phàm phu mà có thể có
được. Nầy A-Nan! Các việc tu Bồ Tát hạnh phải được
lòng thương lớn, lại cũng không phải Duyên Giác mà có được.
Nầy A-Nan! Như ta tu bồ tát hạnh được đại bi, mà khi đã
được đại bi rồi thì sẽ chứng được A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề. Đây gọi là pháp đại từ đại bi nhiếp
hộ vậy. Đây là nhơn duyên mà Duyên Giác không có, là nghĩa
như vậy. Người ấy không thể làm Như Lai Ứng Cúng Chánh
Biên Tri. Không đầy đủ 10 lực, 4 vô sở úy, Đại Từ Đại
Bi. Nầy A-Nan! Ta biết từ xưa tu hành khổ hạnh chỉ cầu
pháp lành mà trong sanh tử, tâm thường lo sợ; nên vì chúng
sanh mà tu tâm đại bi, như trong giấc mộng thấy Đại Thiết
Vi có băng giá vậy. Trong các thế giới ấy lại có các chúng
sanh đang ở trong địa ngục. Trong ngục ấy bị giam cầm,
thân thể bại hoại, chung quanh có lửa cháy vây quanh, thọ
nhận nhiều sự khổ sở như mất mạng đi, ta đến nơi đó.
Họ đều chắp tay lễ bái mà thưa rằng :
Nhơn
giả! Ngài đang sung sướng còn chúng tôi thì thọ quả địa
ngục, khổ não độc hại, khó nhẫn như bị chết đi. Không
ai cứu, không ai giúp, không chỗ trở về, không nơi nương
tựa. Bậc đại trượng phu! Nếu ta cứu được những kẻ
khổ như vậy, quả là điều không ít. Nầy A-Nan! Ta lúc bấy
giờ khởi lòng từ bi nơi những chúng sanh ở địa ngục,
trong mộng ấy nước mắt chúng sanh trào dâng như nước sông
Hằng. Ta an ủi chúng sanh và nói rằng :
Nầy
các ngươi! Hãy đừng sợ hãi! Ta sẽ làm cho các ngươi thoát
khỏi sự khổ. Nầy A-Nan! Lúc ấy ta bảo các chúng sanh ở
địa ngục ở vào một nơi. Ta giơ tay trái lên làm hiệu và
nói rằng : Nầy các ngươi! Hãy đừng sợ hãi! Ta nay sẽ cứu
độ tất cả các ngươi. Sau khi nói lời ấy rồi, lửa ở
địa ngục lúc ấy tắt mất, các chúng sanh tại nơi đó chỉ
trong giây lát đã được an lạc. Nầy A-Nan! Ta lúc ấy từ
nơi mộng mà ngộ cầm áo thâu nước mắt vào bình. Nầy A-Nan!
Ta đã thực hành lòng từ bi khi tu bồ tát hạnh như vậy,
hà huống bây giờ đã chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Nầy A-Nan! Hãy nên biết các pháp hoặc không
phải Duyên Giác cũng có thể có vậy, hà huống Thanh Văn,
phàm phù v.v... Nầy A-Nan! Nếu người nào có pháp nầy, tức
kẻ hành hạnh Bồ Tát. A-Nan, hãy xem trong quá khứ khi Như
Lai tu Bồ Tát hạnh thì các chúng sanh đều đầy đủ lân
mẫn lợi ích tâm đại bi. Những công đức như vậy nếu
chính do từ miệng ta nói ra mãi mãi cũng không cùng tận. Nầy
A-Nan! Trong đời quá khứ có 3 vị Thương Chủ vì tìm của
quý đã cùng với các người lái buôn đi vào biển lớn. Nơi
thuyền của họ có của quý đã đầy, đến giữa biển thì
thuyền bị hư, lúc ấy tâm trạng của vị Thương Chủ sợ
hãi và sanh phiền não. Trong thuyền nầy có người thì níu
ván thuyền. Có người thì chết nổi lên mặt nước. Nầy
A-Nan! Ta lúc bấy giờ đã làm cho Thương Chủ trong biển kia
được an ổn nổi lên thì lúc ấy có 5 người gọi Thương
Chủ mà rằng :
Đại
Sĩ Thương Chủ! Mong Ngài làm cho chúng tôi đừng sợ. Nói
lời ấy rồi. Lúc ấy Thương Chủ liền bảo rằng :
Các
Trượng Phu! Đừng sanh sợ hãi! Ta từ trong biển lớn nầy
đã qua được sợ hãi và được an ổn. Nầy A-Nan! Lúc ấy
Thương Chủ mang kiếm nơi mình và nói rằng :
Trong
biển lớn không dung chứa xác chết, cho nên ta tự bỏ thân
mệnh để cho những người thương nhơn nầy được qua nạn
khổ. Sau khi suy nghĩ như thế các thương nhơn liền được
đưa vào nơi yên ổn. Những thương nhơn nầy có người cỡi
lên vai, có người bao quanh chân. Lúc ấy Thương Chủvì muốn
thí cho họ sự không sợ hãi nên đã dùng tâm đại bi một
cách dõng mãnh và tạo ra tâm lực và dùng kiếm ấy để dứt
mạng căn và sau đó mạng chung. Sau đó xác chết bị trôi
đến bờ của biển lớn. Lúc ấy 5 người thương nhơn liền
được qua biển một cách an ổn sung sướng, tốt đẹp không
nạn, trở lại Diêm Phù Đề.
Nầy
A-Nan! Vị Thương Chủ lúc ấy đâu phải người nào khác!
Chính là thân ta. Năm người lái buôn ấy, chính là 5 vị Tỳ
Kheo, mà 5 vị Tỳ Kheo ấy, ngày xưa nơi đại hải đã được
độ thoát. Bây giờ lại trong sanh tử biển lớn đã được
qua khỏi, an ổn, không sợ, đến bên kia bờ Niết Bàn. Nầy
A-Nan! Ta nay đang xem tu khổ hạnh nào mà đầy đủ! Có bao
nhiêu công đức mà thành Bồ Tát Ma Ha Tát như vậy. Nầy A-Nan!
Các công đức như thế phải lần lượt biết đến. Lại
cũng chẳng phải Duyên Giác mà có thể thành tựu. Nầy A-Nan!
Như các công đức của Bồ Tát là vậy. Các vị Bích Chi Phật
cũng không có pháp nầy. Không làm nên Như Lai Ứng Cúng Chánh
Biên Tri, không thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nầy
A-Nan! Như thế đó ta đã lần lượt tu hành khổ hạnh, được
gọi là Bồ Tát có lòng thương tưởng đến tất cả chúng
sanh. Nầy A-Nan! Lại cũng có người ngu dại từ nơi chỗ Phật
mà không sanh tín tâm. Do nhơn duyên nầy mà không chứng được
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề để làm hạt giống căn
bản, lại cũng chẳng có thể vô thượng Niết Bàn. Nếu họ
từ nơi ta mà sanh tâm kính tín thì liền được hạt giống
Bồ Đề để chứng quả Niết Bàn. Nầy A-Nan! Tu phần ít
thì được công đức ít. Tu đầy đủ thì sẽ được công
đức đầy đủ. Nầy A-Nan! Ta nay đang nói việc làm là quyết
định. Nếu có chúng sanh cho đến việc phát ra một lời kính
tín thì với căn lành nầy sẽ là chủng tử, hà huống phải
trồng thượng thiện căn. Nầy A-Nan! Nếu từ nơi Phật có
kẻ trồng căn lành, cho đến phát tâm một niệm, niệm Phật
thì ta nói rằng người ấy dụ như Cam Lồ tốt nhất trong
Cam Lồ. A-Nan! Các hành giả nên một lòng trồng các công đức
nhớ nghĩ nơi Như Lai và niệm những gì Như Lai niệm, như
nhớ đến căn lành của Như Lai, nhớ đến tánh cách của
Như Lai. Tánh nầy không giống loại ngọt bùi mà phát sanh
tánh vậy. Tánh nầy là lìa các tối tăm, làm việc sáng suốt.
Nầy
A-Nan! Ta sanh ra từ dòng họ Thích là tánh thanh tịnh. Nầy
A-Nan! Hãy biết Như Lai sanh, nhớ nghĩ đến dòng dõi của Như
Lai, nhớ đến họ của Như Lai, nhớ đến việc cất chứa
tài sản của Như Lai đầy đủ, nhớ đến sự đoan chánh
của Như Lai. Nhớ đến nơi sanh của Như Lai và tướng của
Như Lai, nhớ đến tướng đẹp của Như Lai, nhớ đến mười
lực của Như Lai, nhớ đến bốn đức không sợ của Như
Lai, nhớ đến 18 pháp bất cộng của Như Lai, nhớ đến nơi
sanh đầy đủ của Như Lai, nhớ đến sự đẹp đẽ của
Như Lai, nhớ đến sự không ngu si của Như Lai, nhớ đến
bổn hạnh đầy đủ của Như Lai, nhớ đến lời nguyện đầy
đủ của Như Lai, nhớ đến giới định huệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến đầy đủ của Như Lai, nhớ đến lòng
từ bi hỷ xả đầy đủ của Như Lai, nhớ đến oai nghi đầy
đủ của Như Lai.
Nầy
A-Nan! Nếu có người tùy nơi niệm Phật mà được công đức
và đại thần thông, lợi ích rộng lớn thì điều nầy dụ
như Cam Lồ đệ nhứt trong Cam Lồ sau cùng. Nầy A-Nan! Ta từ
xưa kia khi thực hành Bồ Tát hạnh đã thí Ba La Mật. Ta quán
xem công đức tri kiến Phật không có bờ mé hà huống còn
Tu
giới Ba La Mật, Nhẫn nhục Ba La Mật, Tinh Tấn Ba La Mật,
Thiền Ba La Mật và Bát Nhã Ba La Mật, tất cả như thế đều
sanh công đức. Nếu có vị Bồ Tát chưa được thọ ký nơi
công đức thì Phật quan sát không có chỗ dừng, hà huống
là thọ ký thì công đức cho đến thành Phật có tất cả
mọi công đức. Cho đến trăm ngàn ức Na Do Tha kiếp quán
sát, chỉ bày không có giới hạn. Vì sao vậy ? Vì Như Lai
Ứng Cúng Chánh Biến Tri công đức vô lượng như vậy. Nầy
A-Nan! Ta nay thấy việc lợi ích nầy mà nói như vậy. Nếu
có kẻ nhớ nghĩ đến lúc ta tu Bồ Tát hạnh mà phát sanh
tín tâm thì được công đức lợi ích. Với căn lành nầy
đương nhiên sẽ được vào Niết Bàn. Lại nữa A-Nan! Hãy
đừng sầu bi! Ta đã vì chư thần, loài người làm việc lợi
ích và đã nhiếp thọ nên mới dạy đạo cho. Làm cho mọi
người chứng được vô thượng an ổn và ngày sau sẽ vào
Niết Bàn. Các ngươi hãy khuyến tu phương tiện, không nên
buông lung.
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn lại bảo các Thầy Tỳ Kheo rằng
:
Sau
đêm nay ta sẽ vào Niết Bàn! Các người bây giờ thấy ta
lần cuối, thọ hóa lần cuối, gặp gỡ lần cuối. Các người
từ bây giờ sẽ chẳng thấy ta, ta lại cũng chẳng thấy các
ngươi. Nầy các Tỳ Kheo! Hãy đừng ưu bi! Tất cả những
lời từ ái xưng tán đều phải chia lìa. Nầy các Tỳ Kheo!
Pháp sanh ra là pháp được sanh. Phải biết phân biệt các
pháp. Có nhơn duyên sanh ra tất phải có hoại. Nếu không hoại
đi, tức không có đâu như vậy cả. Nầy chư Tỳ Kheo! Nếu
sống lâu thì cũng phải ra đi thôi. Nầy chư Tỳ Kheo! Phàm
có sanh thì không thể không chết. Tất cả các hành đều
không có thường, cứu cánh không đổi. Nầy chư Tỳ Kheo!
Hãy nên cố gắng tu hành, đừng có buông lung. Vì chư Phật
Thế Tôn không có buông lung. Chứng được A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề cùng tất cả trợ đạo pháp lành là các
ngươi đang lãnh thọ sự giáo hóa của ta vậy.
Lúc
ấy đại chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di,
Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn
Na La, Ma Hầu La Già, Thích Thiên, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương
v.v... khi nghe lời dạy cuối cùng như thế sầu khổ không
vui, liền lo nghĩ nhớ buồn và khóc lóc thảm thiết, la lớn
lên và thưa rằng :
Bà
Già Bà nhập Niết Bàn! Làm sao chịu được. Tu Già Đà nhập
Niết Bàn, làm sao chịu được. Thế gian không có mắt, thế
gian đui mù. Khổ sở lắm. Con và tất các chúng sanh làm sao
mà chia lìa sớm quá như vậy ?
Lúc
bấy giờ Ngài A-Nan nghe lời ấy rồi, mắt hướng đến Đức
Như Lai không rời, suy nghĩ buồn rầu, khóc lóc, gieo mình xuống
đất, lấy đá bổ vào thân cây.
Lúc
bấy giờ Đức Thế Tôn bảo A-Nan rằng : Hãy dừng sầu khổ
nữa. Ta hướng đến Niết Bàn như lời đã nói. Tất cả
những sự trìu mến, thương yêu rồi cũng phải đi đến chỗ
biệt ly. Pháp sanh ra, pháp tồn tại là pháp hữu vi. Phải
biết pháp sai biệt và phải hiểu pháp. Các pháp do nhân duyên
sanh thì phải tan rã. Nếu không mất đi, tức không đúng vậy.
Ngài
Huệ Mệnh A-Nan sau khi nghe lời Phật dạy rồi liền bạch
Phật rằng :
Bà
Già Bà! Con làm sao không buồn được. Tu Già Đà! Con làm sao
không thương được. Ngài là quý giá nhất của con và chúng
sanh. Ngài đã cùng chúng sanh sống, đã là Thầy của chúng
sanh. Nơi giúp đỡ cho thế gian. Nơi thế gian quay về. Đại
Sư của Trời Người mà phải xa rời. Cho nên Bà Già Bà! Làm
sao con không buồn được. Tu Già Đà! Làm sao con không thương
được. Con làm sao không cảm được. Thế Tôn đã cùng vối
tất cả chúng sanh có tâm đại bi thương xót thế gian như
thân thuộc. Làm đuốc sáng soi đường cho thế gian mà nay
biệt ly, con tự thấy tâm mình bị khủng hoảng trăm phần.
Thế Tôn! Con chẳng muốn thấy Ngài mệnh chung nơi nầy. Thế
Tôn! Con tự thấy thân thể của Ngài không thể hoại được.
Thế Tôn! Con lại suy nghĩ, việc không vào Niết Bàn đều
do thần lực của Như Lai vậy. Bà Già Bà! Con làm sao không
sầu được. Tu Già Đà! Con làm sao chẳng buồn được! Ngài
là vị Thầy của thế gian, đã thương tưởng thế gian, mai
đây sẽ không còn nữa, không thấy được nữa.
Lúc
bấy giờ Đức Phật lại bảo Ngài Huệ Mệnh A-Nan rằng :
Ngươi có lòng thương ta ư ?
A-Nan
thưa : Thật nhiều Đức Bà Già Bà. Thật nhiều Đức Tu Già
Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Thương ta là thương cái gì ?
An-Nan
thưa : Con thương Thế Tôn không thể dùng lời nói có thể
diễn tả cùng tận được. Cũng chẳng có thể giải bày được
làm sao rốt ráo Đức Bà Già Bà. Con thương Ngài như thế!
Tu Già Đà! Con thương Ngài như vậy. Thế Tôn! Con vì Như Lai
mà bỏ thân mệnh nầy cũng không hối tiếc. Bà Già Bà! Con
thương Ngài như thế. Tu Già Đà! Con thương như vậy đó.
Thế Tôn! Con thương Phật chỉ có Phật chứng tri thôi. Bà
Già Bà! Con thương như vậy. Tu Già Đà! Con thương như vậy
đó.
Lúc
bấy giờ Đức Phật lại bảo A-Nan rằng : Nếu mà thương
ta như vậy thì hãy đưa tay phải đây.
Lúc
ấy Ngài A-Nan đưa tay phải ra. Lúc đó Đức Thế Tôn dùng
tay phải của mình phóng quang màu hồng kim vi diệu từ tốn
bảo A-Nan rằng :
Nếu
ngươi thương ta thì hãy nên thương mọi vật, cũng giống
như ngươi thương ta vậy. Ta đã từ trong vô lượng trăm ngàn
ức Na Do Tha A Tăng Kỳ Kiếp đã đến A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Nay thì pháp bảo phụ thuộc nơi ngươi. Hãy tùy
thuận như ta đã chuyển mà chuyển như vậy, hãy phát triển
rộng mãi đừng cho đứt đoạn. Đừng làm cho thế gian pháp
nầy bị mất. Nầy A-Nan! Ta nay vì ngươi mà sẽ giữ gìn.
Hãy giữ chánh pháp Tỳ Ni như ta đã nói càng ngày càng tăng
trưởng, đừng cho hoại diệt, đừng cho mất đi. Nay ta dụ
rằng : Tất cả những người trí đều sẽ được hiểu,
cũng giống như có nhà quý tộc kia của cải giàu có, tài
sản có nhiều kho báu mà vẫn thấy vật ấy chưa đủ. Như
vậy của quý kia sẽ không cùng ông ta mà có, tánh cách đầy
đủ vẫn còn ở xa. Do nhân duyên sanh thì không thể nào đầy
đủ cả. Như vậy đó, kẻ Trưởng Giả kia muốn sanh một
người con. Con kia khôn lớn, không cho học hành, toán số,
thư văn, cùng với nhiều loại nghề nghiệp và trí tuệ sâu
xa. Đứa con học rồi, sau đó Trưởng Giả bảo đứa trẻ
rằng : Ta nay đã vì ngươi mà làm xong rồi, như đã trải
qua toán số, lịch sử, thư văn, nghề nghiệp và trí tuệ.
Hôm nay ta dạy ngươi lời cuối cùng rằng tất cả của cải
quý báu kia đã thuộc về ta, ta nay đương nhiên sẽ phó thác
cho ngươi. Ngươi từ ngày hôm nay nên học ba việc có thể
bảo tồn được gia tộc sự nghiệp. Thế nào gọi là ba.
Một là ham muốn, hai là siêng năng và bà là không buông lung.
Như vậy mới xứng đáng là một bậc Trưởng Giả giàu sang.
Như vậy phương tiện mà dạy cho người con, tuy nhiên người
con không tin và buông lung. Tài sản của cha mẹ phung phí đến
tận cùng. Nầy A-Nan! Hãy xem như thế người con kia có nghe
lời dạy dỗ của người cha không ?
A-Nan
thưa : Thưa không! Đức Bà Già Bà. Thưa không! Đức Tu Già
Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Như vị Trưởng Giả kia có thể thay thế
người cha dạy con làm việc ấy chăng ?
Thưa
đúng! Đức Bà Già Bà! Thưa đúng! Đức Tu Già Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Như Lai tức là cha của thế gian! Ngươi giống
như người con. Ngày hôm nay lời giáo huấn nầy phụ thuộc
vào ngươi đó. Ta đã từ trăm ngàn ức Na Do Tha, A Tăng Kỳ
Kiếp đã huân tập vô thượng pháp bảo như những kho báu!
Các ngươi phải học ba việc. Thế nào là ba ? Một là ham
muốn, hai là siêng năng và ba là không buông lung. Như thế
đó nếu các ngươi vẫn giữ 3 việc nầy thì từ trong A Tăng
Kỳ Kiếp việc ta huân tập vô thượng pháp bảo trong kho báu
các ngươi sẽ gìn giữ lâu dài. Kẻ nào chưa được thuận
pháp thì sẽ thông đạt. Khi đã thông đạt rồi thì đừng
cho thối thất, chính là các ngươi vậy. Hãy nên kiên trì
giữ gìn kho báu giáo pháp mà ta đã huân tập từ trong A Tăng
Kỳ Kiếp để chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Chưa ở nơi 3 việc ấy thì nay sẽ ở. Chưa đạt được thuận
pháp thì nay sẽ thông đạt. Người đã thông đạt rồi làm
cho không còn thối hư nữa. Vì sao vậy ? Bởi lẽ ta đã vì
lòng thương chiếu cố, lợi ích cho tất cả thế gian vậy.
Vì làm cho họ được an lạc. Nầy A-Nan! Ta cùng thế gian nầy
đã làm công việc như người cha đã làm cho con vậy. Ta đã
vì các ngươi làm những gì đã làm. Lại nữa A-Nan! Ta đã
từ nơi A Tăng Kỳ Kiếp huân tập để được pháp A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ba việc nhân duyên phải chìm xuống.
Thế nào là ba ?
Một
là không có lòng tin, hai là làm việc không có tính cách quyết
định và ba là không biết sám hối. Cho nên A-Nan! Hãy nên
gìn giữ chánh pháp bảo tạng. Vì ở trong lòng tin sâu, quyết
định và sám hối. Hãy làm cho tăng trưởng đừng có buông
lung để tạo phương tiện cho ba việc trên. Như vậy đó các
ngươi, mà ta được tôn xưng là cha lành của thế gian.
Như
vì con trẻ muốn làm đã làm. Nầy A-Nan! Đây là nghĩa ấy.
Ta cũng nói thêm rằng: Hãy làm cho chánh pháp bảo tạng nầy
được thành tựu và lớn mạnh lên. Đó là ví dụ vậy. Tất
cả những người trí khi nghe xong liền được rõ ràng. Lại
được tăng trưởng lòng kính tin và liền nói rằng :
Thích
Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng con mà vào
Niết Bàn, đoạn lấy tay mặt cầm tay A Nan mà phó chúc cho
trong A Tăng Kỳ Kiếp nầy phải huân tập để thành pháp A
Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cũng giống như Thương Chủ
đi xa trên con đường, đã làm những gì phải làm xong. Nầy
A-Nan! Vì sao vậy ? Vị Thương Chủ kia phải trở lại nhà
hay ở giữa đường ?
A-Nan
thưa : Thế Tôn! Người ấy về nhà chứ không ở đường.
Nầy
A-nan! Cũng như thế đó ta là cha của thế gian, là bạn của
thế gian, là Thầy của thế gian, tức như vị Thương Chủ
cũng vì giác ngộ cho muôn loài mà ta đã làm xong việc ấy,
không có việc Phật nào là không làm và tất cả những chúng
sanh nào đáng độ ta đã độ xong. Những người đã được
độ thì không có ai khiếu nại nữa. Nầy A-Nan! Có đến 3
việc không đủ và không được mà Như Lai Ứng Cúng Chánh
Biến Tri sẽ không vào Niết Bàn. Thế nào là ba ?
Nghĩa
là các vị Bồ Tát Ma Ha Tát chưa trụ ngôi bất thối chuyển.
Nếu giáo pháp của Như Lai bị diệt đi rồi hoặc trải qua
một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, trăm
ngàn úc Na Do Tha kiếp mà vẫn chưa giác ngộ được. Tuy chư
Phật Thế Tôn đến thời Niết Bàn; nhưng thấy thiện căn
nơi Bồ Tát chưa thành thục thì phải làm cho thành thục để
được bất thoái. Vì lực thần thông nơi thân được gia
trì nên vẫn ở đời, không tịch diệt, chờ cho Bồ Tát chứng
được bất thối rồi, tức thời lúc ấy mới bổ xứ, thọ
ký cho ai chứng đạo và thành Phật. Lúc ấy Như Lai mới nhập
vào Vô Dư Niết Bàn. Cho nên ta và Di Lặc tự vô lượng trăm
ngàn ức Na Do Tha Bồ Tát Ma Ha Tát đã được thọ ký thành
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, làm cho ở mãi cho đến
A Tỳ Bạt. Đây là điều chư Phật đã thương chúng sanh và
đã làm rồi. Lại nữa A-Nan! Nếu các chúng sanh muốn cho Như
Lai được giải thoát mà có kẻ chưa độ thì Như Lai sẽ
không vào Niết Bàn. Nếu có Phật Thế Tôn biết từ vô lượng
trăm ngàn ức kiếp, trừ khi Phật chưa xuất thế ở thế
giới nầy hay thế giới kia. Tại 5 đường nơi có chúng sanh,
hoặc qua một tuổi hoặc trăm tuổi, ngàn tuổi, trăm ngàn
tuổi hoặc trăm ngàn ức Na Do Tha tuổi cho đến một kiếp
hoặc hơn một kiếp; những người như thế đã được độ
thoát. Không phải chỉ có tất cả Thanh Văn, Duyên Giác được
độ thoát vì trí tuệ Phật, hãy biết như vậy. Vị Phật
kia tuy Niết Bàn đã đến nhưng vẫn còn thương họ, dùng
thần lực của mình làm cho thân mệnh kéo dài không mất,
cho đến khi họ được thành thục rồi sau đó mới nhập
diệt. Nầy A-Nan! Đây là điều thứ hai mà chư Phật Thế
Tôn muốn làm, đã làm rồi. Cho nên mới vào Vô Dư Niết Bàn.
Lại
nữa A-Nan! Ta đã nói rằng : Nếu là Kinh, là Luật là Luận
phải hiểu nghĩa sâu nơi ấy; không học, không tu mà Thanh
Văn và Đại Chúng hãy cùng nhau nghị luận. Nếu trong chúng
hội có vị Tỳ Kheo sanh nghi hỏi lại. Vì kính trọng Phật
mà khủng bố não loạn không trả lời phải vì Như Lai Ứng
Cúng Chánh Biến Tri Phật Tri Kiến vậy. Có vị hóa thành một
vị Tỳ Kheo đến cạnh Như Lai và hỏi rằng:
Thế
Tôn! Nơi đây làm việc gì phải làm ?
Phật
bảo vị hóa Tỳ Kheo ấy rằng : Nầy Tỳ Kheo! Nơi đây làm
việc nên làm.
Nầy
A-Nan! Đây là 3 việc mà chư Phật Thế Tôn tất định phải
làm. Nếu việc chưa xong, chưa vào Niết Bàn. So ra ta đã làm
tất cả những gì đã làm xong, không có việc gì là ta chưa
nói. Nầy A-Nan! Ta nay đã vì các Thanh Văn mà nói hay gìn giữ
tu học giới đức, cho đến cuối cùng vẫn là con đường
chơn chánh. Nói và làm phải đúng với nhau. Cho nên A-Nan và
các ông phải biết từ đây ta không nói nữa! Hãy cẩn thận.
Việc nói năng bây giờ ta đoạn tuyệt. Nầy A-Nan! Những gì
ta đã nói thì hãy nên học hỏi và làm theo. Hãy đừng buông
lung quá độ! Nếu không buông lung, tức chứng đạo quả.
Đây là nghĩa vậy. Ta dạy cho các ngươi đừng lo, đừng buồn.
Nầy
A-Nan! Ta sau đêm nay sẽ vào Niết Bàn. Ta nay đang từ giã quốc
độ và cảnh giới và không trở lại thế giới nầy nữa.
Lại cũng chẳng đi đến thế giới khác. (Nơi thế giới kia,
có người đời sau sanh vào, thì các người ấy từ bây giờ
không thấy được ta và ta cũng không thấy họ nữa). Nầy
A-Nan! Ta nay sẽ nhập vào Vô Dư Niết Bàn. Với Niết Bàn nầy
yên lặng thanh lương, không bụi bặm, lìa dơ bẩn; tất cả
khổ đều bỏ lại; không sanh, không già, không bệnh, không
chết; không lo, không buồn, không khổ, không não. Không có
gì không bằng lòng cũng chẳng có gì là hối hận; không ghét
gặp nhau, không yêu lìa nhau giống như hằng hà sa Thế Tôn
vậy. Lại cùng với tất cả ac1c Thanh Văn Duyên Giác đã qua,
đương qua và sẽ qua. Nầy A-Nan! Nay ta đương xem và thích
vào Vô Dư Niết Bàn. Nếu có kẻ ngu si phàm phu mà không thích
ta vào chốn an lạc Niết Bàn nầy lại cũng chẳng có thể
phát tâm tùy thuận giải thoát thì người đó cũng nên phát
tâm. Đây là nhân duyên, là hạt giống để tương lai sẽ
vào Niết Bàn. Nầy A-Nan! Tất cả phàm phu có được lực
gì ? Thật ra chẳng có gì cả. Nầy A-Nan! Ta xem tất cả những
kẻ phàm phu giống như lúa mạch. Cho nên An-Nan! Kẻ ngu si làm
sao có lực, làm sao an ổn, cho nên đã chẳng có thể phát
tâm thì đây là chủng tử có thể quyết định sẽ vào được
Niết Bàn.
Nầy
A-Nan! Tất cả những người ngu si phàm phu không có giới lực,
định lực và huệ lực. Nầy A-Nan! Ta đã đầy đủ vô lượng
Phật lực, đã đầy đủ trong vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp
không thể nghĩ bàn và không thể so sánh được, gồm có giới
định huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến lực; lực hổ,
lực thẹn, khó chứa tập lực; tri 1lực, xả lực, phước
lực, huệ lực, căn lực, gia lực đầy đủ 10 lực, cho nên
yêu thích Vô Dư Niết Bàn.
Nầy
A-Nan! Có những người phàm phu ngu muội không trí nên đắm
trước dục lạc sanh tử nơi ngục tối lưu chuyển cho đến
không thể phát tâm nhớ nghĩ tùy thuận giải thoát. Thì nay
họ cũng sẽ có chủng tử căn bản để vào Niết Bàn. Nầy
A-Nan! Như Lai đã nói và đã tán thán như vậy. Tất cả những
kinh điển lưu lại ở tương lai; nếu sau khi Phật diệt độ,
ở trong đời sau có người được nghe, nghe rồi phát tâm,
tức nhiên sẽ được chứng nhập vào cảnh giới chánh pháp
bảo tạng Vô Dư Niết Bàn. Nầy A-Nan! Ta đương nói thí dụ
làm cho tăng trưởng thêm sâu tín tâm.
Nầy
A-Nan! Cũng giống như Thương Chủ và các thương nhơn đã qua
được các nơi nguy hiểm, trừ khỏi được các nạn khó,
đến nơi thành vô úy; nơi ấy có người bị mất tích lúc
nửa đêm; lo lắng vô cùng đi tìm dấu tích. Các thương nhơn
đều buồn khổ, sau đó được qua sự hiểm trở thấy lại
bạn mình. Nầy A-Nan! Như vậy Như Lai thành A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề rồi, diễn thuyết các kinh điển lưu lại
đời sau. Sau khi Phật diệt độ có các thiện nam tử và thiện
nữ nhơn nếu được nghe qua, nghe rồi phát tâm sẽ đến được
nơi ta lưu lại chánh pháp bảo thành, cảnh giới Vô Dư Niết
Bàn. Sau khi đến thành chánh pháp rồi liền suy nghĩ và hộ
trì nói rộng chánh pháp của ta. Nầy A-Nan! Ta chỉ có một
người phò trì chánh pháp mà còn được như vậy huống gì
vô lượng trăm ngàn chúng sanh, nơi mà ta đã tu tập hằng
ức Na Do Tha A Tăng Kỳ Kiếp để được chứng A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề và chánh pháp bảo tạng. Các ngươi hãy
nên đọc tụng thọ trì. Vì các thiện tín và 4 bộ đại
chúng mà khai thị phân biệt. Đừng làm người hủy diệt
Phật Pháp trong đời vậy.
Nầy
A-Nan! Thời vị lai trong đời có các chúng sanh không nghe nghĩa
lý của kinh điển nên sanh thoái tâm. Cho nên A-Nan! Ta sẽ nói
thí dụ đây. Cũng giống như một vị Trưởng Giả giàu có,
có nhiều kho báu chứa cất tràn đầy. Đồ đạc đầy đủ
không thiếu thứ gì. Sau đó Trưởng Giả có một người con;
nhưng phải đi xa. Lúc Trưởng Giả gặp bịnh nặng khổ cực
vô cùng. Lúc lâm chung còn hiều vật quý như Ma Nị, Chơn Châu,
Lưu Ly, Xa cừ, vàng bạc, tiền nong phải gởi lại và Trưởng
Giả liền nói rằng: Con ta đã đi xa nơi đây, nay ta thân phải
mang bịnh nặng, phải mất nay mai. Ta vì con ta mà cũngcho nó
vô lượng của báu tài sản nầy. Nếu như con ta trở lại,
hãy vì ta mà bảo rằng đừng có buông lung! Hãy kiên nhẫn
ở yên đừng có buônglung, sau đó mới giao cho những kho 1báu
nầy. Lúc giao khi báu nên nói như thế nầy :
Hãy
nên nhận lấy, đừng có buông lung! Hãy giữ gìn đồ vật
đừng cho tổn thất. Sau khi nói lời nầy của ta rồi, thì
đem tất cả những vật quý giá giao cho nó, và người kia
đã lãnh thọ những đồ vật của Trưởng Giả. Thọ rồi
chẳng bao lâu thì người con của Trưởng Giả từ xa về lại.
Kẻ kia đã nhậm dùm của nơi Trưởng Giả không giao lại
cho người con của Trưởng Giả. Nầy A-Nan! Vì sao vậy ? Ai
đã làm chuyện ây ?
Ngài
Huệ Mệnh A-Nan thưa Phậ : Kính bạch Thế Tôn! Người nhận
lãnh dùm đã sai; không phải là người vậy. Tại sao ? Vì
người nhận dùm nầy, chính hắn đãi trực tiếp nhận lãnh
những đồ quý giá từ Trưởng Giả mà không hoàn lại cho
người con.
Phật
bảo A-Nan! Hào quý Trưởng Giả dụ cho Như Lai. Khi mạng chung
dụ cho Như Lai sắp vào Niết Bàn. Đứa con dụ cho đời sau
có các tịnh tín thiện nam tín nữ. Người đi xa dụ như lưu
chuyển trong 5 đường. Của quý báu dụ cho tạng pháp quý
báu mà Như Lai đã tu trong ức Na Do Tha A Tăng Kỳ Kiếp để
được vô thượng. Thọ nhận nơi Trưởng Giả dụ cho các
ngươi và các Đại Thanh Văn Bồ Tát Ma Ha Tát phần giữ gìn
giáo pháp của ta. Vì đời sau mà các thiện nam tử thiện
nữ nhơn hãy trao lại cho Ngài Đại Ca Diếp và Di Lặc cũng
như chư Đại Bồ Tát. Nếu các ngươi hay theo lời dạy của
ta thì trong đời vị lai đã nhận lãnh sự giáo hóa nầy thì
các Phật Tử phải giữ gìn pháp bảo. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan!
Vì lẽ trong các chúng sanh sau khi ta mất đi rồi sẽ thành
thục mà thực hành Bồ Tát hạnh. Nếu có kẻ nghiệp ác bị
đọa vào nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và những chúng
sanh nầy sau khi Như Lai diệt độ cũng được ra khỏi đường
dữ trở lại làm người và tu học cho các căn tăng trưởng
thành thục vậy. Từ nơi pháp của ta có một ít nhân duyên
để hay kính tin. Trong nầy cũng có người được xuất gia,
khi nghe ta giảng kinh liền được thắng hạnh. Hoặc nơi Thanh
Văn thừa hoặc nơi Duyên Giác thừa hoặc nơi Đại Thừa thì
vào Niết Bàn.
Nầy
A-Nan! Ta vì đời sai cho các thiện nam tử thiện nữ nhơn nầy,
phụ thuộc nơi ta để tu trăm ngàn ức Do Do Tha A Tăng Kỳ
Kiếp, huân tập tu học vô thượng đại pháp bảo tạng. Làm
cho họ được nghe. Vì sao vậy ? Vì những chúng sanh kia! Nếu
không nghe về chánh pháp nầy thì sẽ thoái tâm. Cho nên ta
nay vì người đời sau phó thác cho họ Đại Bảo Tạng nầy.
Nếu hay nghe được thì không thoái tâm. Vì nhân duyên nầy
mà ta lại phải nói thí dụ.
Nầy
A-Nan! Ví như Vua Chuyển Luân sẽ mở kho báu, ra lệnh cho triều
thần rằng : Ta nay sẽ bố thí cho tấtcả các Sa Môn, Bà La
Môn cho đến những người bần cùng hành khất nơi đường
sá. Theo ý nguyện mà được. Muốn ăn có thức ăn; muốn uống
có thức uống. Muốn xe có xe cho đếnhương hoa và đồ trang
sức. Cũng như quần áo, giường nằm, phòng ốc thanh tịnh
và các đồ lặt vặt đầy đủ. Các vị cai quản kho báu
được lệnh ấy rồi liền chẳng bố thí. Nầy A-Nan! Vì sao
vậy ? Ai là người sai ?
A-Nan
thưa: Đại Đức Bà Già Bà. Những người giữ kho sai.
Sau
khi biết điều ấy rồi thì hãy làm cho tăng trưởng vì trời
người mà khai thị diễn nói vậy cho đến vì ngươi mà ta
khai thị vậy. Phải vì sự kính tin của Sa Môn, Bà La Môn
và tất cả phàm phu cầu nghĩa của pháp tất phải được
nghe. Cho nên A-Nan! Ta nay giao phó tạng pháp bảo nầy cho người
và phải triển khai rộng ra. Nếu ngươi không vì các kẻ tin
thanh tịnh như Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ và các phàm
phu mà vui vẻ tuyên dương quảng bá phân biệt ý nghĩa rộng
rãi, tức là ngươi đã không làm đúng lời dạy của Như
Lai. Vì sao vậy ? Nầy A-Nan! Vì ta là Vô Thượng Pháp Chuyển
Luân Vương có nhiều khi báu giáo pháp quý giá. Có các trợ
đạo bảy phần giác ngộ, mười lực và vô úy đầy đủ.
Từ trong pháp nầy mà được tự tại nên có tên al2 Pháp
Vương. Ngươi hãy nên gìn giữ 84.000 chánh pháp tạng nầy,
vì các tịnh tín Sa Môn, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, tịnh
tín phàm phu, các Pháp sư v.v.. để cầu ý nghĩa của pháp
mà phải diễn thuyết đầy đủ, không sanh phân biệt. Nếu
không làm như vậy, tức pháp bị diệt. Cho nên A-Nan! Ngươi
hãy nhớ đến việc tu tập của ta trong ức Na Do Tha A Tăng
Kỳ Kiếp, để chứng được vô thượng pháp bảo A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề mà hay hiển bày rộng rãi cho 4 chúng,
tức là không làm sai lời dạy của Như Lai vậy. Nếu không
nói rộng ra, tức làm sai lời của ta vậy.
Lại
nữa A-Nan! Hoặc lậu hết A La Hán Tỳ Kheo đã chứng vô vi
mà không thể vì kẻ khác phân biệt giải nói thì người
nầy làm Thầy chẳng ích lợi gì cho giáo pháp của Như Lai
cả. Lại cũng chẳng phải kẻ giữ gìn chánh pháp của ta.
Cho nên ta nay phó chúc pháp nầy cho ngươi. Tại sao vậy ? Nầy
A-Nan! Dụ như có người trong đem tối mang đuốc bằng cỏ
trở lại nhà mình. Lại có nhiều người muốn chỉ cho người
mang đuốc đó, nương vào đuốc cỏ nầy mà độ cho qua khỏi
chỗ tối tăm kia. Đến rồi rời nhà; nhưng trừ hắn ra. Nầy
A-Nan! Vì sao vậy ? Người nầy phải biết rằng đuốc cỏ
cháy không thôi. Cũng biết rằng nhiều người muốn giúp mình,
tự dùng đuốc nầy; nhưng không dùng được; nên gọi việc
làm nầy không tốt vậy.
A-Nan
thưa : Không phải thế Bà Già Bà. Không phải thế Tu Già Đà.
Phật
bảo : Đúng vậy, đúng vậy. Nầy A-Nan! Nếu có Tỳ Kheo chứng
A La Hán quả. Sau khi chứng pháp vô vi rồi, cũng biết việc
độ cho chúng sanh qua khỏi sanh tử; nhưng không vì họ mà
phân biệt chỉ bày. Ta đã vì tu tập mà làm cho pháp nầy
rộng rãi lưu truyền trong A Tăng Kỳ Kiếp. Cho nên người
nầy gọi là kẻ không làm lợi ích cho chúng sanh. Cũng là
kẻ không nhiếp thọ giữ gìn chánh pháp của ta. Cho nên A-Nan!
Ta nay phó chúc pháp nầy cho ông, mà ta đã tu tập trong Ức
Na Do Tha A Tăng Kỳ Kiếp, cho đến việc giữ gìn, tuyên thuyết
rộng rãi ra. Đừng cho mất đi, đó là chánh đạo. Hãy đừng
làm cho pháp nầy mất đi vậy.
A-Nan!
Nếu có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di mà từ nơi
pháp nầy an trụ thì phải vì họ mà phân biệt giải bày
làm cho pháp bảo của ta tu tập trong Ức Na Do Tha A Tăng Kỳ
Kiếp lãnh hội được từng phần. Cho nên A-Nan! Việc tu pháp
lành của ta trong Ức Na Do Tha, A Tăng Kỳ Kiếp và lần thứ
hai phó chúc nầy là vì chúng sanh đời sau vậy. Phải làm
cho những chúng sanh không được nghe pháp nầy cũng đừng
thối tâm.
Lại
nữa A-Nan! Dụ như vị Trưởng Giả giàu có nhiều kho báu
kia có Ma Ni, Chơn Châu, San Hô, Xà Cừ, tất cả các vật đều
đầy đủ, lúc ấy có người tức giận thiêu đốt kho nầy.
Trưởng Giả cũng rất giận dữ và nơi Trưởng Giả kia tâm
thường vui vẻ trở nên không lợi ích. Kẻ không vui thì được
vui. Kẻ không vui thì được an ổn. Như vậy sự giận dữ
lúc thấy lửa đốt kho báu mặc nhiên xả bỏ không màn đến
lửa; nhưng sau Trưởng Giả lại có tâm thương tưởng thân
thiện làm lợi ích, làm cho mọi người an ổn trở lại, thấy
lửa nầy rồi xả bỏ, mặc nhiên ở đãy, không muốn tắt
đi. Nầy A-Nan! Điều ấy có nghĩa gì ? Thân hữu nầy có thể
gọi là chánh phát tùy thuận không ?
A-Nan
thưa! Thưa không! Đức Bà Già Bà. Thưa không! Đức Tu Già
Đà.
Phật
bảo : Nầy A-Nan! Họ là thân thích với nhau khi thấy lửa
đốt cháy kho báu, hy sinh không cầu cạnh, lại gia tăng ý
thức, làm cho thiêu hết tất cả các kho báu, phải không ?
A-Nan
thưa : Như vậy đó, Đức Bà Già Bà. Như vậy đó, Đức Tu
Già Đà.
Phật
bảo : Như vậy đó, như vậy đó. Nầy A-Nan! Ta đã tu tập
Ức Na Do Tha A Tăng Kỳ Kiếp vô thượng căn lành và khi pháp
bảo hoại diệt rồi thì có các Tỳ Kheo tâm không kính tin,
thường phá tịnh giới, tập làm các pháp ác như nơi ca múa
thường hay tới lui, không vui tu theo thiền định, tâm không
tán loạn, giãi đãi, đọa lạc; ít nghe giảng pháp, không
vui tụng kinh, làm sao có thể vì người khác mà hay phân biệt
giải bày, làm cho người nghe có thể giữ gìn pháp bảo được.
Lại
nữa A-Nan! Quán Đảnh Sát Lợi Đại Vương chỉ có một con
đi xa không hiện diện. Khi đó Sát Lợi Đại Vương thân gặp
bịnh nặng. Biết bịnh nặng rồi liền giao kho báu các loại
cho các vị Đại Thần giữ gìn và nói thế nầy : Nếu con
ta trở lại, ngươi hãy nên phong vương cho con ta và nên giao
tất cả kho báu cho nó. Các vị Đại Thần liền nhận chịu
các việc vua giao. Sau khi nhận rồi, vua mất. Sau khi vua mất,
người con về lên ngôi vua. Sau khi đăng quang rồi thì được
tự tại; nhưng các vị Đại Thần không giao lại của báu
cho ông ta và nói như thế nầy :
Tốt
lắm Đại Vương! Phương pháp chính trị là bảo vật để
cai trị cho chúng tôi.
A-Nan
hiểu ý nầy không ? Những vị Đại Thần thọ nhận của
gởi của Trưởng Giả mà không giao lại cho con vua có đúng
không ?
A-Nan
thưa : Bạch Đức Bà Già Bà, Đức Tu Già Đà. Họ là những
người sai trái.
Phật
bảo A-Nan! Sự việc ra đi xa nầy dụ cho 5 đường của chúng
sanh. Bịnh dụ cho Phật sắp nhập Niết Bàn. Đa Bảo tạng
dụ cho 37 phẩm trợ đạo. Đại Thần Trưởng Giả dụ cho
các vị A La Hán. Bảo vật khác dụ cho ta đã phó chúc cho
ngươi những pháp bảo mà ta đã tu tập trong Ức Na Do Tha A
Tăng Kỳ Kiếp, cho đến vì đời sau cho các đệ tử vậy.
Nầy A-Nan! Về đời sau trong đời có các chúng sanh, mà nơi
ta từ xưa đã thành thục, nhưng vì ác nghiệp nên sanh vào
địa ngục súc sanh ngạ quỷ. Sau khi ta diệt độ và họ sẽ
được sanh trở lại làm người, sau đó các căn được tăng
trưởng thành thục và vì trong pháp của ta mà phát sanh tín
tâm, cho nên có kẻ được xuất gia. Còn kẻ tại gia thì chứng
Tu Đà Hoàn cho đến có kẻ chứng A La Hán. Tại học đîa
nầy sau khi mệnh chung lại phát tâm sâu rộng sanh nơi đất
Phật. Có nhiều căn lành với Trời Người, cho nên sẽ được
đầy đủ lợi ích. Cũng đã phát tâm tin tưởng. Liền nói
lời rằng :
Thế
gian kia là cha lành của ta đã giúp ta, khi sanh ra lại có lòng
kính tin rộng rãi. Nầy A-Nan! Ta đã vì họ mà nay thì tất
cả pháp bảo nầy phó chúc cho ngươi đó. Cho đến làm cho
họ nghe pháp tạng nầy. Cho nên A-Nan! Ta nay vì Đại Pháp tạng
mà làm cho họ có tín tâm như các thiện nam tử thiện nữ
nhơn đã được nghe vậy.
A-Nan!
Những thiện nam tử và thiện nữ nhơn kia khi nghe Đại Pháp
tạng nầy hoặc chứng thành thù thắng, hoặc được sanh đại
ái lạc tâm, hoặc nghe rồi khóc lóc, lông dựng lên. Nầy
A-Nan! Hoặc có kẻ nghe pháp môn nầy rồi. Niệm Phật công
đức khóc lóc, lông dựng lên thì ta thọ ký cho họ rằng
với tất cả những căn lành nầy sẽ được Biết Bàn.
VIENGIAC
PAGODE
Karlsruher
Strasse 6, 30519 Hannover, Germany
eMail:viengiactu@viengiac.de
- Tel: 0511/879630 - Fax: 0511/8790963
VIENGIAC.DE
06-11-2008
03:23:46